Phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự công cộng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển, thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, bao gồm 14 đơn vị hành chính, trong đó có 01 thành phố, 06 huyện miền núi, 06 huyện đồng bằng ven biển và 01 huyện đảo. Với tổng diện tích tự nhiên khoảng 5.152,67 km2, dân số trung bình 1.334.473 người, chiếm 1,76% diện tích và khoảng 1,6% dân số cả nước, Quảng Ngãi bao gồm nhiều tộc người khác nhau nhưng chiếm đa số là người Kinh (88%), Hre (8,58%), Cor (1,8%)… Quảng Ngãi có bờ biển dài khoảng 129 km, ngoài khơi có đảo Lý Sơn và một số đảo nhỏ khác. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông. Tình hình kinh tế Quảng Ngãi đang trên đà phát triển, đã hình thành khu kinh tế tổng hợp Dung Quất và một số khu công nghiệp khác. Trên địa bàn tỉnh còn có 03 trường Đại học và nhiều trường cao đẳng, trung tâm dạy nghề.
Bên cạnh những thành quả của sự phát triển là mặt trái của tình hình an ninh trật tự. Tình hình và hoạt động của tội phạm XPTTCC trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua luôn có những biến động và thường diễn biến phức tạp, có lúc rất nghiêm trọng. Phương thức hoạt động của tội phạm XPTTCC luôn biến đổi và phát triển theo diễn biến tình hình chính trị, kinh tế – xã hội của tỉnh, trở thành vấn đề nhức nhối, nóng bỏng được toàn xã hội quan tâm. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng hoạt động phòng ngừa tình hình các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, vai trò, đặc trưng, nội dung trong hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND cũng như thực trạng hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó đề ra những kiến nghị nhằm tăng cường, hoàn thiện các giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đối với loại tội phạm này đang là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Do đó, tác giả chọn đề tài “Phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự công cộng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, phân tích những hạn chế, bất cập trong hoạt động phòng ngừa và nguyên nhân của nó từ đó đề ra những giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu về những vấn đề lý luận về phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 – 2015; thực trạng phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nguyên nhân và điều kiện kiện của tình hình các tội XPTTCC, dự báo và kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND, tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nguyên nhân và điều kiện kiện của tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và những biện pháp tăng cường phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi .
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung, đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học với hướng tiếp cận đa ngành.
Về mặt không gian, luận văn được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Về mặt thời gian, đề tài giới hạn trong 5 năm, từ 2011 đến 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin về phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, những đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước và phương châm, nguyên tắc hoạt động của lực lượng CAND trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ ANTT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của tội phạm học cụ thể như: phương pháp thống kê, quy nạp, phân tích, so sánh, hệ thống, diễn dịch, logic, xã hội học; nghiên cứu hồ sơ và các phương pháp chuyên biệt khác của tội phạm học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Góp phần làm phong phú, bổ sung về mặt lý luận đối với hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ đóng góp vào việc hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể tham khảo để xây dựng đường lối, chính sách quản lý xã hội; nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
7. Cơ cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được bố cục thành 3 Chương:
Chương 1: Khái quát lý luận về phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND.
Chương 2: Thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 1
KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA CÁC TỘI
XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm của phòng ngừa các tội XPTTCC
Phòng ngừa các tội XPTTCC được hiểu là việc thực hiện trong một tổng thể các biện pháp khác nhau của Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội XPTTCC để ngăn chặn, hạn chế và tiến tới thủ tiêu tội phạm XPTTCC trong xã hội.
1.1.2. Mục đích phòng ngừa các tội XPTTCC
Mục đích của phòng ngừa các tội XPTTCC có các mức độ khác nhau từ kìm chế sự gia tăng của tội XPTTCC, hạn chế dần mức độ và tính chất nghiêm trọng của tội XPTTCC đến ngăn ngừa tội xâm phạm XPTTCC xảy ra.
1.1.3. Ý nghĩa của phòng ngừa các tội XPTTCC
Phòng ngừa tội phạm XPTTCC có ý nghĩa thực tiễn vô cùng lớn trong kiểm soát xã hội.
– Phòng ngừa tội phạm XPTTCC là tư tưởng chỉ đạo trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm XPTTCC.
– Phòng ngừa XPTTCC mang ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội sâu sắc.
1.1.4. Các nguyên tắc phòng ngừa các tội XPTTCC
1.1.4.1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.4.2. Nguyên tắc dân chủ
1.1.4.3. Nguyên tắc nhân đạo
1.1.4.4. Nguyên tắc khoa học và tiến bộ
1.1.4.5. Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ hoạt động phòng ngừa giữa các chủ thể phòng ngừa
1.1.4.6. Nguyên tắc phân hóa hoạt động phòng ngừa
- 1.2. Lực lượng cảnh sát nhân dân, chủ thể quan trọng, nòng cốt trong phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự công cộng
1.2.1. Vai trò của lực lượng CSND trong phòng ngừa các tội XPTTCC
Nói đến các chủ thể phòng ngừa các tội XPTTCC, trước hết phải nói tới lực lượng CSND thuộc lực lượng CAND. Tuy tham gia phòng ngừa các tội XPTTCC là trách nhiệm của nhà nước, các tổ chức và công dân, nhưng trong các chủ thể PNTP này thì vai trò của lực lượng CSND là quan trọng hàng đầu.
