Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố của VKSND là một dạng thực hành quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Không có cá nhân, cơ quan nhà nước nào có thể thay thế VKSND trong việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà. Thực hành quyền công tố của VKSND nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật. Với vị trí, vai trò quan trọng đó, Đảng ta đã dành sự quan tâm lớn đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…“. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Trước mắt, viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp… tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”. “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [3]. Các chủ trương, quan điểm đó đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 1, Điều 107 và khoản 2, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố…của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [15]. “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [19].
Thời gian qua, công tác thực hành quyền công tố của VKSND đã đạt được những kết quả quan trọng, đã hạn chế tình trạng truy tố oan sai, đã phát hiện, khởi tố, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội và tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy công tác thực hành quyền công tố vẫn còn những hạn chế, bất cập như: vẫn còn một số vụ án truy tố oan, sai gây bức xúc trong nhân dân, tình trạng bỏ lọt tội phạm, chất lượng xét hỏi của KSV còn hạn chế, KSV chưa làm tốt công tác chuẩn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng trong nhiều phiên tòa hưa thực sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp… Nhận thức được vấn đề đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…; được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra” [11, tr.179]. Vì vậy, cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phức tạp của công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân, với trách nhiệm là một công chức trong ngành, công tác ở một địa bàn cụ thể, học viên đã chọn đề tài: “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hình sự là cần thiết về lý luận cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ở nước ta.
– Đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua.
– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là công tác thực hành quyền công tố trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS về vấn đề này.
– Phạm vi về không gian: Nghiên cứu công tác thực hành quyền công tố của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
– Phạm vi về thời gian: Số liệu được sử dụng nghiên cứu được tổng hợp từ kết quả thống kê từ năm 2011-2017 và đến tháng 6 năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác- Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu và sử dụng ở mức độ khác nhau trong những nội dung khác nhau như: Phương pháp phân tích – tổng hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, khảo sát thực tiễn; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Nhận thức được những kết quả đạt được, hạn chế yếu kém trong thực hành quyền công tố của VKSND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng, hoạch định chính sách khi xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến công tác thực hành quyền công tố của VKSND, là nguồn tư liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và các địa phương khác, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành kiểm sát trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ liên quan đến vấn đề này.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố của trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi thời gian đến.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.1. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1.1. Khái niệm xét xử và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ điển Tiếng Việt “Xét xử là việc xem xét và xử các vụ án” [20, tr.148]. Đây là một trong những hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án, các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử, chức năng này còn được gọi là chức năng bảo vệ pháp luật có mối quan hệ trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, quyền của công dân.
Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý cho rằng: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một pháp quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính…)” [30, tr.869].
Như vậy, có thể hiểu xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT, VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bỏ lọt tội trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, hiện nay khái niệm xét xử sơ thẩm có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Từ điển Luật học giải thích: “xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [30, tr.870]. Theo đó, phạm vi rộng xét xử sơ thẩm bao gồm các vụ án dân sự, hình sự, hành chính… điểm quan trọng nhất ở đây là đã thể hiện được đặc trưng của xét xử sơ thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền” thực hiện, tuy nhiên, hạn chế là chưa phân định sự khác biệt và đặc trưng riêng của việc xét xử sơ thẩm các vụ án, trong đó có việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự – một trong những hoạt động được coi là trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự, bởi lẽ nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất trong tố tụng hình sự là “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, do đó, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn cứ cho hoạt động xét xử, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế [23, tr.58].
Như vậy, có thể khái quát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên tòa, nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà VKS đã truy tố. Từ phân tích trên, có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những đặc trưng cơ bản như sau: i) là một giai đoạn tố tụng hình sự có tính chất bắt buộc; ii) là xét xử lần đầu vụ án, do đó vụ án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ các người tham gia tố tụng; iii) có kết quả là một bản án, quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật; iv) góp phần vào việc xử lý triệt để và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó, giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết kéo dài vụ án, duy trì công lý, tạo công bằng trong xã hội, trấn an dư luận và bảo đảm quyền lợi của công dân, tổ chức và nhà nước.
1.1.1.2. Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trên phương diện luật học, cách hiểu về giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tương đối rõ, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giả về vấn đề này được trình bày tại công trình [22, tr.13] và [8, tr.12]. Theo đó, có thể hiểu giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS, xem xét đánh giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình.
