Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

1. Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó cũng như sự tự do kinh doanh, trong kinh tế thị trường đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thúc đẩy quan hệ giao thương buôn bán giữa các quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ. Việt Nam là một đất nước đi lên từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém không đủ những điều kiện cần thiết cho nền kinh tế phát triển. Trước tình hình đó Nhà nước ta đã chuyển hướng phát triển kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Cơ chế kinh tế mở đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Việt Nam có thể nhập máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu của nước ngoài kết hợp với các yếu tố năng lực sản xuất trong nước để phát triển sản xuất và đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên do sản xuất trong nước còn nhiều yếu kém các sản phẩm sản xuất phần nhiều có chất lượng thấp, giá thành và chi phí cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm với hàng hoá của nước ngoài thấp do vậy để bảo vệ sản xuất trong nước Nhà nước phải đặt ra hàng rào thuế quan. Mặt trái của chính sách này là làm cho hiện tượng vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại (gian lận thương mại) diễn ra một cách tràn lan ở hầu hết các cửa khẩu, địa phương trong cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, đặt ra những vấn đề hết sức nóng bỏng và phức tạp là vấn đề vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, điều này gây ra những khó khăn và thiệt hại nghiêm trọng cho cả sản xuất và tiêu dùng trong nước và điều quan trọng đặc ra ở đây là cần có biện pháp xử lý như thế nào là thiết thực và hợp lý nhất. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nên học viện lựa chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính là việc làm có tính cấp thiết.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu: là những vấn đề lý luận và thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đánh giá sự phù hợp của hệ thống quy định pháp luật về vấn đề này trong thực tiễn, từ đó nêu ra những đề xuất sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại và việc tổ chức thực thi các quy định pháp luật đó ở địa phương.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Khái quát hóa những vấn đề lý luận cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nói riêng.

– Khái quát hóa khuôn khổ pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay.

– Phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân về mặt pháp luật và tổ chức thực hiện.

– Trên cơ sở những phân tích ở các phần trên, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính của nước ta, cũng như nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại ở địa phương.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính là vấn đề rất rộng, thể hiện nhiều lĩnh vực khác nhau của quản lý nhà nước. Trong phạm vi của đề tài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Vì lĩnh vực thương mại rất rộng nên phạm vi đề tài luận văn, tác giả giới hạn việc nghiên cứu thực trạng xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép hàng cấm, hàng gian lận thương mại và hàng giả từ thực tiễn tỉnh Gia Lai.

Về mặt không gian, luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng xử phạt vi phạm thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai và với thời gian từ năm 2011 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về thương mại và xử lý vi phạm hành chính.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Với nội dung và những điểm mới nêu trên, luận văn sẽ góp phần làm làm rõ hơn những khía cạnh lý luận, thực tiễn và pháp lý còn chưa sáng tỏ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, qua đó cung cấp luận cứ cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương và ở địa phương Gia Lai xem xét vận dụng để hoàn thiện khuôn khổ chính sách, pháp luật và pháp quy về thương mại nói chung, về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nói riêng ở nước ta trong thời gian tới.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Cũng với những nội dung và điểm mới như vậy, luận văn có thể được sử dụng là một nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu các môn học và chuyên ngành pháp luật có liên quan ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về pháp luật của Việt Nam.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận, pháp lý về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

Chương 2. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai.

Chương 3. Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ

VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được định nghĩa tại Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ban hành ngày 07 tháng 12 năm 1989. Theo đó, vi phạm hành chính được định nghĩa như sau: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Đến Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, năm 2002 được sửa đổi bổ sung năm 2007 và 2008 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được suy ra từ khái niệm xử phạt vi phạm hành chính. Hiểu một cách gián tiếp, vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Đến Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, vi phạm hành chính được định nghĩa: “Là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”

Để làm rõ khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, bên cạnh việc hiểu rõ khái niệm về vi phạm hành chính thì cần phải khái quát khái niệm về thương mại:

Ở Việt Nam, thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, song cho đến nay chưa có định nghĩa chính thức, bởi vì trên thực tế ở các nước trên thế giới, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Phạm vi điều chỉnh trong luật thương mại 2005 là điều chỉnh các hoạt động thương mại được hiểu là mục dích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác, đã gớp phần mở rộng các hoạt động thương mại không bị giới hạn trong 14 hành vi thương mại của luật thương mại năm 1997. Như vậy theo nghĩa rộng thì khái niệm thương mại được định nghĩa là: Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ, giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá trị nào đó bằng tiền thông qua giá cả hay bằng hàng hóa, dịch vụ như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ, cho người mua, đổi lại người mua sẽ trả cho người bán một giá trị tương tương nào đó.

Căn cứ vào tính chất, phạm vi của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, căn cứ vào định nghĩa về vi phạm hành chính và định nghĩa về thương mại có thể đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại như sau: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.

1.1.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nói riêng được cấu thành bởi 4 yếu tố: khách quan, chủ quan, chủ thể và khách thể.

Thứ nhất, khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ hai, chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ ba, khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ tư, chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

1.1.3. Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ nhất, các hành vi vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép kinh doanh của thương nhân; thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam và của thương nhân nước ngoài

Thứ hai, các hành vi vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh;

Thứ ba, các hành vi vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán;

Thứ tư, các hành vi vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ;

Thứ năm, các hành vi vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Thứ sáu, các hành vi buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả hoặc nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép;

Thứ bảy, các hành vi vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu;

Thứ tám, các hành vi gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

Thứ chín, các hành vi vi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;

Thứ mười, các hành vi vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;

Thứ mười một, các hành vi vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;

Thứ mười hai, các hành vi vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật.

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

1.2.1. Khái niệm, vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Định nghĩa: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là hoạt động cưỡng chế nhà nước do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành nhằm áp dụng các hình thức xử phạt hành chính phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của pháp luật hành chính về thương mại.

Xử phạt vi phạm hành chính có vai trò quan trọng và to lớn. Ở đây, vai trò của xử phạt vi phạm hành chính chỉ được xem xét trong lĩnh vực thương mại đó là:

Thứ nhất, thông qua việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính có tác dụng to lớn để giáo dục ý thức pháp luật cho chủ thể vi phạm và những người khác về sự đúng đắn, công bằng, hợp đạo đức của biện pháp được áp dụng, giáo dục cho mọi công dân tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật, tâm trạng tích cực đối với nhà nước, đối với pháp luật, hình thành ở họ lối sống tuân theo pháp luật.

Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa các vi phạm của các chủ thể. Thông qua việc xử phạt các hành vi vi phạm và tác dụng giáo dục của biện pháp trách nhiệm được áp dụng. pháp luật các chủ thể vi phạm và những người khác kiềm chế không thực hiện hành vi trái pháp luật.

Thứ ba, xử phạt vi phạm hành chính là công cụ bổ trợ cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại. Xử phạt vi phạm hành chính có vai trò trong việc trừng phạt các chủ thể vi phạm pháp luật qua đó, gây tác động đến nhận thức của người vi phạm về ý thức về tính chính đáng của biện pháp trách nhiệm được áp dụng, răn đe người vi phạm pháp luật và những người không vững vàng, dễ vi phạm pháp luật khác.

1.2.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, bao gồm:

Thứ nhất, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai, việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

Thứ ba, việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Thứ tư, chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nhiều người cùng thực một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

Thứ sáu, đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

1.2.3. Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực thương mại

1.2.3.1. Các hình thức xử phạt

Cảnh cáo:  Hình thức xử phạt cảnh cáo là hình thức xử phạt chính chỉ được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính có quy định hình thức xử phạt cảnh cáo và đối với cá nhân, tổ chức vi phạm có tình tiết quy định.

Phạt tiền: Mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thương mại là mức trung bình của khung phạt tiền đối với hành vi đó, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm thấp hơn nhưng không giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt.

Hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện: là hình thức xử phạt bổ sung chỉ được áp dụng đối với loại tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định.

Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng có thời hạn giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ có thời hạn một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: là hình thức xử phạt bổ sung.

1.2.3.2. Các biện pháp khắc phục hậu quả

Các biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng đối với hành vi vi phạm không mang tính chất xử phạt mà bản chất của các biện pháp này là để khôi phục những quyền và lợi ích bị vi phạm hành chính xâm hại, đồng thời để ngăn chặn hậu quả xấu mà hành vi vi phạm hành chính có thể gây ra.

1.2.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ nhất, Thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính (xã, huyện, tỉnh)

Thứ hai, Thẩm quyền của Quản lý thị trường (kiểm soát viên, đội trưởng, chi cục trưởng, cục trưởng)

Thứ ba, Thẩm quyền của Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Thanh tra chuyên ngành

 Những người có thẩm quyền của cơ quan: Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Thanh tra.

1.2.5. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ nhất, buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính;

Thứ hai, lập biên bản vi phạm hành chính;

Thứ ba, xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính;

Thứ tư, xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt;

Thứ năm, tổ chức việc giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính bằng trực tiếp hoặc bằng văn bản tùy theo các trường hợp cụ thể do Luật quy định;

Thứ sáu, chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính.

Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự;

Thứ bảy, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Thứ tám, thi hành quyết định xử phạt hành chính.

1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ nhất, yếu tố về kinh tế tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ hai, yếu tố về văn hóa xã hội tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ ba, yếu tố về an ninh trật tự xã hội tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ tư, yếu tố về doanh nghiệp và người tiêu dùng tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ năm, yếu tố của việc quản lý nhà nước tác động đến hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH GIA LAI

2.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Gia Lai có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Gia Lai là địa bàn tập trung các đầu mối về sản xuất, buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu song với đặc điểm địa bàn có 3 tuyến quốc lộ 14, 19 và 25 đi qua, có cảng hàng không Pleiku, có đường biên giới 90 km tiếp giáp Campuchia và cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh nên các đối tượng đầu nậu đã lợi dụng để vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu vào tiêu thụ tại địa bàn tỉnh và trung chuyển đi các tỉnh khác; các mặt hàng vi phạm chủ yếu là lâm sản, thuốc lá điếu nhập lậu. Mặc khác tỉnh có tỷ trọng ngành Nông nghiệp lớn đặc biệt là cây công nghiệp như: cà phê, tiêu, cao su, điều, do đó nhu cầu thị trường cần số lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật lớn, do đó tạo điều kiện cho tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón không đạt chất lượng trên địa bàn. Vì vậy điểm nổi bật và dễ hiểu là tỉnh phải đối mặt với những thách thức lớn liên quan đến tình trạng vi phạm hành chính về thương mại.

2.2. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

Phương thức, thủ đoạn: Các đối tượng chia nhỏ, xé nhỏ, đai, gùi vác hàng nhập lậu qua các đường mòn, lối mở; trộn lẫn hàng không có hóa đơn chứng từ, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ với hàng hóa khác; vận chuyển hàng vi phạm bằng phương tiện mang biển số giả; hợp thức hóa hàng lậu bằng hóa đơn khống, hóa đơn quay vòng; ghi giá hàng hóa trên hóa đơn rất thấp so với thực tế; ghi nhãn không đúng để đánh lừa người tiêu dùng về thông tin sản phẩm; điều chỉnh phương tiện đo nhằm gian lận, lừa dối khách hàng; vận chuyển hàng kém chất lượng đến vùng sâu, vùng xa để tiêu thụ; kinh doanh hàng hóa giả những thương hiệu nổi tiếng và được tiêu thụ mạnh trên thị trường với hình thức giả ngày càng tinh vi do sử dụng công nghệ và kỹ thuật cao, rất khó phân biệt thật giả.

Địa bàn: Tập trung ở các địa bàn có lượng tiêu thụ hàng hóa lớn như Thành Phố Pleiku, thị xã AyunPa, thị xã An Khê, tuyến Quốc lộ 19- Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh và các tuyến đường quốc lộ giáp ranh với các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Đak Lak và vùng sâu, vùng xa.

Các mặt hàng vi phạm: Thuốc lá, gỗ, mũ bảo hiểm, rượu, pháo, bột giặt, xăng dầu, phân bón, mỹ phẩm, thực phẩm, điện thoại di động,…

Đối tượng: Đối tượng buôn lậu đa dạng, bao gồm cá nhân, doanh nghiệp, hộ tư thương.

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán, vận chuyển trái phép hàng cấm, hàng lậu:

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng giả:

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực gian lận thương mại và các hành vi khác:

2.3. Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

2.3.1. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ

Trưởng ban: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phụ trách công tác tài chính – kế hoạch.

Phó trưởng Ban thường trực: Giám đốc Sở Tài chính.

Các Phó Trưởng ban: Giám đốc Sở Công Thương; Giám đốc Công an tỉnh; Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.

Các ủy viên: Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Phó Giám đôc các Sở, ngành: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông; Văn phòng UBND tỉnh; Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh; Lãnh đạo các cơ quan: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Cục trưởng Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (Công an tỉnh).

Cơ quan thường trực giúp việc cho Ban chỉ đạo là Chi cục Quản lý thị trường tỉnh.

Chức năng nhiệm vụ chính:

Thứ nhất, xây dựng kế hoạch chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong từng thời kỳ. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các Sở, ngành, đơn vị, địa phương thực hiện công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Thứ hai, chỉ dạo việc phối hợp giữa các cơ quan và các lực lượng chức năng phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả nghiêm trọng, có tổ chức.

Thứ ba, thành lập các Đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc xử lý các vụ buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả lớn; kiểm tra tình hình chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại một số địa bàn trọng điểm.

Thứ tư, đề nghị khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; chỉ đạo xử lý tập thể, cá nhân có dấu hiệu bao che, bảo kê, tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Thứ năm, tiến hành tổng kết, đánh giá công tác định kỳ và theo chuyên đề; báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh và Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia.

Thứ sáu, phối hợp với Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Báo Gia Lai và các cơ quan thông tấn báo chí xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn tỉnh.

2.3.2. Quan điểm, chủ trương và các quy định của tỉnh Gia Lai về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

Quan điểm về phía UBND tỉnh Gia Lai (trong đó có Ban chỉ đạo 389 của tỉnh về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả)

Thứ nhất, BCĐ 389 đã chỉ đạo các lực lượng tham gia công tác phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, các cơ quan thành viên và các địa phương cần phối hợp để công tác thanh tra, kiểm tra không chồng chéo, không tùy tiện; việc thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra phải có thành phần rõ ràng, quy định nhiệm vụ cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm và thời gian hợp lý, không hình thức, gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn và lĩnh vực quản lý theo dõi, nắm tình hình, tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn các hành vi trong sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, phụ gia thực phẩm, phẩm màu, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, hóa chất bảo quản thực phẩm giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc; việc sử dụng chất tạo nạc, các chất cấm trong chăn nuôi, chế biến thực phẩm.

Thứ tư, các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương cần phối hợp nắm tình hình và tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản và động vật hoang dã trái phép.

Thứ năm, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Trưởng Ban chỉ đạo 389 quốc gia, của UBND tỉnh, đặc biệt Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới; Công điện số 90/CĐ-BCĐ389 ngày 13/7/2015 của Trưởng Ban chỉ đạo 389 quốc gia về phát động cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả là dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và các văn bản chỉ đạo khác.

Quan điểm về phía các sở, ngành chức năng

Trong năm, bám sát các nội dung chỉ đạo của Chính phủ, Bộ, Ban, ngành, Ban chỉ đạo 389 quốc gia, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo 389 tỉnh xây dựng các kế hoạch đấu tranh theo từng thời kỳ, từng mặt hàng cụ thể, kết quả công tác tham mưu, chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả bước đầu đã có chuyển biến tích cực, rõ nét; lãnh đạo các đơn vị đã có sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả các hoạt động phối hợp liên ngành trên cơ sở chức năng nhiệm vụ chuyên môn lĩnh vực của từng ngành, từng đơn vị quản lý.

Quan điểm về phía các địa phương

Việc triển khai các ý kiến chỉ đạo của của Chính phủ, Bộ, Ban, ngành, Ban chỉ đạo 389 quốc gia, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo 389 tỉnh nhìn chung đã được các cấp chính quyền địa phương trong tỉnh quan tâm; tuy nhiên hiệu quả mới chỉ tập trung ở một số địa bàn như: Đức Cơ, Thành Phố Pleiku; còn lại một số địa bàn có chuyển biến nhưng còn chậm, một phần do công tác quán triệt, tổ chức thực hiện còn mang tính hình thức, chưa có sự quyết liệt vào cuộc thật sự và đồng bộ của các cấp chính quyền từ huyện, thị xã, thành phố xuống xã, phường, thị trấn; mặt khác việc triển khai các chủ trương, kế hoạch còn có lúc, có nơi thiếu sự quan tâm, giám sát, đôn đốc, chấn chỉnh của cơ quan cấp trên với các cơ quan quan, đơn vị cấp dưới cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả công tác chưa được cao.

2.3.3. Kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

Số tiền thu nộp ngân sách nhà nước:

Năm 2011, tổng số tiền thu nộp NSNN là 63.461,98 triệu đồng.

Năm 2012, tổng số tiền thu nộp NSNN là 97.084,69 triệu đồng.

Năm 2013, tổng số tiền thu nộp NSNN là 94.081,37 triệu đồng.

Năm 2014, tổng số tiền thu nộp NSNN là 84.397,72 triệu đồng.

Năm 2015, tổng số tiền thu nộp NSNN là 52.280,14 triệu đồng.

Số vụ vi phạm giảm nên số tiền thu nộp ngân sách nhà nước giảm đáng kể qua các năm

2.3.4. Những hạn chế, bất cập về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, mặc dù hệ thống văn bản pháp luật đang ngày càng hoàn thiện nhưng một số quy định còn chưa đồng bộ, vẫn còn trường hợp nhiều cơ quan tiến hành thanh tra, kiểm tra cùng một nội dung tại một cơ sở kinh doanh gây khó khăn cho cơ sở trong quá trình kinh doanh. Một số Nghị định; Thông tư chưa phù hợp với tình hình thực tế nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

Thứ hai, theo quy định tại Thông tư 07/2014/TT-BCT ngày 14/2/2014 của Bộ Công Thương thì kiểm soát viên trung cấp công tác tại Chi cục QLTT Gia Lai không được cấp thẻ kiểm tra thị trường.

Thứ ba, số cán bộ được cấp chứng chỉ lấy mẫu phân bón còn ít

Thứ tư, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam tuy đa dạng, phong phú nhưng nhiều chủng loại, phân khúc chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.

Thứ năm, hoạt động của các đối tượng vi phạm ngày càng tinh vi theo hệ thống, có tổ chức và có liên hệ với mạng lưới trong và ngoài nước dẫn đến dự báo trên một số mặt vẫn chưa kịp thời, chưa chính xác.

Thứ sáu, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ, công chức làm công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại còn hạn chế..

Thứ bảy, chưa khám phá, xử lý được các đường dây, ổ nhóm buôn bán, vận chuyển hàng cấm, hàng nhập lậu, sản xuất buôn bán hàng giả hoạt động có tổ chức quy mô lớn.

Thứ tám, một số ngành lực lượng kiểm tra kiểm soát còn thiếu biên chế, kinh phí hạn hẹp, phương tiện đã thiếu và lạc hậu..

Thứ chín, công tác quản lý địa bàn mới chỉ dừng lại ở việc thống kê, chưa đi sâu, đi sát theo dõi nắm bắt các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả..

Thứ mười, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các ngành, địa phương có triển khai chưa thường xuyên.

Thứ mười một, một số người dân khu vực biên giới còn tham gia vận chuyển hàng lậu và tiếp tay cho hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại.

Thứ mười hai, công tác tuần tra, kiểm soát còn mang tính hành chính nên hiệu quả phát hiện, ngăn chặn buôn lậu còn hạn chế.

Thứ mười ba, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác.

Thứ mười bốn, các nhà sản xuất chân chính, các đơn vị sở hữu quyền trí tuệ chưa nhiệt tình hợp tác với các lực lượng chức năng trong việc tuyên truyền để nhận biết chính xác hàng thật-hàng giả..

Thứ mười lăm, công tác kiểm tra nội bộ, giám sát, giáo dục về phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc của cán bộ công chức ở một số cơ quan chưa được quan tâm, chưa thực hiện thường xuyên.

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO

HIỆU QỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI

3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai

Trong thực tế, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại hiện hành cũng như hoạt động tổ chức thực hiện còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập sau:

Thứ nhất, tình trạng các địa phương quá phụ thuộc vào văn bản hướng dẫn của Trung ương, dẫn đến tình trạng không triển khai thực hiện văn bản, cá biệt có trường hợp không triển khai xử lý vi phạm hành chính với lý do không có Thông tư hướng dẫn, trong khi Nghị định quy định rất chi tiết.

Thứ hai, nhiều quy định của Luật Thương mại đang dần bộc lộ những hạn chế, bất cập về nội dung các chế độ, về cách thức và quy trình tổ chức thực hiện.

Thứ ba, hiện tượng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền làm ngơ không xử lý vi phạm hành chính hoặc người vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt hoặc nộp tiền phạt song không chấp hành hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Thứ tư, hệ thống hình thức xử phạt theo quy định của Luật chưa đa dạng, thiếu linh hoạt nên ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi.

Thứ năm, về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng đã bổ sung thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, vi phạm hành chính tăng thẩm quyền xử phạt của các chức danh cơ sở để đảm bảo hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc bổ sung số lượng này so với thực tiễn vẫn là chưa đủ.

Thứ sáu, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại là một trong những hành vi xảy ra phổ biến và hiện đang là vấn đề được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta hiện nay, các thiệt hại do hành vi này gây ra có chiều hướng ngày càng gia tăng và nghiêm trọng.

3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai phải trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ hai, phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và của tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam kết hợp với việc vận dụng linh hoạt vào đặc điểm, tình hình của tỉnh Gia Lai một cách có hiệu quả.

Thứ ba, tiếp thu kinh nghiệm quý báu của quốc tế cũng như các địa phương khác trong việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại tại tỉnh Gia Lai.

Thứ tư, công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại đòi hỏi phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo; đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

Thứ năm, tăng cường bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền con người, đề cao tính dân chủ, công khai, công bằng và minh bạch trong việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

Thứ sáu, công cuộc cải cách thủ tục xử phạt vi phạm hành chính phải đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân nhưng không làm bó tay các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, hoàn thiện những quy định về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ hai, hoàn thiện những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại.

3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, vận động

Thứ hai, việc xử phạt phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về hành vi vi phạm, về thời hạn, thời hiệu, về thẩm quyền xử phạt, trình tự thủ tục, nguyên tắc xử phạt

Thứ ba, nâng cao phẩm chất, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, kiểm soát và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại

Thứ tư, tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan

KẾT LUẬN

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại là biện pháp quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về thương mại nhằm duy trì trật tự, kỷ cương, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại.

Hòa vào sự phát triển chung của khu vực và cả nước, kinh tế Gia Lai cũng có những bước tiến dài tương xứng với sự phát triển đa dạng, phong phú, đều khắp các loại hình kinh tế, đáp ứng được nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Song điều dễ thấy là, bên cạnh những thuận lợi để phát triển kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt, tình hình buôn lậu và sản xuất kinh doanh trái pháp luật diễn biến phức tạp.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại cũng có một số hạn chế cả chủ quan lẫn khách quan. Một số văn bản chỉ đạo của các bộ ngành Trung ương chưa thống nhất, chậm sửa đổi đã ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, kiểm soát và xử lý của một số ngành, lĩnh vực; nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai của các ngành chưa kịp thời, chưa sát với thực tế; sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng chưa đồng bộ, còn chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm tra, thời gian kiểm tra chưa hợp lý. Hoạt động gian lận trong kinh doanh ngày càng tinh vi, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân, nhưng các biện pháp xử lý của lực lượng chức năng chưa kiên quyết, chưa đủ răn đe, nhất là với các cơ sở vi phạm nhiều lần.

Với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này; luận văn đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn tỉnh Gia Lai; bao gồm: khái niệm, đặc điểm và các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại, các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại góp phần nâng cao lý luận nhận thức về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại. Thực trạng quy định và thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay, rút ra một số nguyên nhân, kinh nghiệm về việc xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh. Kết quả trên, bước đầu cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại nói chung và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng.

Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện về pháp luật thương mại nói riêng, luận văn đã đưa ra hai nhóm giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả cho hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Muốn xử phạt vi phạm hành chính về thương mại, phòng và chống vi phạm hành chính về thương mại có hiệu quả thì chúng ta phải tiến hành một cách tích cực, đồng bộ và kiên quyết các giải pháp trên.

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu Luận văn, do một số điều kiện khách quan nên bài viết không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của Quý Thầy, Cô để bổ sung thêm những kiến thức còn thiếu và hoàn thiện thêm lĩnh vực nghiên cứu.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HANH CHINH\TRAN MINH TRUONG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *