Xóa án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định
Một người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quan hệ được luật hình sự bảo vệ, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng và phải chịu hình phạt. Hình phạt là hậu quả pháp lý nặng nề nhất, là chế tài nghiêm khắc nhất áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm. Nếu như ở các vi phạm pháp luật khác thì người vi phạm sau khi chấp hành xong các hình thức xử lý là coi như xong, không còn hậu quả pháp lý nào về sau, trừ trường hợp xử lý vi phạm hành chính. Còn đối với người bị kết án, sau khi chấp hành xong hình phạt thì trách nhiệm của họ vẫn chưa xong. Mà họ còn phải chịu cái gọi là án tích, nó bị xem như là một “vết nhơ” trong lý lịch tư pháp. Việc pháp luật quy định chế định án tích là nhằm những mục đích khác nhau. Vừa là mục đích phòng ngừa chung, vừa thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của chính sách hình sự. Tính phòng ngừa thể hiện ở chỗ do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là quá cao. Do vậy, pháp luật cần quy định một khoảng thời gian nhất định để xem xét thái độ ăn năn, hối lỗi, tự cải tạo của người đó như thế nào, xem xét khả năng tái phạm của người đó còn không. Đồng thời chế định xóa án tích còn nhằm mục đích khuyến khích người bị kết án chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tạo cơ hội cho họ hoàn lương, ăn năn, hối cải, xóa bỏ mặc cảm để tái hòa nhập cộng đồng, làm người có ích cho xã hội, trở thành công dân tốt và đặc biệt là không phạm tội mới. Do đó, nếu xóa án tích không được nhận thức một cách đúng đắn, quy định thành pháp luật và hiểu một cách đầy đủ, thống nhất sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyền của người phạm tội, quyền con người được quy định trong Hiến pháp 2013, xâm phạm đến nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, mục đích của chính sách hình sự sẽ không đạt được. Thực tiễn áp dụng chế định xóa án tích trên cả nước nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng cho thấy các quy định của pháp luật về án tích, xóa án tích còn nhiều bất cập, hạn chế. Nên dẫn đến tình trạng hiểu và áp dụng vấn đề này trên thực tế có nhiều mâu thuẫn, sai lầm dẫn đến xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, làm cản trở con đường hoàn lương của họ. Hiện nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về vấn đề này, đặc biệt là sau khi Quốc hội thông qua BLHS năm 2015. Mà chỉ có một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu nhưng chỉ trên một phạm vi nhất định. Bình Định cũng là một trong những tỉnh mà tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp, số lượng người bị kết án ngày càng tăng. Nên vấn đề án tích và xóa án tích cần phải được quan tâm, hiểu đúng và thực hiện đúng. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Xóa án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định” làm luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về án tích và xóa án tích; lịch sử lập pháp luật hình sự Việt Nam; thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về xóa án tích trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian qua. Từ đó, góp phần đề xuất các giải pháp để bảo đảm xóa án tích đúng, theo quy định mới của Bộ luật hình sự năm 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
– Phân tích, làm rõ khái niệm án tích và xóa án tích;
– Đánh giá được hậu quả pháp lý của án tích;
– Phân tích và nêu bật được ý nghĩa của xóa án tích;
– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về án tích và xóa án tích. Đồng thời so sánh với các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và các văn bản pháp luật liên quan trước đó;
– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định của BLHS năm 2015 về án tích và xóa án tích. Đồng thời so sánh với quy định của BLHS năm 1999;
– Phân tích, so sánh, làm rõ các quy định về đương nhiên xóa án tích; xóa án tích theo quyết định của Tòa án; xóa án tích trong trường hợp đặc biệt; quy định về cách tích thời hạn để xóa án tích của BLHS năm 1985, 1999 và 2015 và so sánh các quy định đó với nhau;
– Phân tích, đánh giá thực tiễn xóa án tích trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm 2013 đến 2017, từ đó rút ra các kết quả đạt được, những vi phạm, sai lầm và nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm đó;
– Trên cơ sở các vi phạm, sai lầm đã chỉ ra đề xuất các giải pháp để khắc phục những vi phạm, sai lầm đó và giải pháp đảm bảo thi hành đúng.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật Việt Nam về án tích, xóa án tích; các tài liệu, giáo trình có liên quan; các vụ án cụ thể; các công trình nghiên cứu chuyên khảo; các luận văn, các báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn của luật hình sự và tố tụng hình sự. Các số liệu được xem xét và cập nhật từ hoạt động thực tiễn của Tòa án hai cấp tỉnh Bình Định trong thời gian từ năm 2013 đến 2017 để làm rõ những vi phạm, sai lầm trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về xóa án tích vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian qua. Đồng thời nghiên cứu các quy định của BLHS năm 2015 về vấn đề xóa án tích. Từ đó đánh giá các quy định đó với điều kiện thực tế.
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác–Lênin.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp xã hội học, lịch sử, phỏng vấn, lôgic, phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp. Ngoài ra tác giả luận văn còn tham khảo ý kiến các chuyên gia và những người liên quan để nghiên cứu đề tài.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận về án tích và xóa án tích trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và những người nghiên cứu những vấn đề khoa học có liên quan.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn góp phần vào việc xác định những nội dung cơ bản làm cơ sở cho việc áp dụng các quy định của pháp luật về xóa án tích đối với người đã bị Tòa án kết án, đã chấp hành án xong và trải qua một thời gian thử thách nhất định. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan nhà nước có thẩm quyề, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng.
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xóa án tích.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về xóa án tích và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bình Định.
Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tích và các giải pháp bảo đảm thi hành đúng xóa án tích.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÓA ÁN TÍCH
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, một điều không thể phủ nhận là sự cố gắng không ngừng của Đảng và Nhà nước để xây dựng và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Để góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội và ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội phải nói đến sự phát triển không ngừng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung cũng như Luật hình sự nói riêng. Trong luật hình sự Việt Nam, vấn đề án tích được đề cập đến kể từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực. Trước khi có Bộ luật này, trong các văn bản pháp luật, tình tiết xấu về nhân thân liên quan đến án tích đã được quy định là tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Đó là hai trường hợp cụ thể đặc biệt của trường hợp có án tích. Tuy nhiên, quy định này còn bị hạn chế bởi thiếu quy định về xóa án tích. Hạn chế này đã được khắc phục trong BLHS năm 1985. Cụ thể, vấn đề này được quy định tại khoản 5 Điều 3 và tại các Điều 52 đến Điểu 56 của BLHS năm 1985 quy định xóa án và các trường hợp xóa án: Đương nhiên xóa án, xóa án theo quyết định của tòa án, xóa án trong trường hợp đặc biệt. Trong BLHS năm 1999, các quy định liên quan đến án tích đã dần được hoàn thiện. Đồng thời trong Bộ luật này, ảnh hưởng của án tích đối với trách nhiệm hình sự cũng được mở rộng hơn. Trong BLHS năm 1985, án tích được quy định chủ yếu ảnh hưởng đến mức độ trách nhiệm hình sự qua quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Án tích có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cũng có thể là tình tiết định tội hoặc tăng nặng định khung. Trong BLHS năm 1999, ý nghĩa quyết định của án tích trong việc xác định hành vi trái pháp luật là tội phạm đã được mở rộng đối với nhiều tội. Bên cạnh các tình tiết xấu về nhân thân như tình tiết đã bị xử phạt về hành chính, tình tiết có án tích…đã được quy định là tình tiết định tội độc lập hoặc là tình tiết định tội thay thế cho tình tiết hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở nhiều tội danh. Tuy nhiên, để hiểu án tích là gì thì cho đến nay trong các BLHS Việt Nam chưa có một điều luật nào đưa ra định nghĩa pháp lý về án tích, cũng như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo độc lập nào đề cập, nghiên cứu chế định án tích một cách toàn diện và có hệ thống. Việc BLHS không quy định hoặc giải thích một cách cụ thể như thế nào được gọi là án tích hay nói cách khác án tích là gì? Đã dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm, đặc điểm, bản chất và ý nghĩa của án tích. Có thể kể đến một số quan điểm khác nhau trong giới khoa học luật hình sự về án tích như sau:
Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì án tích được hiểu là “Hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích” [15, tr.14]. Quan điểm này đã chỉ ra được án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho người phạm tội thông qua bản án kết tội của tòa án. Điểm bất lợi đó thể hiện ở chỗ nó sẽ được coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm(Điều 49 BLHS năm 1999), nếu như người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Tuy vậy, quan điểm này vẫn bộc lộ một số điểm chưa hợp lý, đó là không phải bất kỳ người phạm tội nào bị kết án cũng bị coi là có án tích. Trường hợp người bị kết án, nhưng được tòa án tuyên miễn hình phạt thì không bị coi là có án tích(khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999).
Luật gia Nguyễn Thị Lan lại cho rằng: “Án tích là một dấu ấn, cho thấy người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội” [22, tr.12-13]. Quan điểm này đã chỉ ra được rằng chỉ có những người phạm tội mà đã bị tòa án kết án, thì mới có án tích. Tuy nhiên, quan điểm này cũng có những điểm chưa thật sự hợp lý. Đó là việc dùng thuật ngữ “dấu ấn” để chỉ hậu quả pháp lý của người bị kết án phải gánh chịu là chưa phù hợp, thiếu chuẩn xác, nó chưa đáng giá đúng bản chất pháp lý của án tích cũng như tính nghiêm khắc của hình phạt. Và mặt khác, cũng giống như quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì dùng thuật ngữ “người bị kết án” làm căn cứ là không chính xác, vì có nhiều trường hợp bị kết án nhưng không bị áp dụng hình phạt thì cũng không bị coi là có án tích.
Còn theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý(Bộ Tư pháp) thì: “Án tích là đặc điểm xấu(hậu quả) về nhân thân của người đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt đã được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định” [6, tr.14]. Quan điểm này đã đã khái quát và làm rõ được bản chất của án tích cũng như các đặc điểm về mặt pháp lý của án tích. Án tích được áp dụng với những chủ thể đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt về một tội phạm cụ thể nào đó mà chưa được xóa án tích. Bản chất của án tích là những đặc điểm xấu về mặt nhân thân của người phạm tội. Điều này được thể hiện một cách rõ ràng trong lý lịch tư pháp của họ với dòng chữ được ghi “có tiền án”. Tuy nhiên, án tích nó không phải là một yếu tố tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Thời gian mang án tích dài hay ngắn là tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội gây ra. Một người khi đã mang án tích thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong cuộc sống và những hoạt động mà họ tham gia.
Như vậy, từ những sự phân tích, nghiên cứu trên đây và tham khảo một số quan điểm khác nhau về án tích tác giả đưa ra định nghĩa của mình về án tích như sau: “Án tích là tình trạng pháp lý bất lợi của người bị kết án và bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Được tính từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án.
- Hậu quả pháp lý của án tích
Trong vấn đề trách nhiệm pháp lý, điểm khác biệt giữa việc bị áp dụng chế tài hình sự và các chế tài khác ở chổ: Nếu như, ở các vi phạm pháp luật khác thì người vi phạm sau khi chấp hành xong các chế tài xử lý thì mọi trách nhiệm chấm dứt. Còn đối với người vi phạm mà bị áp dụng chế tài hình sự thì sau khi chấp hành xong hình phạt trách nhiệm pháp lý họ vẫn chưa chấm dứt. Đó là họ vẫn bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này sẽ mang lại cho người bị kết án rất nhiều bất lợi. Đây chính là đặc điểm nỗi bật nhất để đánh giá mức độ nghiêm khắc nhất của hình phạt so với các biện pháp tư pháp khác. Vậy sự bất lợi của án tích được thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, án tích làm cho người bị kết án mang đặc điểm xấu về nhân thân
Khi một người phạm tội đã bị tòa án áp dụng hình phạt thì hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu không chỉ là chấp hành hình phạt đó mà còn bị coi là có án tích – một đặc điểm xấu về nhân thân. Một sự bất lợi rất lớn cho họ trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội mới. Người mang án tích, trong lý lịch tư pháp cũng như các giấy tờ chứng thực về nhân thân sẽ bị ghi “có tiền án”, đồng thời cũng chỉ rõ tội phạm cũng như hình phạt mà họ phải gánh chịu. Khi đó, án tích như một “vết bẩn” trong lý lịch của người phạm tội, dẫn tới sự kỳ thị, những cái nhìn thiếu thiện cảm của xã hội. Điều này sẽ gây ra không ít khó khăn trong quá trình sinh hoạt, tham gia các hoạt động xã hội, làm cản trở con đường hoàn lương của người bị kết án.
Hơn nữa, để bảo đảm tính phòng ngừa tội phạm thì Nhà nước sẽ hạn chế bớt một số quyền của người đang bị mang án tích trong một số lĩnh vực nhất định. Có thể kể đến một số lĩnh vực như: Khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư năm 2013 cũng quy định về điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì người “đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý kể cả trường hợp đã được xóa án tích” thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Điểm c Khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về điều kiện tuyển dụng công chức như sau: “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích;…” thì không được đăng ký dự tuyển công chức.
Thứ hai, An tích cũng có thể là một trong những căn cứ để xác định là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm khi có hành vi phạm tội mới
Việc xem xét một người bị kết án đã được xóa án tích hay chưa cần dựa vào quy định về xóa án tích do BLHS quy định tại các điều từ Điều 63 đến 67 và Mục 11 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 đã hướng dẫn. Theo đó, việc xác định một người đã bị Tòa án xét xử và bị áp dụng hình phạt có được xóa án tích hay chưa phải xem xét họ đã chấp hành xong nội dung bản án hay chưa, bao gồm: hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (như án phí, bồi thường thiệt hại…) chứ không chỉ dựa vào hình phạt chính đã tuyên đối với họ.
Điều 49 BLHS năm 1999 quy định cụ thể như sau: “1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. 2. Những trường hợp sau đây thì coi là tái phạm nguy hiểm: a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý”. Như vậy, dấu hiệu “chưa xóa án tích” chính là dấu hiệu quan trọng để xem xét hành vi phạm tội mới của người đó có tái phạm hay tái phạm nguy hiểm hay không. Dấu hiệu tái phạm, tái phạm nguy hiểm là một trong những căn cứ để xác định các tình tiết định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của hành vi phạm tội mới.
Ví dụ như tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điểm i Khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999: Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm); Tội hiếp dâm (điểm i khoản 2 Điều 111 BLHS năm 1999: “Phạm tội một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: …i) Tái phạm nguy hiểm”); Tội hiếp dâm trẻ em (điểm d khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:…đ) Tái phạm nguy hiểm”); Tội cưỡng dâm (điểm g khoản 2 Điều 113 BLHS năm 1999); Tội buôn lậu (điểm c khoản 2 Điều 153 BLHS năm 1999)… Khi có dấu hiệu còn án tích và tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì hành vi phạm tội thường bị áp dụng theo khung hình phạt tăng nặng.
Thứ ba, dấu hiệu “chưa được xóa án tích” có thể trở thành một trong những yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt, quyết định hình phạt
Mặc dù nhân thân của người phạm tội không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng việc nghiên cứu nhân thân của người phạm tội một cách đầy đủ và khách quan có ý nghĩa rất lớn. Ở một số tội phạm, yếu tố nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội hoặc định khung hình phạt. Do vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, để đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì cơ quan điều tra, truy tố, xét xử phải nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn nhiện về nhân thân người phạm tội. Như vậy, mới đưa ra được một phán quyết cuối cùng đảm bảo thấu tình, đạt lý được.
Việc quy định án tích là một đặc điểm nhân thân của người phạm tội còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Đặc điểm nhân thân của người phạm tội vừa thể hiện khả năng giáo dục, cải tạo, vừa thể hiện được khả năng tái phạm. Ngoài ra nhân thân của người phạm tội nó cũng thể hiện được phần nào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ thực hiện. Do vậy, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng có ý nghĩa rất lớn trong quyết định hình phạt. Nhân thân người phạm tội cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng quyết định việc tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Ví dụ: Cấu thành tội phạm tăng nặng của tội Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em(khoản 2 Điều 120 BLHS năm 1999) đòi hỏi chủ thể có đặc điểm là tái phạm nguy hiểm. Theo đó, một người thực hiện hành vi nếu đang có án tích thì trong trường hợp này sẽ bị xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Thứ 4, trong một số trường hợp, án tích còn hạn chế quyền của một số người liên quan đến người bị kết án như cha, mẹ đẻ; con đẻ…
Tại điểm a khoản 1 Mục II của Thông tư số 53/2012/TT-BCA ngày 15/8/2012 của Bộ Công an quy định tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân như sau: “là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có địa chỉ thường trú trên lãnh thổ Việt Nam, có lý lịch bản thân và gia đình rõ ràng, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hoặc Đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh”. Như vậy, theo quy định này thì những người muốn dự tuyển vào ngành Công an nhân dân thì bản thân và gia đình phải tuyệt đối chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phải chưa từng có tiền án. Nếu như người muốn dự tuyển vào ngành công an nhân dân mà có người thân đã từng có tiền án, kể cả trường hợp đã được xóa án tích thì vẫn không được xét tuyển, sơ tuyển vào lực lượng Công an nhân dân.
Ví dụ: Trường hợp của em Trương Hương Ly(Nghệ An) trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học năm 2017 em đạt số điểm là 26,5 số điểm cao nhất của khối D nhưng em vẫn không được xét tuyển vào trường Công an nhân dân. Vì lý do, ngày 12/7/2010 mẹ đẻ của em bị tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tuyên phạt 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm. Đến năm 2017 thì mẹ của em đã được xóa án tích, tuy vậy em vẫn không được xét tuyển vào trường Công an nhân dân.
Việc quy định về tiêu chí vào ngành công an như vậy đã thực sự phù hợp với các văn bản pháp luật khác hay chưa? Vì BLHS quy định án tích chỉ áp dụng đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt và nó cũng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định. Người được xóa án tích coi như chưa từng phạm tội, các quyền công dân của họ sẽ được khôi phục. Hơn nữa tinh thần của BLHS là người nào làm thì người đó chịu trách nhiệm. Việc quy định của pháp luật như vậy dẫn đến tình trạng người này thực hiện hành vi phạm tội nhưng người khác lại phải chịu hậu quả. Như vậy là không đảm bảo tính công bằng, xâm phạm đến quyền lợi của công dân.
Xóa án tích là một chế định của pháp luật hình sự thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người bị kết án khi họ đã chấp hành xong bản án hình sự. Trước BLHS năm 1985 được ban hành, chế định xóa án tích chưa được pháp điển hóa trong một văn bản pháp luật nào, khi BLHS được ban hành chế định xóa án tích đã được ghi nhận trong Điều 3 và từ Điều 52 đến Điều 56 của BLHS năm 1985. Đến BLHS năm 1999, vấn đề án tích được quy định trong khoản 5 Điều 3 và từ Điều 63 đến Điều 67 BLHS năm 1999. Về cơ bản vấn đề xóa án tích trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 không thay đổi nhiều, thuật ngữ “xóa án” trong BLHS năm 1985 được thay bằng “xóa án tích” trong BLHS năm 1999. Với tính chất nhân đạo của chính sách hình sự nhằm giúp xóa bỏ mặc cảm tội lỗi của người đã từng bị kết án, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng. Luật hình sự Việt Nam quy định chế định xóa án tích để loại bỏ hậu quả pháp lý bất lợi này, đối với người bị kết án khi đáp ứng những điều kiện nhất định. Cũng như khái niệm án tích, BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 không đưa ra khái niệm xóa án tích một cách cụ thể nên hiện nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về xóa án tích.
Theo TS. Uông Chu Lưu thì: “Xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang án tích và vì vậy, không còn chịu hậu quả bất lợi nào do việc kết án mang lại” [23, tr.222]. Quan điểm này đã chỉ ra được bản chất quan trọng của xóa án tích, đó là sự “thừa nhận về mặt pháp lý” không còn án tích, sẽ được coi như chưa từng phạm tội, không bị xem là một tình tiết để đánh giá tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nói sau khi được xóa án tích thì người bị kết án không còn phải gánh chịu hậu quả nào là chưa chính xác. Vì trên thực tế về mặt xã hội còn nhiều hạn chế, tư tưởng của người dân về việc nhìn nhận một người từng đã bị kết án vẫn còn tồn tại. Việc tiếp xúc hoặc các mối quan hệ với người từng bị kết án vẫn có sự đề phòng, dè dặt. Nên vấn đề tái hòa nhập xã hội của người đó gặp rất nhiều khó khăn chứ không phải dễ dàng.
Còn GS.TS Võ Khánh Vinh thì cho rằng: “Xóa án tích được hiểu là việc xóa bỏ việc mang án tích thể hiện ở sự công nhận coi như chưa bị kết án đối với người đã bị Tòa án xét xử, kết tội [44, tr.445]. Quan điểm này của GS.TS Võ Khánh Vinh đã thể hiện được tính chất nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước. Đó là một người sau khi chấp hành xong hình phạt họ đã tự nguyện chấp hành tốt pháp luật và không tiếp tục phạm tội, thì sẽ được pháp luật ghi nhận. Sau khi được xóa án tích thì họ sẽ được coi như chưa từng phạm tội. Tuy nhiên, quan điểm này sử dụng thuật ngữ “xóa án tích là xóa bỏ việc mang án tích” tạo nên sự trùng lặp về mặt từ ngữ. Hơn nữa nếu coi xóa án tích là coi như chưa bị kết án đối với người đã bị tòa án xét xử, kết tội là chưa chính xác. Vì có những trường hợp có những người phạm tội họ vẫn bị Tòa án xét xử, kết tội nhưng lại được miễn hình phạt hoặc chỉ bị áp dụng các biện pháp tư pháp. Trong trường hợp này họ không bị xem là có án tích nên không đặt ra vấn đề xóa án tích đối với những đối tượng này.
Theo Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp: “Xóa án tích là một chế định mang tính chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội bị kết án đã chấp hành xong hình phạt sớm hòa nhập với xã hội, với cộng đồng, không còn mặc cảm về nhân thân của mình, tạo điều kiện cho họ học tập, lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội. Người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án(chưa có tiền án) và họ được Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích” [13, tr 190]. Quan điểm này đã thể hiện được mục đích nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Đồng thời về mặt pháp lý nếu trong thời gian thử thách mà người bị kết án không phạm tội mới thì sẽ được xóa án tích và được coi như chưa từng phạm tội. Tuy nhiên, Tòa án chỉ cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi có yêu cầu của người bị kết án, khi họ có đủ điều kiện chứ không phải đương nhiên cấp.

Theo Từ điển luật học-Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp): “Xóa án tích là một chế định của luật hình sự với nội dung xác định điều kiện và trình tự xóa bỏ việc mang án tích. Với việc xóa án tích người đã bị kết án được coi như chưa can án và như vậy sẽ không còn cơ sở để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nếu họ phạm tội lại” [6, tr.871]. Quan điểm này đã chỉ ra được ý nghĩa về mặt pháp lý của việc xóa án tích đó là nó không bị coi là yếu tố để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Đồng thời quan điểm này cũng chỉ rõ được là để được xóa án tích thì cần đáp ứng các điều kiện và trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Tức là nói về hai trường hợp xóa án tích là xóa án tích đương nhiên và xóa án tích theo quyết định của tòa án.
Dựa trên việc nghiên cứu những quan điểm khác nhau về xóa án tích nêu trên, tác giả đưa ra quan niệm của mình như sau: “Xóa án tích được hiểu là xóa bỏ việc mang dấu tích hình sự đối với người đã bị Tòa án kết án và bị áp dụng hình phạt. Khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác sau một thời gian nhất định và người đó không phạm tội mới trong thời gian đó thì sẽ được xóa án tích, được coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận”.
- Ý nghĩa của xóa án tích
Án tích là một chế định vừa mang tính nghiêm khắc của Nhà nước đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, vừa thể hiện tính nhân đạo đối với người từng có hành vi phạm tội. Sau khi chấp hành xong hình phạt, người phạm tội còn phải vượt qua thời gian thử thách thì mới được khôi phục lại các quyền. Do vậy, án tích đối với một con người nó có tác động rất lớn trên tất cả lĩnh vực đời sống mà họ tham gia. Vì vậy, xóa án tích nó có ý nghĩa rất lớn cả về mặt pháp lý và mặt xã hội đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt.
1.2.2.1. Ý nghĩa về mặt pháp lý
Xoá án tích thể hiện sự công nhận của Nhà nước, coi như người đó chưa từng phạm tội và không phải tiếp tục gánh chịu bất cứ hậu quả nào do án tích mang lại. Nếu như, người đã được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới thì việc trước đây đã từng mang án tích không bị coi là căn cứ để xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. Lúc nay, họ hoàn toàn bình thường như những người khác, điều này thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Một số quyền công dân đã bị hạn chế sẽ được khôi phục. Một người khi bị kết án và có án tích thì một số quyền công dân của họ sẽ bị hạn chế, nhưng khi được xóa án tích thì những quyền đã bị hạn chế sẽ được khôi phục, cụ thể như: quyền tự do ngôn luận, quyền xuất nhập cảnh, quyền thi tuyển công chức, quyền nhận nuôi con nuôi, quyền hành nghề… Quy định này xuất phát từ chính yêu cầu phòng ngừa tội phạm trong chính sách hình sự Việt Nam. Một người phạm tội đã được xóa án tích tức là họ đã được Nhà nước ghi nhận nỗ lực hoàn lương, thực sự ăn năn hối cải, nhận ra sai lầm của mình, cố gắng trở về tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, việc khôi phục lại những quyền công dân cho họ là điều chính đáng, phù hợp với chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, Sau khi đã được xóa án tích, họ được coi như“chưa từng phạm tội” và nếu người đó lại phạm tội mới thì cũng coi như phạm tội lần đầu. Khi một người bị kết án và đang trong thời gian có án tích mà tiếp tục phạm tội mới thì án tích được coi là một căn cứ để làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Lúc này, án tích sẽ trở thành một tình tiết để xác định là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung hay là yếu tố định tội. Tuy nhiên, khi người bị kết án đã được xóa án tích thì những điều bất lợi này sẽ đương nhiên mất đi, những ràng buộc bất lợi về mặt pháp lý của bản án cũ cũng đương nhiên không còn nữa.
Như vậy, chế định xóa án tích đã đảm bảo được chính sách nhân đạo được ghi nhận tại khoản 5 Điều 3 BLHS năm 1999: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”. Việc quy định những hậu quả pháp lý mà người bị kết án phải chịu khi chưa được xóa án tích không nhằm mục đích trừng phạt họ. Về cơ bản việc quy định như vậy là nhằm tạo điều kiện cho họ có cơ hội phấn đấu, cải tạo sớm nhận ra lỗi lầm của mình, nhận ra được giá trị của việc vượt qua thử thách để được công nhận là người lương thiện. Quy định này nhằm ghi nhận những nỗ lực, cố gắng cải tạo của những người không may lầm lỡ, giúp họ xóa bỏ những mặc cảm tội lỗi, sớm tái hòa nhập cộng đồng.
1.2.2.2. Ý nghĩa về mặt xã hội
Xóa án tích thể hiện sự nhìn nhận của pháp luật vào chiều hướng thay đổi tích cực của người phạm tội, khích lệ, động viên họ nhìn nhận ra điều sai trái mà mình đã mắc phải, đồng thời cho họ một cơ hội làm lại cuộc đời. Xóa án tích còn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình học tập, lao động và đời sống của những người này, nhất là đối với người phạm tội là người chưa thành niên. Việc xóa án tích sẽ giúp cho những người đã từng lầm lỡ có cơ hội làm lại cuộc đời, xóa đi cảm giác mặc cảm bởi quá khứ tội lỗi của mình và tránh được kì thị của xã hội. Đối với bản thân người bị kết án những quy định về xóa án tích góp phần động viên người bị kết án tích cực cải tạo tốt, chấp hành tốt pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội, tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất. Còn đối với gia đình, người thân của người bị kết án, họ cũng sẽ không bị mang tiếng xấu là trong gia đình có người phạm tội. Ngoài ra, nó còn mang tính phòng ngừa tội phạm rất cao. Bởi lẽ, một người bị kết án xong thì trách nhiệm pháp lý của họ chưa chấm dứt ngay. Pháp luật dự liệu một khoảng thời gian nhất định để thử thách người bị kết án. Nếu họ vượt qua thử thách thì được coi như chưa từng phạm tội còn nếu họ không vượt qua thử thách thì sẽ bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết để tăng nặng trách nhiệm cho họ khi quyết định hình phạt cho tội phạm mới mà họ thực hiện.
Việc quy định xóa án tích xuất phát từ thực tế là nghiêm trị và răn đe người phạm tội nhưng vẫn phải đảm bảo tính nhân đạo. Xã hội muốn có công bằng, nhân đạo và bảo đảm tốt nhất quyền con người như ghi nhận của Hiến pháp thì xã hội đó phải có một hệ thống pháp luật vì con người. Pháp luật phải nghiêm minh, phải nghiêm trị những hành vi phạm tội, đồng thời phải giáo dục, cải tạo và cho họ một con đường hoàn lương để trở về với cái đúng đắn. Còn nếu pháp luật chặn kín mọi lối hoàn lương của người phạm tội, không ghi nhận những nỗ lực cố gắng cải tạo của họ thì vô hình chung đã buộc người phạm tội phải tái phạm và tạo thêm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Về mặt thực tiễn, nếu Tòa án thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, áp dụng đúng đắn và chính xác trong thực tiễn các quy định về xóa án tích sẽ đưa đến một loạt các lợi ích cho xã hội. Đó là pháp chế được tăng cường, trật tự pháp luật được cũng cố; quyền con người được tôn trọng và đảm bảo; nâng cao uy tín của Tòa án, làm tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tin vào tính công minh và sức mạnh của pháp luật, tin vào công lý, công bằng xã hội.
Để được xóa án tích và công nhận coi như chưa từng phạm tội, thì người bị kết án phải chấp hành tốt các điều kiện mà pháp luật đưa ra. Để giúp người bị kết án có hướng phấn đấu, rèn luyện sau thời gian chấp hành án, thì pháp luật đã quy định một cách đầy đủ và rõ ràng các điều kiện, cả về mặt nội dung và thời gian thử thách. Những quy định này được thể hiện một cách đầy đủ và rõ ràng từ Điều 53 đến Điều 57 BLHS năm 1985 và được sửa đổi bổ sung trong BLHS năm 1999 bằng chế định xóa án tích từ Điều 63 đến Điều 67. Theo quy định ở các điều luật này thì việc xóa án tích đối với người đã chấp hành xong bản án sẽ được thực hiện bằng một trong hai cách sau: Đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Người được xóa án tích coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận xóa án tích. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, người bị kết án muốn được xóa án tích cần phải đáp ứng được đồng thời hai điều kiện, đó là điều kiện về nội dung và điều kiện về thời gian.
Điều kiện về nội dung, thứ nhất, người bị kết án phải chấp hành xong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí…) hoặc các quyết định khác. Tuy nhiên, theo quy định của khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999 thì trong trường hợp người bị kết án được miễn hình phạt thì không đòi hỏi điều kiện này, mà chỉ cần điều kiện người bị kết án đó được Tòa án miễn hình phạt là đủ. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật lập pháp thì cả BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 quy định chưa thật sự phù hợp, có sự mâu thuẫn giữa các khoản trong cùng một điều luật. Theo đó khoản 1 Điều 56 BLHS năm 1985 và khoản 1 Điều 67 BLHS năm 1999 quy định căn cứ để xóa án tích là chấp hành xong hình phạt chính, nhưng khoản 2 Điều 56 BLHS năm 1985 khoản 3 Điều 67 BLHS năm 1999 lại quy định việc chấp hành xong bản án là bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Việc quy định như vậy không đảm bảo sự đồng nhất về mặt từ ngữ nên sẽ dẫn đến sự khác nhau trong cách hiểu và áp dụng trong thực tiễn; Thứ hai, người bị kết án theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đã chấp hành xong bản án hoặc đã hết thời hiệu thi hành bản án không phạm tội mới trong thời hạn do pháp luật quy định. Thời hạn này dài hay ngắn là phụ thuộc vào loại hình phạt và mức hình phạt mà Tòa án áp dụng với người phạm tội. Nó có thể là một năm, ba năm, năm năm hoặc bảy năm.
Điều kiện về mặt thời gian, điều này có nghĩa là người bị kết án chỉ được xóa án tích khi họ không phạm tội mới trong thời hạn mà pháp luật quy định:
– Trong trường hợp đương nhiên xóa án tích: thời hạn này được tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến thời hạn do Bộ luật hình sự quy định;
– Trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án: thời hạn được tính kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi Tòa án ra quyết định xóa án tích. Tòa án chỉ xem xét quyết định việc xóa án tích cho người bị kết án khi họ đã vượt qua được một khoảng thời gian mà pháp luật quy định. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể rút ngắn thời hạn để xóa án tích.
Theo quy định của BLHS năm 1999, có thể đưa ra những điều kiện cụ thể mà người bị kết án đã đáp ứng được sẽ được xem xét xóa án tích như sau:
* Đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích:
– Người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung(cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, tịch thu tài sản…) và các quyết định khác của Tòa án(bồi thường thiệt hại, án phí…).
– Người bị kết án không phạm tội mới trong thời hạn do pháp luật quy định. Thời hạn này tùy theo hình phạt mà người bị kết án phải gánh chịu. Cụ thể:
+ Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
+ Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm;
+ Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
+ Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 15 năm.
Về điều kiện để đương nhiên được xóa án tích thì giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985 có sự khác nhau ở một số điểm nhất định. BLHS năm 1985 chỉ cho phép đương nhiên xóa án tích đối với trường hợp người phạm tội mà mức hình phạt cao nhất là đến năm năm tù, còn những hình phạt trên năm năm tù thì thuộc đối tượng xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Việc quy định như vậy là chưa thực sự hợp lý, có sự mâu thuẫn giữa các điều luật. Theo đó, khoản 3 Điều 53 quy định những đối tượng được đương nhiên xóa án tích là “người bị kết án không phải về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc về tội phạm quy định ở Chương XII”. Tuy nhiên trong khoản 3 Điều 53 chỉ quy định thời gian đối với những tội mà có hình phạt đến năm năm. Tại điểm b khoản 2 Điều 54 BLHS năm 1985 quy định “đã bị phạt tù trên năm năm không kể về tội gì mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu”. Như vậy sẽ xảy ra trường hợp có người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội quy định tại Chương XII nhưng vẫn không được đương nhiên xóa án. Đến BLHS năm 1999 thì những bất cập này đã được khắc phục và được quy định một cách cụ thể và hợp lý hơn.
– Đối với trường hợp mà người bị kết án phạm tội mới thì tội mới phải được xác định bằng một bản án hình sự có hiệu lực pháp luật. Nếu người đã bị kết án đang bị truy tố về tội mới, thì phải đợi vụ án mới được xử lý xong mà người bị truy tố không bị kết tội thì mới được xem xét xóa án tích.
– Thời hạn để xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính được tuyên trong bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu cấp Giám đốc thẩm đã giảm nhẹ hình phạt thì căn cứ vào quyết định của cấp Giám đốc thẩm. Thời hạn để xóa án tích đối với người chưa thành niên bị kết án là một nửa thời hạn quy định đối với người thành niên (Điều 77 BLHS năm 1999).
* Đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án
Đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì người muốn được xóa án tích ngoài việc đáp ứng các điều kiện như của trường hợp đương nhiên xóa án tích thì họ còn phải đáp ứng thêm các điều kiện khác khắt khe hơn. Đó là thái độ của họ đối với pháp luật, người bị kết án phải có thái độ nghiêm chỉnh chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực lao động cải tạo ở địa phương. Nếu như trong thời gian thử thách do pháp luật quy định mà họ lại bị xử phạt hành chính về những hình vi vi phạm tuy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà không chịu sữa chữa thì sẽ bị coi là không chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Người bị kết án phải không phạm tội mới trong một khoảng thời gian nhất định, kể từ khi chấp hành xong hình phạt hoặc hết thời hiệu thi hành bản án. So với xóa án tích đương nhiên thì xóa án tích theo quyết định của Tòa án được quy định thời gian nghiêm khắc hơn. Cụ thể:
+ Ba năm trong trường hợp đã bị phạt tù đến 3 năm;
+ Bảy băn trong trường hợp đã bị phạt tù từ trên 3 năm đến 15 năm;
+ Mười năm trong trường hợp đãbị phạt tù trên 15.
Ngoài hai trường hợp xóa án tích nêu trên thì trong trường hợp đặc biệt, người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị thì Tòa án có thể xóa án tích nếu người đó đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn xóa án tích nói trên(Điều 66 BLHS năm 1999). So với BLHS năm 1985 thì thời hạn đã chấp hành hình phạt đã được rút ngắn lại. Ở BLHS năm 1985 thì thời hạn là chấp hành được từ 1/3 đến 1/2 hình phạt đã tuyên (Điều 55). Việc quy định như vậy thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
1.3.2. Thủ tục xóa án tích
Để được cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về xóa án tích, thì người bị kết án cần tuân thủ các trình tự, thủ tục về xóa án tích mà Bộ luật hình sự quy định. Cụ thể như sau:
* Đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích, thủ tục như sau:
– Khi đã có đủ những điều kiện quy định tại các Điều 64 và Điều 77 BLHS năm 1999, thì người đã bị kết án được đương nhiên xóa án tích tức là được coi như chưa bị kết án và được tòa án cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, không phải ai đủ điều kiện xóa án tích thì Tòa án sẽ đương nhiên cấp giấy chứng nhận xóa án. Mà Tòa án chỉ cấp giấy chứng nhận cho những người có yêu cầu.
– Khi người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu cần cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì làm đơn (Theo mẫu), kèm các tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp; giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt; giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an cấp huyện nơi người bị kết án thường trú cấp (theo mẫu quy định của ngành Công an), bản sao hộ khẩu; bản sao chứng minh nhân dân.
– Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận xóa án tích, hoặc ra Quyết định xóa án tích.
– Người xin xóa án tích nộp hồ sơ xin xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm (có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện).
– Người xin xóa án tích phải nộp lệ phí là 10.000 đồng.
* Đối với trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định thì thủ tục được quy định như sau:
– Việc xóa án tích do Tòa án quyết định được áp dụng đối với những trường hợp quy định tại Điều 65, 66 và Điều 77 BLHS năm 1999. Nếu người bị kết án có nhiều tiền án thì chỉ được xóa án tích khi họ đã chấp hành xong tất cả các bản án và phải có đầy đủ điều kiện về thời gian không phạm tội mới đối với tất cả các bản án.
– Người muốn xin xóa án tích phải làm đơn gửi cho Tòa án đã xử sơ thẩm và kèm theo đơn phải có những giấy tờ chứng minh họ có đủ những điều kiện xóa án tích. Ngoài những giấy tờ, thủ tục như của trường hợp đương nhiên xóa án tích thì người xin xóa án tích theo quyết định của Tòa án phải có giấy chứng nhận của Ủy ban dân cấp xã nơi họ thường trú về thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động, cải tạo của họ ở địa phương.
– Chánh án kiểm tra những điều kiện được xóa án tích và nếu cần thì tiến hành những biện pháp xác minh. Nếu hồ sơ đầy đủ thì Chánh án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về người bị kết án có đủ điều kiện được xóa án tích hay không.
– Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm đối với quyết định xóa án tích.
– Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ 01 năm sau mới được xin xóa án tích. Nếu bị bác đơn lần thứ 2 thì phải sau 02 năm mới lại được xin xóa án tích. Những lần sau xin xóa án tích thì người đã bị kết án chỉ cần nộp thêm những giấy tờ chứng minh đã khắc phục những thiếu sót trước đây là nguyên nhân làm cho họ chưa được xóa án tích.
– Người xin xóa án tích phải nộp lệ phí là 10.000 đồng.
* Đối với trường hợp xóa án tích khi hết thời hiệu thi hành án và trường hợp không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, bồi thường, án phí:
Nếu người bị kết án chưa chấp hành án mà hết thời hiệu thi hành án quy định tại Điều 55 BLHS năm 1999 mà họ không phạm tội mới trong thời gian quy định tại các Điều từ 64 đến 77 thì cũng được đương nhiên xóa án tích hoặc xóa án tích do Tòa án quyết định. Còn nếu họ chỉ được tạm hoãn thi hành án hoặc cố tình trốn tránh việc thi hành án thì không được hưởng thời hiệu về thi hành án và phải chấp hành hình phạt và án tích bình thường. Trong nhiều trường hợp sẽ bị xem xét để tằn nặng hình phạt.
Còn đối với trường hợp người bị kết án không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, bồi thường, án phí: Nếu như người bị kết án không đủ khả năng chấp hành án nhưng họ đã không phạm tội mới trong thời hạn pháp luật quy định thì Tòa án có thể xem xét để xóa án tích cho họ. Trong những trường hợp này, người xin xóa án tích phải có giấy chứng nhận của ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án có hộ khẩu thường trú hoặc cơ quan nơi người đó đang làm việc là họ không có khả năng về kinh tế để chấp hành được bản án và việc xóa án tích cho họ được giải quyết như sau:
– Nếu người bị hại là tư nhân đồng ý không đòi bồi thường nữa, thì Tòa án ra quyết định xóa án tích trong đó xác nhận ý kiến của người bị hại không đòi bồi thường nữa; nếu người bị hại vẫn đòi bồi thường thì chưa được xóa án tích.
– Nếu là tiền phạt, tiền bồi thường hoặc án phí phải nộp cho Nhà nước thì trước khi quyết định xóa án tích phải xem xét và quyết định việc miễn chấp hành tiền phạt, tiền bồi thường hoặc tiền án phí cho người bị kết án nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật được 10 năm. Sau đó mới xem xét, quyết định việc xóa án tích. Nếu chưa hết hạn đó thì chưa được xóa án tích.
Tiểu kết Chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự, các tài liệu liên quan, các quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, các nhà làm luật. Trong Chương này, luận văn đã phân tích, làm rõ các quan điểm về án tích và hậu quả pháp lý của án tích, từ đó tác giả của luận văn góp phần làm rõ thêm lý luận về những vấn đề này và đưa ra khái niệm án tích, hậu quả pháp lý của án tích.
Từ kết quả nghiên cứu, phân tích các quan điểm của các nhà khoa học về xóa án tích, luận văn góp phần làm rõ thêm các khái niệm xóa án tích; Từ đó làm rõ ý nghĩa của xóa án tích(bao gồm cả ý nghĩa về mặt pháp lý và mặt xã hội). Đồng thời luận văn đã phân tích và làm rõ các điều kiện và thủ tục xóa án tích về mặt lý luận. Những vấn đề lý luận đã được nghiên cứu và trình bày trong Chương 1 sẽ làm nền tảng, cơ sở cho việc đi sâu vào phân tích, đánh giá các quy định về án tích và và xóa án tích ở Chương 2 và Chương 3 của luận văn.
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ XÓA ÁN TÍCH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về án tích
Trên cơ sở BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 ra đời và ban hành nhiều quy định mới để phù hợp với điều kiện xã hội, cũng như tình hình tội phạm. Vấn đề xóa án tích đã được sửa đổi, bổ sung một cách khá đầy đủ và hoàn chỉnh để phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, cũng như BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất về án tích và xóa án tích. Tuy vậy, thông qua các quy định về xóa án tích được quy định từ Điều 63 đến Điều 67 BLHS năm 1999 cũng như khái niệm về án tích được phân tích ở Chương 1 thì chúng ta có thể hiểu“Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng đối với người phạm tội bị Tòa án kết án và bị áp dụng hình phạt, án tích tồn tại trong một khoảng thời gian do pháp luật quy định”.
2.1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về xóa án tích
Trước khi BLHS năm 1985 được ban hành, chế định án tích chưa được pháp điển hóa trong một văn bản pháp luật nào, khi BLHS được ban hành, chế định xóa án tích được ghi nhận trong Điều 3 và các Điều từ 52 đến 56 BLHS năm 1985. Đến BLHS năm 1999, vấn đề án tích được quy định trong khoản 5 Điều 63 đến Điều 67 BLHS năm 1999. Về cơ bản vấn đề xóa án tích trong BLHS 1985 và BLHS năm 1999 không thay đổi nhiều, thuật ngữ “xóa án” trong BLHS năm 1985 được thay bằng “xóa án tích” trong BLHS năm 1999.
2.1.2.1. Đương nhiên xóa án tích
Mặc dù BLHS chưa đưa ra khái niệm pháp lý thế nào là đương nhiên xóa án tích, nhưng thông qua các quy định của pháp luật về xóa án tích và các quan niệm phổ biến thì đương nhiên xóa án tích được hiểu là trường hợp người đã từng bị kết án sau khi chấp hành xong bản án họ không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì đương nhiên được xóa án tích mà không cần Tòa án xem xét và ra quyết định xóa án tích.
Đối với trường hợp đương nhiên được xóa án tích chỉ cần người bị kết án đáp ứng được đầy đủ điều kiện luật định và có yêu cầu xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử họ có trách nhiệm xác minh các điều kiện đó và cấp giấy chứng nhận xóa án tích. Tuy nhiên, Tòa án chỉ cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho những người được đương nhiên xóa án tích khi họ có yêu cầu chứ không phải tất cả những người đủ điều kiện.
Đương nhiên xóa án tích là trường hợp người bị kết án sau khi chấp hành xong bản án hình sự và có đủ các điều kiện mà luật quy định thì đương nhiên được xóa án tích. Những đối tượng được đương nhiên xóa án tích được quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999 cụ thể như sau:
“1. Người được miễn hình phạt.
2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 03 năm đến 15 năm;
d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 15 năm”.
Trong trường hợp người được Tòa án miễn hình phạt thì đương nhiên được xóa án; Tuy nhiên, thời điểm xác định đương nhiên được xóa án là khi người đó đã chấp hành xong các quyết định khác của Tòa án như án phí hoặc bồi thường dân sự(nếu có) chứ không phải là tại thời điểm Tòa tuyên án.
Còn đối với trường hợp người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội về phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không phạm tội mới. Đối với trường hợp này, đương nhiên được xóa án tích khi thỏa mãn các điều kiện sau:
– Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
– Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm;
– Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến 15 năm;
– Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 15 năm.
Như vậy, về phạm vi và thời hạn để được xóa án tích của BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, có sự thay đổi đáng kể:
– Về phạm vi: So với Điều 53 BLHS năm 1985 thì Điều 64 BLHS năm 1999 mở rộng hơn phạm vi các tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích. Nếu như ở BLHS năm 1985 các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người thì không được đương nhiên xóa án tích, nhưng đến BLHS năm 1999 thì những tội liên quan đến lĩnh vực này đều được đương nhiên xóa án tích. Điều này cho thấy cách nhìn nhận và đánh giá về các hành vi nguy hiểm cho xã hội của pháp luật đã bắt đầu thay đổi.
– Về thời gian: So với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 có rút ngắn đáng kể thời hạn đương nhiên được xóa án tích. Chẳng hạn như trong trường hợp người bị kết án bị áp dụng hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thì thời hạn chỉ là 01 năm, cũng trường hợp này BLHS năm 1985 quy định thời hạn là 03 năm. Còn đối với trường hợp người bị kết án bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì BLHS năm 1985 quy định thời gian này là trùng với thời gian thử thách có nghĩa là nếu như hết thời gian thử thách mà người bị kết án không phạm tội mới thì đương nhiên sẽ được xóa án tích. Còn BLHS năm 1999 mở rộng hơn, theo đó thời hạn để xóa án tích là 01 năm sau khi hết thời gian thử thách. Còn đối với trường hợp hình phạt tù có thời hạn thì thời gian để xóa án tích trong BLHS năm 1999 được quy định đầy đủ và cụ thể hơn. Cụ thể, trong BLHS năm 1985 chỉ quy định thời gian để xóa án tích chỉ áp dụng đối với hình phạt tù có thời hạn đến 05 năm, còn những hình phạt tù trên 05 năm thì lại không quy định nên gây khó khăn trong việc xóa án tích cho người có hình phạt trên 05 năm tù. Đến BLHS năm 1999 thì thời gian này được quy định cụ thể hơn đó là 03 năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến 03 năm; 05 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 03 năm đến 15 năm; 07 năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên 15 năm.
Các quy định trên của BLHS thể hiện sự thay đổi rõ rệt về chính sách hình sự. Theo đó, trong chính sách hình sự ngày càng thể hiện đậm chất tính nhân đạo, tôn trọng quyền con người, mục đích giáo dục con người ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó vẫn đảm bảo được tính nghiêm khắc của pháp luật, đảm bảo được tính phòng ngừa tội phạm. Một người phạm tội thì phải chịu hình phạt và sau khi chấp hành án xong họ vẫn phải mang án tích trong một thời gian nhất định. Việc quy định như vậy vừa đảm bảo tính phòng ngừa tội phạm đồng thời vẫn tạo cho người phạm tội một cơ hội để cải tạo, để tái hòa nhập cộng đồng, yên tâm sống, lao động, trở thành người có ích cho xã hội.
Căn cứ vào quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999, thì có hai đối tượng đương nhiên được xóa án tích là:
Thứ nhất, người được miễn hình phạt. Theo quy định, án tích chỉ áp dụng đối với trường hợp người phạm tội bị Tòa án kết án và quyết định áp dụng hình phạt. Án tích được bắt đầu tính từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt. Do vậy, người được miễn hình phạt thì đương nhiên họ sẽ không bị mang án tích. Do đó, không đặt ra vấn đề là Tòa án phải xem xét hay quyết định. Người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích, do vậy họ không phải chịu bất kỳ một hậu quả pháp lý bất lợi nào do án tích mang lại. Do đó, trong lý lịch tư pháp hay các giấy tờ khác của họ cũng không bị ghi là từng có “tiền án”.
Thứ hai, ở BLHS 1999 chỉ trừ những người bị kết án về “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” và “Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” còn lại mọi tội phạm khác dù bị Tòa án tuyên án và áp dụng bất cứ hình phạt nào cũng thuộc đối tượng đương nhiên được xóa án tích. So với BLHS 1985 thì ở BLHS 1999 phạm vi những đối tượng đương nhiên được xóa án tích được mở rộng hơn.
Căn cứ vào Điều 64 BLHS năm 1999 thì chúng ta có thể hiểu có hai trường hợp được đương nhiên xóa án tích đó là trường hợp người phạm tội được miễn hình phạt và trường hợp phạm tội nhưng phải chấp hành hình phạt. Để được đương nhiên xóa án tích thì phải đáp ứng những điều kiện nhất định, cụ thể:
Đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích do được miễn hình phạt: Pháp luật hình sự hiện hành không đưa ra các điều kiện kèm theo để được xóa án tích. Tuy nhiên, tại Thông tư liên ngành số 02/TTLN năm 1986 hướng dẫn thi hành xóa án tích đương nhiên được quy định trong BLHS năm 1986 thì người được miễn hình phạt được xóa án tích ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và người được hưởng án treo được xoá án nếu không phạm tội mới trong thời gian thử thách. Tuy nhiên, cũng cần chú ý là người bị kết án cũng chỉ được xoá án khi đã chấp hành xong những quyết định khác của bản án như: án phí, phạt tiền, bồi thường thiệt hại (nếu có)… nếu chưa chấp hành xong thì người bị kết án chưa được xoá án tích.
Ví dụ: A có hành vi loan truyền các thông tin bịa đặt nhằm hạ thấp uy tín đồng nghiệp của mình là B. Hành vi của A bị Tòa án xét xử về tội Vu khống theo khoản 1 Điều 122 BLHS năm 1999 nhưng được miễn hình phạt. Tuy nhiên, A bị áp dụng biện pháp tư pháp là: Buộc công khai xin lỗi và bồi thường tổn thất về tinh thần cho B là 5 triệu đồng. Ngày 10/8/2016 bản án tuyên phạt A có hiệu lực pháp luật nhưng đến ngày 15/8/2016 A mới công khai xin lỗi B, đến ngày 10/9/2016 A mới bồi thường cho B xong. Như vậy, thời điểm dùng để làm căn cứ đương nhiên xóa án tích cho A được tính từ ngày 10/9/2016. Bởi vì đến ngày 10/9/2016 A mới chấp hành xong tất cả các quyết định của Tòa án.
Đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 áp dụng cho những đối tượng bị kết án và bị áp dụng hình phạt. Để được đương nhiên xóa án tích trong trường hợp này thì người bị kết án phải hội tụ đủ hai điều kiện: Một là, họ không phạm các tội quy định tại Chương XI (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXIV(Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) của BLHS năm 1999. Hai là, Sau khi chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án người muốn xin xóa án tích phải không phạm tội mới trong một thời hạn do pháp luật quy định. Thời hạn thử thách này phụ thuộc vào loại hình phạt và mức hình phạt mà Tòa án áp dụng cho người bị kết án. Thời hạn này được tính từ khi người xin xóa án tích chấp hành xong hình phạt hoặc hết thời hiệu thi hành bản án. Nếu như hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, án treo thì thời hạn xóa án tích là một năm. Đối với trường hợp phạt tù nhưng được hưởng án treo, thì BLHS 1999 quy định là một năm. Tuy nhiên, BLHS 1985 thì lại quy định thời gian thử thách và thời hạn xóa án tích là trùng nhau. Nhưng đến BLHS 1985 sửa đổi, bổ sung năm 1989 thì thời hạn này lại tăng lên là ba năm. Với quy định này khi so sánh với thời hạn đối với các hình phạt như cảnh cáo hay cải tạo không giam giữ thì nó lại nghiêm khắc hơn. Do vậy, khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 quy định lại thời hạn một năm là phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bởi vì, những người phạm tội mà hình phạt bị áp dụng không phải là tù thì thuộc loại tội ít nghiêm trọng nên pháp luật cũng không cần thiết phải quá khắt khe. Do vậy, cần quy định thời gian bị mang án tích ngắn để tạo điều kiện cho người bị kết án sớm được tái hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 8\LUAT HINH SU\PHAM THI DIU\SAU BAOVE


