Miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, thanh thiếu niên là hạnh phúc của mỗi gia đình, là thế hệ tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, có vai trò xung kích quan trọng trong các cuộc cách mạng của dân tộc ta. Chính vì thế, vấn đề chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ và đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn người dưới 18 có hành vi vi phạm pháp luật là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, thông qua hoạt động của nhiều cấp ngành nhằm giáo dục, ngăn chặn và hạn chế tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội (người chưa thành niên) và luôn có sự quan tâm đặc biệt đến việc hoạch định CSHS. PLHS nước ta thể hiện chính sách nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 là bước phát triển mới trong việc giải quyết vấn đề miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhiều quy phạm của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh và phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn bất cập, công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng PLHS trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức nên một số QPPL của chế định miễn TNHS còn có nhận thức không đúng, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhưng cho đến nay, một số nội dung của chế định này còn có những quan điểm khác nhau và chưa thống nhất. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập cũng với sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nhiều vấn đề của luật hình sự, trong đó có chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng luôn vận động và phát triển đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện BLHS hiện hành và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng PLHS là việc làm cần thiết, không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam. Với những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận nội dung cơ bản của những quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập để đề xuất những giải pháp cụ thể, góp phần tiếp tục hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của những quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam.
– Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu việc áp dụng các QPPL của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong thực tiễn áp dụng PLHS tại Gia Lai. Đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam. Cụ thể nghiên cứu các vấn đề như: Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội; khái niệm, đặc điểm miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Luận văn cũng đi vào đánh giá, nhận xét số liệu từ thực tiễn tỉnh Gia Lai việc áp dụng PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện PLHS và nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của luật hình sự và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp luật. Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản PLHS, tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các văn bản pháp lý khác, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgic, phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp để chọn lọc kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
– Luận văn là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS Việt Nam.
– Phân tích một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như: Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội, khái niệm miễn trách nhiệm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, những quy định của PLHS một số nước trên thế giới về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.Với việc phân tích lý giải, luận văn góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức chế định này được thống nhất.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu khái quát việc áp dụng các quy định PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt động thực tiễn tỉnh Gia Lai, phân tích một số điểm chưa phù hợp của BLHS và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng PLHS liên quan đến việc giải quyết vấn đề miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó, luận văn cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng PLHS được thống nhất, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh và phòng chống tội phạm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI MƯỜI TÁM TUỔI PHẠM TỘI
- 1.1 Khái niệm, đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
1.1.1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định TNHS. Căn cứ vào các quy định của PLHS Việt Nam hiện hành, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn TNHS có thể được định nghĩa như sau: Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của PLHS Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định.
1.1.2. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Một là, miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những chế định phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.
Hai là, đây là trường hợp miễn TNHS đặc biệt dành riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội, là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của CSHS nói chung và PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Ba là, miễn TNHS chỉ có thể đặt ra đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi mà hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của CTTP cụ thể nhưng đối với họ lại có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định.
Bốn là, theo giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn TNHS được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyết định được thể hiện bằng văn bản.
Năm là, người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện nhưng vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác.
Sáu là, góp phần thể hiện rõ nét quan điểm của Nhà nước là không để lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội, phần nào làm giảm nhẹ cường độ việc áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
- 1.2. Ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Thứ nhất, giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp nào người dưới 18 tuổi phạm tội và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc không cần thiết phải áp dụng TNHS.
Thứ hai, người dưới 18 tuổi được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi. Tuy nhiên, họ vẫn có thể phải chịu một hay nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác.
Thứ ba, dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh rõ nét chính sách nhân đạo của PLHS Việt Nam.
Thứ tư, là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện một số chế định khác có liên quan đến nó như: tội phạm, TNHS, hình phạt, miễn hình phạt…
- 1.3. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.3.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Trong giai đoạn này xét về mức độ nhân đạo thì miễn TNHS là biện pháp khoan hồng đặc biệt cùng với các biện pháp tha miễn TNHS và hình phạt khác trong luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, việc lựa chọn biện pháp này hay biện pháp miễn hình phạt, giảm nhẹ hình phạt, tha miễn hình phạt … để áp dụng trong trường hợp cụ thể thì ngoài việc áp dụng điều kiện quy định trong từng điều luật tương ứng ra, còn phải dựa vào các điều kiện khác nữa, chẳng hạn đó là đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời điểm, hoàn cảnh lịch sử, yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm từng nơi, từng lúc và đối với từng vụ án cụ thể, đặc biệt là đối với các vụ phản cách mạng, chống phá Nhà nước …
1.3.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến nay
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của PLHS Việt Nam nói chung, các quy định về miễn TNHS nói riêng.
Qua bốn lần sửa đổi, bổ sung BLHS thì các quy định về miễn TNHS vẫn giữ nguyên như quy định trong BLHS năm 1985. Đến lần pháp điển hóa thứ hai, BLHS năm 1999 đã khẳng định chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta qua việc mở rộng hơn các quy định về miễn TNHS nói chung và miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi nói riêng. Đặc biệt, Bộ luật này còn quy định một điều luật riêng về miễn TNHS có tính chất chung áp dụng cho mọi tội phạm tại Điều 25 và áp dụng riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội tại Điều 69. Ngoài ra, còn quy định thêm trường hợp miễn TNHS khi có quyết định đại xá. Những trường hợp miễn TNHS khác trong Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự vẫn được giữ nguyên.
Tóm lại, việc quy định chế định miễn TNHS trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam trước đây với nhiều tên gọi khác nhau và trong BLHS năm 1999 cũng như BLHS năm 2015 có ý nghĩa quan trọng không chỉ động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.
- 1.4. Khái quát quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới
Việc nghiên cứu chế định miễn TNHS trong PLHS một số nước trên thế giới cho phép đưa ra một số kết luận chung dưới đây.
Một là, hiện nay trong PLHS các nước trên thế giới hầu như chỉ quy định về chế định miễn hình phạt hoặc miễn giảm (miễn trừ) hình phạt cho người phạm tội nói chung và người dưới 18 tuổi nói riêng nếu đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do từng trường hợp tương ứng quy định.
Hai là, về những trường hợp miễn TNHS, PLHS của nước ta quy định tương đối giống với PLHS Liên bang Nga. Tuy nhiên, trong Phần chung BLHS Liên bang Nga nhà làm luật còn quy định thêm hai trường hợp miễn TNHS khác, đó là: Miễn TNHS do người phạm tội đã hòa giải với người bị hại và miễn TNHS do đã hết thời hiệu truy cứu TNHS.
Ba là, trong PLHS một số nước khác (như Tây Ban Nha, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Thụy Điển…), mặc dù đã dành hẳn một chương quy định về chế định miễn TNHS, nhưng những trường hợp miễn TNHS trong đó lại mang bản chất pháp lý chính là các trường hợp (tình tiết) loại trừ TNHS (chứ không đúng như tên gọi của nó) theo PLHS Việt Nam.

CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI MƯỜI TÁM TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
- 2.1. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với người đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 1999
2.1.1. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với mọi trường hợp phạm tội nói chung trong đó có miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi trong Bộ luật hình sự năm 1999
a. Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 BLHS))
Theo đó, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì được miễn TNHS về tội đinh phạm
b. Miễn trách nhiệm hình sự do sự chuyển biến của tình hình (khoản 1 Điều 25 BLHS)
Khoản 1 Điều 25 BLHS quy định “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Đây là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc đối với hai dạng cụ thể:
b.1. Trường hợp do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa:
b.2. Trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa:
c. Miễn trách nhiệm hình sự do hành vi tích cực của người phạm tội (khoản 2 Điều 25 BLHS)
Khoản 2 Điều 25 BLHS quy định “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.
d. Miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25 BLHS).
Đây là một trường hợp miễn TNHS mới được các nhà làm luật nước ta quy định bổ sung trong BLHS năm 1999. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, đại xá được hiểu là văn bản (quyết định) của Quốc hội miễn TNHS hoặc miễn hình phạt hoặc thay đổi hình phạt đã tuyên bằng một hình phạt nhẹ hơn đối với một loại người phạm tội nhất định.
e. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 80 BLHS).
Nhà nước ta có đường lối xử lý riêng đối với người phạm tội trong trường hợp có những điều kiện nhất định. Đặc biệt, khoản 3 Điều 80 BLHS năm 1999 còn quy định về trường hợp – “Người đã nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và đã tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn TNHS”.
f. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 6 Điều 289 BLHS).
Những điều kiện để các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xem xét quyết định miễn TNHS đối với người phạm tội đưa hối lộ được quy định tại đoạn 2 khoản 6 Điều 289 BLHS năm 1999 bao gồm:
Thứ nhất, người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội đưa hối lộ theo quy định của BLHS.
Thứ hai, mặc dù chưa bị phát giác và không bị bất kỳ ai ép buộc nhưng người phạm tội đã chủ động khai báo, tự khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tố giác hành vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
g. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290 BLHS).
Khoản 6 Điều 290 BLHS năm 1999 thì “người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.
h. Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội không tố giác tội phạm
Khoản 3 Điều 314 BLHS quy định “Người không tố giác tội phạm nếu đã có hành vi can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt”.
2.1.2. Trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Ngoài các trường hợp miễn TNHS cho người phạm tội nói chung, người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, tại khoản 2 Điều 69 BLHS còn quy định về trường hợp miễn TNHS riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
- 2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai
2.2.1. Tình hình tội phạm do người dưới mười tám tuổi thực hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Trước hết, trong bối cảnh chung tình hình tội phạm vẫn diễn biến theo chiều hướng phức tạp và chưa giảm về số lượng nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng nghiêm trọng, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện cũng diễn biến theo xu thế đó.
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai và Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, trong 6 năm (2011 – 2016), trên địa bàn toàn tỉnh đã áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự cho 466 người dưới 18 tuổi phạm tội trong tổng số 2.899 người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nói chung. Trung bình mỗi năm có 77 người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự, chiếm khoảng 16% tổng số người phạm tội nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo thống kê thì hành vi vi phạm PLHS của NCTN tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội xâm phạm sở hữu; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người, một số tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.
2.2.2. Thực tiễn việc áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Thứ nhất, việc các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án với lý do (căn cứ) miễn TNHS chủ yếu được thực hiện và áp dụng ở giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố, còn Tòa án có áp dụng miễn TNHS đối với các bị cáo là người dưới 18 tuổi bị đưa ra xét xử nhưng số bị cáo là người dưới 18 tuổi được miễn TNHS chiếm tỷ lệ không cao.
Các vụ án, các bị can là người dưới 18 tuổi tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội xâm phạm sở hữu; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người …
Tỉ lệ tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày càng gia tăng nên việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cũng tăng lên. Tuy nhiên, qua thống kê cho thấy tổng số bị can được miễn TNHS từ năm 2011 đến năm 2016 không tăng, mà còn có xu hướng giảm và nó chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Thứ hai, trong giai đoạn xét xử số bị cáo là người dưới 18 tuổi được Tòa án áp dụng miễn TNHS trên tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử có thể nhận thấy chiếm tỷ lệ rất nhỏ, hầu như không đáng kể.
Thứ ba, việc áp dụng các quy định của PLHS, PLTTHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cho thấy: các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện các quy định này để áp dụng cho đúng đắn và chính xác về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục.
Thứ tư, việc phân loại những trường hợp đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và bị can do miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi cần được cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát trên địa bản tỉnh Gia Lai không lập bảng chi tiết và rõ ràng.
2.3.3. Nguyên nhân một số tồn tại từ việc áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Thứ nhất, mặc dù quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 1999 đã hoàn thiện và đầy đủ hơn so với các quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 nhưng qua thực tiễn áp dụng và thi hành cho thấy là các quy định về chế định này vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện và cần có văn bản giải thích và hướng dẫn thống nhất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, do trình độ nhận thức về các quy định của PLHS, PLTTHS của đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng còn hạn chế.
Thứ ba, do ý thức pháp luật, phương pháp, lề lối làm việc, trách nhiệm của cán bộ giải quyết vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa cao, việc quản lý, xử lý giải quyết vụ án chưa thật sâu và kỹ. Sự chỉ đạo, kiểm tra của cơ quan cấp trên đối với cấp dưới chưa được thường xuyên, liên tục, kịp thời; lãnh đạo chưa thật sự; cán bộ làm công tác này còn thiếu tinh thần trách nhiệm nên dẫn đến việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn chưa đúng pháp luật, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, gây ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Thứ tư, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội chính là do tác động từ môi trường sống gần nhất và chịu ảnh hưởng lớn nhất là gia đình. Nếu họ được sống trong môi trường yêu thương, tôn trọng thì sẽ học được cách yêu thương tôn trọng bản thân và tôn trọng người khác. Ngược lại, nếu ngay từ nhỏ họ không cảm nhận thấy sự yêu thương, tôn trọng, cảm thấy mình không có giá trị với bản thân và người khác thì rất có thể sẽ sẵn sàng làm người khác bị tổn thương. Vì vậy, nếu người dưới 18 tuổi sống trong một gia đình mà có bố hoặc mẹ vi phạm pháp luật; có bố, mẹ hoặc cả bố mẹ nghiện ma túy; không ở cùng với bố mẹ đẻ mà sống cùng với ông bà, anh chị em ruột, hoặc sống lang thang … thì tỉ lệ phạm tội rất cao.
Tuy có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các chương trình tuyên truyền về đạo đức, giáo dục pháp luật trong nhà trường nhưng chưa có chương trình cụ thể đi vào trọng tâm là giáo dục ý thức tự giác, tuân thủ pháp luật nhất là tuyên truyền về phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật phổ biến. Việc trang bị về những kiến thức kỹ năng sống cho người dưới 18 tuổi cũng chưa được đầy đủ, từ đó họ dễ bị lôi kéo vào những hành vi sai trái, vi phạm pháp luật.
Công tác quản lý của các ngành chức năng đối với hoạt động kinh doanh giải trí tại các quán cà phê giải khát, Karaoke, Internet, nhà hàng… chưa chặt chẽ, hiệu quả, đã khiến cho các cơ sở này thành nơi tụ tập của người dưới 18 tuổi có điều kiện, hư hỏng, trốn học, lang thang … từ đó vi phạm pháp luật; công tác đấu tranh chống tội phạm còn bộc lộ nhiều sơ hở yếu kém như: công tác đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội chưa thường xuyên triệt để, một số các hoạt động còn mang tính hình thức, sáo rỗng, chưa phù hợp và không tiếp cận được với người dưới 18 tuổi hoặc là làm cho có làm. Vì vậy, còn tồn tại nhiều loại tệ nạn, nhất là mại dâm, ma túy…từ đó tác động ảnh hưởng xấu đến người dưới 18 tuổi.
CHƯƠNG 3
NÂNG CAO HIỆU QUẢ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI MƯỜI TÁM TUỔI PHẠM TỘI
- 3.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Việc hoàn thiện các quy định về miễn TNHS nói chung và miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng cũng không nằm ngoài mục đích hoàn thiện PLHS Việt Nam nói chung, đồng thời sự cần thiết phải hoàn thiện chế định này còn thể hiện trên các phương diện thực tiễn, lý luận và lập pháp dưới đây:
3.1.1. Về phương diện thực tiễn
Thứ nhất, trong thực tiễn áp dụng PLHS và PLTTHS vẫn còn có một số trường hợp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không đúng pháp luật, không có căn cứ pháp lý dẫn đến để lọt tội phạm và người phạm tội.
Thứ hai, cũng trong thực tiễn áp dụng PLHS và PLTTHS, cơ quan và người có thẩm quyền đã coi và áp dụng một số trường hợp sau cũng là những trường hợp miễn TNHS như: Miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS; miễn TNHS đối với một số trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ…
Thứ ba, Một số các cơ quan tiến hành tố tụng do không nhận thức đúng các quy định của pháp luật nên đã vận dụng các quy định của PLHS và PLTTHS để đình chỉ không tội và đình chỉ miễn TNHS đối với vụ án, bị can; nhầm lẫn giữa hai điều luật quy định về miễn TNHS và điều luật quy định về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và ngược lại nhiều vụ lẽ ra vận dụng căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và xử lý theo pháp luật hành chính, nhưng vẫn khởi tố vụ án hình sự, sau đó đình chỉ vụ án miễn TNHS với bị can là gò ép, dập khuôn và cứng nhắc…
3.1.2. Về phương diện lập pháp
Thứ nhất, trong BLHS năm 1985 cũng như BLHS năm 1999 đều chưa đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm “miễn TNHS” là gì; hậu quả pháp lý cụ thể của việc miễn TNHS là gì; người được miễn TNHS có thể bị áp dụng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự nào khác (tố tụng hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật, lao động…) hay không.
Thứ hai, những trường hợp miễn TNHS cụ thể được quy định rải rác ở các điều luật, các chương, các phần khác nhau (Phần chung và Phần các tội phạm) của Bộ luật hình sự rõ ràng là thiếu tính chính xác về mặt khoa học và chưa đạt về mặt kỹ thuật lập pháp. Ngoài ra, trong từng trường hợp miễn TNHS cụ thể cũng cần được nhà làm luật có hướng dẫn kịp thời về căn cứ và những điều kiện để được miễn TNHS.
Thứ ba, quá trình áp dụng PLHS và PLTTHS cho thấy thực tiễn đời sống xã hội nói chung và thực tiễn xét xử nói riêng đang tồn tại nhiều trường hợp có thể áp dụng chế định miễn TNHS, nhưng lại chưa được nhà làm luật nước ta ghi nhận trong BLHS năm 1999 hiện hành. Ví dụ: miễn TNHS do hết thời hiệu truy cứu TNHS, miễn TNHS cho người phạm tội trốn khỏi nơi giam, miễn TNHS do sự hòa hoãn giữa người phạm tội và người bị hại, miễn TNHS cho người phạm tội là người già có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS …
Thứ tư, trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới cũng đòi hỏi PLHS của nước ta nói chung, chế định miễn TNHS nói chung và miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng cũng cần phù hợp và có sự tham khảo, chọn lọc các quy định của PLHS các nước (trong đó có những quy định về miễn TNHS), cũng như góp phần nhân đạo hóa hơn nữa CSHS của Nhà nước nói chung và của PLHS Việt Nam nói riêng.
3.1.3. Về phương diện lý luận
Thứ nhất, nó góp phần giúp cho cán bộ nghiên cứu khoa học-giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự có nhận thức đúng đắn và thống nhất về những trường hợp miễn TNHS, về căn cứ và những điều kiện áp dụng của từng trường hợp tương ứng để phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
Thứ hai, nó còn giúp cho những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ, đúng đắn và chính xác để từ đó ra các quyết định áp dụng hay không áp dụng miễn TNHS đối với người phạm tội có căn cứ và đúng pháp luật.
Thứ ba, hoàn thiện chế định miễn TNHS dưới góc độ này sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận luật hình sự Việt Nam, cũng như là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích bổ sung vào khoa học luật hình sự nước ta về vấn đề miễn TNHS.
- 3.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Theo BLHS năm 2015, căn cứ miễn TNHS được quy định tại Điều 29. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, ngoài các trường hợp được miễn TNHS quy định tại khoản 1 Điều 29, họ còn có thể được miễn TNHS, quy định tại khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015.
- 3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
3.3.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đề xuất trường hợp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
Người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được miễn TNHS trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này và đáng được khoan hồng đặc biệt. Đây là một quy phạm tùy nghi cho nhà áp dụng pháp luật thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật và trường hợp thực tế phát sinh trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện, vừa thỏa mãn yêu cầu đặt ra của PLHS và thỏa mãn chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền.
3.3.2. Đẩy mạnh công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Để đẩy mạnh công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp hình sự mà cụ thể là cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án trong hoạt động nghiệp vụ của mình. Các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật cần thường xuyên tổ chức kiểm tra và đánh giá việc áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề này và có những hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phù hợp với thực tiễn đó.
3.3.3. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết các vụ án đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết các vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, là việc làm hết sức cần thiết.
Đối với Điều tra viên trong cơ quan điều tra, tham gia hoạt động hỏi cung bị can, là người dưới 18 tuổi cần được bồi dưỡng riêng về phương pháp hỏi phù hợp với lứa tuổi chưa thành niên, chẳng hạn hỏi với thái độ nhẹ nhàng, động viên, nên đặt câu hỏi dễ hiểu, tránh những câu hỏi đe dọa làm các em hoảng sợ và tuyệt đối không được bức cung, nhục hình. Điều tra viên phải được bồi dưỡng kiến thức về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện.
Đối với Viện kiểm sát nhân dân, để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cần lựa chọn các kiểm sát viên có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm công tác, nghiệp vụ chắc chắn và hiểu biết về tâm lý học và khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi để giải quyết vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Đối với Tòa án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cần được đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao năng lực của Thẩm phán và Hội thẩm một cách chuyên nghiệp về nghiệp vụ xét xử và có kiến thức về tâm lý học và khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử.

3.3.4. Tăng cường vai trò của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình, nhà trường trong việc giám sát, giáo dục người dưới mười tám tuổi phạm tội khi họ được miễn trách nhiệm hình sự
Đối với gia đình có người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ được miễn TNHS: Tăng cường vai trò của gia đình trong việc giám sát giáo dục với ý nghĩa là rào cản của hiện tượng vi phạm pháp luật của người dưới 18 tuổi, là chỗ dựa tinh thần và tiếp thêm sức mạnh giúp đỡ người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS làm lại cuộc đời, hoàn thiện bản thân sống có ích cho xã hội.
Đối với cơ quan nhà nước, các tổ chức nhận trách nhiệm giáo dục, giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ được miễn TNHS:
– Tăng cường công tác quản lý, giám sát, giáo dục, tuyên truyền và phát huy hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực sau đây:
– Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ được miễn TNHS trong việc quản lý, giám sát và giáo dục các em.
3.3.5. Khẩn trương tiến hành thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên
Để khẩn trương tiến hành thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai, ngành Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, theo chúng tôi cần phải:
Thứ nhất, chuẩn bị nhân lực cho việc thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai về cơ cấu và điều chuyển biên chế, số lượng Thẩm phán, Thư ký, Trợ giúp viên, Điều đình viên, đội ngũ lãnh đạo đối với các Tòa gia đình và NCTN trên cơ sở biên chế hiện có; đồng thời căn cứ vào yêu cầu thực tế để xác định số lượng biên chế cần thiết để báo cáo TANDTC trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định; các Hội thẩm nhân dân sẽ được lựa chọn từ các cơ quan, tổ chức làm việc trong các lĩnh vực có liên quan đến công tác gia đình, công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.
Thứ hai, đầu tư về xây dựng cơ sở vật chất trên địa bàn tỉnh Gia Lai để chuẩn bị kinh phí cho công tác đào tạo, đào tạo lại, công tác chuẩn bị để tuyển dụng, bổ nhiệm và sắp xếp lại nhân lực cũng như kinh phí để bố trí lại phòng xét xử thân thiện đối với NCTN. Nguồn kinh phí này trước hết và chủ yếu tập trung từ ngân sách nhà nước ở địa phương. Bên cạnh đó, tranh thủ sự ủng hộ về tài chính từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và các nguồn khác với mục đích là đem lại những lợi ích tốt nhất cho gia đình và NCTN.
Thứ ba, ban hành quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Gia Lai như: cần có bộ phận chuyên trách (được cơ cấu và sắp xếp lại trên cơ sở biên chế hiện có) hoặc những điều tra viên, kiểm sát viên chuyên trách để tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố đối với NCTN phạm tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ việc của Tòa gia đình và NCTN.
Thứ tư, chủ động xây dựng quy chế phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phúc lợi xã hội, cơ quan y tế, giáo dục ở trên địa bàn tỉnh Gia Lai để phối hợp với Tòa án giải quyết tốt các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và NCTN …
KẾT LUẬN
Chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những chế định cơ bản, có ảnh hưởng lớn đến các chế định có liên quan và cũng là vấn đề được quan tâm, nghiên cứu hiện nay.
Trên cơ sở nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra phân tích một số vấn đề như: Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội, miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời kiến nghị sửa đổi khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999; và kiến nghị bổ sung thêm một trường hợp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như đã trình bày ở trên; thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Người dưới 18 tuổi được miễn TNHS theo khoản 2 Điều 69 BLHS, bên cạnh đó người dưới 18 tuổi cũng được hưởng các trường hợp miễn TNHS như người đã thành niên được quy định trong BLHS năm 1999 tại các Điều 19, khoản 1, 2, 3 Điều 25, khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290, khoản 3 Điều 314. Các quy định của BLHS năm 1999 về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi nêu trên là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng vào thực tiễn.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân của những hạn chế tồn tại, tác giả luận văn đã có cố gắng đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của PLHS Việt Nam về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như hoàn thiện PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người tiến hành tố tụng, đặc biệt cần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách để giải quyết đối với vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội.
Khẩn trương tiến hành thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai, có đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thấm phán và Hội thẩm nhân dân chuyên trách về người dưới 18 tuổi.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\NGUYEN THANH DUNG\SAU BAO VE