Điều 4 Luật CAND Năm 2014 qui định: “CAND là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG, đảm bảo TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm… Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng CSND và Công an xã.”
1.2.2. Các đặc trưng trong hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND
– Chủ thể của hoạt động phòng ngừa là những người được đào tạo cơ bản, có phẩm chất chính trị và trình độ nghiệp vụ
– Hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSND bao gồm cả phòng và chống
– Các hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSND đều mang tính nghiệp vụ
– Ngoài biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ, lực lượng CSND còn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn cho các chủ thể khác tiến hành các biện pháp phòng ngừa xã hội.
– Hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSND luôn tuân thủ những kế hoạch được xây dựng khoa học, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của từng địa phương, từng thời kì
– Hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSND cần có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội
1.2.3. Nội dung của hoạt động phòng ngừa của lực lượng CSND trong phòng ngừa các tội XPTTCC
Để có thể đạt được mục đích kìm chế sự gia tăng, hạn chế dần mức độ và tính chất nghiêm trọng của tội phạm XPTTCC và ngăn ngừa tội phạm XPTTCC xảy ra, đòi hỏi lực lượng CSND phải đưa ra được hệ thống các biện pháp phòng ngừa phù hợp với thực trạng và diễn biến của tội phạm XPTTCC và có tính khả thi cũng như phải tổ chức triển khai thực hiện được các biện pháp phòng ngừa này một cách đồng bộ và hợp lý.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
- 2.1. Thực trạng nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự công cộng của lực lượng cảnh sát nhân dân CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- 2.1.1. Thực trạng
- 2.1. Thực trạng nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung phòng ngừa các tội xâm phạm trật tự công cộng của lực lượng cảnh sát nhân dân CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Dưới sự tham mưu tích cực của lực lượng CSND Công an tỉnh, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Ngãi đã xác định việc đấu tranh PCTP nói chung, PCTP XPTTCC nói riêng là sự nghiệp của toàn dân. Từ đó đã đề ra nhiệm vụ thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính và pháp luật để thực hiện công tác này.
Trong chủ trương cũng như trong nhận thức, phòng ngừa tội phạm đã được coi là yếu tố chính của phương châm đấu tranh phòng, chống tội phạm. Phương châm chủ động phòng ngừa đã được cụ thể hóa trong các chương trình hành động, nghị quyết, kế hoạch mà lực lượng CSND Công an tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh ban hành. Quyết định số 1775/QĐ-UBND ngày 09/11/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia PCTP giai đoạn 2012 – 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở tham mưu của lực lượng CSND Công an tỉnh là sự thể hiện rõ nét nhất của những nỗ lực kế hoạch hóa toàn bộ hoạt động PCTP của tỉnh về PCTP.
2.1.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
– Trong thực tế, nhiệm vụ phòng ngừa các tội XPTTCC chưa trở thành hiện thực trong hoạt động của lực lượng CSND Công an tỉnh cũng như của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh.
– Nhận thức tính dự báo và tính kế hoạch chưa cụ thể.
Những hạn chế, bất cập trên là do những nguyên nhân sau:
– Cấp ủy, chính quyền địa phương và một số sở, ngành, hội, đoàn thể cùng quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh và kể cả một số đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sỹ lực lượng CSND Công an tỉnh vẫn chưa thực sự nhận thức được hết nguy cơ và tác động của tội phạm XPTTCC, chưa nhận thức được rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác này.
– Nhận thức về vấn đề xử lý các tội XPTTCC có nơi, có lúc còn chưa nhất quán.
- 2.2. Công tác tham mưu, xây dựng các giải pháp
2.2.1. Thực trạng
Hệ thống các biện pháp, kế hoạch PNTP nói chung, phòng ngừa các tội XPTTCC nói riêng được lực lượng CSND tham mưu xây dựng, ban hành trên địa bàn tỉnh trong những năm qua đã có nhiều đổi mới cả về hình thức, nội dung, các biện pháp cụ thể và đã đem lại những kết quả tích cực. Lực lượng CSND Công an tỉnh đã chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh kết hợp chặt chẽ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội với phòng ngừa các tội XPTTCC.
2.2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
– Các biện pháp phòng ngừa các tội XPTTCC còn rất chung chung, chưa phù hợp với đặc điểm riêng biệt của tình hình tội phạm XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
– Chưa phân công được nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, đơn vị trong việc tổ chức phòng ngừa các tội XPTTCC. Chưa thể hiện rõ tính hệ thống và thứ tự ưu tiên đối với các biệp pháp. Quy định các hoạt động còn trùng lặp, chồng chéo. Hệ thống các phương án phòng ngừa các tội XPTTCC chưa đa dạng.
