Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã trở thành vấn đề cốt lõi của quốc gia, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm từ khâu phòng bệnh đến chữa bệnh, hoàn thành sứ mạng chăm lo sức khỏe nhân dân. Cụ thể, các nguồn lực cho y tế ngày càng mạnh, chỉ số sức khỏe nhân dân không ngừng cải thiện, nhiều căn bệnh hiểm nghèo dần được đẩy lùi, nền y học Việt Nam đã có vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đuợc thì công tác khám chữa bệnh còn bộc lộ một số hạn chế nhất định mà nguyên nhân phải kể đến là sự yếu kém trong công tác quản lý của nhà nước về khám chữa bệnh. Bên cạnh đó, sự phát triển của xã hội kéo theo sự ô nhiễm môi trường, những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và cảnh báo về hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu… luôn là mối đe dọa đến sức khỏe con người làm cho diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám chữa bệnh là một việc làm cấp bách hiện nay góp phần đáng kể cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tại thành phố Đà Nẵng, trong những năm qua, công tác khám chữa bệnh đã có nhiều bước chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh ngày càng được củng cố, hoàn thiện; đội ngũ thầy thuốc ngày càng được nâng cao về số lượng lẫn chất lượng; các dịch vụ khám chữa bệnh ngày càng phong phú, đa dạng; cơ sở vật chất, trang thiết bị ngày càng được trang bị đầy đủ, hiện đại. Chính vì thế chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao, đáp ứng được một phần nhu cầu chăm sức khỏe cho nhân dân thành phố Đà Nẵng nói riêng và các tỉnh lân cận nói chung.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khám chữa bệnh tại thành phố cũng còn nhiều bất cập, hạn chế gây ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt là hoạt động quản lý nhà nước về khám chữa bệnh. Những hạn chế của hoạt động này chủ yếu xoay quanh các vấn đề về tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý y tế; hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản, các cơ chế, chính sách, quy trình, thủ tục khám chữa bệnh; công tác đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị; công tác thành tra, kiểm tra….Tôi cho rằng nếu không có những giải pháp khả thi để khắc phục những hạn chế nêu trên thì hoạt động khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng chưa thể đạt được các mục tiêu mà ngành và thành phố Đà Nẵng đặt ra.

Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong những năm qua. Từ đó chỉ ra được những kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế, phân tích nguyên nhân của những tồn tại hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  1. 3.1. Mục đích nghiên cứu
  2. Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn để trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  3. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
  4. Từ mục đích nêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
  5. Một là, phân tích những cơ sở lý luận liên quan đến công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng nói riêng cũng như cả nước nói chung.
  6. Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn, kết quả công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng; các yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả công tác này;

Ba là, đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả, ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  1. 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng từ năm 2010-2015.
  2. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ -tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về khám chữa bệnh theo những quy định của pháp luật Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Những kết quả đạt được, tồn tại cũng như tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tồn tại. Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh.
  3. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài đã vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất và tìm ra mối liên hệ phổ biến của vấn đề được đề cập.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài còn sử các phương pháp cụ thể sau:

– Một là, phương pháp phân tích, được vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế, sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động khám chữa bệnh.

– Hai là, phương pháp tổng hợp được vận dụng để tổng hợp thông tin, tư liệu viết luận văn khoa học.

– Ba là, phương pháp hệ thống, được vận dụng để nghiên cứu hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn các hoạt động khám chữa bệnh; xây dựng bố cục của của luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài là sản phẩm phản ánh thực trạng quản lý nhà nước về khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, phục vụ yêu cầu phát triển của khu vực nói riêng và của đất nước nói chung.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, áp dụng để tổ chức các hoạt động khám chữa bệnh tại tỉnh, thành phố khác. Ngoài ra còn có thể dùng làm tài liệu giảng dạy, học tập, tham khảo, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo ngành Y – Dược hoặc liên quan đến hoạt động Y tế.

7. Cơ cấu của luận văn

  1. Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về khám chữa bệnh.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về khám chữa bệnh

1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về khám chữa bệnh

Quản lý nhà nước khám chữa bệnh là dạng quản lý mà trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động y tế. Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định.

1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về khám chữa bệnh

Quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh ngày càng hướng đến sự hài lòng, đáp ứng nhu cầu về khoa học kỹ thuật cao nhằm mục đích tối ưu phục vụ tốt người bệnh. Giảm thiểu được những rủi ro mà người bệnh gánh chịu trong quá trình điều trị khám, chữa bệnh.

1.2 Nội dung, phương thức của quản lý nhà nước về khám chữa bệnh

1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về khám chữa bệnh:

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ y, bác sỹ, cán bộ công chức; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khám, chữa bệnh cho người dân, tuyên truyền pháp luật về khám, chữa bệnh, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám, chữa bệnh; quy định về tổ chức và hoạt động y tế, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, y tá; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý về khám, chữa bệnh hiện đại; thống kê nhà nước về hoạt động khám chữa bệnh.

1.2.2. Phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực khám, chữa bệnh

Một là, xây dựng, ban hành chiến lược, chương trình quốc gia, kế hoạch hằng năm giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

      Hai là, Nhà nước là nòng cốt, kết hợp xã hội hóa trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

Ba là, Nhà nước là người tổ chức, chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng, hiệu quả giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

Bốn là, quản lý theo pháp luật kết hợp thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

         Năm là, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế

       Sáu là, tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh

Việc nhận thức đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý nhà nước đối với khám chữa bệnh Khám chữa bệnh là một hoạt động xã hội diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi từ những quốc gia lạc hậu, nghèo nàn đến những quốc gia hiện đại, có nền kinh tế phát triển Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong từng thời điểm khác nhau.Đây là cơ sở để nhà nước thực hiện những biện pháp thích hợp để công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh ngày càng phát triển, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của nhân dân. Có thể nêu một vài nhân tố sau:

Một là, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khám chữa bệnh

Xuất phát từ đặc điểm phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu chăm sóc Sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn mới, nghị quyết Trung Ương IV của Ban chấp hành TW Đảng khóa VII về 1 số vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc Sức khỏe nhân dân đã khẳng định quan điểm của Đảng bao gồm:

Thứ nhất, sức khỏe và con người: Con người là nguồn tài nguyên quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, đây cũng là niềm hạnh phúc nhất của mỗi người, mỗi gia đình. Vì vậy đầu tư cho sức khỏe chính là sự đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và mỗi gia đình.

Thứ hai, Nhà nước XHCN đảm bảo cho mọi người được Sức khỏe phù hợp với khả năng kinh tế của đất nước, đồng thời có chính sách khám Sức khỏe miễn phí và giảm phí với người có công với nước, người nghèo, người sống ở vùng có nhiều khó khăn và đồng bào dân tộc ít người.

Đây là nhân tố có tính chất quyết định, bao trùm lên các nhân tố còn lại. Thật vậy, hoạt động khám chữa bệnh ở một quốc gia phải được Nhà nước định hướng, quản lý cho phù hợp với thực tiễn đất nước. Bằng các công cụ quản lý như chủ trương, chính sách pháp luật… Nhà nước sẽ tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý đã đề ra. Vì vậy, các chính sách, pháp luật về khám chữa bệnh đúng đắn, phù hợp với các quy luật khách quan cũng như điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước sẽ được mọi ngƣời ủng hộ, dễ dàng triển khai trên thực tế làm cho hoạt động này ngày càng phát triển và khi đó công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực khám chữa bệnh sẽ hiệu quả hơn.

Hai là, cơ cấu, diễn biến bệnh tật trong cộng đồng; tiến bộ khoa học kĩ thuật về y tế

Cơ cấu, diễn biến bệnh tật luôn biến đổi theo thời gian và theo tình hình phát triển của đất nước. Việc xác định cơ cấu, diễn biến bệnh tật sẽ là cơ sở khoa học giúp cho công tác phòng bệnh, xây dựng kế hoạch cấp cứu và điều trị để giúp hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh và tỉ lệ tử vong. Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật mang đến y học những thành tựu rực rỡ, giúp con người chẩn đoán chính xác bệnh và điều trị hiệu quả hơn. Một quốc gia có cơ cấu, diễn biến bệnh tật phức tạp, khoa học kĩ thuật y tế lạc hậu sẽ là gánh nặng cho ngành y tế, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế đất nước.

Ba là, đặc điểm địa lí, dân cư

Việc phân bố dân cư đóng vai trò quan trọng quyết định bố trí mạng lưới các cơ sở y tế khám chữa bệnh ở một địa phương hay khu vực nào đó. Những vùng có điều kiện địa lí thuận lợi, mật độ dân số cao thường được đầu tư xây dựng mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh nhiều hơn, hiện đại hơn nên người dân được chăm sóc sức khỏe khi ốm đau, bệnh tật cũng sẽ tốt hơn. Cũng vì lý do này khiến cho một số vùng ít được đầu tư về y tế nên khi có nhu cầu người dân phải đi đến các cơ sở khám chữa bệnh ở xa hiện đại hơn gây quá tải, phiền hà, tốn kém, nếu không có điều kiện họ đành chấp nhận sống chung với bệnh tật.

Bốn là, nguồn lực y tế

Nguồn lực y tế nói chung khám chữa bệnh nói riêng bao gồm nhân lực, kinh phí đầu tư y tế, cơ sở vật chất (bao gồm cả thuốc) phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe. Việc xác định vai trò của các nguồn lực y tế có ý nghĩa quan trọng, trên cơ sở đó có các biện pháp quản lý phù hợp nhằm củng cố, phát huy vai trò các nguồn lực phục vụ cho y tế được tốt hơn.

Nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người) là một nguồn lực quan trọng bên cạnh các nguồn lực khác (tài chính, khoa học – công nghệ, tài nguyên thiên nhiên), luôn cần thiết cho mọi sự phát triển. Không như các ngành, lĩnh vực khác muốn phát triển nhanh phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, ngành y hoạt động dựa vào con người là chính, con ngƣời đóng vai trò chủ chốt từ khâu phòng bệnh đến khám chữa bệnh. Ngành y tế của một quốc gia muốn phát triển thì phải chú trọng đầu tư nguồn nhân lực y tế không chỉ ở số lượng, trình độ chuyên môn mà ở cả đạo đức nghề nghiệp. Nguồn nhân lực y tế thiếu một trong các yếu tố vừa kể sẽ ảnh hưởng rất lớn toàn bộ hoạt động y tế trong đó có hoạt động khám chữa bệnh.

Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

KHÁM CHỮA BỆNH TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của thành phố Đà Nẵng có liên quan đến việc quản lý nhà nước về khám chữa bệnh

Thành phố Đà Nẵng nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông bắc – nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Với các lợi thế đó và sự vận dụng linh hoạt các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đà Nẵng đã phát triển và hình thành được những nét đặc thù riêng có của mình.

Ngành Y tế Đà Nẵng có vinh dự và trách nhiệm thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho hơn một triệu dân trên địa bàn thành phố nói riêng và khu vực miền Trung nói chung. Để đáp ứng được nhiệm vụ cao cả và nặng nề này, ngành Y tế Đà Nẵng cần phải có một hệ thống y tế đủ mạnh, một mạng lưới y tế rộng khắp, một đội ngũ cán bộ y tế có chất lượng cao với cơ sở và trang thiết bị hiện đại.

2.2. Tình hình khám, chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trong những năm qua, Ngành Y tế tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới khám, chữa bệnh từ thành phố đến các quận, huyện, xã, phường. Các bệnh viện công lập và ngoài công lập đã có sự phối hợp chặt chẽ thực hiện tốt công tác thu dung điều trị bệnh nhân, tăng cường phát triển công tác xã hội hóa, đầu tư trang thiết bị tiên tiến hiện đại, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, chất lượng điều trị góp phần tăng cường năng lực và hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố.

Các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến thành phố tiếp tục đẩy mạnh các kỹ thuật y tế chuyên sâu, nhiều thành tựu khoa học và kỹ thuật y tế mới được áp dụng vào chẩn đoán và điều trị

Các Trung tâm Y tế quận, huyện thực hiện tốt công tác thu dung điều trị bệnh nhân theo phân tuyến. Trạm y tế xã phường thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân trên địa bàn, tổ chức thực hiện tốt công tác khám, xử trí sơ cấp cứu kịp thời cho người bệnh. Chuyển tuyến đúng các trường hợp vượt khả năng chuyên môn, không để xảy ra sai sót chuyên môn.

2.2.2. Công tác khám, điều trị

2.2.2.1. Tình hình khám bệnh

Số lượt khám bệnh trên địa bàn thành phố đạt 3.370.288 lượt, tăng 7,64 % so với các năm và tăng nhiều ở tuyến y tế tư nhân (30,34%) và tuyến thành phố (14,73 %), tuyến quận huyện tăng (3,97%) và xã phường giảm (17,56%). Tỷ lệ bệnh nhân BHYT ở tuyến quận, huyện chiếm 83,79 %.

2.2.2.2. Tình hình điều trị nội trú

Số bệnh nhân điều trị nội trú trên địa bàn thành phố là 311.407 người, tăng 10,05 % so với năm 2014 và tăng nhiều ở tuyến thành phố (15,72 %), tuyến y tế tư nhân giảm 10,83 % so với năm 2014. Tỷ lệ bệnh nhân BHYT tuyến quận, huyện chiếm 92,67%.

2.2.2.3. Công suất sử dụng giường bệnh

Công suất sử dụng giường bệnh trên địa bàn thành phố đạt 102,55 %, giảm 11,52 % so với các năm trước (trong đó tuyến tỉnh giảm 8,55 %; tuyến y tế tư nhân giảm 52,54%) và tăng nhiều ở tuyến quận huyện (10,17 %), đã từng bước giải quyết tốt tình trạng quá tải cho tuyến trên.

2.2.3. Công tác Bảo hiểm y tế

Sở Y tế đã triển khai cho các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 02/7/2015 của Liên Bộ Y tế, Bộ Tài chính về sửa đổi Khoản 5 điều 13 Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24/11/2014 của Bộ Y tế, Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế vào ngày nghỉ, ngày lễ.

2.2.4. Công tác Y học cổ truyền

Công tác chỉ đạo tuyến về công tác Y học Cổ truyền được duy trì thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả điều trị. Các Trung tâm Y tế quận, huyện đều có tổ hoặc khoa Y học cổ truyền.

2.2.5. Công tác điều dưỡng, phục hồi chức năng và chống nhiễm khuẩn

2.2.5.1. Công tác phục hồi chức năng

Các khoa Phục hồi chức năng thuộc các bệnh viện và Trung tâm Y tế tiếp tục được kiện toàn và duy trì công tác khám chữa bệnh tại cơ sở điều trị và hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.

2.2.5.2. Công tác điều dưỡng, dinh dưỡng, kiểm soát nhiễm khuẩn

Tăng cường kỹ năng giao tiếp, tâm lý tiếp xúc của điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý thông qua việc triển khai Thông tư 07/2014/TT – BYT ngày 25 tháng 02 năm 2014 của Bộ Y tế quy định về quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế và Chuẩn đạo đức điều dưỡng của Hội Điều dưỡng Việt Nam.

Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các đơn vị đã tuân thủ thực hiện các qui trình kiểm soát nhiễm khuẩn theo qui định.

2.2.5.3. Công tác quản lý chất thải y tế

Triển khai thực hiện Chỉ thị 05/CT-BYT của Bộ Trưởng Bộ Y tế tăng cường công tác quản lý chất thải y tế; Triển khai Dự án Quản lý chất thải Bộ Y tế và triển khai một số công trình xử lý nước thải tại một số đơn vị theo nguồn ngân sách địa phương.

2.2.5.4. Công tác vận chuyển cấp cứu

Mạng lưới cấp cứu thành phố tiếp tục được củng cố và hoàn thiện với Trung tâm Cấp cứu Thành phố và 06 trạm vệ tinh vận chuyển Cấp cứu khu vực quận Hải Châu, Liên Chiểu, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn, Hòa Vang đã phục vụ kịp thời nhu cầu cấp cứu của nhân dân trên địa bàn thành phố. Ngoài công tác vận chuyển cấp cứu, Trung tâm cấp cứu còn tham gia công tác phòng chống dịch bệnh, thảm họa; nâng cao chất lượng phục vụ lễ hội, hội nghị, hội thao tập huấn cấp cứu…

2.4.5.5. Công tác giám định y khoa

Các hoạt động về giám định y khoa được thực hiện vượt kế hoạch, chỉ tiêu được giao, đặc biệt là công tác giám định cho các đối tượng người có công Cách mạng, tham gia kháng chiến phơi nhiễm chất độc Dioxin và giám định các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc.

2.2.5.6. Công tác giám định pháp y

Trung tâm Pháp y đã hoàn thành 100% các trường hợp giám định theo Quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tố tụng, đảm bảo chính xác, khoa học, khách quan, kịp thời.

2.2.5.7. Công tác nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Y tế và hoạt động này đã được triển khai định kỳ hằng năm. Qua các năm từ năm 2011 đến nay, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của ngành y tế đều được đánh giá là tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng tương đối yêu cầu không ngừng thực hiện nghiên cứu khoa học kỹ thuật và ứng dụng thực tiễn đem lại hiệu quả cao trong công tác khám chữa bệnh của ngành suốt thời gian qua.

Sở Y tế đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và sáng kiến cải tiến; kiện toàn Hội đồng Khoa học và công nghệ ngành Y tế thành phố; ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng, hướng dẫn các đơn vị triển khai các hoạt động sáng kiến theo quy định.

2.3. Tình hình quản lý nhà nước về khám chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng

2.3.1. Việc xây dựng và ban hành văn bản quản lý khám chữa bệnh

Hoạt động quản lý nhà nước về khám chữa bệnh được thực hiện dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định, các văn bản pháp luật là tiền đề quan trọng cho hoạt động quản lý của nhà nước, việc triển khai thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước đảm bảo cho các quan hệ xã hội vận hành đúng mục đích, đúng định hướng theo yêu cầu của nhà nước.

Trong những năm qua, Sở Y tế thành phố Đà Nẵng đã tập trung chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, xây dựng hệ thống văn bản quản lý khám chữa bệnh như: Công văn 2767/SYT-NVY ngày 11/11/2011 về việc tăng cường thực hiện y đức trong các cơ sở khám, chữa bệnh, Chương trình phối hợp liên tịch số 255/CTLT-CTĐ/YT ngày 29/9/2011 về thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011-2020 của Sở Y tế và Hội Chữ thập đỏ; Công văn số 259/SYT-NVY ngày 20/5/2013 về việc triển khai “Hướng dẫn qui trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của các bệnh viện” ban hành theo Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế; Công văn 1563/SYT-NVY ngày 01/8/2012 về việc khảo sát tình hình triển khai chất lượng bệnh viện; Công văn số 1403/SYT-NVY ngày 10/7/2014 của Sở Y tế về tăng cường công tác vi phạm pháp luật trong khám chữa bệnh BHYT; Công văn số 1152/SYT-NVY của Sở Y tế ngày 27/5/2013 về triển khai quy trình khám bệnh tại Khoa khám bệnh của Bệnh viện... Những văn bản trên đã góp phần tạo ra một hành lang pháp lý giúp hoạt động KCB ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ.

2.3.2. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về KCB

Ngành Y tế tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho người dân, thay đổi nhận thức và hành vi để góp phần nâng cao sức khỏe. Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tập trung chủ yếu vào các hoạt động như tuyên truyền phòng chống dịch bệnh Ebola, Mers-CoV, Tay chân miệng, Sốt xuất huyết, đau mắt đỏ

Một là, tăng cường giáo dục cho cán bộ công chức, viên chức thực hiện tốt 12 điều y đức.

Hai là, tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND thành phố về việc treo các câu khẩu hiệu của ngành y tế tại các khu Khám bệnh; khu Cấp cứu điều trị, nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân và văn hóa ứng xử trong ngành y tế.

Ba là, triển khai trong toàn ngành hưởng ứng Giải thưởng “Tỏa sáng Blouse trắng” do UBND thành phố tổ chức để tôn vinh, khen thưởng định kỳ hàng năm cho những cá nhân trong các đơn vị y tế công lập trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ.

2.3.3. Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các qquy định về khám, chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng

Hàng năm, Sở Y tế đã tổ chức các cuộc thanh tra về trách nhiệm thủ trưởng đơn vị; thanh tra việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực dược; về công tác quản lý Nhà nước và thanh tra chuyên ngành về các lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm, An toàn vệ sinh thực phẩm, Y tế dự phòng, dân số.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động y tế trên địa bàn thành phố được ngành Y tế quan tâm đặc biệt và đã tổ chức triển khai trên nhiều lĩnh vực như: thanh tra về vắc xin; thanh, kiểm tra về an toàn thực phẩm; kiểm tra các quy trình chuyên môn trong khám, chữa bệnh tại các bệnh viện; thanh, kiểm tra các cơ sở hành nghề khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; kiểm tra bảo hiểm y tế; kiểm tra công tác Dược bệnh viện; thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các đơn vị trong việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng…nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về khá, chữa bệnh trên địa bàn.

Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

2.4. Những kết quả đạt được và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

2.4.1. Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh

Thứ nhất, hệ thống văn bản quy dịnh hoạt động KCB ngày càng hoàn thiện, góp phần tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho hoạt động KCB được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật .Thủ tục khám, chữa bệnh được thực hiện nhanh chóng thông qua việc lấy số tự động trong việc đăng ký thủ tục ban đầu, thuận lợi, giúp các cơ sở y tế giảm được áp lực về thời gian, nhân lực và các chi phí quản lý phát sinh, giảm thời gian và chi phí đi lại.

Thứ hai, chất lượng khám chữa bệnh ngày một nâng cao, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của cán bộ y tế không ngừng được nâng lên. Tiếp tục duy trì và mở rộng bảo hiểm y tế toàn dân với tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 95,0 % (tăng 2,5 % so với cuối năm 2014).

Thứ ba, hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh ngày càng hoàn thiện, đã thành lập được các bệnh viện chuyên khoa phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Thứ tư, tại các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa tuyến thành phố tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động y tế chuyên sâu, nhiều thành tựu khoa học và kỹ thuật y tế được áp dụng vào chẩn đoán và điều trị, góp phần giải quyết có hiệu quả công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, tiếp tục triển khai nhiều kỹ thuật mới về lâm sàng được ứng

Thứ năm, về trang thiết bị công nghệ thông tin: Đã từng bước được nâng cấp, đầu tư đồng bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu triển khai các phần mềm ứng dụng về khám, chữa bệnh.

Thứ sáu, về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Giúp cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nắm vững các quy định khi làm thủ tục khám, chữa bệnh, giảm bớt được rất nhiều thời gian và công sức, tiết kiệm chi phí hoạt động khám, chữa bệnh.

Thứ bảy, về công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC: Số lượng cán bộ, công chức, viên chức qua đào tạo, bồi dưỡng hàng năm ngày càng tăng, góp phần vào việc nâng cao kiến thức, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

2.4.2. Những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh của thành phố còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Một là, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh chưa thật sự hoàn thiện do nhà nước vẫn chưa có văn bản quy định về các hoạt động an toàn truyền máu; phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; quản lý trang thiết bị, sức khoẻ tâm thần, phòng chống tai nạn thương tích

Hai là, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về y tế; các hoạt động tổ chức triển khai thực hiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh chưa hiệu quả, còn mang nặng tính hình thức, thành tích

Ba là, nguồn nhân lực tham gia hoạt động quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh con thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn. Hoạt động quản lý còn dựa trên kinh nghiệm.

Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh chưa được thực hiện chặt chẽ. Nhiều đơn vị, cá nhân vi phạm các quy định về khám, chữa bệnh nhưng không có biện pháp xử lý thích đáng.

Năm là, ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế, Theo Công văn số 8623/BYT-BH ngày 09/11/2015 của Bộ Y tế về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám chữa bệnh và thanh toán BHYT theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử. Theo đó các cơ sở khám chữa bệnh cần có một phần mềm thống nhất để triển khai; nhưng thực tế hiện nay chưa có sự thống nhất giữa các bệnh viện

Sáu là, cơ sở hạ tầng của một số Bệnh viện, trung tâm y tế, Trung tâm Y tế quận, huyện chưa hoàn thiện, một số còn xuống cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển y tế chuyên sâu, cũng như nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại thành phố.

Bảy là,công tác khám chữa bệnh vẫn còn tình trạng quá tải (bệnh nhân phải nằm đôi, nằm ghép) tại một số khoa phòng của Bệnh viện Đà Nẵng như khoa Nội tim mạch, Khoa ngoại chấn thương, Ngoại tiết niệu…

Tám là, công tác Dược công tác đấu thầu cung ứng thuốc cho các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc còn chậm, xây dựng chưa phù hợp, đề xuất số lượng thuốc mua quá ít so với nhu cầu thực tế sử dụng, ảnh hưởng đến kết quả và tiến độ đấu thầu; Việc thực hiện hợp đồng cung ứng thuốc còn nhiều bất cập như số lượng thực tế sử dụng chênh lệch nhiều so với số lượng trong hợp đồng đã ký kết.

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHÁM CHỮA BỆNH

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Thứ nhất, nhu cầu nâng cao hiệu quản quản lý nhà nước về khám chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Xuất phát từ thực trạng quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh tại thành phố Đà Nẵng còn một số hạn chế, bất cập như đã phân tích ở chương 2. Ngành y tế thành phố Đà Nẵng cần phải nâng cao hơn nữa năng lực quản lý nhà nước về hoạt động khám, chữa bệnh, nhằm bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng.

Thứ hai, phát triển y tế phổ cập, bác sỹ gia đình, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao phủ y tế toàn dân kết hợp với phát triển y tế chuyên sâu. Tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi.

Thứ ba, phát triển y tế ngoài công lập, tăng cường phối hợp công – tư. Hiện đại hoá và phát triển y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, ; chủ động duy trì mức sinh thấp hợp lý, khống chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng đủ nhu cầu dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, tăng cường lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở các cấp, các ngành; phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng;

3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Một là, phát triển và hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế, hoàn thiện hệ thống tổ chức y tế gồm y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số – kế hoạch hóa gia đình; kiện toàn và ổn định mô hình tổ chức hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương; vừa củng cố, kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở, vừa phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu; tăng cường đầu tư phát triển y tế công lập đi đôi với việc khuyến khích và tạo điều kiện phát triển y tế ngoài công lập

Hai là, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, đổi mới chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện; bảo đảm 100% số xã có trạm y tế phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và nhu cầu khám chữa bệnh từng vùng; tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu; kết hợp hài hòa các hoạt động giữa các đơn vị y tế trong huyện thực hiện lồng ghép các chương trình, mục tiêu, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông – giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.

Ba là, đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, nâng cao sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS và an toàn vệ sinh thực phẩm. Củng cố và hoàn thiện hệ thống giám sát, cảnh báo dịch và phòng chống dịch bệnh chủ động; thiết lập hệ thống giám sát, phòng chống các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm.

Bốn là, nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng. Triển khai các giải pháp tổng thể để giảm quá tải bệnh viện; từng bước thiết lập lại hệ thống chuyển tuyến trong khám bệnh, chữa bệnh; phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh bảo đảm an toàn cho người bệnh và minh bạch trong quản lý, hoạt động chuyên môn và phân bổ nguồn lực.

Năm là, phát triển y dược học cổ truyền. Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền và kế hoạch hành động về phát triển y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020; đẩy mạnh sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và dược liệu.

Sáu là, đẩy mạnh chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dân số – kế hoạch hóa gia đình. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, ổn định và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa. Tăng cường kiểm tra, thanh tra; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành.

Bảy là, phát triển nhân lực y tế. Sắp xếp lại mạng lưới cơ sở đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế, cân đối hợp lý các chuyên ngành đào tạo. Triển khai thực hiện quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm xã hội đối với các cán bộ y tế mới ra trường và cấp chứng chỉ hành nghề cho cán bộ y tế.

Tám là, phát triển khoa học – công nghệ y tế xây dựng chiến lược phát triển y khoa trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu mới; tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ y học của các nước tiên tiến như công nghệ phân tử, công nghệ nano… trong y học; từng bước hiện đại hoá kỹ thuật y tế, ưu tiên các lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán hoá sinh, lý sinh, miễn dịch, di truyền, sinh học phân tử, công nghệ gen; ứng dụng công nghệ chẩn đoán, điều trị từ xa, sản xuất trang thiết bị y tế, dược phẩm, vắc xin và các công nghệ tiên tiến khác ứng dụng trong lĩnh vực y tế dự phòng… Áp dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, xây dựng các tiêu chuẩn và triển khai công tác đánh giá công nghệ y tế để xác định các can thiệp y tế có hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế.

Chín là, đổi mới công tác tài chính và đầu tư tăng tỷ lệ chi ngân sách hàng năm cho y tế, bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm y tế; mở rộng quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập; gắn việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế với lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân, lộ trình cải cách tiền lương.

Mười, phát triển công nghiệp dược, sản xuất vắc xin, sinh phẩm, trang thiết bị và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng y tế, phát triển công nghiệp dược trong nước, phấn đấu thuốc sản xuất trong nước. Bảo đảm các doanh nghiệp sản xuất thuốc thành phẩm đạt tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP); các cơ sở kiểm nghiệm thuốc đạt tiêu chuẩn của WHO về thực hành tốt kiểm nghiệm thuốc (GLP); các doanh nghiệp nhập khẩu và lưu thông thuốc có quy mô lớn đạt tiêu chuẩn về thực hành tốt lưu trữ thuốc (GSP); tăng cường công tác quản lý giá thuốc, chấn chỉnh công tác đấu thầu thuốc.

    1. 3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Một là, về công tác tổ chức cán bộ tiếp tục thực hiện Chỉ thị 06-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý khám chữa bệnh và đôi ngũ trực tiếp làm công tác khám, chữa bệnh.

Hai là, việc xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực pháp lý các quy định của pháp luật về hoạt động khám chữa bệnh đây là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về khám, chữa bệnh nhằm tạo ra khung pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, hiệu quả cho các cơ sở khám chữa bệnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào hoạt động khám chữa bệnh.

Ba là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá công tác khám chữa bệnh thanh tra, kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động khám chữa bệnh.

Bốn là,đầu tư xây dựng, trang thiết bị máy móc có chất lượng điều trị chuyên sâu theo tiêu chuẩn của bệnh viện. Nhằm góp phần giải quyết tình trạng quá tải, giảm nhiễm trùng bệnh viện, giúp góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

Năm là, công tác y tế dự phòng tiếp tục triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch, chủ động ứng phó với các dịch bệnh nguy hiểm.

Sáu là, công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tiếp tục phối hợp với các ngành liên quan tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt..

Bảy là, công tác khám, chữa bệnh tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng tại các tuyến điều trị, nhằm tạo điều kiện cho người dân ngày càng được tiếp cận các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, hiện đại trên địa bàn thành phố.

Tám là, công tác dược tiếp tục thực hiện công tác giám sát chất lượng thuốc và củng cố mạng lưới kiểm soát kiểm nghiệm ở cơ sở.

KẾT LUẬN

Trong thời đại hiện nay,đất nước ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tất cả mọi người đều quan tâm đến “chất lượng”, “người người làm chất lượng, nhà nhà làm chất lượng”, thì công tác khám chữa bệnh thật sự phải phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ thì mới đảm bảo cho công tác bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Vì vậy, để hoạt động khám chữa bệnh đạt được mục tiêu đã đề ra thì nhất thiết phải có sự tham gia quản lý của Nhà nước theo một số yêu cầu nhất định.

Với quan điểm Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có y tế. Tuy nhiên với mục tiêu chăm sóc sức khỏe nhân dân được đặt lên hàng đầu, Đảng và nhà nước đã thống nhất chủ trương quản lý y tế ở tầm cao hơn, đó là quản lý “chất lượng” các bệnh viện.Vì vậy việc tăng cường công tác quản lý chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện, các Trung tâm Y tế quận, huyện là thật sự cần thiết. Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh khoa nhi cần tranh thủ tất cả các cơ hội chuẩn bị trước nhất là không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh với đầy đủ trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác khám chữa bệnh cùng với đội ngũ nhân viên y tế có chuyên môn vững vàng, tấm lòng yêu thương người bệnh; song song đó là phải tăng cường quản lý công tác khám chữa bệnh tại khoa. Tất cả vì mục tiêu chung:”Phấn đấu để mọi người dân được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dụng cụ y tế có chất lượng.

Qua nghiên cứu, đề tài chỉ ra rằng khám chữa bệnh là một hoạt động tất yếu trong cuộc sống và càng ngày hoạt động này càng được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa. Trên cơ sở đó, đề tài đi sâu vào tìm hiểu nội dung quản lý nhà nước về khám chữa bệnh cũng như phân tích các quy định của pháp luật về hoạt động khám chữa bệnh

Để khắc phục những hạn chế trên, Nhà nước cần có nhanh chóng đưa ra các giải pháp phù hợp và tổ chức thực hiện tốt giải pháp đó. Trong khả năng của mình, người viết kiến nghị một số giải pháp sau đây:

Một là, hoàn thiện cơ sở pháp lý về khám chữa bệnh. Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về hoạt động khám chữa bệnh nhân đạo, hướng dẫn cập nhật kiến thức y khoa liên tục, quy định về đạo đức nghề nghiệp cho phù hợp với thực tế.

Hai là, củng cố, nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng tại các tuyến điều trị; chú trọng phát triển kỹ thuật y tế chuyên sâu,hiện đại trên địa bàn thành phố. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị hiện đại và triển khai các giải pháp chống quá tải bệnh viện

Ba là, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về khám chữa bệnh nhằm

Bốn là, củng cố, hoàn thiện và nâng cao năng lực mạng lưới y tế cơ sở để người dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng ngay tại cộng đồng.

Năm là, công tác Dược, công tác đấu thầu mua sắm thuốc, vật tư và trang thiết bị y tế. Đảm bảo cung ứng đủ thuốc, kịp thời cho các cơ sở khám chữa bệnh

Sáu là, thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về y tế, chú trọng công tác quản lý hành nghề y tế tư nhân.

Việc thực hiện tốt những kiến nghị trên sẽ làm cho hoạt động khám chữa bệnh ngày càng phát huy hiệu quả trong cuộc sống, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HANH CHINH\HO NGUYEN KIEU HANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *