Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Ở mỗi con người đều tồn tại mối quan hệ ràng buộc về hôn nhân và gia đình. Khởi nguồn để hình thành nên một gia đình thực sự là việc xác lập mối quan hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ, được gọi là kết hôn. Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân và gia đình thì không chỉ có sự kiện kết hôn mà còn có cả ly hôn. Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu của quan hệ hôn nhân và gia đình. Dù không ai mong muốn một gia đình được xây dựng từ những nỗ lực của hai bên tan vỡ, nhưng đôi khi trong cuộc sống, ly hôn lại là cách thức giải quyết tốt nhất. Trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn ở nước ta và các nước trên thế giới gia tăng đáng kể, với những nguyên nhân, lý do ly hôn cũng rất đa dạng và phức tạp. Vấn đề giải quyết hậu quả của ly hôn cũng phức tạp không kém và còn nhiều vướng mắc, hạn chế trong đó có vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Hiện nay, tính chất mối quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có nhiều thay đổi bởi chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường. Khi đời sống con người ngày càng phát triển, đặc biệt trên phương diện vật chất, của cải, tài sản mà con người tích góp được ngày càng lớn thì càng nảy sinh nhiều vấn đề. Một trong những hệ lụy đó chính là sự mâu thuẫn, tranh chấp gay gắt khi xử lý tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn. Tất yếu, đặt ra nhu cầu quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã được các nhà làm luật kế thừa các quy định của hệ thống pháp luật HN&GĐ trước đây, bổ sung và xây dựng để phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những quy định của luật hôn nhân và gia đình hiện hành về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một việc làm thiết thực nhằm luận giải các quy định của pháp luật liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn, giúp cho các bên thực hiện quyền của mình góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo ra cách hiểu thống nhất, giúp cho việc giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn kịp thời và hiệu quả, nhất là gắn với một địa phương cụ thể là huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi hàng năm có khoảng 42,7% án ly hôn được giải quyết trong tổng số án thụ lý.
Chính vì vậy, học viên chọn đề tài: “Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học của mình là việc làm có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi; trên cơ sở đó xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số quan điểm, phương hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng cũng như các cá nhân có liên quan.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận pháp lý và cơ sở thực tiễn về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Phân tích, đánh giá thực trạng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua.
Xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Trong phạm vi của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, còn đối với việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; phân chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết, bị tòa án tuyên là đã chết không thuộc phạm vi nghiên cứu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích – tổng hợp và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra, khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn, kết quả khảo sát để hoàn chỉnh luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê và nghiên cứu những bản án, quyết định của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại một huyện miền núi là huyện Ba Tơ mà đối tượng đặc thù là người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm phần chủ yếu từ đó nêu lên những thành tựu đã đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Bên cạnh đó, qua thực tiễn phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định và nguyên tắc về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Từ đó góp phần thực hiện pháp luật công bằng, dân chủ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Tài sản chung của vợ chồng là gì?
Theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”.
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng.
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản.
Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là việc dùng khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phân chia cho vợ, chồng và mỗi người được nhận một phần tài sản trong khối tài sản chung đó; đồng thời được xác định phần quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản đã được chia.
Bản chất của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng chính là việc chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phần khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phần tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của của vợ, chồng đối với phần tài sản được chia.
Những quy định của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là cơ sở để vợ, chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân chấm dứt nhằm bảo đảm lợi ích cá nhân vợ và chồng..
1.2. Ý nghĩa của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trước hết, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được pháp luật của Nhà nước ghi nhận (dù là theo thỏa thuận hay theo các căn cứ pháp luật) đều thực hiện vai trò nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách thức “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội.
Thứ hai, khi vợ, chồng ly hôn việc thực hiện và áp dụng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ với các con.
Thứ ba, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại.
Tóm lại, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhằm tạo điều kiện cho các bên tạo lập cuộc sống mới sau khi ly hôn, đảm bảo công bằng giữa vợ và chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản cũng như có nghĩa vụ đối với các con.
1.3. Các yêu cầu của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Thứ nhất, pháp luật phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn quy định phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác cũng như được quy định, hướng dẫn cụ thể. Điều này thể hiện tính toàn diện và tính đồng bộ của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ hai, ưu tiên và tôn trọng việc tự thoả thuận: Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản.
Thứ ba, hoàn cảnh của của vợ chồng: Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận lại tài sản để đảm bảo duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Tuy nhiên, để biết bên nào gặp khó khăn hơn thì người nào cho rằng mình khó khăn hơn thì phải có nghĩa vụ chứng minh.
Thứ tư, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung: Việc phân chia tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi cho vợ hoặc chồng được hưởng chia phần tài sản xứng đáng với công sức bỏ ra trong việc tạo dựng..
Thứ năm, bảo vệ lợi ích của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có thể tiếp tục tạo ra thu nhập: Việc chia tài sản chung của vợ chồng phải đảm bảo cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch.

1.4. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Pháp luật mang những đặc trưng mà các biện pháp quản lý khác không có được; đó là tính quy phạm, tính bắt buộc chung, tính cưỡng chế và tính thích ứng.
Đối với những cách thức phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn phù hợp, đáp ứng lợi ích của vợ, chồng, các con và người có nghĩa vụ liên quan thì pháp luật bảo vệ, củng cố và tạo điều kiện cho chúng phát triển.
Việc điều chỉnh pháp luật đối với việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhằm phục vụ cho việc thực thi các lợi ích cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của vợ, chồng. Pháp luật góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm chung, giúp vợ chồng có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại. Đồng thời, góp phần vào việc xây dựng, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy tryền thống cũng như những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Thứ nhất, yếu tố pháp luật.
Để thực hiện và áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có hiệu quả cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan. Các văn bản áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn được ban hành phù hợp như: hợp pháp, có cơ sở thực tế.
Thứ hai, yếu tố văn hóa, phong tục tập quán.
Văn hóa, phong tục tập quán phù hợp đã góp phần làm cho việc phân chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn được thực hiện nghiêm chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng tin, sự tuân thủ sẵn có của người dân với tập tục. Tuy nhiên, nếu phụ thuộc quá nhiều vào văn hóa và phong tục tập quán sẽ phần nào gây trở ngại cho việc thực thi pháp luật.
Thứ ba, trình độ dân trí.
Với người có trình độ văn hóa cao họ sẽ dễ dàng hiểu biết pháp luật, nhận thức đúng pháp luật và dẫn đến việc thực hiện pháp luật tốt. Còn với những người trình độ văn hóa thấp, điều đó sẽ ngược lại. Trình độ văn hóa thấp, họ ít tiếp thu được các chuẩn mực xã hội mới, trong đó có pháp luật.
Để giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong các án ly hôn ở những nơi có trình độ dân trí còn thấp gặp nhiều khó khăn hơn, bởi ý thức tôn trọng và lối sống tuân theo pháp luật của người dân chưa được hình thành dẫn đến việc phân chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật nhưng họ vẫn còn thắc mắc và chưa cảm thấy thõa đáng.
Thứ tư, yếu tố hội nhập quốc tế.
Để đảm bảo pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mà còn phải có sự hài hòa, tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới thì hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng đã thừa nhận cả chế độ tài sản theo thỏa thuận. Việc qui định như vậy trước hết đảm bảo được quyền con người, quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân.
Thứ năm, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Hậu quả ly hôn bắt nguồn từ lỗi của chồng hoặc vợ sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết phân chia tài sản khi ly hôn theo hướng bất lợi cho người có lỗi. Cuộc hôn nhân tan vỡ do lỗi của mỗi người thì người đó phải có trách nhiệm vì lỗi của mình.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI HUYỆN BA TƠ,
TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Thứ nhất, về nguyên tắc chia tài tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy định tương ứng của luật định để phân chia [36, Điều 59]. Trường hợp, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản sẽ ưu tiên, căn cứ trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Nếu trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của một trong hai bên hoặc cả hai bên thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật trên cơ sở:
Một là, bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng.
Hai là, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên.
Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp.
Bốn là, chia tài sản bằng hiện vật hoặc giá trị
Thứ hai, các trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Một là, chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn.
Hai là, chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
Ba là, vấn đề nhà ở và quyền lưu cư của vợ chồng khi ly hôn.
Bốn là, chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh khi ly hôn.
Thứ ba, về phương thức phân chia.
Đối với phương thức tự thỏa thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”.
Trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận với nhau việc chia tài sản khi ly hôn sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên và đây cũng là một trong những căn cứ để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014. Trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với phương thức yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014: “…Nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 2,3,4,và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63, và 64 của Luật này.
…nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2,3,4 và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63 và 64 của Luật này để giải quyết”.
Phương thức này nhờ Tòa giải quyết khi các bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật quy định nhưng không thỏa thuận được. Khi giải quyết, Tòa án cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và các trường hợp cụ thể quy định trong Luật HN&GĐ.
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi có liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Đặc điểm tự nhiên
Đặc điểm kinh tế – xã hội
2.2.2. Tình hình ly hôn và phân chia tài sản chung của vợ chồng tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Theo khảo sát thực tế, số lượng vụ án ly hôn mà Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ giải quyết ngày càng nhiều chiếm 42,7% tổng số án đã thụ lý. Công tác giải quyết các vụ việc HN&GĐ luôn đạt tỷ lệ cao (từ 92,3% – 100%) và đạt trung bình trong 6 năm qua (từ năm 2012-2017) là 97%.
Đa số các vụ án được đương sự thỏa thuận với nhau, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên, khắc phục được tình trạng khiếu kiện kéo dài và tạo thuận lợi cho các đương sự trong quá trình thi hành án sau này.
Việc giải quyết các yêu cầu về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn rất đa dạng về vụ, việc; phức tạp về tính chất vì trong thời kỳ hôn nhân, tài sản của vợ chồng còn liên quan đến nhiều chủ thể khác mà không chỉ tồn tại giữa vợ chồng đối với nhau.
Việc vận dụng các nguyên tắc và phương thức chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn của TAND huyện Ba Tơ được thực hiện một cách linh hoạt, cụ thể trong từng trường hợp nhằm giải quyết thấu đáo yêu cầu của các đương sự tham gia trong vụ án, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của các đương sự nên bản án được các đương sự đồng tình, không kháng cáo.
2.2.3. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Về ưu điểm
Thứ nhất, những quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn này góp phần ngăn chặn, hạn chế và từng bước xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, củng cố chế độ HN&GĐ mới, tiến bộ hơn, thể hiện quyền bình đẳng của người vợ trong quan hệ tài sản với chồng cũng như trong vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ hai, phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn bảo đảm các quan hệ xã hội khác được ổn định, các hoạt động kinh tế, kinh doanh của vợ chồng được duy trì, bảo đảm sau khi chia tài sản chung của vợ chồng các quan hệ này không bị xáo trộn, vợ, chồng sau khi chia tài sản chung cuộc sống của họ vẫn được đảm bảo.
Thứ ba, việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận góp phần hạn chế các tranh chấp kéo dài khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Các quyền cơ bản của công dân – quyền tài sản gắn với nhân thân ngày càng được đảm bảo.
Về hạn chế, bất cập
Một là, áp dụng tập quán.
Pháp luật còn quy định chung chung, chưa quy định cụ thể về điều kiện, hoàn cảnh, phạm vi áp dụng, Tòa án các cấp chưa thống nhất về nguyên tắc, quan điểm áp dụng nên chưa có cơ sở pháp lý để áp dụng tập quán trong HNGĐ một cách thống nhất, hiệu quả.
Hai là, xác định tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình khi vợ chồng ly hôn.
Cho đến thời điểm hiện tại pháp luật vẫn chưa có văn bản quy định việc tính công sức dựa trên các tiêu chí nào? Trường hợp nào thì tính công sức? Trường hợp nào thì không tính công sức?
Ba là, xác định nguồn gốc tài sản.
Có Thẩm phán không xem xét yếu tố này khi chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn. Việc xác định yếu tố chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như nguồn gốc tài sản chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng nên khó khăn trong công tác xét xử của Tòa án.
Bốn là, xác định yếu tố công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung và phân chia công sức đóng góp không thỏa đáng.
Không phải mọi trường hợp khối tài sản chung của vợ chồng, họ đều có công sức đóng góp trong việc tạo lập, phát triển như nhau. Vì vậy, không ít bản án quá nhấn mạnh đến công sức của bên giữa vai trò chính trong việc tạo dựng khối tài sản chung, mà chưa thật sự làm quan tâm đến vai trò của bên là điểm tựa “âm thầm” đóng góp công sức cũng không hề nhỏ. Ngược lại cũng có nhiều bản án quá đề cao vai trò của người đảm nhiệm công tác “hậu phương”, nên việc xác định công sức tạo lập, phát triển tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tồn tại chưa thật sự thỏa đáng.
Năm là, định giá tài sản khi phân chia.
Không có căn cứ để Tòa án, Hội đồng định giá xác định được giá trị thị trường của tài sản cần phân chia.
Sáu là, xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.
Có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau như vậy vì đến thời điểm hiện tại, pháp luật liên quan vẫn chưa có những quy định hướng dẫn cụ thể vấn đề này, dẫn đến nhiều cách hiểu trái ngược nhau khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ,
TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Một là, xuất phát từ hạn chế, bất cập trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như đã nêu trên.
Hai là, xuất phát từ các đòi hỏi khách quan pháp luật phải tốt hơn.
Ba là, công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án ly hôn chưa chủ động.
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Thứ nhất, tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người nói chung, trong đó quyền con người, quyền công dân trong vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn luôn là mục tiêu hướng đến của các quốc gia và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Thứ hai, bảo đảm tính kế thừa của pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta trong quá trình hình thành và phát triển, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp về hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới về vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trên cơ sở đánh giá một cách cụ thể, có cơ sở về hiệu quả các quy phạm pháp luật hiện hành.
Thứ ba, cần phải xây dựng một cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ trong vấn đề tài sản của vợ chồng trong đó có vấn đề phân chia tài sản chung khi ly hôn; phải có sự nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề chế độ tài sản của vợ chồng tại khu vực và trên thế giới, cũng như hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh nó để rút ra những kết luận cần thiết đối với môi trường pháp lý cho việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Việt Nam.
Thứ tư, xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình trong đó có vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch và dân chủ.
Thứ năm, nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn để tiến tới áp dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho công dân Việt Nam và cả người nước ngoài nhập cảnh hoặc cư trú tại Việt Nam nhưng kết hôn với vợ hoặc chồng là người Việt Nam.
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện nội dung của pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Một là, cần xây dựng cơ chế chủ động cho các cơ quan có thẩm quyền khi xác định tập quán được áp dụng. Phải có quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục xác định tập quán; điều kiện áp dụng tập quán cũng như thẩm quyền xác định, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong áp dụng tập quán về HNGĐ. Cần thể hiện rõ nguyên tắc phân cấp phân quyền, cơ quan trung ương làm những việc gì, địa phương làm việc gì, việc bảo đảm nguồn lực thực hiện chính sách như thế nào? Tất cả nội dung cần phải được quy định cụ thể làm sao khi ban hành là các cơ quan liên quan có thể triển khai, áp dụng trong thực tế.
Hai là, khi xem xét công sức trong vụ án HN&GĐ cần xác định có công sức hay không? là công sức tạo lập, phát triển tài sản; công sức giữ gìn, bảo quản tài sản; hay công sức chăm sóc, nuôi dưỡng… và việc tính công sức phải dựa vào các tiêu chí: nguồn gốc tài sản, sức lực, thời gian bảo quản, giữ gìn; kết quả chi phí sức lực, thời gian cho việc bảo quản, giữ gìn; giá trị tài sản.
Ba là, cần bổ sung quy định hướng dẫn theo hướng công nhận thời điểm xác lập tài sản riêng là thời điểm “có” tài sản trên thực tế nhằm tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và đảm bảo được quyền lợi của vợ, chồng – chủ sở hữu tài sản khi ly hôn.
Bốn là, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc xác định tài sản chung của vợ chồng như: Các quy định liên quan đến thỏa thuận tài sản của vợ chồng còn chung chung, chưa rõ ràng. Các quy định về việc nhập tài sản riêng của vợ chồng vào tài sản chung của vợ chồng cần phải có sự quy định rõ ràng thể thức của thỏa thuận sáp nhập tài sản đó.
Đối với các tài sản có giá trị lớn như: bất động sản, xe ô tô… pháp luật về đăng ký tài sản cần quy định rõ việc ghi nhận quyền sở hữu chung của các đồng chủ sở hữu (cả vợ và chồng) nếu đó là tài sản chung.
3.3.2. Các giải pháp hoàn thiện việc tổ chức thực hiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Một là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, đoàn thể và các cơ quan Nhà nước khác trong việc hỗ trợ, phối hợp với Tòa án để giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình.
Hai là, kiện toàn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ Tòa án, đặc biệt là Thẩm phán.
Ba là, khi giải quyết vụ việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Thẩm phán và Thư ký nên trực tiếp xuống thôn bản, đi xác minh thực địa, thẩm định tại chỗ, kết hợp tập quán với pháp luật để giải quyết vụ việc thấu tình, đạt lý.
Bốn là, đẩy mạnh giáo dục, đạo đức lối sống trong gia đình đi cùng với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Năm là, tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền và giải thích pháp luật.

KẾT LUẬN
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta đang ngày càng phát triển, các quan hệ về hôn nhân và gia đình ngày càng diễn ra nhiều hơn, phức tạp hơn trong đó việc yêu cầu Tòa án giải quyết về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ngày một gia tăng. Từ thực tế đó, đòi hỏi ngày càng cao tính chặt chẽ, minh bạch, rõ ràng của các quy định pháp luật cũng như chất lượng áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án của Toà án cần phải có tầm cao và triệt để hơn.
Vì vậy, các quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ngày càng phải được hoàn thiện, phù hợp hơn với cuộc sống. Các nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn cũng đã khắc phục những thiếu sót, vướng mắc của các quy định trước đây. Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng đã có nhiều quy định về một số trường hợp cụ thể chia tài sản chung để thuận tiện cho việc áp dụng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đã hoàn thiện. Mỗi một vụ, việc có đặc điểm riêng của nó nên không thể đồng nhất mà tùy từng trường hợp giải quyết, Tòa án vẫn phải vận dụng pháp luật cho linh hoạt, mềm dẻo trong quá trình chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Có rất nhiều vụ án ly hôn phải kéo dài qua nhiều cấp xét xử, hoặc có trường hợp trong cùng một nội dung vụ việc nhưng ở các cấp xét xử khác nhau lại có cách giải quyết khác nhau.
Đồng thời, với sự phát triển của hệ thống Tòa án hiện nay đã và đang góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt được, quá trình áp dụng pháp luật trong giải quyết án phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, cần phải phát hiện và đề ra biện pháp giải quyết kịp thời nhằm thích ứng với mục tiêu và đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp mà Toà án giữ vai trò trung tâm hiện nay.
Trên cơ sở lý luận, từ nghiên cứu thực tiễn giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, tác giả đã liên hệ với thực tiễn giải quyết các vụ, việc ly hôn có yêu cầu về phân chia tài sản chung của vợ chồng tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Từ thực tiễn đó, để thấy được hiệu quả áp dụng pháp luật và vận dụng đường lối chính sách của Đảng vào cuộc sống cũng như chỉ ra những tồn tại, bất cập. Đồng thời qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân gia đình nói chung và giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nói riêng. Cụ thể, thực tế đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoàn thiện hơn, yêu cầu những giải pháp mang tính đồng bộ từ xây dựng pháp luật đến quá trình tuyên truyền, phổ biến, áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Từ đó đòi hỏi phải không ngừng nâng cao, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng và áp dụng pháp luật. Với mục tiêu chung cuối cùng là xây dựng một hệ thống pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đời sống, hạn chế những khó khăn, vướng mắc, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên.
Những giải pháp này nếu được áp dụng thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Toà án, đóng góp một phần làm ổn định quan hệ hôn nhân, giữ gìn pháp chế, kỷ cương pháp luật, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\KINH TE\TRAN THI THUY AN