Thời điểm của giai đoạn xét xử sơ thẩm được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do VKS chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Như vậy, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, trong đó bao gồm chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm. Chuẩn bị xét xử là tiền đề cần thiết, quan trọng cho việc mở phiên tòa và tiến hành phiên tòa, còn phiên tòa sơ thẩm là hình thức đặc trưng của giai đoạn này, là nơi thể hiện đậm nét nhất nội dung của các nguyên tắc tố tụng hình sự.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.2.1. Chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Chức năng là phương diện hoạt động có tính chất cơ bản, xuất phát từ bản chất của sự vật, hiện tượng, từ mục đích, ý nghĩa xã hội của việc giải quyết các nhiệm vụ đó đặt ra” [20, tr.62]. Theo đó có thể hiểu, chức năng của cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu có tính chất cơ bản và lâu dài của riêng cơ quan đó, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn luật định để phục vụ việc thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 2013, Điều 109 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Trên cơ sở đó, tại Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã làm rõ đặc trưng chức năng của VKSND thể hiện trên hai phương diện: i) “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [19]. Có thể khẳng định, VKS thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, trong đó có chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; ii) “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [19]. Đây là một chức năng mang tính đặc thù của hệ thống cơ quan VKS ở Việt Nam, trong đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đối với việc giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn sơ thẩm.
Như vậy, trên phương diện pháp luật thực định, chức năng thực hành quyền công tố (về bản chất là chức năng buộc tội của Nhà nước) được giao cho VKS các cấp thực hiện trong tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và thực hành công tố tại các phiên toà xét xử vụ án hình sự, trong giai đoạn này VKSND, KSV thay mặt nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
1.1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là những hoạt động cụ thể của VKS từ khi Tòa án thụ lý xét xử cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Ở nước ta, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm: Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
1.1.3. Thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.3.1. Quyền công tố và thực hành quyền công tố
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” [43, tr.204]. Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án. Theo Từ điển Luật học, công tố “là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [30, tr.188], tiếp cận này chưa rõ ràng, bởi khái niệm “truy cứu trách nhiệm hình sự” còn bao gồm cả hoạt động xét xử của Tòa án.
Về mặt nguồn gốc, việc ra đời quyền công tố cũng có những quan điểm khác nhau, tác giả thống nhất với Võ Thành Đủ và một số nhà nghiên cứu khác về giải thích nguồn gốc của quyền công tố, tập trung vào hai hướng là: i) quyền công tố ra đời gắn liền với nền dân chủ tư sản và hình thành từ cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ thứ XIV, khi Nhà nước phong kiến tan rã, với học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước đã dẫn đến tách hệ thống Tòa án ra khỏi hệ thống cơ quan hành pháp và hình thành nhánh quyền lực thứ ba là quyền xét xử. Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật, quyền công tố mới xuất hiện với tính chất là buộc tội trước Tòa án khi Tòa án xét xử các tội phạm hình sự. Như vậy, quyền công tố là một quyền độc lập tồn tại song song với quyền xét xử của Tòa án; ii) quyền công tố ra đời gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, do đó quyền công tố tồn tại trong tất cả các Nhà nước từ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đến Nhà nước ngày nay. Quyền công tố ban đầu chỉ mang tính xã hội và dần phát triển và đòi hỏi phải có một cơ quan nhà nước thực hiện đó là Cơ quan công tố hoặc VKS, tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất về vấn đề này. Ở Việt Nam, tác giả đồng tình rằng thuật ngữ “công tố”, “quyền công tố” đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc và tiếp tục được sử dụng trong khá nhiều văn bản pháp luật, chủ yếu là các sắc lệnh vào giai đoạn đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa với tên gọi là Viện Công tố. Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Đề án của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập hệ thống Viện Công tố và đến năm 1960 mới chuyển thành VKSND [7, tr.581]. Trong tiến trình thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hoạt động tư pháp, khi đề cập đến chức năng của VKSND thì khái niệm “công tố”, “quyền công tố” lại được các nhà nước nghiên cứu đề cập nhiều hơn.
