Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam

Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam

Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống ngân hàng quốc gia được xem là huyết mạch tài chính của nền kinh tế vì vậy sự phát triển, hưng thịnh hay khó khăn, khủng hoảng của hệ thống ngân hàng sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp và lớn lao đến nền kinh tế thậm chí còn tác động lên vận mệnh của quốc gia. Cả thế giới đã từng chứng kiến sự sụp đổ của một hay một vài ngân hàng còn kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của cả hệ thống với quy mô lan rộng như cuộc đại khủng hoảng trong hệ thống tư bản năm 1929-1933, cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Vì thế bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều ban hành các quyết sách xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh và an toàn bên cạnh đó cũng thiết lập hành lang pháp lý nhằm kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn và loại bỏ những ngân hàng yếu kém tạo cơ sở cho nền kinh tế thị trường phát triển bền vững.

Việt Nam ngày càng tham gia sâu, rộng vào sân chơi quốc tế, việc ký kết tham gia các Hiệp ước, Hiệp định thương mại quốc tế đa phương, song phương đã góp phần đưa các NHTM Việt Nam từng bước hòa nhập vào vòng xoáy chung của hội nhập và toàn cầu hóa. Đây là cơ hội cũng là thách thức đối với các NHTM Việt Nam, đòi hỏi các NHTM phải nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát rủi ro trong kinh doanh một cách hiệu quả để có thể đứng vững và khẳng định vị thế trên thương trường quốc tế.

Theo chu kỳ mang tính quy luật, sự phát triển mạnh của hoạt động cấp tín dụng trong một thời gian nhất định sẽ đem lại những hệ quả tích cực và tiêu cực tác động trực tiếp đến nền kinh tế. Bên cạnh những tác động tích cực là cung ứng vốn cho kinh tế, giải quyết nhu cầu và đáp ứng sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển thì những hệ quả tiêu cực do hoạt động cấp tín dụng mang lại không hề nhỏ nếu việc cấp tín dụng không được kiểm soát một cách cẩn trọng. Một trong những hệ quả tiêu cực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế chính là “Nợ xấu”. Đó là những khoản nợ không còn khả năng sinh lời hay không có khả năng thu hồi. Nợ xấu được ví như cục máu đông làm tắt ngẵn dòng lưu chuyển vốn trong nền kinh tế gây ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính quốc gia và đối với bản thân các ngân hàng thì các khoản nợ xấu đã đem lại những thiệt hại đáng kể không chỉ về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Vì những lý do đó việc quản lý để ngăn ngừa những khoản nợ xấu phát sinh hay các biện pháp xử lý để thu hồi những khoản nợ xấu là một trong những vấn đề được quan tâm trong hoạt động tài chính ngân hàng hiện nay.

Từ bối cảnh chung của nền kinh tế và yêu cầu cấp thiết của hoạt động kinh doanh của các ngân hàng mà tác giả đã chọn đề tài: Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

Tình hình nghiên cứu đề tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm kiếm những giải pháp, kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Toàn bộ nội dung của luận văn sẽ nghiên cứu các vấn đề lý luận về nợ xấu và quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam, thực tiễn hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu và

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp.

Thời gian nghiên cứu của luận văn từ năm 2010 đến năm 2015.

4.2. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

– Các vấn đề lý luận vể nợ xấu và quản lý nợ xấu tại các NHTM

– Thực tiễn hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu trong thời gian năm 2010-2015.

– Những giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam qua thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Với các dữ liệu thứ cấp có sẵn tác giả sử dụng phép duy vật biện chứng, vận dụng cơ sở lý luận về nhà nước và pháp luật, những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

5.1. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn áp dụng phương pháp logic, phương pháp thống kê, lý thuyết hệ thống, diễn dịch và quy nạp để phân tích, chứng minh và đánh giá các vấn đề. Từ đó rút ra những thiếu sót, tồn tại trong các quy định, thực tiễn áp dụng của pháp luật Việt Nam về hoạt động xử lý nợ xấu và đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện khung pháp lý, các giải pháp thực tế nhằm đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ xấu tại các NHTM.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc hoàn thiện môi trường pháp lý đầy đủ, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam, cải thiện vai trò của các tổ chức liên quan đến đến hoạt động xử lý nợ xấu của hoạt động NHTM. Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị nhất định.

Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về nợ xấu và quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại.

Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Khái quát chung về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại

Khái niệm về nợ xấu tại các ngân hàng thương mại

Các tiêu chí để xác định nợ xấu theo Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)

Nợ xấu được định nghĩa chủ yếu dựa vào khả năng thu hồi nợ, thu hồi được một phần hay không thể thu hồi.

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):

Các tiêu chí để xác định nợ xấu theo IMF bao gồm: i) thời gian quá hạn trên 90 ngày, hoặc ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ.

Trong khi đó, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Nhưng trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý RRTD, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hay cả hai điều kiện sau xảy ra: i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày

Tại Việt Nam, các NHTM định nghĩa nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam quy định tại điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013.

Nợ xấu (Non-Performing Loans – NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ mất vốn được quy định tại điều 10, 11 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN.

Tóm lại, nợ xấu là những khoản nợ không còn khả năng sinh lời hay những khoản vay không còn hoạt động, việc xác định nợ xấu chủ yếu dựa vào hai tiêu chí là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng.

Tác động của nợ xấu
        1. Đối với các ngân hàng thương mại

Khoản nợ xấu sẽ kéo theo lợi nhuận ngân hàng giảm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng luân chuyển vốn của ngân hàng, khả năng thanh khoản của ngân hàng bị tác động trực tiếp.

Ngoài khả năng tài chính của ngân hàng bị tác động mạnh mẽ bởi nợ xấu thì uy tín của ngân hàng cũng đứng bên bờ vực thẳm.

        1. Đối với nền kinh tế

Tác động đối với nền kinh tế của nợ xấu là tác động gián tiếp thông qua việc một quan hệ kinh tế bị thất bại. Nợ xấu gây trì trệ nền kinh tế.

Cơ sở pháp lý xác định nợ xấu và nguyên nhân phát sinh nợ xấu
        1. Cơ sở pháp lý xác định nợ xấu

Cơ sở pháp lý để xác định nợ xấu theo pháp luật Việt Nam hiện hành được quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN.

Tại điều 10 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, các TCTD được yêu cầu phân loại nợ theo phương pháp định lượng, trong đó các khoản nợ xấu là nợ nhóm 3, nhóm 4, và nhóm 5.

Trong khi đó điều 11 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định cách phân loại nợ theo phương pháp định tính.

        1. Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
* Nguyên nhân chủ quan

– Chính sách tín dụng

– Quy trình nghiệp vụ tín dụng, kiểm tra, kiểm soát

– Nhân viên ngân hàng: được chia làm hai cấp:

* Nguyên nhân khách quan

– Môi trường tự nhiên

– Môi trường pháp lý

– Khách hàng vay vốn

Quản lý nợ xấu tại các NHTM

Cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM.

Hoạt động quản lý nợ xấu bao gồm hoạt động ngăn ngừa nợ xấu và hoạt động xử lý nợ xấu.

Ngăn ngừa nợ xấu là hoạt động thực hiện trước, trong suốt quá trình cấp tín dụng nhằm ngăn ngừa nợ xấu phát sinh. Cơ sở pháp lý để thực hiện hoạt động ngăn ngừa nợ xấu bao gồm:

– Các quy định về giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng được quy định tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN của NHNN ngày 20/11/2014 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư 06/2016/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 36/2014/NHNN của NHNN ngày 20/11/2014 nhằm hạn chế các ngân hàng phát triển tín dụng vượt ngưỡng an toàn giữa tỷ lệ cho vay, tỷ lệ huy động, vốn tự có hay việc cấp tín dụng tập trung vào một số ngành nhạy cảm, một nhóm đối tượng nào đó khả năng gây rủi ro cao ảnh hưởng đến hệ thống.

– Các quy định về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng được quy định tại Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN ban hành quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng và các văn bản sửa đổi bổ sung liên quan.

Hoạt động xử lý nợ xấu được thực hiện khi khoản nợ phát sinh các sự kiện chuyển nợ xấu theo các tiêu chí phân loại nợ tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN. Các biện pháp pháp lý xử lý nợ xấu theo quy định pháp luật Việt Nam bao gồm:

  • Cơ cấu lại thời hạn trả nợ
  • Chuyển nợ xấu thành vốn góp doanh nghiệp
  • Xử lý tài sản đảm bảo
  • Bán các khoản nợ xấu cho bên thứ ba
  • Trích quỹ DPRR để bù đắp
Nội dung hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM
        1. Ngăn ngừa nợ xấu:

Ngăn ngừa nợ xấu được xem là hoạt động kiểm soát chất lượng tín dụng, được thiết kế trong chính sách quản lý RRTD, quy trình nghiệp vụ tín dụng – kiểm tra giám sát, quy định về nhận dạng – ứng xử với các biểu hiện sớm các khoản nợ xấu.

– Xây dựng chính sách quản lý RRTD

Chính sách quản lý RRTD được xây dựng phù hợp với định hướng kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể thay đổi một cách linh hoạt tùy thuộc vào thị trường tín dụng. Chính sách phải hoạch định rõ ràng, nhất quán, giải quyết được xung đột giữa rủi ro và lợi nhuận.

– Xây dựng và thực hiện quy trình nghiệp vụ tín dụng – kiểm tra giám sát

Từ định hướng chính sách quản lý RRTD nêu trên mỗi ngân hàng cần xây dựng, ban hành các quy trình nghiệp vụ tín dụng – kiểm tra giám sát một cách đầy đủ và chặt chẽ, đảm bảo việc thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình này bởi toàn thể nhân viên để giảm thiểu một cách tối đa các RRTD, phát hiện và chấn chình kịp thời các sai phạm hay thiếu sót có thể là những nguy cơ tiềm ẩn phát sinh các khoản nợ xấu.

-Xây dựng hệ thống quy định về nhận dạng và ứng xử với các biểu hiện sớm của các khoản nợ xấu

Như đã phân tích ở trên nợ xấu phát sinh từ nhiều nguyên nhân cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Từ dấu hiệu của những nguyên nhân này ngân hàng xây dựng hệ thống cảnh báo nợ sớm nhằm phát hiện sớm những khoản vay rủi ro.

Những dấu hiệu nhận biết sớm rủi ro từ phía khách hàng như:

  • Khách hàng vay vi phạm pháp luật hay đang bị khởi kiện có thể là nguyên nhân dẫn đến mất khả năng chi trả.
  • Một hay một số món vay của Khách hàng bị chuyển nợ cần chú ý (nợ nhóm 2).
  • Khách hàng không cung cấp hay cung cấp thông tin không chính xác về tình hình tài chính hiện tại.
  • Hoạt động kinh doanh của khách hàng suy yếu và thua lỗ thường xuyên mặc dù món vay khách hàng chưa bị chuyển nợ quá hạn.

Khi khách hàng có những dấu hiệu cảnh báo nợ sớm như trên thì ngân hàng phải ngay lập tức thu thập thông tin, kiểm tra kiểm soát lại hồ sơ vay và có cách ứng xử phù hợp để hạn chế những tổn thất lớn hơn trong tương lai.

Tóm lại việc xây dựng hệ thống quy định về nhận dạng và ứng xử với các biểu hiện sớm của các khoản nợ xấu là rất cần thiết và quan trọng trong công tác phòng ngừa nợ xấu. Một quy trình cảnh báo nợ sớm hiệu quả bao gồm rất nhiều yếu tố cơ bản bao gồm tính nhạy bén, tính đầy đủ, tính chính xác của thông tin và tính linh hoạt của phương thức ứng xử.

        1. Xử lý nợ xấu

Khi một khoản vay bị chuyển thành nợ xấu thì tất cả hồ sơ vay của khách hàng đó sẽ được chuyển sang cho bộ phận xử lý nợ xấu để đánh giá và lựa chọn các phương án thu hồi nợ. Một số phương án thu hồi nợ của các NHTM như:

– Truy cứu trách nhiệm của nhân viên tác nghiệp

– Cơ cấu nợ hoặc chuyển đổi vốn vay thành vốn góp

– Xử lý tài sản đảm bảo

– Bán các khoản nợ xấu

– Trích quỹ DPRR để bù đắp

– Khởi kiện ra tòa

– Sự trợ giúp từ Chính phủ

Ngoài các biện pháp xử lý nợ xấu như trên có một số ngân hàng còn sử dụng biện pháp hình sự hóa quan hệ giao dịch ngân hàng với mục đích nhanh chóng thu hồi nợ xấu của khách hàng hay răn đe đối với các cấp nhân viên và lãnh đạo ngân hàng khi ra các quyết định cho vay sai quy định.

Hơn thế nữa, kể từ ngày 01/07/2016 khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực, chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân cùng với quy định hình phạt cấm huy động vốn vay từ ngân hàng có thể là một trong những nguyên nhân làm phát sinh thêm các khoản nợ xấu do khách hàng không hoặc chưa thu hồi được vốn trả nợ để ngưng huy động vốn theo quyết định của Tòa án.Vậy trong tương lai các NHTM cần có phương án ứng phó với các khách hàng là pháp nhân thương mại rơi vào trường hợp này.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xử lý nợ xấu

Thể chế pháp lý

Năng lực tài chính và quản trị của NHTM

Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.
Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU

Thực trạng quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật hiện hành

Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật hiện hành

Tình hình nợ xấu tăng cao trong thời gian qua ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của các NHTM. Nhìn chung hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM đều thực hiện qua các bước: nhận biết – đo lường – ngăn ngừa – xử lý.

Hoạt động nhận biết và đo lường nợ xấu được ghi nhận trong các quy định về phân loại nợ của ngân hàng, chủ yếu tuân thủ theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013. Bên cạnh đó một số NHTM có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ với các tiêu chuẩn về tài chính, phi tài chính, tài sản đảm bảo, cùng sự hỗ trợ từ công nghệ thông tin đưa từng khách hàng về các nhóm rủi ro khác nhau trên hệ thống.

Hoạt động ngăn ngừa nợ xấu được chú trọng và quy định trong các chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ cấp tín dụng của các NHTM. Quy định, quy trình cấp tín dụng tại các NHTM hiện nay được xây dựng dựa trên Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN ban hành quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng và các quyết định sửa đổi bổ sung, tuy nhiên mỗi ngân hàng thiết kế thêm trong quy định của mình những nội dung cần thiết để đảm bảo tính an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Xét về xây dựng chính sách cơ bản trong hoạt động thẩm định, xét duyệt cho vay thì các hầu hết các NHTM đều tuân thủ quy định pháp luật và chuẩn hệ thống tuy nhiên xét về thực tế hoạt động và quy trình kiểm soát RRTD thì một số NHTM còn qua loa, không kiểm soát tạo nhiều lỗ hỗng gây rủi ro cho chính bản thân ngân hàng và cả hệ thống.

Hoạt động xử lý nợ xấu được thực hiện theo thủ tục nghiêm ngặt với quy trình lặp lại việc kiểm soát, phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ và phương án xử lý nợ được cấp có thẩm quyền xét duyệt trước khi thực hiện. Các NHTM lớn hầu như đều thành lập Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản nhằm quản lý và xử lý những khoản nợ xấu chuyên nghiệp, hiệu quả hơn. Các phương án xử lý nợ tại các NHTM hầu như cũng tuân thủ theo các phương án mà pháp luật quy định đã được đề cập ở chương 1.

Thực trạng nợ xấu tại các NHTM

Số liệu nợ xấu theo báo cáo của TCTD và số liệu theo kết quả giám sát của NHNN đã đồng bộ, chính xác, minh bạch hơn nhờ các Ngân hàng thực hiện theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014.

Về phía các TCTD, số liệu nợ xấu được báo cáo về NHNN giảm liên tiếp và đến tháng 12/2015 là 2,52% [18].

Mục tiêu của những năm tiếp theo là VAMC và các NHTM cần tập trung xử lý các khoản nợ xấu còn tồn tại ở các NHTM và các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC thông qua thanh lý tài sản đảm bảo, bán nợ xấu, mua nợ xấu theo giá trị thị trường và giảm dần mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt.

Hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu

Định hướng chính sách tín dụng và hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP Á Châu
        1. Định hướng chính sách tín dụng của NHTMCP Á Châu

Trong nội dung quy định:

– Định hướng khách hàng mục tiêu

– Định hướng ngành nghề cho vay mục tiêu theo khu vực địa lý

– Định hướng mục đích cấp tín dụng mục tiêu

– Định hướng nhận tài sản đảm bảo

Với ba tiêu chí về định hướng khách hàng – ngành nghề – mục đích cấp tín dụng, ACB chia khách hàng thành 3 nhóm cấp tín dụng: nhóm cấp tín dụng bình thường, nhóm cấp tín dụng bình thường có kiểm soát, nhóm kiểm soát cấp tín dụng. Đối với mỗi nhóm khách hàng ACB có chính sách ứng xử khác nhau tương ứng với tính rủi ro của từng nhóm.

        1. Định hướng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại ACB

Trong công tác quản lý RRTD, ACB thiết lập các cơ chế nhận biết, đo lường, quản lý và kiểm soát các rủi ro hiện hữu và các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giữ những chỉ số rủi ro ở mức cho phép.

* Nhận biết rủi ro: ACB thiết lập cơ chế nhận biết rủi ro ở 2 góc độ:về phía ngân hàng,về phía khách hàng.

* Đo lường rủi ro: ACB áp dụng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ theo Basel II để đo lường rủi ro của từng khoản vay. Đối với rủi ro tổng thể, ACB lấy tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng nợ vay, tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ vay làm thước đo rủi ro trong hoạt động kinh doanh vì vậy mỗi một nhân viên tín dụng tại ACB đều được đánh giá năng suất làm việc cùng với 2 chỉ số trên.

* Quản lý rủi ro: Sau khi nhận biết các rủi ro, đo lường mức độ của rủi ro thì các rủi ro đó được ACB theo dõi, giám sát một cách thường xuyên thông qua chiến lược quản lý rủi ro, chính sách quản lý rủi ro. Bên cạnh đó danh mục tín dụng được theo dõi, phân tích, báo cáo thường xuyên nhằm hạn chế tập trung rủi ro gây nên những tổn thất lớn và có những biện pháp xử lý kịp thời khi rủi ro xảy ra.

* Kiểm soát rủi ro: Với mục tiêu ngăn ngừa và hạn chế các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động tín dụng ngân hàng, các quy định, quy trình hướng dẫn nghiệp vụ được ban hành và cập nhật thường xuyên và đảm bảo tất cả các cá nhân và bộ phân liên quan trong ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt.

Nhận dạng nợ xấu, cảnh báo nợ sớm

Việc cảnh báo nợ sớm có ý nghĩa giúp xác định những RRTD có thể phát sinh để từ đó có biện pháp ứng xử kịp thời, hạn chế những rủi ro, tổn thất xảy ra, tăng khả năng thu hồi nợ, làm giảm nợ quá hạn, giảm nợ xấu phát sinh.

Để quản lý, giám sát các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp ACB đã xây dựng chương trình thu nợ doanh nghiệp (gọi tắt là CLCS). Chương trình này hỗ trợ đắc lực cho ACB hệ thống hóa các tiến trình theo dõi nợ vay, nhất quán trong ứng xử với khách hàng, giảm chi phí cho ACB, hạn chế phiền hà cho khách hàng và đặc biệt là quản lý tốt hơn các khoản nợ xấu hiện có và ngăn ngừa nợ xấu phát sinh.

Các biện pháp xử lý nợ xấu

ACB thường áp dụng các phương án, biện pháp xử lý nợ như sau:

– Cơ cấu nợ cho khách hàng

– Cá nhân, tổ chức khác nhận nợ và trả nợ thay cho khách hàng

– Miễn giảm lãi, phạt, phí cho khách hàng; cho thu nợ gốc, treo nợ lãi

– Xử lý tài sản đảm bảo

– Cho khách hàng rút một phần tài sản/ toàn bộ tài sản và thanh toán một phần nợ /toàn bộ nợ

– Thực hiện các biện pháp tố tụng

– Bán nợ cho bên thứ ba

Thực trạng quản lý nợ xấu tại NHTMCP Á Châu từ năm 2010 đến năm 2015

Kết quả đạt được

ACB được thành lập năm 1993 với vốn điều lệ ban đầu chỉ tầm khoảng 20 tỷ đồng sau 22 năm hoạt động, ngày 31/12/2015 vốn điều lệ đã đạt 9.376 tỷ đồng và được đánh giá là một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam. Trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, dư nợ cho vay của ACB tăng trưởng liên tục. Năm 2015 dư nợ cho vay của ACB đạt 134.032 tỷ đồng chiếm 2,92% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế và tăng 54% so với năm 2010.

Bộ máy quản lý rủi ro được thiết lập và cải tiến nâng cấp thường xuyên đã giúp ACB kiểm soát được các chỉ số về nợ xấu và nợ quá hạn trên tổng dư nợ vay một cách ổn định ngay cả giai đoạn năm 2012-2013, những năm mà ACB gặp biến động lớn cả về nhân sự, lẫn tài chính.

Trước năm 2012 tỷ lệ nợ xấu của ACB luôn được kiểm soát ở mức dưới 1%, tuy nhiên sự kiện tháng 08/2012 đã phá vỡ hàng rào kiểm soát đó và đẩy nợ quá hạn cũng như nợ xấu của ACB lên cao vượt mức 3%. Những nỗ lực của ACB đã đưa tỷ lệ nợ xấu giảm dần qua các năm và giảm xuống mức 1.32% vào cuối năm 2015. Bằng khả năng quản trị điều hành trong thời gian tới ACB định hướng hoạt động kinh doanh theo hướng giảm chi phí, tăng hiệu suất, phát triển bền vững, tập trung thu hồi nợ.

Những điểm hạn chế

Mặc dù mô hình quản lý nợ của ACB phát huy khá hiệu quả và đem lại nhiều kết quả tốt , đúng như kỳ vọng của Ban điều hành nhưng trong quá trình vận hành cũng đã bộc lộ một số hạn chế như sau:

  • Việc xếp hạng tín dụng nội bộ còn mang tính hình thức, thông tin dùng để xếp hạng chưa được cập nhật kịp thời, chính.
  • Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa thực sự độc lập, mục tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng chưa đạt.
  • Số lượng nhân viên của Trung tâm thu nợ còn ít so với số lượng khách hàng cần nhắc nợ vì vậy hoạt động nhắc, thúc nợ chưa phát huy được hiệu quả.
  • Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.
    Quản lý nợ xấu tại các NHTM theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng TMCP Á Châu.

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM QUA THỰC TIỄN NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý nợ xấu

Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng cần hoàn thiện những quy định pháp luật liên quan đến:

  • Hoạt động quản trị các chỉ số về giới hạn cấp tín dụng theo chiều hướng kiểm soát chặt chẽ việc cho vay đối với những đối tượng, những lĩnh vực nhạy cảm có khả năng phát sinh nợ xấu dây chuyền, hạn chế dùng vốn ngắn hạn đầu tư cho vay trung dài hạn. Các quy định này sẽ góp phần định hướng hoạt động kinh doanh của các NHTM, đảm bảo hoạt động ổn định và phát triển an toàn.
  • Quy định về báo cáo và công khai minh bạch thông tin tài chính và cả thông tin phi tài chính đối với tất cả các NHTM. Việc báo cáo cả thông tin tài chính và phi tài chính thường xuyên sẽ giúp NHNN có cái nhìn bao quát hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM, nhận diện những nguy cơ tiềm ẩn sớm, tránh trường hợp gây đỗ vỡ hệ thống.
  • Gia tăng tiến hành các hoạt động thanh tra giám sát với nhiều phương pháp, hình thức mới. Quy định những chế tài mạnh hơn nữa đối với các ngân hàng vi phạm và bên cạnh đó cũng quy định rõ mục đích và trách nhiệm của các cơ quan tham gia giám sát để nâng cao tính nghiêm minh trong lĩnh vực tài chính.
  • Mở rộng cơ chế tăng vốn điều lệ của NHTM thông qua tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của những nhà đầu tư chiến lược hay phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, các NHTM trong nước cần nguồn vốn để tăng cường năng lực tài chính nội tại, cải tiến quy trình hoạt động và quản trị , nâng cao khả năng quản lý nợ. Và với năng lực tài chính mạnh thì ngân hành cũng xử lý nợ xấu nhanh hơn.

Đối với hoạt động xử lý TSBĐ cần hoàn thiện những quy định pháp luật liên quan đến:

  • Xây dựng cơ chế định giá các khoản nợ xấu một cách công khai và minh bạch. Hiện nay cơ chế định giá chưa rõ ràng gây bối rối cho các bên trong việc mua bán nợ đặc biệt là mua bán nợ theo giá thị trường vì vậy đây là nhu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy việc mua bán nợ giữa các NHTM và VAMC nhanh chóng và hợp lý và là tiền đề để thúc đẩy thị trường mua bán nợ tư nhân phát triển.
  • Tạo cơ chế đặc thù cho VAMC khi tiến hành các thủ tục pháp lý liên quan đến bán tài sản thu hồi nợ. Với các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC chỉ là hình thức chuyển giao nợ xấu để một tổ chức chuyên trách của Chính phủ hỗ trợ các NHTM xử lý nợ chứ trên thực tế nợ xấu vẫn còn đó, vẫn gây sức ì lên nền kinh tế. Việc tạo cơ chế riêng cho VAMC sẽ giúp giải quyết nợ xấu nhanh hơn.
  • Xã hội hóa nguồn lực huy động cho việc xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM. Thúc đẩy thị trường mua bán nợ theo Thông tư 09/2015/TT-NHNN của NHNN ngày 17/07/2015 quy định về hoạt động mua bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát triển. Với việc lấy lợi nhuận là mục đích hoạt động, các công ty mua bán nợ tư nhân có thể giúp quá trình xử lý nợ xấu diễn ra nhanh hơn.
  • Áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn đối với các vụ án liên quan đến truy đòi TSBĐ và xử lý TSBĐ để thu hồi nợ của NHTM mà có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ.
Nâng cao năng lực quản lý nợ xấu của các NHTM

Bản thân các NHTM cũng tự nhận thấy rằng, nợ xấu phát sinh từ hoạt động của ngân hàng và sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp và trước tiên đến ngân hàng vì vậy hoàn thiện hoạt động quản lý nợ xấu của các ngân hàng là nhiệm vụ hàng đầu mà các ngân hàng đã, đang và sẽ quan tâm. Dưới đây là một số giải pháp tác giả đánh giá là hữu hiệu và cần thiết mà các NHTM cần thực hiện để nâng cao năng lực quản lý nợ xấu:

  • Cập nhật quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, các vấn đề liên quan đến khách hàng vay, đến nguồn trả nợ , đến tài sản đảm bảo, đến mục đích vay vốn thường xuyên để cải tiến quy trình nghiệp vụ cho phù hợp và kịp thời.
  • Ngân hàng cần có chính sách quản trị chi phí hợp lý nhằm hỗ trợ cho việc tăng mức trích lập dự phòng tỷ lệ nợ xấu.
  • Ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận ngắn hạn. Việc làm này sẽ giúp NHTM nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp. Mặc dù giải pháp này có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội tại của ngân hàng
  • Ngân hàng cần tìm kiếm thêm các nguồn vốn huy động dài hạn với chi phí thấp ví dụ như trái phiếu doanh nghiệp hay tìm kiến các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, vừa tăng vốn điều lệ vừa hỗ trợ công nghệ.
  • Ngân hàng cần phải thiết lập hệ thống quản trị rủi ro tập trung và hiệu quả. Tăng chi cho hệ thống IT, thuê các nhân viên IT mới có trình độ kỹ thuật cao hơn để xây dựng hệ thống thông tin cần tin cậy, nhanh chóng và chính xác.
  • Đối với nhân lực của các ngân hàng: cần có chương trình đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ tín dụng nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức cho nhân viên tín dụng. Quy định thưởng phạt phân minh nhằm khuyến khích nhân viên làm việc tốt và răn đe những hành vi vi phạm.
  • Cải thiện quy trình kiểm soát rủi ro bằng việc thu thập thêm thông tin về khách hàng từ những nguồn khác nhau trong quá trình cấp tín dụng nhằm cảnh báo nợ sớm như thông tin CIC, danh sách các doanh nghiệp nợ thuế, danh sách doanh nghiệp vi phạm hành chính.
  • Ngân hàng cần khuyến khích và có chương trình lãi suất ưu đãi đối với những khách hàng vay mua tài sản cần xử lý nợ. Như vậy ngân hàng sẽ đạt được 2 mục tiêu vừa tăng trưởng dư nợ đủ tiêu chuẩn vừa giảm được nợ xấu.
    1. Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM
Kiến nghị với Chính Phủ
  • Xây dựng cổng thông tin công khai và tổng hợp về tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tình trạng pháp lý của tài sản, về đăng ký tài sản, về đăng ký giao dịch để xác lập, chuyển giao quyền, phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.
  • Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bán các khoản nợ xấu theo cơ chế thị trường, đặc biệt là quy định chi tiết về cách định giá khoản nợ xấu; cụ thể hóa quy định của Bộ luật Dân sự về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ vào trong các quan hệ xử lý nợ xấu.
  • Ban hành quy định về việc tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư chiến lược đối với TCTD trong nước theo hướng nâng cao năng lực của các TCTD phù hợp với định hướng quản lý và phát triển kinh tế của Nhà nước.
  • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, thống nhất về việc áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn trong xử lý nợ xấu đối với những khoản nợ có bảo đảm bằng biện pháp đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, hoặc TCTD đang trực tiếp nắm giữ, chiếm giữ TSBĐ, quan hệ vay nợ rõ ràng, bên vay hoặc bên bảo đảm đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ.
  • Tổng cục Thi hành án dân sự cần sớm phối hợp với các TCTD rà soát, tổng hợp các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án mà chưa được thi hành hoặc đang thi hành dở dang để có kế hoạch chỉ đạo cơ quan thi hành án địa phương đẩy nhanh việc thi hành các vụ án còn tồn đọng, góp phần sớm thu hồi nợ, giảm nợ xấu.
  • Ban hành các văn bản hướng dẫn liên quan đến việc truy tố pháp nhân thương mại và việc thi hành hình phạt ngưng huy động vốn đối với pháp nhân theo Bộ luật Hình sự 2015.
  • Ban hành quy định hỗ trợ việc xử lý nợ xấu đang gặp vướng mắc tồn đọng hiện nay với các vấn đề sau:

+ Xử lý TSBĐ của bên bảo đảm là cá nhân đang chấp hành hình phạt tù giam hoặc bỏ trốn khỏi địa phương; bên bảo đảm là tổ chức bị tổ chức lại mà chưa có tổ chức mới nhận nợ thay hoặc chưa có người đại diện theo pháp luật;

+ Xử lý TSBĐ hình thành trong tương lai mà chưa được hình thành trên thực tế hoặc còn dở dang tại thời điểm xử lý; TSBĐ ở nước ngoài;

+ Xử lý TSBĐ gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm hoặc tài sản thế chấp gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân tỉnh không chấp thuận cho bên mua tài sản được tiếp tục sử dụng đất theo hợp đồng về quyền sử dụng đất giữa Ủy ban nhân dân tỉnh và bên thế chấp vì Ủy ban nhân dân tỉnh cho rằng, quy hoạch của tỉnh đã thay đổi so với quy hoạch trước đây (không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai và quy định tại khoản 2 Ðiều 68 Nghị định số 163/2006/NÐ-CP ngày 29/12/2006, khoản 19 Ðiều 1 Nghị định số 11/2012/NÐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ).

Kiến nghị với Ngân Hàng Nhà Nước
  • Ban hành quy định chặt chẽ hơn về kiểm soát giới hạn cấp tín dụng, việc sử dụng vốn huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn.
  • Ban hành quy định về việc các ngân hàng cần báo cáo và công khai minh bạch cả thông tin tài chính và phi tài chính định kỳ để NHNN quản lý. Việc báo cáo về phân loại nhóm nợ và trích lập dự phòng cần được thanh tra giám sát nhằm đảm bảo các ngân hàng trích dự phòng đầy đủ và đúng với tình hình nợ vay của mình.
  • Có biện pháp khuyến khích đi kèm với cưỡng chế các ngân hàng nâng cao nâng lực quản trị rủi ro , đồng thời nâng cao các điều kiện cấp phép liên quan đến an toàn hoạt động và quản trị đối với ngân hàng mới thành lập.
  • Nâng cao hơn nữa chất lượng và nội dung thông tin được cung cấp bởi CIC nhằm hướng tới thông tin được cập nhật chính xác và kịp thời hỗ trợ các ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng.
  • Ban hành các văn bản hướng dẫn việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng nhằm thống nhất việc xếp hạng và cách tính điểm xếp hạng theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
  • Hoàn thiện bộ máy thanh tra giám sát ngân hàng dựa trên ứng dụng những nguyên tắc cơ bản về giám sát hiệu quả hoạt động ngân hàng của Ủy ban Basel và phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc thận trọng trong thanh tra. Phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra đảm bảo về số lượng và chất lượng.
  • Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tham gia các điều ước quốc tế về giám sát ngân hàng và an toàn hệ thống tài chính, tăng cường trao đổi thông tin với cơ quan giám sát ngân hàng nước ngoài.
  • Tích cực thúc đẩy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhằm tổ chức, sắp xếp lại hệ thống ngân hàng. Tạo nên những ngân hàng mạnh cả về quản trị lẫn tài chính đủ sức lèo lái hệ thống tài chính quốc gia trong thời kỳ hội nhập, xóa sổ những ngân hàng nhỏ, yếu kém.
Kiến nghị với Hiệp hội ngân hàng

Để góp phần đẩy lùi nợ xấu Hiệp hội ngân hàng cần:

  • Góp phần quan trọng vào hỗ trợ công tác điều hành thực thi chính sách quản lý nợ của Nhà nước.
  • Phản ánh một cách kịp thời những khó khăn vướng mắc của các tổ chức hội viên liên quan đến hoạt động cho cấp tín dụng vay, xử lý nợ xấu, xử lý TSBĐ, các vấn đề liên quan đến hợp đồng vay tài sản… và đề xuất các giải pháp với NHNN để có biện pháp thắt chặt kỷ cương thị trường,nâng cáo hiệu quả thực tiễn của chính sách quản lý nợ của NHNN.
  • Thường xuyên tổ chức gặp gỡ trao đổi với các Hiệp hội ngân hàng của các quốc gia phát triển và kêu gọi các tổ chức quốc tế tăng cường nguồn lực đầu tư cả về nguồn vốn và công nghệ giúp Việt Nam.

KẾT LUẬN

Trước áp lực cạnh tranh từ những tổ chức tài chính quốc tế trong thời gian tới các NHTM Việt Nam phải tự cải tiến, nâng cấp năng lực quản trị cũng như năng lực tài chính của mình để có thể duy trì và phát triển thị phần kinh doanh. Một trong những đòi hỏi cấp thiết của việc nâng cao năng lực tài chính của các NHTM là nâng cao khả năng quản lý nợ xấu, không để nợ xấu gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, giảm lợi nhuận, giảm uy tín và vị thế của ngân hàng trên thương trường quốc tế. Chính vì thế hoạt động quản lý nợ xấu là một phần trọng tâm trong tiến trình tái cơ cấu của các NHTM hiện nay. Từ thực tiễn yêu cầu Luận văn đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra:

Thứ nhất, khái quát các lý luận cơ bản, cơ sở pháp lý về nợ xấu và hoạt động quản lý nợ xấu tại các NHTM . Luận văn đã nghiên cứu các tác động tiêu cực cỉa nợ xấu đến các NHTM, đến nền kinh tế và phân tích nguyên nhân phát sinh nợ xấu nhằm tìm kiếm các biện pháp ngăn chặn, hạn chế.

Thứ hai, nghiên cứu về thực tiễn quản lý nợ xấu tại ACB trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2015 từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động quản lý nợ xấu tại NHTM

Thứ ba, đề xuất những giải pháp và kiến nghị cần thiết nhằm nâng cao khả năng quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam

Với những đóng góp trên, luận văn mong muốn được góp phần vào việc thực hiện thành công quá trình quản lý nợ xấu của các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, rộng và nhạy cảm. Vì vậy, mặc dù tác giả đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT KINH TE\HUYNH THI PHUONG THAO

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *