Quản lý nhà nước về an sinh xã hội từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền được hưởng ASXH là một trong những quyền cơ bản và là một đòi hỏi chính đáng xuất phát từ nhu cầu phòng tránh rủi ro của con người. Nhằm hiện thực hoá nhu cầu phòng tránh rủi ro, từ xa xưa con người đã có các biện pháp như tiết kiệm (tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn) hoặc nhờ sự cưu mang, đùm bọc của cộng đồng (lá lành đùm lá rách), v.v. Tuy nhiên, trong nền KTTT, những biện pháp có tính truyền thống như trên đã không còn đủ sự an toàn để giúp cho mỗi người có thể tự khắc phục hoặc vượt qua khó khăn khi gặp phải rủi ro trong cuộc sống. Chính vì vậy, công tác quản lý về ASXH luôn được Nhà nước ta quan tâm, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong mọi thời kỳ, đảm bảo ASXH luôn là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan để nhà nước thực hiện cả chức năng giai cấp và chức năng xã hội của mình.
Trong những năm qua, cùng với hệ thống an sinh xã hội của cả nước, hệ thống an sinh xã hội quận Ngũ Hành Sơn đã được thành lập và đi vào hoạt động, đưa Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế vào cuộc sống, chăm lo đời sống cho những hộ nghèo, gia đình liệt sĩ, thương binh,… quận Ngũ Hành Sơn đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng – an ninh được đảm bảo, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng lên. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều vấn đề bất cập: Tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng rõ rệt; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến người nông dân không còn đất sản xuất, buộc họ phải di chuyển từ nông thôn ra thành thị để tìm việc làm, chấp nhận cuộc sống bấp bênh và nhiều rủi ro; dân số ngày càng già hoá; cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đe doạ đến cuộc sống của nhiều người lao động, nhất là lao động thu nhập thấp, lao động phổ thông, v.v. Hậu quả chiến tranh, tình trạng thất nghiệp, bệnh tật, ốm đau và sự tác động của thiên tai, luôn là nguy cơ đẩy người dân rơi vào cảnh nghèo đói. Nếu Nhà nước không quản lý ASXH hiệu quả thì đây sẽ là rào cản và mầm mống của những bất ổn về chính trị, kinh tế và xã hội, ngăn trở quá trình xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh“.
Với mong muốn đóng góp một phần kiến thức của bản thân vào việc nghiên cứu vấn đề an sinh xã hội ở địa phương, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về an sinh xã hội từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình. Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan chính quyền, đoàn thể và nhân dân có thể nhận diện bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Khắc phục những bất cập hiện nay, đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những nội dung lý luận về an sinh xã hội và quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về ASXH tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Về thời gian: Sử dụng các thông tin, tư liệu từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí minh; quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề an sinh xã hội và quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập thông tin:
– Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
+ Điều tra thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội trên địa bàn nghiên cứu.
+ Tổng quan tài liệu, thống kê tư liệu đã có về tình hình an sinh xã hội và quản lý nhà nước về an sinh xã hội trên quy mô cả nước và thành phố.
– Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Điều tra, khảo sát thực địa về tình hình quản lý nhà nước về an sinh xã hội của các nhóm dự án điển hình trên địa bàn thành phố.
+ Phương pháp chuyên gia: sử dụng ý kiến các chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực an sinh xã hội.
+ Phương pháp quan sát thực tế: Tiến hành đi thực địa, quan sát, chụp ảnh thực tế nhằm kiểm tra các thông tin thu thập.
+ Phương pháp phỏng vấn hộ: Phỏng vấn người dân để tìm hiểu sự ảnh hưởng của việc quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
* Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
– Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để thống kê mô tả tình hình của địa bàn nghiên cứu, phân nhóm hộ và lựa chọn hộ điều tra phỏng vấn.
– Phương pháp so sánh: So sánh các trường hợp khác nhau trong quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
– Phương pháp phân tích: Phân tích những tác động của việc quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về ASXH ở nước ta nói chung và ở quận Ngũ Hành Sơn nói riêng.
6.2. Thực tiễn luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy. Những phương hướng và giải pháp được luận văn đề xuất có thể gợi mở cho các cơ quan quản lý có những điều chỉnh phù hợp để quản lý nhà nước về ASXH hiệu quả hơn, qua đó góp phần nâng cao vai trò của Nhà nước trong thực hiện chính sách ASXH ở nước ta nói chung và ở quận Ngũ Hành Sơn nói riêng hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý quản lý nhà nước về an sinh xã hội.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước về an sinh xã hội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về an sinh xã hội
An sinh xã hội là những can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
An sinh xã hội có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, đối tượng của ASXH bao gồm các nhóm đối tượng: Người lao động và gia đình họ; Người có công với cách mạng, người đóng góp công sức cho tổ quốc; Người già cô đơn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, người nghèo khó, túng thiếu; Người gặp thiên tai hoả hoạn, địch họa hoặc các rủi ro khác.
Thứ hai, ASXH nhằm bù đắp một phần thu nhập cho cho những người bị mất hoặc bị giảm khả năng lao động.
Thứ ba, ASXH là sự trợ giúp vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Sự thụ hưởng của các bên được đảm bảo thực hiện trên cơ sở sự đóng góp nhưng cũng tính đến yếu tố cộng đồng, yếu tố nhân đạo.
Thứ tư, nguồn quỹ của ASXH rất đa dạng có thể do sự hỗ trợ từ ngân sách của nhà nước, của người lao động, người sử dụng lao động, có thể do sự hỗ trợ quyên góp của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
Thứ năm, về bản chất, ASXH là sự san sẻ trách nhiệm của mọi người đối với những người gặp rủi ro, khó khăn hoặc những yếu tố khác mà bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Khái niệm quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Quản lý nhà nước về an sinh xã hội là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyền lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình chính sách có công cách mạng.
QLNN về ASXH có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, QLNN về ASXH chính là sự an toàn. Việc đảm bảo ASXH luôn được nhà nước coi là một nhiệm vụ trọng tâm để tạo sự ổn định của xã hội.
Thứ hai, QLNN về ASXH góp phần thực hiện mục tiêu tái phân phối của cải xã hội, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội.
Thứ ba, QLNN về ASXH thể hiện sự ghi nhận quyền cơ bản của con người, là công cụ để xây dựng một xã hội hài hòa, công bằng và không có sự loại trừ.
1.1.2. Vai trò quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Thứ nhất, ổn định chính trị, ổn định cuộc sống, phòng ngữa rủi ro cho người dân.
Trong đời sống xã hội có những rủi ro mà người ta biết trước nó chắc chắn sẽ diễn ra như già yếu, không còn khả năng lao động… Để phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực từ những rủi ro này Nhà nước nên tạo môi trường thuận lợi để người dân có điều kiện đóng góp tham gia từ khi còn trong độ tuổi lao động, đến khi về già họ có khả năng đối phó với rủi ro này nhờ vào lương hưu hoặc tiền bảo hiểm tuổi già… Vì thế, cuộc sống người dân ổn định, nghĩa là phần lớn xã hội ổn định, tạo nên một xã hội ổn định về chính trị, tạo tiền đề phát triển kinh tế.
Thứ hai, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững.
QLNN về ASXH đối với người dân sẽ giải quyết quan hệ bình đẳng, công bằng đối với người dân trong quá trình phát triển.
Việc thực hiện tốt QLNN về ASXH sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định.
Thứ ba, hoàn thiện công cụ quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước.
ASXH là một trong những công cụ quản lý mà chính phủ dùng để điều hành, quản lý và phát triển xã hội.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Thứ nhất, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện mô hình luật pháp và thể chế chính sách an sinh xã hội
Công tác QLNN trong xây dựng môi trường luật pháp và thể chế chính sách về ASXH thể hiện ở chỗ: Nhà nước xây dựng hệ thống luật pháp về ASXH đối với người dân, quy định người dân sẽ tham gia vào hình thức ASXH nào? Nhà nước xây dựng các thể chế chính sách quy định về điều kiện tham gia, các mức đóng, mức hưởng và các điều kiện ràng buộc đối với người tham gia; Nhà nước cam kết việc đảm bảo hoặc hỗ trợ tài chính cho đối tượng tham gia vào ASXH.
Thứ hai, Nhà nước phối hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế – xã hội khác
Cùng với các thể chế chính sách ASXH, Nhà nước có vai trò xây dựng các chính sách kinh tế – xã hội khác để tạo điều kiện cho người dân có thu nhập tham gia vào ASXH.
Thứ ba, Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội
Trong quá trình thực hiện, việc Nhà nước tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính hiệu lực, tính nghiêm minh trong việc thực hiện các mục tiêu của ASXH đối với người dân có ý nghĩa quan trọng.
1.3. Phương thức quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Thứ nhất, triển khai các văn bản pháp luật quy định về an sinh xã hội
Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội từng bước được hoàn thiện bảo đảm quyền an sinh xã hội cho mọi người dân.
Thứ hai, tổ chức thực hiện và giải quyết các vấn đề về an sinh xã hội
Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về an sinh xã hội. Để thể hiện vai trò nòng cốt này, Nhà nước đã tập trung ngân sách trong khả năng có thể cho lĩnh vực an sinh xã hội. Nhà nước thực hiện thanh tra, tiểm tra việc thực hiện pháp luật về ASXH, xử lý vi phạm, kỷ luật đối với cán bộ, công chức khi phát hiện sai phạm trong QLNN về ASXH.
1.4. Các yếu tố tác động đến việc quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Thứ nhất, quan điểm của nhà nước về an sinh xã hội
Quản lý nhà nước về ASXH đối với người dân phụ thuộc vào kiểu tổ chức ASXH, mà đến lượt nó, kiểu tổ chức ASXH lại phụ thuộc vào quan điểm, ý chí của Nhà nước.
Thứ hai, khả năng tài chính của nhà nước và thu nhập của người dân
Nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống ASXH trước hết là khả năng NSNN và khả năng thu nhập của người dân. Khả năng thu nhập của người dân càng cao thì việc người dân chủ động tham gia vào hệ thống ASXH càng lớn, nhu cầu trợ giúp từ Nhà nước sẽ giảm bớt và ngược lại. Đồng thời, khả năng tài chính từ NSNN càng dồi dào thì phạm vi và quy mô trợ giúp cho người dân sẽ càng tăng và ngược lại.
Thứ ba, năng lực của hệ thống quản lý an sinh xã hội
Năng lực của hệ thống quản lý ASXH thể hiện ở tính phù hợp của hệ thống tổ chức và số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH.
Thứ tư, nhận thức xã hội về an sinh xã hội
Việc tham gia vào hệ thống ASXH không chỉ phụ thuộc vào yếu tố kinh tế mà còn chịu sự tác động của yếu tố xã hội, trong đó tập quán, thói quen và nhận thức xã hội đóng vai trò quan trọng.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI
TẠI QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Đặc điểm kinh tế xã hội
2.2. Tình hình an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Về chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp
Báo cáo của bảo hiểm xã hội quận Ngũ Hành Sơn cho thấy, bảo hiểm xã hội quận liên tục hoàn thành tốt nhiệm vụ góp phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong công tác chi trả ngành đã thực hiện đúng, kịp thời các chính sách với quy trình được cải tiến và rút ngắn. Ngành bảo hiểm đã thu hút được ngày càng nhiều đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc, cụ thể trong năm 2015 đã phát triển thêm 76 đơn vị, với 883 lao động; so với năm 2014 tăng 18 đơn vị (31,03%), 676 lao động (326,57%); tham gia BHXH tự nguyện: 54 người, so với năm 2014 tăng 84,38%.
Bảo hiểm xã hội quận quản lý 393 đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN gồm 48.410 người, trong đó có 47 đơn vị chỉ tham gia BHYT với 38.548 người.
2.2.2. Về bảo trợ xã hội
Hoạt động bảo trợ xã hội bao gồm Trợ giúp thường xuyên và Trợ giúp đột xuất, cả hai hình thức trợ giúp này đều được thực hiện từ ngân sách nhà nước, quản lý và chi trả thông qua Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội, ngoài ra trợ giúp đột xuất khi xảy ra còn được các tổ chức đoàn thể như Mặt trận tổ quốc, Hội chữ thập đỏ; doanh nghiệp, tập thể đơn vị, cá nhân….vv tham gia trên tinh thần lá lành đùm lá rách của truyền thống dân tộc Việt Nam khi gặp rủi ro, thiên tai…
Trong năm 2015 quận Ngũ Hành Sơn đã thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 2875 đối tượng với tổng kinh phí là 11.000.000.000 đồng.
Ngoài ra, UBND quận Ngũ Hành Sơn đã tổ chức Chương trình “Tết yêu thương”, UBND quận đã kêu gọi và hỗ trợ 154.410 kg gạo cho 5307 hộ với 10.294 khẩu.
2.2.3. Chính sách ưu đãi người có công
Nguồn kinh phí chi trả các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi người có công được thực hiện từ ngân sách nhà nước thông qua Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận Ngũ Hành Sơn để chi trả trợ cấp hàng tháng cho trên 3.247 đối tượng với số kinh phí gần 56 tỷ đồng bảo đảm đúng tiêu chuẩn đối tượng theo qui định của nhà nước.
Kịp thời trợ cấp 1 lần cho 3463 đối tượng với tổng số tiền 5 tỷ đồng; tổ chức cấp phát tiền thờ cúng Liệt sĩ cho 1290 hộ gia đình chính sách (500.000 đồng/người), với tổng tiền 645.000.000 đồng.
Tổ chức đi tham quan kết hợp điều dưỡng cho 35 đối tượng chính sách năm 2015, đồng thời tổ chức chi trả tiền điều dưỡng tại nhà cho 837 đối tượng chính sách với tổng kinh phí gần 1.006.770.000 đồng.
Tổ chức tốt việc cấp quà của Chủ tịch nước, UBND thành phố Đà Nẵng, không để xảy ra sai sót. Công tác tiếp nhận và trao tặng quà Tết từ các tổ chức doanh nghiệp đến hộ nghèo hộ chính sách khó khăn cũng được phòng thực hiện chu đáo. Tổng số quà và tiền đã cấp 15.968 suất với tổng trị giá quà Tết: 4.439.200.000 đồng.
Tổ chức buổi trao vật dụng thiết yếu cho các hộ gia đình chính sách thuộc Đề án sửa chữa và xây mới nhà 2015 với tổng trị giá quà tặng gần 50 triệu đồng vào ngày 25 tháng 7.
Tổ chức khảo sát và lập danh sách 135 hộ gia đình chính sách có nhà ở xuống cấp cần xây mới và sửa chữa năm 2016 (35 nhà xây mới, 100 nhà sửa chữa).
Phòng LĐ-TB&XH cũng đã phối hợp cùng UBND các phường và các đơn vị liên quan tiến hành vẽ thiết kế và dự toán kinh phí cho từng hạng mục công trình. Tạm ứng kinh phí chuyển các hộ có nhu cầu xây dựng và sửa chữa trước Tết nguyên đán năm Bính Thân.
Thu quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” năm 2015 đối với khối các cơ quan đơn vị và UBND các phường.
2.2.4. Thực hiện Chương trình mục tiêu giảm nghèo
Đầu năm 2015, toàn quận có 595 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 3,14% so với tổng số hộ dân; Kế hoạch giảm nghèo của quận giao 595 hộ nghèo. Trong năm 2015 thực hiện giảm nghèo là 595 hộ với 2.095 khẩu đạt 100% kế hoạch quận giao.
Nguồn kinh phí hỗ trợ trong năm 2015 toàn quận đã tập trung huy động, tranh thủ sự hỗ trợ của thành phố và các tổ chức, cá nhân để giúp đỡ cho hộ nghèo, hộ đặc biệt nghèo, với tổng số tiền 11.271.820.000 đồng, trong đó nguồn từ ngân sách 6.718.970.000 đồng, nguồn huy động 4.306.850.000 đồng, vốn vay ngân hàng chính sách 246.000.000 đồng. Tập trung đầu tư vào các giải pháp chủ yếu như làm nhà Tình thương, nhà Đại đoàn kết, nhà Tình nghĩa, sữa chữa nhà, xây dựng công trình phụ, trao vốn sinh kế, hỗ trợ học bỗng, vay vốn, tư vấn đào tạo, chuyển đổi ngành nghề…
Để Chương trình mục tiêu giảm nghèo đạt hiệu quả cao, quận Ngũ Hành Sơn đã đề ra các chính sách hỗ trợ thiết thực như: Chính sách tín dụng, hỗ trợ sinh kế; Giải quyết việc làm; Chính sách hỗ trợ về giáo dục; Chính sách hỗ trợ về y tế; Chính sách hỗ trợ nhà ở, điện, nước sinh hoạt và cải thiện điều kiện vệ sinh.
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, tình hình quản lý Nhà nước về BHXH, BHYT, BHTN
Hằng năm BHXH quận Ngũ Hành Sơn tổ chức tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW của Bộ Chính trị đến toàn bộ các đơn vị sử dụng lao động, cán bộ đảng viên và người lao động trên địa bàn quận. Phối hợp với Ban Tuyên giáo Quận ủy Ngũ Hành Sơn tổ chức hội nghị tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT, Luật BHYT bổ sung sửa đổi một số điều, Luật BHXH bổ sung đến các cấp ủy đảng, Bí thư chi bộ, tổ trưởng các dân phố trên địa bàn quận.
Chất lượng phục vụ các dịch vụ bảo hiểm ngày càng tăng cao nên thu hút được nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội. Theo báo cáo của BHXH quận, các đối tượng thực tế tham gia đóng BHXH tăng dần qua các năm dẫn đến nguồn thu quỹ BHXH cũng tăng dần.
Thứ hai, tình hình quản lý Nhà nước về bảo trợ xã hội
UBND quận thực hiện đúng theo Nghị định Chính phủ và thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội theo Quyết định 25/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2015 của UBND thành phố Đà Nẵng đã trợ cấp thường xuyên với mức hưởng trợ cấp từ 270.000 – 810.000 đồng/đối tượng/tháng tùy theo loại đối tượng.
Ngoài ra, UBND quận đã tổ chức thực hiện trợ cấp thường xuyên cho các đối tượng mắc bệnh hiểm nghèo, hộ đặc biệt nghèo, phụ nữ đơn thân nuôi con thuộc diện hộ nghèo, hộ đặc biệt nghèo.
Thứ ba, tình hình quản lý Nhà nước về Chính sách người có công
UBND quận triển khai nội dung Quyết định số 8885/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2014 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt Đề án Hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở trên địa bàn thành phố theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ. Kết quả triển khai thực hiện có 107 hộ được hỗ trợ sửa chữa và xây mới. Trong đó: có 102 hộ được phê duyệt trong danh sách Đề án, 05 hộ hỗ trợ ngoài Đề án. Trong số đó, hộ trong diện hỗ trợ sửa chữa 60 hộ, hỗ trợ xây mới 47 hộ với tổng kinh phí đầu tư 5.020.856.000 đồng, trong đó: Nguồn ngân sách thành phố 2.650.000.000 đồng; ngân sách quận 525.856.000 đồng; nguồn do các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp hỗ trợ 1.835.000.000 đồng.
UBND quận Ngũ Hành Sơn đã tổ chức đi tham quan kết hợp điều dưỡng cho 35 đối tượng chính sách năm 2015, đồng thời tổ chức chi trả tiền điều dưỡng tại nhà cho 837 đối tượng chính sách với tổng kinh phí gần 1.006.770.000 đồng.
Thứ tư, tình hình quản lý Nhà nước về Chính sách Chương trình mục tiêu giảm nghèo
Thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước, UBND quận Ngũ Hành Sơn đã ban hành các văn bản triển khai thực hiện như: Kế hoạch số 01/KH-UBND ngày 07 tháng 01 năm 2015 của UBND quận về việc thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo và An sinh xã hội năm 2015; Công văn số 319/UBND-PLĐTBXH ngày 16 tháng 3 năm 2015 về việc kiểm tra danh sách sửa chữa nhà ở hộ nghèo năm 2015; Kế hoạch số 26/KH-UBND ngày 02 tháng 3 năm 2015 của UBND quận về điều tra hộ có mức thu nhập thấp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, Công văn 1198/UBND-PLĐTBXH ngày 18 tháng 8 năm 2015 của UBND quận về việc xét chọn hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 2016 – 2020… để nắm bắt đời sống nhân dân tại địa phương và đề ra các phương án xử lý kịp thời.
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
2.4.1. Những ưu điểm trong quản lý nhà nước an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, thành công của chính sách BHXH là Tổng số thu trong năm 164.161 triệu đồng, so với năm 2014 tăng 14.838 triệu đồng (9,94%); so với kế hoạch giao tăng 4.067 triệu đồng (2,54%); Việc chi trả BHXH bảo đảm đúng đối tượng chính sách và là nguồn thu nhập đáng kể đối với các đối tượng được hưởng.
Thứ hai, hoạt động bảo trợ xã hội, do việc mở rộng đối tượng hưởng chính sách cứu trợ xã hội nên đối tượng được hưởng cứu trợ thường xuyên tăng lên đã góp phần giúp những người yếu thế trong xã hội cải thiện được cuộc sống, giảm bớt nghèo đói. Công tác xã hội hóa công tác cứu trợ đã huy động được các cá nhân, tổ chức xã hội tham gia. Đặc biệt là trợ cấp đột xuất khi bị thiên tai lũ lụt, bệnh tật hiểm nghèo.
Thứ ba, hoạt động chính sách người có công đã được mở rộng đối tượng hưởng, đã động viên kịp thời các đối tượng có tham gia cách mạng nhưng do qui định chưa được hưởng chính sách đãi ngộ.
Thứ tư, trong năm 2015, quận Ngũ Hành Sơn không còn hộ nghèo theo tiêu chí cũ của thành phố. Các chính sách giảm nghèo ngày càng được đổi mới và hoàn thiện như: chính sách tín dụng, hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ giáo dục, gaiir quyết việc làm…. Đời sống của người dân ngày càng được quan tâm, được trợ cấp thường xuyên, cuộc sống của hộ được cải thiện rõ rệt và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.
2.4.2. Những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước an sinh xã hội tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, hệ thống an sinh xã hội chưa đồng bộ, một số chương trình mang tính khả thi thấp.
Thứ hai, nguồn tài chính thực hiện các chương trình an sinh xã hội thiếu bền vững.
Thứ ba, nhận thức về chính sách an sinh xã hội mặc dù được cải thiện nhưng vẫn chưa đầy đủ.
Thứ tư, hệ thống văn bản pháp luật quy định về an sinh xã hội chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện.
Thứ năm, năng lực tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội chưa theo kịp với yêu cầu.
Thứ sáu, thể chế tài chính còn nhiều vướng mắc. Trách nhiệm của một số địa phương, đơn vị trong thực hiện an sinh xã hội chưa cao.
Thứ bảy, đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội còn thiếu và tính chuyên nghiệp chưa cao.
Nguyên nhân của hạn chế
Trong quá trình đổi mới kinh tế, nhiều vấn đề an sinh xã hội bức xúc, mới phát sinh chưa được giải đáp một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn. Hệ thống chính sách, luật pháp về an sinh xã hội theo mô hình hiện nay không theo kịp với đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tiến trình hội nhập quốc tế.
Cùng với sự phát triển thì các nguy cơ, rủi ro kinh tế và xã hội ngày càng có xu hướng tăng. Thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn nói riêng đang phát triển với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế đặc thù, nên rất dễ gặp phải rủi ro về thiên tai, lũ lụt, ảnh hưởng đến sinh kế và thu nhập của người dân. Trong khi đó, do nguồn lực còn hạn chế, nên chúng ta chưa thật chủ động bảo đảm an sinh xã hội cho đông đảo dân cư.
Mức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội còn chưa hợp lý, chưa bảo đảm cuộc sống cho các đối tượng thụ hưởng. Mức độ bền vững về tài chính, tính liên kết giữa các chế độ, chính sách an sinh xã hội còn nhiều bất cập nên vẫn chưa thu hút được các đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN SINH XÃ HỘI QUA THỰC THI TRÊN THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội
Thứ nhất, xuất phát từ những hạn chế và bất cập trong QLNN về ASXH như: hệ thống ASXH chưa đồng bộ, tính khả thi thấp, hệ thống văn bản pháp luật quy định về ASXH chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện, năng lực tổ chức, tài chính còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội và chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế thị trường.
Thứ hai, có thể dễ dàng nhận thấy trong tương lai những hậu quả của kinh tế, lạm phát và biến động bất lợi của kinh tế thị trường, của thiên tai, bão lũ, hạn hán, mất mùa đối với người nghèo và người lao động thu nhập thấp.
Thứ ba, chính sách an sinh xã hội đang bộc lộ những thiếu hụt khi các dịch vụ công không còn được bao cấp như trước trong điều kiện kinh tế thị trường.
Thứ tư, năng lực xây dựng chính sách an sinh xã hội vẫn còn những hạn chế nhất định.
Thứ năm, việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội ở các cấp, nhất là cấp cơ sở còn yếu.
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ASXH từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, hướng đến mục tiêu phát triển con người Việt Nam, đảm bảo công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN.
Thứ hai, xuất phát từ trình độ phát triển KT – XH của nước ta hiện nay để nâng cao hiệu quả quản lý về ASXH.
Thứ ba, tạo sự liên kết giữa thực hiện chính sách ASXH với các chính sách KT – XH khác.
Thứ tư, phát huy vai trò cộng đồng, truyền thống dân tộc, hợp tác quốc tế trong quản lý về ASXH.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả QLNN về ASXH từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng phải trên tinh thần kế thừa, sửa đổi, bổ sung những quy định hiện hành trong QLNN về ASXH.
3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, hình thành khung chính sách ASXH năng động theo xu hướng cộng đồng quốc tế đang hướng tới
Để hình thành khung chính sách ASXH năng động, Nhà nước cần phải tiếp tục có những đổi mới đối với từng bộ phận chính sách cơ bản nói riêng và cả hệ thống ASXH nói chung. Trong đó trọng tâm là phát triển đồng bộ, đa dạng các chính sách bảo hiểm (BHXH, BHYT, BHTN và các hình thức bảo hiểm thương mại khác) và có biện pháp hỗ trợ phù hợp để người dân được tham gia vào các loại hình bảo hiểm.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn hệ thống luật về ASXH
Nhà nước cần nhanh chóng rà soát, điều chỉnh, bổ sung, cụ thể hóa và hoàn thiện các quy định hiện hành của pháp luật về ASXH với các nội dung:
– Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia tiến tới đảm bảo quyền tham gia vào các loại hình đảm bảo ASXH cho mọi người lao động.
– Cải cách các thủ tục hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia vào các loại hình chính sách.
– Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành nhằm đảm bảo an toàn quỹ và quyền lợi người tham gia; mở rộng quyền lợi người tham gia; nâng cao chất lượng dịch vụ ASXH, v.v.
– Chú trọng hơn đến việc đảm bảo chế độ ƯĐXH và TGXH cho đối tượng đủ điều kiện hưởng; thành lập các quỹ TGXH thích hợp với nhu cầu của người dân (quỹ thiên tai, quỹ nghèo đói) để đảm bảo tập trung nguồn lực và điều hòa tài chính cho hoạt động TGXH một cách chủ động; chú trọng việc xã hội hóa hoạt động TGXH.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính cho hệ thống an sinh xã hội
Nhanh chóng tạo lập cơ chế tài chính độc lập, tăng trưởng nhanh, có khả năng đảm bảo được cân đối thu – chi bảo hiểm xã hội một cách vững chắc.
Thứ tư, khuyến khích xã hội hoá, tăng cường sự tham gia của người dân vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội
Tuyên truyền sâu rộng về từng loại hình chính sách ASXH
Mở rộng dân chủ trong thực hiện chính sách ASXH
Khuyến khích sự tham gia của chủ thể xã hội vào quá trình thực hiện chính sách ASXH
Tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác xã hội hoá thực hiện chính sách ASXH
Thứ năm, kết hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế – xã hội khác
Tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước
Nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện chính sách ASXH.
Đẩy mạnh thực hiện chính sách việc làm nhằm cải thiện và đảm bảo thu nhập cho người lao động
Đổi mới chính sách tiền lương và phân phối thu nhập
Thực hiện có hiệu quả chính sách xoá đói giảm nghèo
Phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản khác
Thứ sáu, chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế về thực hiện chính sách an sinh xã hội
Nhà nước cần xây dựng chiến lược toàn diện về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đảm bảo ASXH
Chủ động, tích cực và thực hiện có hiệu quả các điều ước và thoả thuận quốc tế trong đảm bảo ASXH mà Việt Nam đã tham gia
Cải cách thể chế ASXH cho phù hợp với các tiêu chí quốc tế trên cả 3 phương diện: Thể chế chính sách, thể chế bộ máy và thể chế tài chính.
KẾT LUẬN
Quản lý nhà nước về ASXH cho người dân luôn là một đòi hỏi khách quan đối với bất kỳ nhà nước nào trên thế giới. Chính sách ASXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì sự ổn định, phát triển bền vững về chính trị, xã hội của đất nước. Chính vì tầm quan trọng của nó như vậy cho nên khi luận giải về chính sách ASXH đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau. Tuy vậy, dù còn có những khác biệt về cách tiếp cận hay luận giải vấn đề thì bản chất chung nhất của chính sách ASXH là những chính sách bảo vệ của nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách BHXH, BHYT, BTXH, ƯĐXH và TGXH.
Trong quá trình xây dựng, phát triển địa phương, quận Ngũ Hành Sơn luôn coi trọng việc quản lý nhà nước về an sinh xã hội bởi an sinh xã hội là công cụ quan trọng thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm sự phát triển ổn định đời sống của người lao động, tạo cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của quận Ngũ Hành Sơn nói riêng, góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam nói chung.
Quận Ngũ Hành Sơn đã tập trung thực hiện các chương trình an sinh xã hội, góp phần thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng việc quản lý nhà nước về an sinh xã hội ở quận Ngũ Hành Sơn đã được triển khai tương đối đồng bộ, có hiệu quả cao, gắn với công tác kiểm tra, giám sát, tác động tích cực đến đời sống nhân dân trong quận Ngũ Hành Sơn.
Bên cạnh những thành công, công tác quản lý nhà nước về ASXH cũng đang bộc lộ những hạn chế cần khắc phục như: 1) Hệ thống an sinh xã hội chưa đồng bộ, một số chương trình mang tính khả thi thấp.2) Nguồn tài chính thực hiện các chương trình an sinh xã hội thiếu bền vững.3) Nhận thức về chính sách an sinh xã hội mặc dù được cải thiện nhưng vẫn chưa đầy đủ. 4) Hệ thống văn bản pháp luật quy định về an sinh xã hội chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện.5) Năng lực tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội chưa theo kịp với yêu cầu.6) Thể chế tài chính còn nhiều vướng mắc. Trách nhiệm của một số địa phương, đơn vị trong thực hiện an sinh xã hội chưa cao.7) Đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội còn thiếu và tính chuyên nghiệp chưa cao.
Để biến những chủ trương, chính sách đúng đắn thành kết quả cụ thể, Nhà nước cần quan tâm thực hiện các giải pháp sau: Hình thành khung chính sách ASXH năng động theo xu hướng cộng đồng quốc tế đang hướng tới; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn hệ thống luật về ASXH; hoàn thiện cơ chế tài chính cho hệ thống an sinh xã hội; Khuyến khích xã hội hoá, tăng cường sự tham gia của người dân vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; kết hợp thực hiện chính sách an sinh xã hội với các chính sách kinh tế – xã hội khác; chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế về thực hiện chính sách an sinh xã hội.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\TRAN THI NGOC LAN\WORD 2003


