Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cao. Bên cạnh những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có những vấn đề văn hóa nảy sinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác, trình độ dân trí được nâng cao cũng làm cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa gia tăng về quy mô và chất lượng. Sự chuyển tiếp thế hệ còn đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.
Bản sắc văn hoá của một dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng trường tồn cùng dân tộc đó. Một mặt nó phản ánh sinh động đời sống kinh tế – xã hội của dân tộc, mặt khác nó cũng là dấu hiệu đặc trưng để chúng ta phân biệt và nhận biết dân tộc này với dân tộc khác.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống có ý nghĩa sống còn đối mới mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập với cơ chế thị trường hiện nay thì vấn đề này càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết.
Lịch sử văn hóa dân tộc Cơtu là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau dân tộc Kinh ở Quảng Nam, cộng đồng dân tộc Cơtu có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Song những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa tộc người Cơtu là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Đề tài được thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với quá trình bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá của dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và nền văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, làm cơ sở và tiền đề cho việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam.
– Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
– Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa, thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và tìm ra phương hướng, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu là một vấn đề có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một luận văn cao học, học viên chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa góp phần nâng cao lý luận, nhận thức về bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.
Những kết luận rút ra từ bảo tồn và phát triển văn hóa và thực tiễn bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn là cơ sở để hình thành phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu cho sinh viên và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
Văn hóa là gì?
Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng.
Văn hóa tộc người Cơtu
Văn hóa người Cơtu là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo trong quá trình đấu tranh sinh tồn tạo dựng cuộc sống cộng đồng của người Cơtu. Văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Văn hóa vật thể tộc người Cơtu
Văn hóa vật thể của tộc người Cơtu được biểu hiện rất rõ với những giá trị văn hóa vật thể như: Gươl; kiểu dáng nhà sàn truyền thống; các đồ dùng trang sức; dụng cụ sản xuất, tự vệ; các phương tiện để săn bắn thú rừng; nhạc cụ cồng, chiêng, tù và; nhà mồ…
Văn hóa phi vật thể tộc người Cơtu
Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơtu gồm những tri thức về mối quan hệ của người Cơtu với môi trường tự nhiên và cuộc sống như kinh nghiệm về mùa vụ, sức khỏe, ẩm thực; truyện cổ tích, ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơtu, lễ hội…
Tộc người được hiểu như thế nào?
Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”.
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, học viên chỉ đề cập tới dân tộc theo khái niệm nghĩa hẹp tức là dân tộc đồng nghĩa với tộc người.
Quản lý Nhà nước về dân tộc (tộc người)
Quản lý Nhà nước về dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực Nhà nước đối với tất cả các hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững.
* Các quan điểm về bảo tồn và phát triển
– Quan điểm về bảo tồn
+ Bảo tồn nguyên vẹn
Về vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau: “Những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản”; “Khi nói tới bảo tồn, ta luôn nghĩ đến giữ gìn toàn bộ và nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn”; Một quan niệm khác cũng cho rằng: “Bảo tồn” là giữ lại, không để bị mất đi, không để bị thay đổi, biến hoá hay biến thái…
+ Bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hoá – xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy.
– Quan điểm về phát triển
Xung quanh hoạt động phát triển di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề, song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hóa để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của nó.
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu như sau: Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động về văn hóa của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật đối với tộc người Cơtu, để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
* Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
Thứ nhất, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động mang quyền lực nhà nước.
Thứ hai, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp.
Thứ ba, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu có tính chấp hành và điều hành.
Thứ năm, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là hoạt động mang tính liên tục.
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
Thứ nhất, vấn đề dân tộc là một nội dung trọng yếu trong đường lối cách mạng của Đảng ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, cội nguồn sức mạnh cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Thứ hai, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình trạng kém phát triển.
Thứ ba, để hướng đến mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển, thì cùng với việc tích cực đầu tư làm thay đổi kinh tế – xã hội ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, một vấn đề quan trọng đặt ra là Đảng và Nhà nước ta cần phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc.
Thứ tư, hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang là một trong những vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây rối an ninh chính trị, trật tự xã hội, phá hoại sự ổn định chính trị của chế độ và sự phát triển bền vững của Nhà nước ta. Trước tình hình đó, công tác dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị mà trong đó hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc có vị trí rất quan trọng.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc được quy định tại Nghị định định số 05/2012/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ, bao gồm:
Thứ nhất, ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc;
Thứ hai, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn…;
Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc;
Thứ tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số;
Thứ năm, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số;
Thứ sáu, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện;
Thứ bảy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc;
Thứ tám, xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc;
Thứ chín, thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số;
Thứ mười, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc;
Mười một, hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc.
1.3. Phương thức quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
Quản lý Nhà nước về dân tộc mà đặc biệt là về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu phải cần các phương thức cơ bản sau: Quản lý bằng pháp luật; Quản lý bằng chính sách, chương trình; Quản lý bằng tổ chức bộ máy; Quản lý bằng đầu tư tài chính; Quản lý bằng thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu
1.4.1. Yếu tố pháp luật
1.4.2. Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực
1.4.3. Yếu tố kinh tế
1.4.4. Yếu tố xã hội

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TẠI TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
2.2. Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu
2.2.1. Văn hóa vật thể
Về phạm vi, cách thức cư trú của người Cơtu: Làng (Vêêl) của người Cơtu thường quần cư từ 20 – 30 nóc nhà (Zơơng hay Đhông), số lượng thành viên (nhân khẩu) từ 150 – 250. Trước đây số lượng nóc nhà nhiều hơn, có làng có tới 50 – 60 nóc nhà.
Kiến trúc nhà ở, nhà sinh hoạt cộng đồng: Đặc trưng cơ bản và riêng biệt về kiến trúc nhà của người Cơtu là Vêêl, có cấu trúc hình tròn hoặc hình bầu dục. Nhà ở của các thành viên trong Vêêl được xây dựng theo hướng cửa chính quay mặt vào nhà Gươl (như nhà Đình của người Kinh); nhà này cách nhà kia từ 5 đến 8 mét.
Máng nước đảm bảo mỗi Vêêl có một nguồn nước riêng, đặc điểm của người Cơtu là lập làng gần nguồn nước.
Nghĩa địa là một khu vực trong phạm vi đất đai của Vêêl dành để chôn cất người chết được ấn định như là tập quán.
Hàng rào, cổng làng nói lên hình thái cư trú, cấu trúc làng bản nên mỗi Vêêl có một hàng rào và cổng làng.
Về trang phục: Người phụ nữ mặc váy và để trần phần thân khi còn là con gái chưa lấy chồng, đến khi lấy chồng thì mang thêm chiếc yếm che trước ngực hoặc sử dụng chiếc váy dài, choàng phía trên ngực chỉ chừa lại đôi vai trần.
Sản phẩm dệt có nhiều hoa văn là sản phẩm đẹp, khi mặc bộ váy, áo có nhiều hoa văn (kể cả chiếc khố đối với người đàn ông). Trang sức đối với nam nữ thông thường là búi tóc, cà răng, xâu tai, xâu khắc ở vùng mặt, vùng ngực, cổ chân, cổ tay bằng nhiều hình tượng khác nhau:
Cà răng (Gọt cờ niêng): Nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành đều phải cưa mài răng cửa đến sát lợi (Néo).
Về ẩm thực: Là một cư dân nông nghiệp nương rẫy nên cái ăn chính của người Cơtu cũng chính là những sản phẩm được làm ra từ nương rẫy mà ít có các sản phẩm từ hoạt động chăn nuôi, làm vườn. Lương thực chủ yếu của người Cơtu là lúa bên cạnh sắn, bắp.
Ăn bốc (ăn bằng tay) là một tập quán khá phổ biến của người Cơtu trước đây. Cái lợi của nó là gọn nhẹ, dễ xử lý khi ăn nhưng đồng thời cũng thể hiện trình độ trong ăn uống của đồng bào.
2.2.2. Văn hóa phi vật thể
Quan niệm về thế giới, thần linh: Thế giới trong quan niệm của người Cơtu bao gồm Trời, Đất và con người. Người Cơtu đặc biệt coi trọng Trời, Đất, họ cho rằng đó là nơi sinh ra con người, vạn vật và đó cũng là nơi thần linh trú ngụ.
Quan niệm về con người: Con người trong quan niệm của người Cơtu là một bộ phận của giới tự nhiên, con người sống gần gũi với tự nhiên, dựa vào tự nhiên để sống, tuy nhiên vai trò của con người có phần nhỏ bé trước vũ trụ bao la.
Lễ hội: Lễ hội của người Cơtu cũng rất đa dạng và phong phú. Song xét về tính mục đích có thể phân thành ba hình thức chính: Lễ hội mừng thắng lợi, lễ hội liên quan đến ngoại giao với các làng khác và tế lễ.
Văn học- nghệ thuật: Do không có chữ viết nên kho tàng văn học của người Cơtu lưu truyền lại cho đời sau chủ yếu bằng con đường truyền miệng. Vì bằng con đường truyền miệng nên nội dung có nhiều mất mát, bên cạnh đó cũng có nhiều dị bản.
Về thần thoại, truyền thuyết: Truyền thuyết, thần thoại Cơtu có hình thức giống với truyền thuyết, thần thoại của các dân tộc khác.
Về truyện cổ, trường ca: Những câu truyện cổ của người Cơtu phải kể mất nhiều ngày, nhiều đêm – đây là hình thức kể “Khan”. Trường ca, giống trường ca của các dân tộc Êđê, Bana, Xêđăng, Mơnông… anh em ở Tây Nguyên.
Về dân ca: Tiếp nối mạch tư duy của truyện cổ – trường ca, dân ca Cơtu cũng chứa đựng nhiều nội dung hết sức sâu sắc và phong phú, hình thức thể hiện có phần sinh động, hấp dẫn hơn, thể hiện sự phát triển về tư duy và hình thức thể hiện.
Về âm nhạc, hát, múa: Những âm thanh từ những nhạc cụ được người Cơtu thể hiện rất phong phú: Cồng chiêng, đàn…
Hát lý – nói lý là hình thức ứng khẩu của người Cơtu thông qua việc dùng hình tượng ẩn dụ, ví cái này để diễn đạt nghĩa của cái kia.
Múa của người Cơtu đậm đà tính dân gian. Múa phản ánh nhận thức, tình cảm, quan niệm về vũ trụ, thể hiện nét nghệ thuật về trang phục, tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Về điêu khắc, họa tiết trang trí : Người Cơtu xem điêu khắc và họa tiết trang trí là một nghệ thuật, phản ánh nhận thức của họ về thế giới tự nhiên và thể hiện ước mơ của họ về cuộc sống.
2.2.3. Nhận xét những đặc trưng của văn hóa tộc người Cơtu
Văn hóa dân tộc Cơtu chứa đựng giá trị nhân văn, nhân đạo.
Văn hóa dân tộc Cơtu mang tính triết lý sâu sắc.
Văn hóa dân tộc Cơtu thể hiện phong phú về đời sống tâm linh.
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
2.3.1. Tổ chức bộ máy làm chức năng quản lý nhà nước về dân tộc ở Quảng Nam
Ban Dân tộc tỉnh
Sơ đồ tổ chức của Ban Dân tộc :

2.3.2. Tình hình và kết quả thực hiện quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
2.3.2.1. Tình hình quản lý nhà nước
Công tác dân tộc và chính sách dân tộc, miền núi giai đoạn 2011-2015 đã đạt được một số kết quả bước đầu, đó là: Công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc miền núi, nhất là đối với dân tộc Cơtu ngày càng đi vào nề nếp, Ban Dân tộc tỉnh, các Sở, Ban, ngành tỉnh và các địa phương đã tham mưu vận động, huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc trong sự nghiệp giảm nghèo, nhất là triển khai thực hiện các chính sách dân tộc, miền núi gắn với phát triển kinh tế xã hội. Đến nay các huyện miền núi đã thực hiện hoàn thành công tác Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, Quy hoạch sử dụng đất, Quy hoạch kế hoạch sử dụng các loại rừng, Quy hoạch mạng lưới thủy điện…
Trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015, toàn vùng dân tộc miền núi của tỉnh Quảng Nam đã và đang triển khai thực hiện 02 nhóm chính sách của Trung ương, gồm:
– Nhóm chính sách phát triển kinh tế – xã hội theo vùng, với 07 chương trình, chính sách.
– Nhóm chính sách phát triển kinh tế – xã hội theo lĩnh vực, theo ngành gồm 10 lĩnh vực, trong đó có trên 39 chương trình, dự án, chính sách.
Đồng thời tỉnh Quảng Nam đã ban hành trên 22 chương trình, dự án, chính sách đặc thù của tỉnh.
2.3.2.2. Kết quả thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và chính sách dân tộc
* Về công tác dân tộc
Thứ nhất, việc thực hiện Quyết định số 30/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ hai, việc thực hiện Quyết định 449/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ ba, về công tác kết nghĩa giúp đỡ các xã miền núi đặc biệt khó khăn
Đến nay đã có 9 huyện đồng bằng, thành phố, thị xã kết nghĩa với 9 huyện miền
Thứ tư, về Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số lần II
Thứ năm, về mô hình thí điểm về dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới
Thứ sáu, về Quyết định số 498/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ bảy, về Quyết định 18/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ tám, về Chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ chín, công tác phối hợp thực hiện
* Về chính sách dân tộc
Thứ nhất, việc thực hiện Chương trình 135 giai đoạn III
Thứ hai, việc thực hiện Quyết định 33/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ ba, việc thực hiện Quyết định 1592/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2011-2012)
Thứ tư, việc thực hiện Quyết định số 755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ năm, việc thực hiện Quyết định 102/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ sáu, việc thực hiện Chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định 54/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thứ bảy, việc thực hiện Chính sách cấp không báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Thứ tám, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Thứ chín, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững theo Quyết định 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ
Thứ mười, về Chính sách cho vay vốn, tạo việc làm và xuất khẩu lao động tại các huyện nghèo
Mười một, về Chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn vùng núi và đồng bào dân tộc thiểu số
Mười hai, về Chính sách phát triển giáo dục
Mười ba, về Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa
Mười bốn, về Chương trình về Y tế
Mười lăm, về Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới
Mười sáu, về Chương trình kiên cố hóa kênh mương, thủy lợi nhỏ, thủy lợi đất màu
Mười bảy, về Chương trình, dự án lâm nghiệp
Mười tám, về Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số
Mười chín, về Chương trình mục tiêu quốc gia biến đổi khí hậu
Hai mươi, về Chính sách giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
Hai mươi mốt, về Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái
Hai mươi hai, về Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy
Hai mươi ba, Các chương trình, dự án, chính sách khác
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người Cơtu tại Quảng Nam
2.4.1. Những ưu điểm
Qua 5 năm (2011-2015) thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc đã được những thành tựu nhất định về sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn các huyện miền núi cơ bản đã giải quyết được an ninh lương thực tại chỗ; đời sống và sản xuất, thu nhập bình quân đầu người của người dân có bước cải thiện và nâng cao. Các địa phương và đồng bào các dân tộc thiểu số đã có nhiều cố gắng, phấn đấu thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh, huyện đề ra; đồng bào các dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi về nhận thức trong phát triển sản xuất, xây dựng đời sống nông thôn mới, nâng cao ý thức gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa của từng dân tộc, tự thân nổ lực vươn lên xóa đói giảm nghèo…
2.4.2. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân
2.4.2.1. Hạn chế, bất cập
Thứ nhất, kinh phí đầu tư cho công tác bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc Cơtu ở Quảng Nam hiện nay hết sức hạn hẹp, chưa đáp ứng được và đủ nhu cầu kinh phí cho hoạt động trên.
Thứ hai, nhận thức của một số cán bộ sở, ban, ngành tỉnh, địa phương về công tác dân tộc chưa thật sâu sắc, toàn diện;
Thứ ba, các chính sách dân tộc, miền núi nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, thuộc nhiều ngành quản lý, nhiều chính sách thực hiện trên cùng một địa bàn nhưng riêng lẻ về mục tiêu và cơ chế thực hiện nên khó lồng ghép.
Thứ tư, nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới là rất lớn nhưng khả năng nguồn vốn đầu tư có hạn.
Thứ năm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao; chính sách đầu tư cho miền núi, vùng đặc biệt khó khăn còn mang tính hỗ trợ, dàn trãi; thiếu cơ chế chính sách đặc thù để các huyện, xã chủ động phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương trong phát triển kinh tế.
Thứ sáu, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con vật nuôi tuy có chú ý đầu tư, hỗ trợ phát triển nhưng mới dừng ở mức xây dựng mô hình trình diễn thí điểm, chưa có các biện pháp nhất là nguồn vốn đầu tư hỗ trợ để phát triển nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình nhằm giúp người dân giảm nghèo nhanh và bền vững.
Thứ bảy, hàng năm tỷ lệ hộ nghèo có giảm từ 5-6% so với mức bình quân chung trên địa bàn từng huyện, nhưng chưa thực bền vững; phần lớn hộ nghèo, hộ tái nghèo, cận nghèo tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ tám, một số chương trình, dự án, chính sách đã được phê duyệt nhưng nguồn vốn đầu tư hỗ trợ của Trung ương chưa đáp ứng với nhu cầu và tiến độ phân kỳ.
Thứ chín, một số công trình có quy mô nhỏ, vừa chủ yếu phục vụ cho cộng đồng thôn, làng (như nước sinh hoạt tự chảy, thủy lợi) nhanh xuống cấp do nhiều nguyên nhân khác nhau.
2.4.2.2. Nguyên nhân
Tư tưởng chủ quan trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước trong một bộ phận cán bộ và nhân dân còn phổ biến, thiếu chủ động tìm giải pháp để phát triển và thoát nghèo; công tác dân tộc là lĩnh vực tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực; địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; điều kiện về tự nhiên, khí hậu diễn biến phức tạp, kinh tế – xã hội có điểm xuất phát thấp; cán bộ cơ sở ở miền núi và cơ quan tham mưu quản lý nhà nước về công tác dân tộc tỉnh, huyện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, nhất là lực lượng quá mỏng.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NAM
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của tộc người Cơtu ở Quảng Nam phải song song với việc phát triển từng bước về mọi mặt trong dời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc lậu, mê tín dị đoan… tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh để những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát triển. Mà vấn đề này chỉ có Nhà nước với tiềm lực, điều kiện và các công cụ quản lý của mình sẽ định hướng đúng đắn và toàn diện tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh cho văn hóa dân tộc Cơtu giữ gìn và phát triển, đưa văn hóa Cơtu dần thích nghi và hòa nhịp cùng dòng chảy văn hóa đất nước và thời đại.
Quảng Nam có 09 huyện miền núi với nhiều dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán và bản sắc văn hóa riêng. Chính vì vậy để điều hòa lời ích chung và sự đa dạng trong thống nhất đó thì cần phải có sự quản lý, điều tiết của nhà nước để tạo điều kiện cho văn hóa mỗi dân tộc đều được giữ gìn, phát triển góp phần xây dựng, cũng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Tăng cường vai trò và nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Cơtu ở Quảng nam nói riêng là một tất yếu khách quan có vai trò quan trọng và quyết định đối với việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc và là sự thành bại của mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Một là, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Cơtu ở Quảng Nam trước hết phải nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Hai là, di sản văn hóa của tộc người Cơtu ở Quảng Nam là tổng thể các giá trị được xây đắp qua nhiều thế hệ, nên khi xem xét vấn đề này không thể không đặt nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể của đồng bào Cơtu trước yêu cầu phát triển hiện nay.
Ba là, khi bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống của tộc người Cơtu ở Quảng Nam ngoài việc giải quyết mối quan hệ giữa tính đa dạng và tính thống nhất thì cần phải đặc biệt chú trọng vào tính truyền thống và hiện đại.
Bốn là, văn hóa có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Do vậy, muốn văn hóa phát triển trước hết phải tạo cho nó môi trường thuận lợi.
Năm là, trong sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa tộc người Cơtu ở Quảng Nam phải luôn coi trọng vai trò điều tiết của Nhà nước.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Thứ nhất, các giải pháp về kinh tế
Một là, đầu tư hoàn thiện dần cơ sở hạ tầng kinh tế: Điện – đường – trường – trạm đối với từng xã vùng cao.
Hai là, quy hoạch tái định cư cho dân để đảm bảo an cư và tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp, đảm bảo lương thực tại chỗ cho miền núi.
Ba là, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ dịch vụ nông nghiệp và đầu tư giống cây trồng, con vật nuôi đến từng hộ dân.
Bốn là, lập kế hoạch giao đất, giao rừng cho người dân, đồng thời tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
Năm là, từ lợi thế thủy điện và lòng hồ, xây dựng mô hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để phát triển kinh tế du lịch, thúc đẩy phát triển thương mại và các ngành nghề thủ công ở địa phương.
Sáu là, đầu tư, mở rộng các tụ điểm mua bán, trao đổi hàng hóa, mở rộng kinh tế cửa khẩu để kích thích thương nghiệp phát triển ở từng xã vùng cao.
Thứ hai, các giải pháp về chính trị – tư tưởng
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về chính trị tư tưởng, giúp đồng bào nâng cao nhận thức, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc – tôn giáo
Thứ ba, các giải pháp về văn hóa, giáo dục
Một là, chú trọng khôi phục không gian sinh hoạt văn hóa làng.
Hai là, khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống. Giải pháp này có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy những giá trị kinh tế – văn hóa người Cơtu.
Ba là, đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục là giải pháp hết sức quan trọng trong điều kiện hiện nay ở vùng cao.
Bốn là, quy hoạch và tạo nguồn nhân lực tại chỗ.
Năm là, vận động xóa bỏ những hủ tục trong cưới xin, tang ma là giải pháp cụ thể và trực tiếp đối trong việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu trong đời sống người Cơtu.
KẾT LUẬN
Văn hóa ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người với xu thế bổ sung những giá trị mới, ngày càng đầy đủ và sâu sắc. Trong lich sử xã hội, các nhà triết học có những cách nhìn nhận khác nhau về văn hóa, góp phần bổ sung tri thức cho nhận thức của nhân loại.
Chủ nghĩa Mác đã nghiên cứu vấn đề văn hóa bắt đầu từ sự phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội, tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Theo đó, văn hóa được xem là một dạng hoạt động người và những thành tố văn hóa thuộc chủ yếu vào ý thức xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội. Trên phương diện hoạt động, văn hóa biểu hiện phương thức tồn tại của con người với đầy đủ bản chất của mình thông qua các hoạt động sống (nhận thức, thực tiễn, giao tiếp…). Do vậy, văn hóa hiện diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị – xã hội và ý thức xã hội. Trên phương diện giá trị, văn hóa được xem là sản phẩm của hoạt động con người, những thành tựu sáng tạo bởi con người trong sự khác biệt với tự nhiên.
Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của xã hội. Trên cơ sở lập trường mácxít, có thể hiểu văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần của con người, biểu thị trình độ phát triển lịch sử nhất định của một xã hội, thể hiện sự sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội làm nên bản sắc của một dân tộc, một cộng đồng xã hội mà nó có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý và hoạt động của con người trong cộng đồng ấy.
Khi nói đến những thành tựu văn hóa hay những giá trị của văn hóa, người ta chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Khi xét đến hình thức tồn tại, người ta chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Giữa hai mặt này luôn tác động biện chứng với nhau trong hoạt động sống của con người. Về mặt cấu trúc, văn hóa gồm những yếu tố như tri thức- tư tưởng, tín ngưỡng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, lối sống, luật tục… của con người.
Phát huy giá trị văn hóa là lĩnh vực hoạt động có tính thực tiễn nhằm giữ gìn và nâng cao những giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc. Phát huy là quá trình trong đó chú trọng đến yếu tố bảo tồn, giữ gìn và kế thừa giá trị, tạo điều kiện cho giá trị văn hóa phát triển trong điều kiện mới.
Trên cơ sở quan điểm triết học Mác – Lênin về văn hóa, nhận thấy rằng việc bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của từng dân tộc là vấn đề có ý nghĩa, góp phần tạo sự “thống nhất trong đa dạng” của văn hóa. Nhiệm vụ này phải được thực hiện ở mỗi một dân tộc, bắt đầu từ việc bảo tồn những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc đó.
Ở Quảng Nam, dân tộc Cơtu là dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực miền núi phía Tây Bắc của tỉnh. Những yếu văn hóa của dân tộc này đến nay vẫn được lưu giữ gần như nguyên vẹn. Đó là kiến trúc nhà làng (Gươl), những lễ hội truyền thống, trang phục cổ truyền, không gian văn hóa làng, những phong tục đặc sắc và trong nếp sống, sinh hoạt hằng ngày, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng cao. Văn hóa dân tộc Cơtu biểu hiện sinh động tín ngưỡng và nhận thức của con người đối với tự nhiên; trong nhận thức và hành động của người Cơtu chứa đựng tinh thần nhân văn, nhân đạo và triết lý sâu sắc về cuộc sống.
Trong thời gian qua, sự nghiệp phát triển văn hóa và công tác khôi phục, bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa tộc người Cơtu ở Quảng Nam được coi trọng, đã thể hiện qua một số ưu điểm cụ thể, các giá trị văn hóa của tộc người Cơtu được giữ gìn và phát huy ở nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương; trong khi hạn chế, bất cập cũng không ít, điều đó đòi hỏi sự nỗi lực nêu cao ý thức nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền, của toàn thể nhân dân trong tỉnh và đặc biệt của mỗi cá nhân trong đồng bào tộc người Cơtu để bảo tồn được tốt nhất và phát triển hiệu quả nhất vốn văn hóa truyền thống của tộc người Cơtu ở Quảng Nam. Đã đến lúc việc bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ còn là chủ trương, nghị quyết của đảng mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ và thậm chí còn là quyền lợi của mỗi người dân, mỗi tổ chức.
Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu hiện nay cần một hệ thống giải pháp kết hợp trên nhiều phương diện về kinh tế, chính trị và văn hóa. Đây là những giải pháp chủ yếu có ý nghĩa quyết định trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc Cơtu ở Quảng Nam.
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, việc xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc phải chú trọng đến những giá trị chung của các dân tộc. Đồng thời, phải phát huy được tính đa dạng từ việc kế thừa bản sắc của mỗi dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt, từ đó mới tạo nên được một nền văn hóa thống nhất trong tính đa dạng về bản sắc của các dân tộc./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HANH CHINH\LE DUY THĂNG