– Chưa có các chương trình, kế hoạch riêng để phòng ngừa nhóm tội XPTTCC. Các chương trình, kế hoạch phòng ngừa các tội XPTTCC chưa có các đảm bảo tổ chức cụ thể.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Công tác tham mưu xây dựng các giải pháp phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND Công an tỉnh còn bị động. Thủ trưởng một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa các tội XPTTCC nói riêng.
- 2.3. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật
2.3.1. Thực trạng
Trong 5 năm qua, lực lượng CSND Công an tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phòng ngừa, lên án, tố giác tội phạm XPTTCC tại hàng trăm điểm khu dân cư, với hàng ngàn lượt người tham dự. Công tác tuyên truyền, vận động tiếp tục được đổi mới với nhiều nội dung thiết thực, hình thức đa dạng.
2.3.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
– Nội dung, hình thức tuyên truyền chưa thật sự phong phú, chưa phù hợp với từng địa bàn, đối tượng, chưa đi sâu vào thực tế. Công tác phối hợp giữa các lực lượng trong tuyên truyền còn hạn chế. Các phong trào quần chúng tham gia PCTP XPTTCC vẫn mang nặng tính hình thức, chưa hiệu quả.
– Vấn đề phân công, phân cấp còn chồng chéo, thiếu cơ chế phối hợp.
– Nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó là:
+ Nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thật đầy đủ, sâu sắc.
+ Một bộ phận cán bộ chiến sĩ CSND còn thiếu tinh thần trách nhiệm; trình độ nghiệp vụ, pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Vẫn còn có một số ít cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu.
- 2.4. Công tác điều tra, xử lí tội phạm
Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an và UBND tỉnh, lực lượng CSND Công an tỉnh đã áp dụng tổng hợp các biện pháp phòng, chống THTP nói chung và tình hình tội XPTTCC nói riêng. Tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi bước đầu đã được kiềm chế, kiểm soát. Nghiên cứu thực trạng tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 sẽ cho thấy rõ điều đó.
2.4.1. Thực trạng tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
2.4.1.1. Phần hiện của THTP XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
– Thực trạng (mức độ) của THTP xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015
+ Mức độ tổng quan: Mức độ tổng quan tuyệt đối của THTP XPTTCC giai đoạn từ 2011 – 2015 trên toàn tỉnh Quảng Ngãi là 252 vụ với 957 bị cáo, tính tròn số, trung bình mỗi năm toàn tỉnh xét xử sơ thẩm 50 vụ 191 bị cáo phạm các tội XPTTCC. Chiếm 6,83% số vụ và 13,71% số bị cáo phạm tội nói chung.
+ Mức độ hành vi: Tổng số các tội danh XPTTCC là 12 tội danh, trong đó tội đánh bạc có tỷ lệ cao nhất với 130 vụ, chiếm tỷ lệ 51,58%. Tội gây rối trật tự công cộng xảy ra 50 vụ, chiếm tỷ lệ 19,84%, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc 36 vụ chiếm tỷ lệ 14,28%, tội chứa mại dâm 26 vụ chiếm tỷ lệ 10,31%. Riêng tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt; tội hành nghề mê tín dị đoan; tội rửa tiền; tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy; tội mua dâm người chưa thành niên trong 5 năm qua chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật trên địa bàn tỉnh phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử.
THTP XPTTCC và xâm phạm sở hữu có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, khi tội phạm XPTTCC tăng cao thì tội phạm xâm phạm sở hữu cũng tăng theo.
– Động thái (diễn biến) của THTP XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn từ năm 2011-2015
Từ năm 2011 đến năm 2015 tội phạm XPTTCC có chiều hướng tăng là chủ yếu nhưng tỷ lệ tăng không đều, chỉ riêng năm 2015 là số bị cáo phạm tội XPTTCC giảm so với năm 2011.
– Cơ cấu, tính chất của THTP XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
+ Cơ cấu của THTP XPTTCC theo địa bàn phạm tội
Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, tội phạm XPTTCC xảy ra chủ yếu ở TP Quảng Ngãi với 47 vụ/178 bị cáo (chiếm tỷ lệ 18,65% số vụ, 18,59% số bị cáo), Bình Sơn 39 vụ/157 bị cáo (chiếm tỷ lệ 15,47% số vụ, 16,4% số bị cáo), Mộ Đức 36 vụ/113 bị cáo (chiếm tỷ lệ 14,28% số vụ, 14,21% số bị cáo), Tư Nghĩa 30 vụ/113 bị cáo (chiếm tỷ lệ 11,9% số vụ, 11,8% số bị cáo), Sơn Tịnh 25 vụ/94 bị cáo (chiếm tỷ lệ 9,92% số vụ, 9,82% số bị cáo).
+ Cơ cấu của THTP XPTTCC trên cơ sở kết hợp dân cư và diện tích
Trên cơ sở dân cư: mức độ THTP XPTTCC trên địa bàn huyện Sơn Tây xếp thứ nhất với tỷ lệ 12,71 bị cáo/10.000 dân, huyện Ba Tơ xếp cuối cùng với tỷ lệ 4,27 bị cáo/10.000 dân.
Trên cơ sở diện tích: TP Quảng Ngãi có mức độ phân bổ số bị cáo là 11,11 bị cáo/1km2 cao nhất trong các huyện, thành phố thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tiếp theo là huyện Lý Sơn 1,5 bị cáo/1km2. Huyện Ba Tơ xếp cuối cùng.
Về mức độ nguy hiểm của tội phạm XPTTCC trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh Quảng Ngãi: Đứng đầu là huyện Mộ Đức, đứng cuối là huyện Ba Tơ.
+ Cơ cấu theo hình phạt ở cấp sơ thẩm: Hình phạt tiền chiếm tỷ lệ cao nhất (25,70%), tiếp theo là hình phạt tù cho hưởng án treo chiếm 22,88%, hình phạt tù từ 3 năm trở xuống chiếm 20,97%, hình phạt cảnh cáo chiếm 16,92%, hình phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm chiếm 7,52%, hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm 5,32%, hình phạt tù từ 7 năm trở lên được áp dụng ít nhất (0,83%).
+ Cơ cấu theo tiền án, tiền sự: Số bị cáo có tiền án, tiền sự chiếm tỷ lệ khá cao với 186/957 bị cáo (tỷ lệ 19,43%).
+ Cơ cấu về độ tuổi
+ Cơ cấu về trình độ học vấn
+ Cơ cấu về nghề nghiệp
+ Cơ cấu theo dân tộc
+ Cơ cấu theo hoàn cảnh gia đình
– Tính chất của THTP XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015
+ Về nơi cư trú và thời gian gây án
Về nơi cư trú: Qua nghiên cứu 421 bị cáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 -2015 cho thấy: 310 bị cáo có hộ khẩu thường trú chiếm 73,63%, 111 bị cáo tạm trú chiếm 26,36%.
Về thời gian gây án: Qua nghiên cứu 100 bản án hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 -2015 cho thấy thời gian gây án như sau: Từ 6 giờ đến 12 giờ xảy ra: 08 vụ, chiếm tỷ lệ 08%; Từ 13 giờ đến 17 giờ: xảy ra 30 vụ, chiếm tỷ lệ 30%; Từ 17 giờ đến 24 giờ: xảy ra 42 vụ, chiếm tỷ lệ: 42%; Từ 24 giờ đến 5 giờ: xảy ra 20 vụ, chiếm tỷ lệ: 20%.
+ Về phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm
22% tội phạm XPTTCC được thực hiện dưới hình thức phạm tội đơn lẻ, 78% là hình thức đồng phạm. Các đối tượng thường lợi dụng các cơ sở kinh doanh nghành nghề có điều kiện về ANTT làm nơi tổ chức các hoạt động phạm tội XPTTCC. Nhiều trường hợp các đối tượng còn tổ chức hành vi phạm tội XPTTCC ngay tại nhà hoặc các nơi thưa dân cư, đồi núi… và tổ chức canh chừng cẩn thận. Các đối tượng thay đổi địa điểm liên tục.
2.4.1.2. Phần ẩn của THTP XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
– Tội phạm ẩn khách quan
+ Thiếu đi phần tố cáo của bị hại. Tội phạm XPTTCC thường hoạt động rất kín đáo và luôn thay đổi quy luật, phương thức thủ đoạn hoạt động, có sự chuẩn bị về mặt điều kiện, địa điểm phạm tội và thường sử dụng các ám, ký hiệu, cử người canh phòng cẩn mật, báo động kịp thời…
+ Người dân chưa nhìn nhận được một cách đầy đủ về tính nguy hiểm của các tội XPTTCC. Do tâm lý nể nang, sợ sự trả thù của các đối tượng phạm tội hoặc người dân xung quanh địa điểm tổ chức hành vi phạm tội XPTTCC đã bị các đối tượng này mua chuộc, cho tiền bạc, vật chất… Do một bộ phận nhân dân chưa có ý thức pháp luật, chưa có tinh thần đấu tranh với nhóm tội phạm này.
– Tội phạm ẩn chủ quan
Có một số vụ, việc khi tiếp nhận lực lượng Công an xã, phường, thị trấn xử lý không đúng quy định hoặc không kịp thời báo cáo lên cơ quan cấp trên. Thậm chí có một số cán bộ trực ban của cơ quan Công an có thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm, gây phiền hà về thủ tục trình báo… dẫn đến người dân cảm thấy phiền hà, phức tạp nên không báo nữa.
– Tội phạm ẩn thống kê
Nguyên tắc về thống kê của ngành tòa án là thống kê “vụ án và bị cáo theo tội danh nghiêm trọng nhất và hình phạt cao nhất”. Vì cậy trong các vụ án có cả tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc thì khi thống kê không thể hiện được vụ án và số bị cáo phạm tội đánh bạc. Trong các vụ án Trộm cắp tài sản có đối tượng phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; các vụ án Chứa mại dâm có đối tượng môi giới mại dâm cũng tương tự. Do đó, trong trường hợp này một số tội XPTTCC như đánh bạc, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội, môi giới mại dâm sẽ bị ẩn.
2.4.2. Nguyên nhân, điều kiện của THTP XPTTCC
2.4.2.1. Nguyên nhân, điều kiện về kinh tế, xã hội
Nguyên nhân về kinh tế, xã hội là những nhân tố thuộc lĩnh vực kinh tế xã hội có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, quá trình di dân…
2.4.2.2. Nguyên nhân, điều kiện về văn hoá, giáo dục và tuyên truyền, nhận thức pháp luật
– Những luồng văn hóa xấu còn lan truyền, phát tán tràn lan trên các trạng mạng Internet và ngoài xã hội. Những tàn dư lạc hậu từ xã hội cũ để lại. Thái độ bàng quan thiếu trách nhiệm của một bộ phận cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh.
– Công tác giáo dục, tăng cường nhận thức về pháp luật có liên quan đến các tội XPTTCC chưa được quan tâm.
2.4.2.3. Nguyên nhân và điều kiện về môi trường vi mô
* Môi trường gia đình: Gia đình thiếu gương mẫu về lối sống, đạo đức, trong gia đình có các thành viên thiếu tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên có những hành vi đánh đập, chửi nhau; gia đình có các hành vi làm ăn bất chính, lừa lọc; gia đình có lối sống buông thả, trụy lạc, thậm chí có các hành vi phạm tội hình sự, lôi kéo cả con em mình vào con đường phạm tội; gia đình thiếu phương pháp giáo dục đúng đắn với con cái, không quan tâm đến việc giáo dục con cái…
* Môi trường nhà trường: Chất lượng giáo dục có phần bị xuống cấp, công tác quản lý, giáo dục học sinh còn nhiều lỏng lẻo, yếu kém, chất lượng giảng dạy học tập chưa cao. Nhà trường chưa chú trọng việc giáo dục công dân. Các hoạt động tập thể trong nhà trường chưa thu hút được đông đảo các em học sinh tham gia. Bị ảnh hưởng bởi cơ chế thị trường, một số giáo viên đã có tư tưởng thực dụng trong cuộc sống, chạy theo đồng tiền, có lời nói, việc làm, tư thế, tác phong thiếu gương mẫu….
* Môi trường xã hội: Các thành phố, khu kinh tế, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh là nơi có tốc độ phát triển kinh tế xã hội, tốc độ đô thị hóa, tốc độ dịch chuyển cơ cấu xã hội ở mức cao. Do đó, việc những người dân ở nơi khác tập trung về đây không theo kịp nhịp sống của đô thị dễ dẫn đến tình trạng phạm tội để thích ứng với môi trường này cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội XPTTCC. Việc kiểm duyệt nhập khẩu, quản lý các loại băng hình, trò chơi có nội dung đồi trụy, bạo lực… chưa được thực hiện triệt để, còn để một số lượng lớn thất thoát ra ngoài xã hội.
2.4.2.4. Nguyên nhân, điều kiện về quản lý nhà nước trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội
– Công tác quản lý cư trú còn bị buông lỏng. Công tác quản lý dịch vụ lao động, du lịch chưa được chặt chẽ. Một số cán bộ, công chức còn có thái độ hách dịch, cửa quyền, có hành vi tham ô, hối lộ… Một số trường hợp do những người thi hành công vụ không làm đúng theo chức năng, nhiệm vụ, quy định nên gây thiệt hại cho người dân. Không tuyên truyền, giải thích rõ ràng cho người dân hiểu.
– Sự phối, kết hợp trong tổ chức thực hiện đấu tranh PCTP XPTTCC chưa đồng bộ, chặt chẽ. Các hoạt động tuần tra kiểm soát của lực lượng CSND và các tổ chức quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh chưa thật sự có hiệu quả.
– Việc giải quyết các vụ vi phạm về trật tự công cộng của lực lượng CSND còn kém hiệu quả, các hình thức xử phạt, chế tài xử lý còn nhẹ.
– Công tác điều tra, khám phá, đấu tranh, triệt phá tội phạm XPTTCC của lực lượng CSND chưa kịp thời, còn có tình trạng bỏ lọt nhiều tội phạm XPTTCC. Công tác xét xử của Tòa án nhân dân đối với các vụ án XPTTCC có lúc chưa nghiêm.
– Công tác PNTP tại các địa bàn, khu vực công cộng chưa được quan tâm đúng mức. Lực lượng CSND Công an tỉnh chưa sử dụng linh hoạt, đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ vào trong công tác phòng ngừa các tội XPTTCC. Công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo THTP nói chung, tội phạm XPTTCC nói riêng của lực lượng CSND chưa kịp thời, thậm chí còn chủ quan, bị động.
– Công tác quản lý công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ, thông dụng còn bộc lộ nhiều sơ hở.
– Lực lượng chuyên trách PCTP XPTTCC còn mỏng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật của một số cán bộ còn yếu, thiếu và chưa mang tính chuyên sâu. Phương tiện, nghiệp vụ còn hạn chế. Việc quản lý cán bộ chiến sỹ còn lỏng lẻo. Một số cán bộ thiếu ý thức trách nhiệm.
2.4.2.5. Nguyên nhân và điều kiện về pháp luật
Quy định trong một số văn bản quy phạm đã được ban hành thiếu đồng bộ và có nhiều kẽ hở. Chế tài xử lý còn thấp.
2.4.2.6. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về người phạm tội
Ý thức pháp luật kém, coi thường trật tự kỷ cương, coi thường trật tự công cộng. Do trình độ văn hóa thấp. Có ý thức không đúng về nhu cầu và con đường thỏa mãn nhu cầu vật chất trong cuộc sống. Tư lợi cá nhân, tính tham lam.

TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
THTP XPTTCC vẫn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Tính chất và mức độ sẽ nguy hiểm hơn, thành phần đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng. Xu hướng “trẻ hóa” tội phạm ngày càng phát triển và được lan rộng ra các đối tượng. Mâu thuẫn trong nhân dân sẽ diễn biến phức tạp hơn, dễ gây ra các vụ gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh. Phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng đa dạng, tinh vi xảo quyệt. Thời gian và địa điểm phạm tội không cố định. Tội phạm XPTTCC có xu hướng câu kết, đan xen, móc nối liên kết với nhau, hình thành các băng, ổ nhóm phạm tội, phạm tội có tổ chức… gây khó khăn cho công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, hậu quả thiệt hại gây ra cho xã hội ngày càng lớn.
- 3.2. Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.2.1. Tăng cường nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc, nội dung trong phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Thông qua tuyên truyền bằng các hình thức treo băng rôn, áp phích, các phương tiện thông tin đại chúng… Cần tuyên truyền cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân nhận thức được đúng vị trí, tầm quan trọng của hoạt động PNTP XPTTCC của lực lượng CSND
3.2.2. Tăng cường, đổi mới công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong phòng ngừa các tội XPTTCC
– Tham mưu đổi mới chính sách kinh tế – xã hội
Tham mưu UBND tỉnh có chính sách khuyến khích, hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh… Quản lý và khai thác các địa bàn công cộng trên địa bàn tỉnh một cách hợp lý.
– Tham mưu đổi mới chính sách văn hóa – giáo dục
Tham mưu UBND tỉnh có các hình thức sinh hoạt văn hóa thể thao phù hợp để thu hút họ trong thời gian nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu hiếu động của tuổi thanh niên. Tăng cường quản lý các văn hóa phẩm có nội dung đồi trụy, khiêu dâm, kích động bạo lực… Tăng cường chính sách bài trừ hủ tục, những tàn dư lạc hậu từ xã hội cũ. Ưu tiên xóa nạn mù chữ, phổ cập trung học phổ thông cho người dân ở các khu vực ven biển, nông thôn, miền núi. Giáo dục sâu sắc về tác hại của tội phạm XPTTCC và tổ chức dạy văn hóa cho các đối tượng mù chữ tại các cơ sở tập trung giáo dục cải tạo các đối tượng phạm tội XPTTCC. Chú ý hình thức giáo dục tại cơ sở, tại gia đình.
– Tham mưu xây dựng, ban hành kế hoạch đấu tranh với THTP XPTTCC
Chủ động tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh xây dựng, ban hành các chương trình, kế hoạch (ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn) chỉ đạo các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân tham gia phòng ngừa, đấu tranh với tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để tiếp tục chỉ đạo việc thực hiện các chương trình, kế hoạch phòng, chống các tội XPTTCC đã ban hành.
3.2.3. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giáo dục chính trị tư tưởng
Công tác tuyên truyền phải được tiến hành thường xuyên bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp với địa bàn, đối tượng, nội dung tuyên truyền phải sát với tình hình, điều kiện địa bàn.
3.2.4. Tăng cường các biện pháp quản lý xã hội
– Công tác tuần tra kiểm soát:
Thành lập các tổ Cảnh sát đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ tuần tra khép kín, kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm XPTTCC. Xây dựng phương án, kế hoạch và phân công, tổ chức lực lượng tuần tra phù hợp với từng địa bàn cụ thể. Phát huy vai trò tích cực của các lực lượng bán chuyên trách, các tổ chức quần chúng. Hoạt động tuần tra, kiểm soát cần phải được thực hiện thường xuyên, nhưng không theo quy luật, luôn gây bất ngờ cho các đối tượng.
– Công tác quản lý cư trú: Lực lượng CSND cần tăng cường thực hiện công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, kiểm tra tạm vắng, tạm trú, nhất là đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú và các nhà hàng, quán bar, karaoke, massage…
– Công tác quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện:
Tăng cường rà soát, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật của các cơ sở kinh doanh. Xử lý nghiêm các hành vi dung túng, bao che của cán bộ quản lý địa bàn, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự.
– Công tác điều tra, xử lý tội phạm
+ Lực lượng CSND Công an tỉnh cần phải tổ chức lực lượng điều tra nắm vững tình hình; quản lý chặt địa bàn, đối tượng; liên tục mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp và điều tra, xử lý tội phạm XPTTCC. Sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ và pháp luật để phát hiện, điều tra các vụ án XPTTCC và truy bắt các đối tượng phạm tội bỏ trốn. Kết hợp chặt chẽ phòng ngừa với tiến công, điều tra, khám phá tội phạm XPTTCC.
Bên cạnh các công tác nêu trên, lực lượng CSND cần tập trung tiến hành các biện pháp như: Xây dựng các phương án PNTP XPTTCC, các tình huống nghiệp vụ và triển khai diễn tập các tình huống để chủ động đấu tranh khi có các vụ việc cụ thể xảy ra. Phát hiện kịp thời và giải quyết triệt để các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để các mâu thuẫn kéo dài âm ỉ và làm phát sinh tội phạm XPTTCC.Thực hiện tốt các biện pháp hành chính đặc biệt, đề xuất đầu tư các trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ cao nhằm phục vụ có hiệu quả công tác phòng ngừa các tội XPTTCC. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả, áp dụng linh hoạt, đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ vào công tác phòng ngừa các tội XPTTCC. Tăng cường thực hiện công tác kiểm tra, quản lý, thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, hạn chế thấp nhất trường hợp các đối tượng sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ vào việc thực hiện hành vi phạm tội XPTTCC. Xây dựng một mạng lưới tố giác tội phạm rộng khắp trong nhân dân, đồng thời cần có những khen thưởng hợp lý để khuyến khích người dân cùng chung sức đấu tranh PNTP nói chung, trong đó có tội phạm XPTTCC.
3.2.5. Hoàn thiện chính sách pháp luật trong phòng ngừa các tội XPTTCC
– Lực lượng CSND cần tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm XPTTCC; công tác quản lý, giáo dục, tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho những người phạm các tội XPTTCC đã chấp hành xong bản án trở về địa phương, tập trung đề xuất bổ sung các quy định trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; hoàn thiện các quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính; bổ sung các quy định có liên quan trong lĩnh vực quản lý hành chính về trật tự xã hội… Sửa đổi cách thức thống kê THTP theo hướng thống kê theo hành vi phạm tội đã bị xét xử.
3.2.6. Tăng cường công tác quản lý, giáo dục, cải tạo; tái hòa nhập cộng đồng
Lực lượng CSND ở cơ sở phải thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với những đối tượng sau khi chấp hành xong bản án trở về địa phương và gia đình họ để nắm rõ những khó khăn, vướng mắc; tham mưu cho chính quyền phối hợp với các tổ chức kinh tế, xã hội tạo điều kiện cho họ có cơ hội tìm kiếm, giải quyết việc làm ổn định đời sống, tạo ra tiền đề cho họ tiếp thu sự giáo dục của cộng đồng, trở về với cuộc sống lương thiện, phòng ngừa họ tái phạm tội trở lại.
3.2.7. Hoàn thiện công tác tổ chức triển khai hoạt động phòng ngừa tình hình các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
– Đội ngũ
+ Trước hết phải làm tốt công tác tuyển sinh, tuyển dụng.
+ Cần xây dựng lực lượng CSND Công an tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sỹ.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.
+ Kiện toàn tổ chức và cán bộ. Thực hiện nghiêm túc việc luân chuyển cán bộ theo quy hoạch; tinh giản biên chế.
+ Phòng tổ chức cán bộ cần cân đối sắp xếp, ưu tiên phân công các đồng chí học đại học về các huyện, thành phố có tội phạm XPTTCC xảy ra nhiều. Đề xuất ban hành chính sách khuyến khích đối với lực lượng CSND như phụ cấp đặc thù công tác ngoài tiền lương…, có chính sách thu hút, tuyển chọn những người đã qua đào tạo ở các ngành ngoài.
+ Cần tăng cường cán bộ tại những địa bàn phức tạp về trật tự công cộng. Coi trọng việc xây dựng lực lượng bán chuyên trách để phối hợp làm nhiệm vụ phòng ngừa các tội XPTTCC ở cơ sở.
– Công tác chuyên môn
+ Cán bộ làm công tác phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND Công an tỉnh cần phải được phân công, tổ chức chuyên sâu theo từng lĩnh vực và được đào tạo chuyên sâu, giỏi nghiệp vụ, có nhiệm vụ và quy chế hoạt động riêng phù hợp. Thường xuyên rà soát, đưa đi đào tạo những cán bộ chưa học qua nghiệp vụ; đào tạo lại những cán bộ có năng lực hạn chế.
+ Lực lượng CSND Công an tỉnh cần phải nghiên cứu khai thác và áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào công tác phòng ngừa, điều tra, xử lý loại tội phạm này. Đề xuất tăng cường bổ sung kinh phí phục vụ cho công tác phòng ngừa các tội XPTTCC.
– Công tác phối hợp
+ Lực lượng CSND Công an tỉnh cần tham mưu xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa gia đình, đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, xã hội và chính quyền, các cơ quan chức năng trong việc thực hiện từng nội dung quản lý, giáo dục đối tượng phạm các tội XPTTCC. Tổ chức cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể nhất là các cơ sở kinh doanh dịch vụ, du lịch, ký và thực hiện các cam kết phòng ngừa tội phạm XPTTCC.
+ Chủ động phối hợp với các sở, ban ngành có liên quan tăng cường hoạt động quản lý các lĩnh vực liên quan đến phòng ngừa tội phạm XPTTCC. Phân công đầy đủ lực lượng nghiệp vụ tham gia các Tổ công tác liên ngành, phối hợp thực hiện công tác truy quét, xử lý các đối tượng phạm tội XPTTCC.
+ Lực lượng CSND Công an tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể thực hiện có hiệu quả các nghị quyết liên tịch đã ký kết. Tranh thủ sự phối hợp giúp đỡ của các tầng lớp nhân dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân.
+ Phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên thực hiện tốt công tác phòng ngừa các tội XPTTCC.
+ Các lực lượng nghiệp vụ của lực lượng CSND Công an tỉnh cần chủ động phối hợp với Công an các xã, phường, thị trấn tập trung chấn chỉnh và tăng cường công tác đăng ký, quản lý cư trú.
+ Lãnh đạo Công an tỉnh cần chỉ đạo xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp, xác định rõ trách nhiệm của các lực lượng nghiệp vụ Cảnh sát trong phòng ngừa các tội XPTTCC. Gắn trách nhiệm việc quản lý địa bàn, phòng ngừa các tội XPTTCC đối với các cấp, nhất là chính quyền và lực lượng Công an ở địa bàn cơ sở.
+ Phối hợp với VKSND, Tòa án nhân dân xác định các vụ án điểm về tội phạm XPTTCC để tập trung xử lý, tăng cường tổ chức xét xử lưu động các vụ án này tại các địa bàn công cộng.
+ Ngoài ra, Lực lượng CSND Công an tỉnh cũng cần mở rộng hợp tác. Tham gia các diễn đàn, học tập kinh nghiệm của lực lượng CSND các tỉnh, thành khác và kinh nghiệm của quốc tế để nâng cao hiệu quả phòng ngừa các tội XPTTCC.
KẾT LUẬN
PNTP là phương hướng cơ bản mang tính chiến lược trong cuộc đấu tranh PCTP của lực lượng CSND để giữ vững an ninh chính trị và TTATXH. Công tác phòng ngừa các tội XPTTCC là một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra không chỉ đối với lực lượng CSND mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Trong những năm qua, Đảng ủy và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi luôn quan tâm đến công tác phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh. Lực lượng CSND Công an tỉnh là chủ thể quan trọng, nòng cốt, trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, lực lượng CSND sẽ không thể thành công nếu không có được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền; sự phối hợp giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Luận văn đã đề cập một cách cơ bản, toàn diện thực trạng nhận thức cũng như thực trạng hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND Công an tỉnh Quảng Ngãi trên bình diện xây dựng, tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp phòng ngừa các tội XPTTCC và những kết quả đã đạt được. Đồng thời chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân của những tồn tại đó.
Tình hình các tội XPTTCC trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua diễn biến hết sức phức tạp, tuy có năm tăng, năm giảm nhưng chiều hướng giảm không bền vững. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội XPTTCC gồm: nguyên nhân, điều kiện về kinh tế, xã hội; về văn hoá, giáo dục và tuyên truyền, nhận thức pháp luật; về môi trường vi mô; về quản lý nhà nước trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội; về pháp luật và các nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ chính người phạm tội.
Những kết quả nghiên cứu lý luận chung và thực trạng hoạt động phòng ngừa tình hình các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là những vấn đề hết sức quan trọng để dự báo về THTP XPTTCC trong thời gian tới. Để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa các tội XPTTCC của lực lượng CSND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cần phải tiến hành một hệ thống các giải pháp tương đối toàn diện và cụ thể. Trong đó cần đi sâu vào hoàn thiện các giải pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật và các biện pháp quản lý xã hội như tuần tra kiểm soát, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều tra, xử lý tội phạm, xây dựng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ; kiện toàn về tổ chức lực lượng CSND; củng cố mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSND với các cấp, các ngành, các đoàn thể, tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh và các lực lượng nghiệp vụ trong ngành CSND.
Sau cùng, tác giả thấy rằng, mặc dù đã rất cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, tuy nhiên kết quả nghiên cứu của luận văn chỉ là bước đầu, kinh nghiệm thực tiễn của bản thân cũng còn hạn chế nên Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định, tác giả rất mong nhận được sự chân thành đóng góp ý, bổ sung của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\TOI PHAM HOC\PHAN QUOC VIET\New folder (2)