Khát quát các công trình nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đồng tình với một số quan điểm là sự khác nhau chủ yếu tập trung vào các nhóm các cơ bản sau:
Thứ nhất: công tố không phải là chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chỉ có trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, tức là khi kiểm sát việc xét xử các vụ án hình sự thì KSV thực hành quyền công tố để buộc tội bị cáo tại phiên tòa [31, tr85-86], quan điểm này phổ biến từ những năm trước đây và cũng là quan điểm cơ bản của một số nhà khoa học pháp lý Xô viết. Nhìn nhận như vậy đã đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử hình sự tại phiên tòa, thu hẹp phạm vi quyền công tố, chưa thấy hết vị trí, vai trò của VKS khi thực hành quyền công tố được Nhà nước giao cho, vì hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự chỉ là một trong số các quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố.
Thứ hai: quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKSND truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, [24] hạn chế của quan điểm này là thu hẹp phạm vi của quyền công tố là truy tố và buộc tội của VKSND tại Tòa án.
Thứ ba: quyền công tố là quyền của VKS nhân danh Nhà nước để bảo vệ lợi ích công (lợi ích của Nhà nước, xã hội và của công dân) khi có các hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính [29]. Quan điểm này đã mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả lĩnh vực tố tụng dân sự và lĩnh vực tố tụng hành chính là chưa thật sự chuẩn xác, bởi lẻ, đối với các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính thì VKS không khởi tố vụ án trong một số trường hợp như trước đây mà việc khởi kiện vụ án này thuộc trách nhiệm của đương sự (dựa trên nguyên tắc tự nguyện), đồng thời khi đơn khởi kiện của đương sự hợp lệ thì Tòa án phải thụ lý và đưa ra xét xử không lệ thuộc vào quyết định của VKS.
Thứ tư: quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho VKS để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, nhằm đưa người đó ra xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước Tòa án [27, tr.140]. Tác giả đồng tình cao với quan điểm này và nhận thấy, đây là quan điểm chung được thừa nhận nhiều hiện nay, cách tiếp cận này phù hợp với kết quả nghiên cứu lý luận về pháp luật và thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND hiện nay ở nước ta. Xét trong điều kiện cụ thể đó, quan điểm thứ tư về quyền công tố còn cho phép chúng ta xác định đúng đắn các vấn đề sau đây: i) quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho VKS; ii) quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không tồn tại trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính; iii) nội dung của quyền công tố là truy cứu TNHS và buộc tội đối với người phạm tội; iv) quyền công tố gắn liền với một tội phạm cụ thể; v) phạm vi của quyền công tố được bắt đầu từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên trên thực tế hoạt động thực hiện quyền công tố bắt đầu kể từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Từ sự phân tích nêu trên, tác giả đồng tình với một số nhà khoa học, có thể hiểu: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm truy tố, người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước phiên tòa nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định củba Hiến pháp và pháp luật.
Trên cơ sở phân tích quyền công tố ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định chủ thể thực hiện quyền công tố chỉ có thể là VKSND, ngoài cơ quan này không có một chủ thể nào có thể thực hiện chức năng đó. Trên phương diện luật thực định, vấn đề này đã được Bộ luật TTHS 2015 quy định rõ: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố…trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh…” [6]. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của VKS nhằm truy cứu TNHS, quyết định việc buộc tội, quyết định việc hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác. Thực hành quyền công tố được thực hiện bằng hành vi tố tụng và quyết định tố tụng mang tính công khai theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Từ sự phân tích trên, tác giả đồng tình với quan điểm được nêu ra tại công trình [12] và có bổ sung thêm về khái niệm thực hành quyền công tố của VKS như sau: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND nhân danh Nhà nước sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Từ đây, có thể khái quát một số điểm chính như sau: i) Chủ thể thực hành quyền công tố là VKSND, đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốc hội và được Quốc hội giao cho chức năng thực hành quyền công tố; ii) Mục đích thực hành quyền công tố là nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; iii) Đối tượng thực hành quyền công tố là thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, do đó đối tượng của thực hành quyền công tố là tội phạm và người phạm tội; iv) Phạm vi hoạt động thực hành quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không tồn tại trong lĩnh vực tố tụng dân sự và tố tụng hành chính và bắt đầu thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp thực hành quyền công tố đều kéo dài từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà có thể chấm dứt ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, vì thực tế cho thấy, không phải tất cả các vụ án hình sự đều được đưa ra xét xử trước Tòa án, chính vì vậy, khi quyền công tố chấm dứt thì quyền thực hành quyền công tố cũng không còn [12, tr.56].
1.1.3.2. Thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thực chất giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai phần cơ bản chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa. Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự khẳng định, tùy theo tính chất và nội dung vụ án mà VKS phối hợp với Tòa án để chuẩn bị các nội dung sau: phương án giải quyết; thời gian, địa điểm xét xử; những người cần triệu tập đến phiên tòa; thông tin về sức khoẻ, tâm lý của bị can, bị cáo; việc tuyên truyền và những vấn đề khác có liên quan đến việc xét xử vụ án. Đối với vụ án phức tạp, thì có thể mời lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và một số cơ quan hữu quan khác tham dự” [32, tr.5].
Từ việc phân tích giai đoạn xét xử sơ thẩm, quyền công tố, thực hành quyền công tố và việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giải trình bày tại công trình [26, tr.10] và [22, tr.9] như sau: thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa. Từ cách tiếp cận trên, khi đề cập đến khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần chú ý một số điểm cơ bản sau: i) Về đặc điểm: được thực hiện bởi cơ quan duy nhất là VKS trong tố tụng hình sự; là việc truy tố bị can ra trước Tòa án, trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh được người phạm tội ở các giai đoạn trước đó; là việc buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng các phương thức được pháp luật quy định, đây là đặc điểm quan trọng nhất vì nó thể hiện đầy đủ nhất quyền năng của VKS tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện của VKS là Kiểm sát viên. ii) Về đối tượng: là hành vi phạm tội và người phạm tội. iii) Về phạm vi: là thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, tức là từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Đối với việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của VKS cấp huyện, cần nhận thấy rằng, về trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự giữa các cấp VKS là không có sự khác biệt, nhưng về phạm vi thẩm quyền thực hành quyền công tố lại có sự khác nhau. Theo quy định của Bộ luật TTHS, VKS cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì VKS cấp đó quyết định việc truy tố. Thẩm quyền truy tố của VKS được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án. Theo đó, Điều 268 Bộ luật TTHS 2015 quy định về thẩm quyền xét xử như sau: TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự. Theo đó, Bộ luật hình sự 2015 quy định: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù; Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù. Như vậy, thực hành quyền công tố của VKSND cấp huyện chỉ giới hạn đối với các loại tội phạm mà mức của khung hình phạt cao nhất là đến 15 năm tù. Bên cạnh đó, VKS cấp huyện theo quy định của pháp luật còn thực hiện việc ủy quyền thực hành quyền công tố, theo đó đối với vụ án do VKS cấp trên thực hành quyền công tố và Kiểm sát điều tra thì VKS cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, VKS trên phải thông báo cho VKS cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử KSV tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, VKS cấp trên ra quyết định phân công cho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, VKS cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật TTHS.
Theo quy định pháp luật ở nước ta hiện nay, nội dung và quy trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tập trung vào các nội dung.
1.2.1. Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa
Cáo trạng là văn bản pháp lý do VKS lập để truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, đây là hoạt động đầu tiên của việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa nhằm công khai hành vi phạm tội của bị cáo và cũng là cơ sở để Tòa án tiến hành hoạt động xét hỏi. Thông thường, KSV công bố Cáo trạng đã được chuyển cùng hồ sơ vụ án, tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, khi có sự thay đổi nhận thức, đánh giá chứng cứ hoặc trên những phát sinh mới trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu cần thiết thì KSV trình bày ý kiến bổ sung nhưng ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Tại phiên toà, nếu có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố, có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo cho ý kiến, thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, sau phiên toà KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo đơn vị. Trường hợp tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà và báo cáo lãnh đạo VKS quyết định. Đối với vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn, KSV công bố quyết định truy tố theo quy định tại Điều 463 Bộ luật TTHS năm 2015, các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án [6].
1.2.2. Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ
– Đối với việc xét hỏi: Xét hỏi thực chất là quá trình tiếp tục điều tra công khai tại phiên tòa với sự có mặt của tất cả các chủ thể liên quan đến vụ án. Về phía VKS, KSV sử dụng kết quả của xét hỏi để thực hiện luận tội, rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn…Việc tham gia xét hỏi là bắt buộc đối với KSV, trước khi tham gia phiên toà, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát, dự kiến những nội dung cần làm sáng tỏ, các tình huống khác có thể phát sinh tại phiên toà, chú ý các mâu thuẫn và cách xét hỏi để giải quyết nhằm bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở, chuẩn bị các câu hỏi để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm. Tại phiên tòa, KSV theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của HĐXX, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác và ý kiến trả lời của người được xét hỏi, chủ động tham gia xét hỏi theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án, làm sáng tỏ hành vi phạm tội, tội danh, vai trò, vị trí của từng bị cáo, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp…Khi có người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên tòa, KSV cần kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó để kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Trường hợp chưa đủ căn cứ kết luận mà chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới đó có thể làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì KSV đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để xác minh. Ngoài xét hỏi bị cáo, KSV có quyền hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản theo quy định tại Bộ luật TTHS. Khi thực hiện việc xét hỏi phải xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
– Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ: Theo quy định tại Điều 312 Bộ luật TTHS năm 2015 thì vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa. Khi cần thiết, HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được. KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng. HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến vật chứng. Đối với việc xem xét tại chỗ, khi xét thấy cần thiết thì HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Theo quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử năm 2017, đối với những chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc Tòa án cung cấp thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, KSV phải xem xét báo cáo lãnh đạo VKS và chuyển lại chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án và sao chụp để lưu hồ sơ kiểm sát [32].
1.2.3. Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo
Luận tội có ý nghĩa hết sức quan trọng, mở đầu cho giai đoạn tranh luận, luận tội là sự buộc tội trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với bị cáo. Đây là căn cứ để bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tiến hành bào chữa, làm tốt việc luận tội cũng chính là làm tốt chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Nội dung thực hiện việc luận tội là phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS; mức bồi thường thiệt hại; xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng; kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo bản luận tội theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát. Đối với vụ án trọng điểm, phức tạp hoặc xét xử lưu động, KSV báo cáo lãnh đạo VKS cho ý kiến về dự thảo bản luận tội. Tại phiên tòa, KSV phải ghi chép đầy đủ việc kiểm tra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác để hoàn chỉnh dự thảo bản luận tội. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, KSV trình bày bản luận tội và kết luận vụ án theo hướng sau: đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố nếu có căn cứ và các nội dung khác theo mẫu của VKSNDTC.
1.2.4. Tranh luận tại phiên tòa
Tác giả đồng tình với quan điểm: tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời lại, sự bàn cãi giữa KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, giúp HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [1, tr.258]. Theo quy định tại Điều 322 Bộ luật TTHS năm 2015 thì: bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với KSV về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình, KSV phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho KSV, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại. Đối đáp, tranh luận của KSV tại phiên tòa hình sự thể hiện tính công khai, dân chủ, việc đối đáp, tranh luận của KSV sẽ đảm bảo tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác, đảm bảo dân chủ, bình đẳng và có văn hóa ứng xử, thuyết phục, hợp lý.
Khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa, KSV bắt buộc phải tranh luận. KSV dự kiến những vấn đề cần tranh luận tại phiên tòa, đề cương tranh luận được dự thảo theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát. Tại phiên tòa, KSV phải ghi chép đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng để chuẩn bị tranh luận. KSV phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và lập luận để đối đáp đến cùng đối với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác. Nếu vụ án có nhiều người bào chữa cho bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác có cùng ý kiến về một nội dung thì KSV tổng hợp lại để đối đáp chung cho các ý kiến đó. Trường hợp chủ tọa phiên tòa đề nghị KSV đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được tranh luận thì KSV thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên tòa, nếu đã tranh luận một phần thì KSV tranh luận bổ sung cho đầy đủ, không lặp lại những nội dung đã tranh luận trước. Trường hợp cần xem xét thêm chứng cứ, HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi thì sau khi xét hỏi xong KSV phải tiếp tục tranh luận theo quy định. Khi tranh luận, KSV phải bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ý kiến của những người tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến đúng đắn và bác bỏ những ý kiến, đề nghị không có căn cứ pháp luật. Đối với vụ án phức tạp, có nhiều KSV tham gia phiên tòa thì lãnh đạo VKS phải phân công cụ thể cho từng KSV chuẩn bị các nội dung, chứng cứ, lập luận để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
1.2.5. Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là việc VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm không được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015, đây chính là là một hạn chế cần tiếp tục được khắc phục. Tuy nhiên, có thể xem xét căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm quy định tại Điều 32 quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử là: Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật, KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo VKS cấp mình để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu quá thời hạn kháng nghị theo quy định của Bộ luật TTHS mới phát hiện vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới thì KSV báo cáo lãnh đạo VKS cấp mình đề nghị Viện trưởng VKS cấp trên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm kèm theo các tài liệu có liên quan như bản án, quyết định sơ thẩm, biên bản phiên tòa. Khi nhận được đề nghị kháng nghị của VKS cấp dưới, VKS cấp trên xem xét rút hồ sơ vụ án, phân công KSV nghiên cứu để báo cáo Viện trưởng xem xét việc kháng nghị (nếu có căn cứ). Sau khi quyết định việc kháng nghị, VKS cấp trên trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm để giải quyết theo quy định của pháp luật [32, tr.16]. Như vậy, hoạt động kháng nghị thể hiện sự không đồng tình của VKS với phán quyết của Tòa án, VKS là chủ thể duy nhất có chức năng buộc tội nên hoạt động kháng nghị của VKS nhằm bảo vệ việc buộc tội của mình. Hoạt động kháng nghị sau phiên tòa sơ thẩm của VKS có mối quan hệ mật thiết với hoạt động thực hiện chức năng buộc tội.
1.2.6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
– Giải quyết việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa: Theo quy định tại Điều 285 Bộ luật TTHS năm 2015 thì, khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự, thì VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án. Như vậy, có thể thấy việc rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa sơ thẩm vừa là một quyền năng, vừa là trách nhiệm của VKS, đây còn là biện pháp nhằm khắc phục những sai lầm của VKS sau khi đã ban hành cáo trạng, tránh tình trạng tòa tuyên bị cáo không phạm tội. Phạm vi rút quyết định truy tố là khoảng thời gian hồ sơ vụ án chuyển sang Toà án đến trước khi Toà án mở phiên toà, giới hạn của việc rút quyết định truy tố là rút toàn bộ quyết định truy tố chứ không rút một phần quyết định truy tố, bởi lẽ, việc rút quyết định truy tố trong trường hợp này thì Toà án đình chỉ vụ án. Trước khi mở phiên tòa, nếu xét thấy có căn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thì KSV được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án phải báo cáo đề xuất lãnh đạo VKS xem xét, quyết định. Việc rút quyết định truy tố phải bằng văn bản và nêu rõ lý do. Quyết định rút quyết định truy tố được lập theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát. Trường hợp rút toàn bộ quyết định truy tố thì đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án. Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, nếu có căn cứ rõ ràng để rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn trong cùng điều luật làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo VKS cho ý kiến thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau phiên tòa, KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo VKS. Trường hợp có đủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSV đề nghị HĐXX trả hồ sơ vụ án cho VKS để xem xét và báo cáo lãnh đạo VKS quyết định. Đối với vụ án do VKS cấp trên phân công cho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố, nếu tại phiên tòa xét xử có những tình tiết khác với nội dung truy tố của VKS cấp trên thì KSV đề nghị hoãn phiên tòa và báo cáo lãnh đạo VKS cấp mình để báo cáo Viện trưởng VKS cấp trên xem xét, quyết định. Trường hợp HĐXX vẫn tiếp tục xét xử thì KSV phải tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án, sau phiên tòa, KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo VKS cấp mình để báo cáo Viện trưởng VKS cấp trên xem xét, quyết định.

– Giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung: Khi Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì KSV phải nghiên cứu kỹ quyết định của Tòa án, nếu thấy có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo VKS để trực tiếp điều tra bổ sung hoặc ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho CQĐT tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật; nếu thấy không có căn cứ hoặc không điều tra bổ sung được những vấn đề Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì KSV báo cáo lãnh đạo VKS trả lời bằng văn bản cho Tòa án. Trường hợp trước khi xét xử, nếu thấy có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì KSV báo cáo lãnh đạo VKS xem xét và có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung những vụ án do VKS cấp trên quyết định truy tố và phân công cho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố thì thực hiện theo quy chế nghiệp vụ khác có liên quan của VKSNDTC, KSV chú ý kiểm sát thời hạn tạm giam bị can, bị cáo; kịp thời yêu cầu Tòa án tiếp tục tạm giam bị can, bị cáo để bảo đảm việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả điều tra bổ sung, nếu có căn cứ đình chỉ vụ án thì KSV báo cáo lãnh đạo VKS quyết định và thông báo bằng văn bản cho Tòa án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ với lý do bị cáo phạm một tội khác hoặc về tội nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố thì KSV báo cáo đề xuất lãnh đạo VKS xem xét, quyết định. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi quyết định truy tố thì KSV phải báo cáo lãnh đạo VKS ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 8\LUAT HINH SU\PHAN THI SA\New folder (2)


