Tổ chức và hoạt động của trung tâm trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trợ giúp pháp lý là dịch vụ pháp lý miễn phí cho những đối tượng yếu thế trong xã hội theo quy định của nhà nước, giúp người được TGPL có kiến thức pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, góp phần nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật trong nhân dân. Có thể nói hoạt động TGPL với phương châm “xóa đói, giảm nghèo” pháp luật là một trong những yếu tố góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm TGPL trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập. Tại Tỉnh Gia Lai, hoạt động TGPL chính thức được hình thành và đi vào hoạt động bằng việc ban hành Quyết định số 307/1998/QĐ-UB ngày 04/4 /1998 của UBND tỉnh Gia Lai về việc thành lập Trung tâm TGPL Nhà nước (gọi tắt là Trung tâm TGPL Gia Lai) trực thuộc Sở Tư pháp. Trung tâm TGPL có chức năng thực hiện TGPL miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác trên địa bàn tỉnh.
Tiếp theo đó, ngày 29/6/2006 bước tiến lịch sử trong hoạt động lập pháp về lĩnh vực TGPL là Quốc hội đã thông qua Luật TGPL nâng tâm thể chế từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đó là mốc son rực rỡ đánh dấu bước chuyển về chất, đưa công tác TGPL lên tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Hiến pháp năm 2013 ra đời tiếp tục khẳng định tôn trọng quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Tại Điều 14 Hiến pháp quy định “ Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy, ở Việt Nam pháp luật về TGPL đã được xây dựng và tạo ra một lộ trình cụ thể tương đối hoàn chỉnh. Vấn đề còn lại là tổ chức và hoạt động TGPL trong đời sống xã hội như thế nào, cần nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan, toàn diện, có hệ thống cả về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn nhằm từng bước hoàn thiện NNPQXHCN Việt Nam.
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL trên địa bàn tỉnh Gia Lai bên cạnh những cố gắng và thành tựu bước đầu đạt được, vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác . Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL ở tỉnh Gia Lai được đặt ra cả về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn cũng như việc đề xuất các giải pháp bảo đảm nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TGPL.
Xuất phát từ đòi hỏi khách quan này, học viên chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động của trung tâm trợ giúp pháp lý từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL; trên cơ sở đó đưa ra một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL tại tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thời gian qua.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu tương đối rộng, song dưới góc độ lý luận, lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý gắn với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL
Về không gian: Trong phạm vi địa bàn tỉnh Gia Lai.
Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử, so sánh, đối chiếu. Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra, khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn, kết quả khảo sát để hoàn chỉnh luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng NNPQXHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; về cải cách hành chính, cải cách tư pháp; về vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài này góp phần làm rõ thêm các vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL ở tỉnh Gia Lai . Những vấn đề được làm sáng tỏ trong luận văn góp phần chứng minh quá trình phát triển đúng đắn các quy định pháp luật về thành lập hệ thống tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL của Nhà nước tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy hoạt động này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn này còn làm rõ thực trạng tình hình tổ chức và hoạt động của một Trung Tâm TGPL tại địa phương cụ thể là ở tỉnh Gia Lai. Qua nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL trong thời gian tới . Kết quả nghiên cứu đề tài có thể sử dụng cho việc hoàn thiện pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Trung tâm, có thể làm tài liệu nghiên cứu, học tập và cho những người có quan tâm đến vấn đề này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của trợ giúp pháp lý
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý tại tỉnh Gia Lai từ năm 2010 đến 2015.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý .
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Dưới góc độ thực tiễn pháp luật, thuật ngữ “TGPL” chính thức được quy định trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người được TGPL. Đến ngày 01 tháng 01 năm 2007 Luật TGPL có hiệu lực thì khái niệm TGPL được hiểu thống nhất: là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật TGPL, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật .
1.1.2. Đặc điểm về trợ giúp phps lý
1.1.2.1. Trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp: Do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện.
1.1.2.2. Trợ giúp pháp lý là một dịch vụ mang đậm tính nhân văn: Bởi đối tượng phục vụ là các đối tượng yếu thế trong xã hội cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ.
1.1.2.3. Trợ giúp pháp lý là hoạt động mang tính pháp lý: Đây là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.
1.1.2.4. Trợ giúp pháp lý mang tính chất miễn phí dành cho người được TGPL: Nghĩa là đối tượng thụ hưởng dịch vụ này không hề mất một khoản chi phí nào.
1.1.2.5. Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị – xã hội: Nhà nước giữ vai trò nòng cốt nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật.
1.1.3. Vai trò của trợ giúp pháp lý
1.1.3.1. Trợ giúp pháp lý là biện pháp góp phần đưa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống : Giúp họ nắm bắt đầy đủ và thực hiện tốt hơn chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
1.1.3.2. Thực hiện chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa: Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước.
1.1.3.3. Trợ giúp pháp lý là phương thức giúp người được TGPL nâng cao ý thức pháp luật, bồi dưỡng năng lực làm chủ để tham gia quản lý nhà nước và xã hội.: Thấy được giới hạn của các hành vi hợp pháp và bất hợp pháp; biết được những việc được phép làm , không được phép làm và phải làm .
1.1.3.4. Đảm bảo bình đẳng, công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: Nhằm góp phần thi hành dân chủ, khơi dậy và phát huy tiềm năng con người, coi con người là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.
1.1.3.5. Tăng cường đoàn kết dân tộc, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của nhân dân: Tạo sự đoàn kết gắn bó trong cộng đồng dân cư.
1.1.3.6. Cải cách hành chính, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: Giúp cho các đối tượng biết được các thủ tục về hành chính liên quan đến việc giải quyết công việc của mình.
1.2. Nội dung cơ bản của tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
1.2.1. Khái niệm tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
1.2.1.1. Khái niệm tổ chức trợ giúp pháp lý
Tổ chức TGPL được hiểu theo hai nghĩa, với nghĩa hẹp và nghĩa rộng . Theo nghĩa rộng, tổ chức TGPL là hệ thống TGPL, được cấu tạo từ các bộ phận gồm bộ máy TGPL giữ chức năng quản lý và bộ máy thực hiện nhiệm vụ TGPL theo quy định.
1.2.1.2. Khái niệm hoạt động TGPL
Hoạt động TGPL, theo nghĩa chung nhất được hiểu là những công việc do các chủ thể có trách nhiệm thực hiện để giúp những người TGPL tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm đạt được mục đích của việc TGPL.
1.2.2. Tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
Luật Trợ giúp lý năm 2006 được ban hành Luật đã quy định về tổ chức và hoạt động TGPL như khái niệm, nguyên tắc hoạt động, tổ chức bộ máy, người thực hiện TGPL, người được TGPL, phạm vi, hình thức TGPL phù hợp thực tiễn của đất nước.
1.2.2.1. Về tổ chức bộ máy Trung tâm trợ giúp pháp lý
a) Ở Trung ương: Cục TGPL – Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành về hoạt động TGPL trong phạm vi toàn quốc.
b) Ở địa phương: Tổ chức TGPL của Nhà nước được hình thành trên toàn quốc với 63 Trung tâm thuộc Sở Tư pháp.
1.2.2.2. Hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý
a) Trợ giúp pháp lý thông qua hình thức tư vấn pháp luật: Thông qua việc hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản .
b) Trợ giúp pháp lý thông qua hình thức tham gia tố tụng: Tổ chức thực hiện TGPL cử TGV pháp lý hoặc luật sư cộng tác viên tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về TGPL.
c) Trợ giúp pháp lý thông qua hình thức đại diện ngoài tố tụng: Người thực hiện TGPL làm đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL trước các cơ quan, tổ chức không phải là cơ quan tiến hành tố tụng.
d) Trợ giúp pháp lý thông qua các hình thức trợ giúp pháp lý khác: Tham gia hoà giải; các công việc có liên quan đến thủ tục hành chính, khiếu nại; Kiến nghị thi hành pháp luật.
1.2.3. Cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
1.2.3.1. Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương
Là Chính phủ và Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ khác.
1.2.3.2. Cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (UBND cấp tỉnh).
1.3. Các yếu tố tác động ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Pháp luật về trợ giúp pháp lý
Muốn tổ chức và hoạt động TGPL tốt, điều quan trọng nhất là phải có được hệ thống pháp luật có chất lượng, nếu không sẽ rất khó khăn trong tổ chức thực hiện.
1.3.2. Nhận thức và hiểu biết pháp luật của xã hội, đặc biệt là người được TGPL
Giúp họ thấy được pháp luật là công cụ có hiệu lực sắc bén trực tiếp bảo vệ quyền lợi của họ khỏi sự xâm hại của hành vi vi phạm.
1.3.3. Tổ chức bộ máy trợ giúp pháp lý
Trung tâm TGPL là mạng lưới tổ chức TGPL và mạng lưới cộng tác viên của Trung tâm là yếu tố đảm bảo về phương diện tổ chức.
1.3.4. Năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ làm công tác trợ giúp pháp lý
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải là người có trình độ, tâm huyết, nhiệt tình, có kiến thức để THPL về TGPL.
1.3.5. Cơ sở vật chất cho công tác trợ giúp pháp lý
Bao gồm việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức đào tạo và là công việc tạo ra thu nhập ổn định cho người thực hiện về TGPL
Chương 1 đã phân tích kỹ về định nghĩa, đặc điểm, vai trò TGPL trong đời sống xã hội hiện nay để nhấn mạnh hơn về sự cần thiết tồn tại chế định TGPL trong giai đoạn xây dựng NNPQXHCN; đồng thời phân tích nội dung cơ bản của tổ chức và hoạt động TGPL; các loại hình TGPL. Bên cạnh đó còn chỉ ra được các yếu tố tác động ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt Nam cũng như cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL hiện nay. Đây sẽ là cơ sở để phân tích, đánh giá những nội dung của các chương sau.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TẠI TỈNH GIA LAI HIỆN NAY
2.1. Tác động của điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế – xã hội đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Gia Lai
Gia Lai là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Bắc Tây Nguyên, có diện tích 15.536,93 km2.
Dân số trung bình toàn tỉnh Gia Lai 1.397,400 người, mật độ dân số đạt 90 người/km². Toàn tỉnh Gia Lai có 35 dân tộc cùng sinh sống; có 10 Tôn giáo khác nhau chiếm 312.272 người.
2.1.3. Về đặc điểm truyền thống
Hơn 41 năm giải phóng, Gia Lai tự tin cùng cả nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.1.4. Tác động của yếu tố địa lý, dân cư và đặc điểm truyền thống đến hoạt động của Trung tâm về trợ giúp pháp lý
Gia Lai là một tỉnh miền núi Tây Nguyên, đa sắc tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng cùng sinh sống. Đời sống và trình độ dân trí chưa đồng đều; Cộng đồng của người dân tộc thiểu số chưa có sự phân hóa giai cấp rõ rệt mà chỉ là sự phân biệt người giàu, người nghèo. Việc thực hiện chính sách của nhà nước cũng còn có mặt chưa tốt.
2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý tại tỉnh Gia Lai
2.2.1. Công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý
UBND tỉnh trong phạm vi thẩm quyền của mình cũng đã ban hành các văn bản triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức liên quan đến công tác TGPL.
2.2.2. Tổ chức và hoạt động của cơ quan trợ giúp pháp lý
2.2.2.1. Về công tác nhân sự, tổ chức bộ máy của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai: Có lãnh đạo Trung tâm và các phòng chuyên môn, các chi nhánh Trung tâm TGPL
2.2.2.2. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động: Trung tâm được bố trí 5 phòng làm việc chung với trụ sở của Sở Tư pháp ; có 03 xe máy, 06 máy vi tính bàn, 01 máy photocoppy, 05 máy in và 01 tủ sách pháp luật.
2.2.2.3. Về đội ngũ cộng tác viên : Năm 2010, tổng số cộng tác viên là 126 người đến năm 2015, Trung tâm có 140 CTV.
2.2.2.4. Về thành lập và hướng dẫn sinh hoạt các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý ở cơ sở: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai thành lập được 518 câu lạc bộ tại 58 xã nghèo có tổng số 901 số thành viên Ban chủ nhiệm là cộng tác viên TGPL.
2.2.3. Kết quả hoạt động trong công tác triển khai nhiệm vụ trợ giúp pháp lý tại tỉnh Gia Lai
2.2.3.1. Về công tác trợ giúp pháp lý lưu động tại cơ sở: Từ năm 2010 đến 2015 đã tổ chức TGPL lưu động tổng cộng 305 đợt tại 645 thôn, làng nghèo vùng sâu, vùng xa, và các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
2.2.3.2. Về công tác tập huấn, bồi dưỡng cho người thực hiện TGPL: Đã tổ chức các lớp tập huấn để bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL.
2.2.3.3. Sự tham gia của các cơ quan, tổ chức khác vào hoạt động TGPL: Hiện tại trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã có 11 văn phòng luật sư và 01 chi nhánh tổ chức hành nghề luật sự của địa phương khác đặt tại Gia Lai.
2.2.4. Kết quả hoạt động thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý
Từ năm 2010 đến năm 2015 đã tiến hành TGPL giải quyết được 19.666 vụ việc cho 19.555 người được TGPL.
2.2.5. Công tác quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý
UBND tỉnh là cơ quan QLNN ở địa phương về hoạt động TGPL, nhưng Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh đối với hoạt động TGPL.
2.3. Đánh giá chung về thực tiễn tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý tại tỉnh Gia Lai
2.3.1. Những thành tựu chủ yếu đạt được
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL đã có tác động tích cực đến việc thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là quyền tiếp cận pháp luật.
2.3.2. Một số hạn chế và bất cập
Việc giao tiếp với người được TGPL là người dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn; Mức độ tiếp cận của người dân thuộc diện được TGPL đối với dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước chưa được đầy đủ; Chất lượng dịch vụ pháp lý miễn phí chưa đáp ứng yêu cầu.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Công tác tuyên truyền, phố biến chính sách, pháp luật về TGPL còn xơ cứng; Bên cạnh đó, người dân vẫn chưa quen với hoạt động TGPL và chức danh TGV pháp lý.
2.3.3.2. Về nguyên nhân khách quan
Chính sách TGPL hiện nay còn một số bất cập. Mặt bằng dân trí pháp lý không đồng đều.
2.3.4. Bài học kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý tại tỉnh Gia Lai
Làm tốt công tác phổ biến, giáo dục, tuyên truyền pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân; Lựa chọn sử dụng các hình thức TGPL phù hợp với các đối tượng TGPL.
Kết luận Chương 2
Từ phân tích đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung Tâm TGPL ở Gia Lai hiện nay cho thấy, về cơ bản đã góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho “nhóm xã hội yếu thế” trong xã hội. Chính vì vậy, hoạt động TGPL thể hiện tính ưu việc của pháp luật và chế độ XHCN phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong xây dựng NNPQ. Bên cạnh những kết quả đạt được và đáng ghi nhận trong việc tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL thời gian qua, vẫn còn một số khó khăn và hạn chế.

CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
3.1. Quan điểm đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý
3.1.1. Đổi mới tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý để phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị dựa trên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp trong tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
3.1.1.1. Về chính sách dịch vụ công
Nhìn nhận dưới giác độ là một loại hình dịch vụ sự nghiệp công, đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý phong phú, đa dạng trong nhân dân .
3.1.1.2. Về chính sách xã hội hóa
Đẩy mạnh thực hiện công tác xã hội hóa các dịch vụ công, dịch vụ pháp lý do ngành Tư pháp quản lý.
3.1.1.3. Về chính sách tinh gọn bộ máy
Xây dựng lộ trình để chuyển mô hình các Trung tâm thành các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên.
3.1.2. Đổi mới tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý lấy con người làm trung tâm, đảm bảo quyền con người, quyền công dân
Tổ chức và hoạt động TGPL phải hướng đến bảo đảm đầy đủ quyền tự do, dân chủ của người được TGPL. Phải lấy người được TGPL làm chủ thể trung tâm, chịu trách nhiệm chính.
3.1.3. Đổi mới tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cần đồng bộ với đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính và tăng cường các hoạt động bổ trợ
Cải cách thể chế và tổ chức cũng như hoạt động TGPL theo hướng phục vụ cho người được TGPL ngay tại cơ sở.
3.1.4. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý để phù hợp với xu hướng pháp triển trợ giúp pháp lý trên thế giới
Là sử dụng TGPL như một công cụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm người yếu thế trong xã hội.
3.2. Các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý trong thời gian tới
3.2.1. Nhóm các giải pháp chung
3.2.1.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý
Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của pháp luật đối với người được TGPL, nhất là người dân tộc thiểu số khẳng định vị thế của mình với tư cách là một chủ thể trong xã hội.
3.2.1.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quá trình tổ chức và hoạt động TGPL.
3.2.1.3. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý
Quy định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm từng cơ quan nhà nước trong tổ chức và hoạt động TGPL.
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật
3.2.2.1. Về chế định tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nhà nước, cần có lộ trình chuyển đổi các Trung tâm từ mô hình trực tiếp cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý sang mô hình quản lý nhà nước, điều phối nguồn lực về trợ giúp pháp lý: Các Trung tâm từ việc chủ yếu cung cấp dịch vụ TGPL hiện nay thành cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL.
3.2.2.2. Về chế định người thực hiện TGPL, cần nghiên cứu theo hướng bao gồm TGV pháp lý có đủ năng lực, kinh nghiệm và đội ngũ luật sư do Nhà nước ký hợp đồng (thường xuyên hoặc vụ việc) thực hiện TGPL, bảo đảm tiến tới chỉ có luật sư cung cấp dịch vụ TGPL ở giai đoạn sau năm 2025: Chuyển đổi chức danh TGV pháp lý thành Luật sư hưởng lương Nhà nước.
3.2.2.3. Về chế định người được TGPL cần nghiên cứu theo hướng mở rộng một số đối tượng như :Trẻ em và người chưa thành niên bị tước quyền tự do được TGPL; Mở rộng quy định người dân tộc thiểu số và đối tượng được hưởng TGPL cho hộ cận nghèo.
3.2.2.4. Về chế định quản lý nhà nước TGPL cần nghiên cứu theo hướng Nhà nước quản lý, điều phối nguồn lực và kiểm soát chất lượng TGP: Cần tăng cường năng lực cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về TGPL thực hiện các chức năng, nhiệm vụ.
3.2.2.5. Hoàn thiện thể chế về TGPL theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động TGPL : Cụ thể là : Về nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính.
3.2.2.6. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách về đơn vị sự nghiệp không có thu hoạt động trong lĩnh vực TGPL phù hợp với định hướng phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước: Xác định đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí cho người được TGPL là đơn vị được thực hiện dịch vụ công do Nhà nước đặt hàng hoàn toàn.
3.2.2.7. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế về đánh giá chất lượng vụ việc TGPL và hiệu quả quản lý chất lượng dịch vụ TGPL: Theo hướng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin.
3.2.3. Kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý
3.2.3.1. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao năng lực đội ngũ trợ giúp viên pháp lý với mục tiêu tinh gọn, hiệu quả, phù hợp: Đối với Trung tâm; Chi nhánh, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và đội ngũ công chức, viên chức ; TGV pháp lý, cộng tác viên, tuyên truyền viên.
3.2.3.2. Hoàn thiện cơ chế cung cấp thông tin pháp luật, đổi mới và tăng cường các hoạt động truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về trợ giúp pháp lý: Một cách linh hoạt, sáng tạo.
3.2.3.3. Khuyến khích, huy động các nguồn lực, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và cộng đồng trong tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý: Có chính sách thúc đẩy ra đời và phát triển mạng lưới tổ chức xã hội tham gia hoạt động TGPL .
3.2.3.4. Đổi mới cơ chế tài chính với Trung tâm: Chủ trọng nguồn kinh phí chi cho các hoạt động nghiệp vụ của Trung tâm; tăng cường các biện pháp bảo đảm khác để Trung tâm trợ giúp pháp lý phát triển ổn định, bền vững
3.2.3.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm nâng cao chất lượng giám sát tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý: Việc lập ra cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra hiện nay là khách quan.
3.2.5 Giải pháp riêng cho tổ chức và hoạt động Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Gia Lai
Một là, trong bối cảnh tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy thì yêu cầu đặt ra là phải sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, viên chức hiện có trong số biên chế được giao nói chung và trợ giúp viên pháp lý nói riêng.
Hai là, nâng cao chất lượng dịch vụ do người thực hiện TGPL của Nhà nước cung cấp bằng việc bổ sung các quy định về trợ giúp viên pháp lý bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ hàng.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý.
Bốn là, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm kinh phí trong tổ chức và hoạt động TGPL .
Năm là, lựa chọn sử dụng các hình thức truyền thông về hoạt động TGPL phù hợp với các đối tượng TGPL, tập trung làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về TGPL miễn phí cho người được TGPL và đến mọi tầng lớp nhân dân.
Kết luận Chương 3
Từ nhu cầu cấp thiết của việc đổi mới tổ chức và hoạt động TGPL, dựa trên những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, học viên đã đề xuất một số giải pháp, trong đó cần nghiên cứu theo hướng đổi mới vai trò của Nhà nước, chuyển đổi các Trung tâm từ mô hình trực tiếp cung cấp dịch vụ TGPL sang mô hình quản lý nhà nước về TGPL; xã hội hóa hoạt động TGPL. Về hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật về TGPL, đề xuất giải pháp đổi mới kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ với mục tiêu tinh gọn, hiệu quả phù hợp với thực tiễn. Đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL, để xuất đổi mới xây dựng cơ chế lựa chọn tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện TGPL và đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; Chú trọng nguồn kinh phí chi cho các hoạt động nghiệp vụ của Trung tâm; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; Đổi mới công tác truyền thông, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tổ chức và hoạt động TGPL.
KẾT LUẬN
Có thể nói, TGPL là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta trong điều kiện Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu xây dựng một NNPQXHCN, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Với mục tiêu là nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân, tạo điều kiện cho các “nhóm xã hội yếu thế” tiếp cận pháp luật, tạo ra cơ chế công bằng trong mỗi công dân khi thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đồng thời, công tác TGPL cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên cường quốc tế trong việc bảo vệ nhân quyền, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.
Tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL ở nước ta trong thời gian qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần hiện thực hoá các quy định của pháp luật, biến các quy định ấy từ văn bản thành cách xử sự thực tế hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào những quan hệ pháp luật cụ thể, khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận với pháp luật của nhóm người yếu thế trong xã hội, phù hợp với truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam “lá lành đùm lá rách”, “đền ơn đáp nghĩa”; thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta trong việc thực hiện dân chủ, hướng về cơ sở, gần dân, tạo thuận lợi cho dân trong tiếp cận pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, xây dựng tinh thần “ sống và làm việc theo pháp luật”. Đồng thời thực hiện nhất quán quan điểm quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật và phù hợp với xu thế phát triển của cộng đồng quốc tế.
Từ việc tiếp cận những vấn đề lý luận, các tài liệu tham khảo đến khái quát nội dung cơ bản của tổ chức và hoạt động TGPL, đặc biệt Luận văn nhấn mạnh đến thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL tại tỉnh Gia Lai hiện nay cho thấy, về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành cầu nối giữa chính quyền với nhân dân, góp phần khắc phục những vướng mắc, bất cập trong hoạt động công vụ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, giữ gìn đòan kết cộng đồng, bảo vệ nhóm người yếu thế trong xã hội, góp phần mang lại những tác động tích cực trong thực hiện cải cách tư pháp trên địa bàn Tỉnh Gia Lai.
Với những kết quả trên đây, có thể khẳng định, sau 19 năm triển khai công tác TGPL đã mang lại những hiệu quả tích cực nhất định. Khoảng thời gian đó tuy không dài so với lịch sử hoạt động TGPL vài trăm năm của các nước đã phát triển cũng như bề dày truyền thống 71 năm của ngành Tư pháp Việt Nam nhưng những kết quả mà công tác TGPL mang lại đã chứng minh chủ trương của Đảng về việc thành lập và phát triển hoạt động TGPL ở nước ta là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế thời đại.
Tuy nhiên, ngoài đánh giá một số kết quả đạt được luận văn cũng chỉ rõ tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Do đó, việc đánh giá đúng thực trạng làm căn cứ để xây dựng các quan điểm, đề xuất các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm TGPL đang là vấn đề hết sức cần thiết ở Tỉnh Gia Lai nói riêng cả nước nói chung trong những năm tiếp theo, nâng cao hơn nữa niềm tin của người dân vào pháp luật, vào Đảng và Nhà nước góp phần xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh như đã trình bày tại chương 3./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\NGUYEN THI MONG DIEP\SAU BAO VE


