Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
1. Lý do chọn đề tài
TNGT nói chung và TNGT ĐB nói riêng là một hiện tượng xảy ra phổ biến ở bất kỳ một quốc gia nào hiện nay. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, do các phương tiện giao thông gia tăng nhanh chóng, trong khi đó kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu, ý thức tham gia giao thông của người dân còn thấp, nên số lượng các vụ TNGT ĐB xảy ra hàng năm rất lớn. Theo báo cáo của Ủy ban ATGT Quốc gia, trong năm 2014 toàn quốc xảy ra 25.322 vụ, làm chết 8.996 người, bị thương 24.417 người. TNGT nói chung và TNGT ĐB nói riêng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho con người, gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế, để lại những gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Trong thực tiễn lập pháp, trách nhiệm BTTH NHĐ được quy định khá cụ thể trong BLDS năm 2005. Tuy nhiên qua thực tiễn thi hành cho thấy, một số quy định của BLDS năm 2005 có liên quan đến trách nhiệm BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp, việc áp dụng pháp luật còn thiếu sự nhất quán. Ngoài ra, các quy định về trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung và trách nhiệm BTTH trong các vụ án TNGT ĐB nói riêng còn nhiều hạn chế.
Từ những lý do trên tác giã lựa chọn đề tài “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài “BTTH NHĐ trong các vụ án TNGT ĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” có mục đích và nhiệm vụ sau đây.
Mục đích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luân chung về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, như khái niệm trách nhiệm BTTH NHĐ, khái niệm tai TNGT ĐB và trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, các nguyên tắc BTTH trong các vụ TNGT ĐB, lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
Nhiệm vụ, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB và thực trạng áp dụng các quy định này, để từ đó phát hiện ra những điểm còn bất cập, hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
Trên cơ sở những điểm bất cập, hạn chế được phát hiện, tác giả sẻ đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của bộ luật có liên quan đến trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đối tượng, đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung và trách nhiệm BTTH NHĐ trong các vụ TNGT ĐB nói riêng
Phạm vi nghiên cứu về văn bản, Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB là một vấn đề rộng và phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do vậy, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm BTTH phát sinh trong các vụ TNGT ĐB do người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới gây ra và do nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra. Về mặt văn bản, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định chung về trách nhiệm BTTH do nguyồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định của luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngoài ra tác giả cũng nghiên cứu các quy định pháp luật của môt số quốc gia trên thế giới, như pháp luật của Pháp, Nga….để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian, ngoài việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, tác giả cũng tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về sự phát triển của kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; những thành tự của các khoa học, triết học, lôgíc học, tâm lý học… luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật, các bản án, các quyết định của tòa, các tài liệu của phòng CSGT ĐB tỉnh Quảng Ngãi.
Phương pháp nghiên cứu, Để giải quyết các vấn đề cụ thể đề tài đặt ra, tác giả chú trọng sử dụng phương pháp phân tích các quy định pháp luật, các văn bản của tòa án,…liên quan tới vấn đề BTTH trong các vụ TNGT ĐB. Trong một số vấn đề cụ thể, như cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH, xác định thiệt hại, thực tiễn áp dụng…tác giả sử dụng phương pháp so sánh với pháp luật về trách nhiệm BTTH NHĐ của một số quốc gia như Pháp, Nga….để làm sáng tỏ hơn vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được sử dụng để làm nổi bậc được tình hình TNGT ĐB trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia qua đó làm nỗi bật được thực trạng áp dụng các quy định pháp luật có liên quan đến trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
Đề tài được viết trên cơ sở đi từ cái chung đến cái riêng, từ những vấn đề lý luận chung đến các quy định cụ thể của pháp luật và thực tiễn áp dụng, cuối cùng là đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
Luận văn góp phần hệ thống hóa các vấ đề lý luận liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luân văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho quá trình học tập, nghiên cứu của các sinh viên, các cơ sở đào tạo luật, các cơ quan nghiên cứu, cơ quan áp dụng pháp luật và mọi tổ chức cá nhân. Đặc biệt, những kiến nghị được đưa ra trong luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan làm công tác xây dựng pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung và các quy định về BTTH trong các vụ TNGT ĐB nói riêng.
7. Cơ cấu luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Chương 2. Thực tiển áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ tại tỉnh quảng ngãi.
Chương 3. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện và hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNGTHIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN
1.1. Khái quát chung về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGTĐB
1.1.1. Khái niệm, trách nhiệm BTTH và BTTH NHĐ trong các vụ TNGT ĐB
Khi TNGT ĐB xảy ra gây thiệt hại thì sẻ làm phát sinh trách nhiệm BTTH của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp xảy ra TNGT ĐB đều làm phát sinh trách nhiệm BTTH.
Khái niệm trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB có thể được hiểu như sau:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGTĐB là một dạng cụ thể của trách nhiệm BTHH NHĐ, phát sinh khi người tham gia giao thông vi phạm các quy định về ATGT đường bộ hoặc do sự cố đột xuất, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và tổn thất về tinh thần của con người”.
Trong luận văn này, trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB được hiểu theo khái niệm này.
BTTH NHĐ trong các vụ án TNGT ĐB.
Trách nhiệm BTTH NHĐ là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau và ở các quốc gia khác nhau, quy định về trách nhiệm BTTH NHĐ cũng có sự khác biệt.
Ở Việt Nam, cổ luật không quy đinh riêng về trách nhiệm dân sự BTTH NHĐ. Các bộ luật cổ của Việt Nam quy định các hình phạt của luật hình sự nhưng các hình phạt này mang tính dân sự. Chẳng hạn, nếu đánh người gây thương tích, ngoài hình phạt bằng roi thì người phạm tội còn phải chịu một khoản tiền phạt theo mức quy định tại Điều 446 Bộ Luật Hồng Đức như sau: “Sưng phù thì phải đền tiền thương tổn ba tiền, chảy máu thì phải một quan, gãy một ngón tay, một răng thì phải đền mười 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa hình thành thì 30 quan, đã thành thì 50 quan, gãy một chân, một tay, mù một mắt thì 50 quan, đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan, về người quyền quý phải xử khác”.
BTTH NHĐ cần phải thể hiện được hai nội dung cơ bản:
Một là: phải làm rõ được sự khác biệt giữa trách nhiệm BTTH NHĐ với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng.
Hai là: cần phải làm nổi bật được cơ sở phát sinh và các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH NHĐ.
Khái niệm về trách nhiệm BTTH NHĐ như sau:
“Trách nhiệm BTTH NHĐ là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng, theo đó người có hành vi trái pháp luật xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của người khác thì phải có trách nhiệm BTTH do mình gây ra”.
Trách nhiệm BTTH NHĐ có nhiều điểm khác biệt so với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng.
Thứ nhất, về cơ sở phát sinh: Trong trách nhiệm BTTH trong hợp đồng thì giữa các bên phải có tồn tại quan hệ hợp đồng và một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Còn trách nhiệm BTTH NHĐ phát sinh do hành vi trái pháp luật xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác. Giữa các bên không có tồn tại quan hệ hợp đồng hoặc có tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, về mức bồi thường: trong BTTH NHĐ thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, cả những thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp. Người gây ra thiệt hại chỉ có khả năng được giảm mức bồi thường nếu gây thiệt hại do lỗi vô ý và thiệt hại gây ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại. Trong BTTH trong hợp đồng, người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại có thể tiên liệu được khi ký hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng về mức bồi thường thấp hơn hoặc cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra.
Thứ ba, trường hợp nhiều người gây thiệt hại: trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại nếu là BTTH NHĐ thì những người này đương nhiên phải liên đới bồi thường. Nếu là BTTH theo hợp đồng thì những người này chỉ phải liên đới bồi thường nếu có thỏa thuận.
Thứ tư, về điều kiện phát sinh: BTTH theo hợp đồng chỉ phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi. Còn trách nhiệm BTTH NHĐ phát sinh ngay cả khi bên gây thiệt hại không có lỗi trong một số trường hợp pháp luật quy định. Như trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trách nhiệm bồi thường do hành vi gây ô nhiễm môi trường…
Thứ năm, về thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường: Đối với BTTH NHĐ thời điểm xác định nghĩa vụ và thời điểm phát sinh trách nhiệm bồi thường dường như xuất hiện cùng một thời điểm. Thiệt hại xảy ra vừa là điều kiện để xác định nghĩa vụ, vừa là điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường.
Thứ sáu, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường: Trách nhiệm BTTH NHĐ ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật còn áp dụng đối với cả chủ thể khác như cha, mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân….Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng chỉ áp dụng đối với các bên tham gia hợp đồng, không thể áp dụng đối với chủ thể thứ ba.
1.1.2. Đặc điểm, ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án TNGT đường bộ
1.1.2.1. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Là một dạng cụ thể của trách nhiệm BTTH NHĐ, trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB cũng mang những đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH NHĐ. Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, về căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH: Các vụ TNGT ĐB có thể do hành vi con người gây ra, nhưng cũng có thể do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Nếu TNGT do hành vi của con người gây ra với sự tham gia của phương tiện giao thông vận tải cơ giới như người điều khiển phương tiện giao thông chạy quá tốc độ quy định, vượt đèn đỏ…gây tai nạn thì căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH cũng giống như trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung phải thỏa mãn bốn căn cứ:
– Có thiệt hại thực tế xảy ra,
– Có hành vi trái pháp luật,
– Người gây thiệt hại có lỗi,
– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
Trong trường hợp TNGT ĐB do phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra thì trách nhiệm BTTH phát sinh chỉ cần thỏa mãn ba điều kiện:
– Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật,
– Có thiệt hại thực tế xảy ra,
– Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và hậu quả.
Thứ hai, về đối tượng xâm hại: Nếu như trong BTTH NHĐ nói chung, đối tượng bị xâm hại có thể là tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm thì trong các vụ TNGT ĐB đối tượng bị xâm hại chỉ có thể là tính mạng, sức khỏe, tài sản chứ không thể là danh dự, nhân phảm uy tín
Thứ ba, về chủ thể chịu trách nhiệm BTTH: Chủ thể chịu trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB rất đa dạng và phức tạp
Thứ tư, theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ xe cơ giới phải bắt buộc tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba và hành khách đi trên xe theo hợp đồng vận chuyển. Bên cạnh đó chủ xe cơ giới còn có thể tham gia một số loại bảo hiểm khác. Do vậy, trong quan hệ BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB có sự tham gia của cơ quan bảo hiểm. Khi TNGT xảy ra cơ quan bảo hiểm tham gia giải quyết hậu quả tai nạn trên nguyên tắc xác định trách nhiệm BTTH giữa cơ quan bảo hiểm, chủ phương tiện và người trực tiếp điều hành phương tiện giao thông.
1.1.2.2. Ý nghĩa BTTH trong vụ TNGT đường bộ
Trách nhiệm BTTH trong các vụ án TNGT ĐB có ý nghĩa quan trọng nhằm khôi phục những tổn thất vật chất, bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại và thân nhân người bị thiệt hại do TNGT gây ra.
Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT còn có ý nghĩa quan trọng góp phần ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật giao thông, giáo dục các chủ thể có ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng, từ đó góp phần hạn chế TNGT, giảm thiểu những thiệt hại về người và tài sản do TNGT gây ra.
Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT còn có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ sở hữu, người có trách nhiệm quản lý, bảo quản phương tiện giao thông, không để phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây thiệt hại cho những người xung quanh
1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
Trong điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH NHĐ là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường, mức bồi thường. Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB phát sinh khi thỏa mãn những điều kiện nào phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Nếu TNGT ĐB do hành vi của con người gây ra thì để phát sinh trách nhiệm bồi thường cần phải thỏa mãn bốn điều kiện:
Có hành vi vi phạm pháp luật
Có thiệt hại thực tế xảy ra
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả
Có lỗi
Nếu TNGT ĐB do phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra thì trách nhiệm BTTH phát sinh khi thỏa mãn ba điều kiện
Có thiệt hại xảy ra
Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật
Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
1.3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT đường bộ.
Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB là một dạng cụ thể của trách nhiệm BTTH NHĐ. Do vậy, các nguyên tắc trong BTTH NHĐ cũng được áp dụng cho trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB

Chương 2
THỰC TIỂN ÁP DỤNG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI
2.1. Khái quát tình hình TNGT ĐB trong tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua.
Qua nghiên cứu số liệu cho thấy trong 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2015, số vụ TNGTĐB đã giảm từ 285 vụ xuống 130 vụ. Trong tổng số các vụ TNGT các vụ TNGT ĐB chiếm đến 95%, chiếm 97% số người bị chết và 95% số người bị thương. Theo số liệu thống kê các vụ TNGT ĐB xảy ra ở Quốc lộ 1A chiếm 61%, ở tỉnh lộ chiếm 16%, ở đường đô thị 21%, ở đường liên xã 2%.
Trong 10 năm phòng CSGT ĐB ĐS công an tỉnh Quảng Ngãi đã lập biên bản xử phạt tăng đáng kể năm 2009 xử phạt 15.429 trường hợp đến năm 2012 xử phạt 69.870 trường hợp tăng gấp 4 lần.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNGTĐB là do người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vi phạm các quy định về an toàn giao thông. Theo số liệu thống kê năm 2013 thì nguyên nhân dẫn đến TNGTĐB do người điều khiển phương tiện giao thông vi phạm các quy định về ATGT chiếm đến 80.03%, các nguyên nhân khác chỉ chiếm 19.97%.
Số lượng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tăng nhanh, đặc biệt là phương tiện xe mô tô chiếm tỉ lệ 94% trong tổng số xe cơ giới đường bộ, trong khi đó kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được cũng là một trong những thách thức đối với việc giảm thiểu TNGTĐB. Theo số liệu thống kê năm 2014 có tới 22,29% các vụ TNGT liên quan đến xe ôtô, 69.38% các vụ TNGT liên quan đến xe môtô, chỉ có 8.32% liên quan đến các phương tiện khác. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về giao thông mặc dù đã được cũng cố nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót, bất cập cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình TNGT diễn biến phức tạp.
2.2. Thực tiễn khi xảy ra TNGT trách nhiệm của CSGT, của chính quyền địa phương và cơ quan bảo hiểm phải bắt buộc có mặt tại hiện trường không
Trách nhiệm của CSGT khi xảy ra TNGT phải có mặt ngay sau khi vụ TNGT xảy ra trên địa bàn để giải quyết ban đầu như: Tổ chức cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn, xác định người làm chứng, giải tỏa ùn tắt giao thông. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, lấy lời khai người điều khiển phương tiện, người làm chứng, thu thập tài liệu có liên quan về vụ TNGT.
Trách nhiệm của chính quyền địa phương: UBND cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến xử lý, giải quyết vụ tai nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản người bị nạn
Trên thực tế, chính quyền địa phương nơi xảy ra vụ TNGT đôi khi không có mặt tại hiện trường sớm vì nhiều lý do như; không ai báo cho chính quyền địa phương, tai nạn xảy ra đêm khuya, tai nạn trên tuyến đường vắng… Đây là trách nhiệm lớn đối với chính quyền địa phương khi để xảy tai nạn.
Trách nhiệm BTTH của cơ quan bảo hiểm cũng phát sinh trên cơ sở bốn điều kiện phát sinh BTTH NHĐ. Tuy nhiên, việc BTTH do phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra thiệt hại phát sinh không dựa trên cơ sở yếu tố lỗi theo quy định tại khoản 3 Điều 627 BLDS năm 2005, mà chỉ cần ba điều kiện: có thiệt hại, có hành vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Trong từng trường hợp cơ quan bảo hiểm vẫn có trách nhiệm bồi thường.
Như vậy, cơ quan bảo hiểm khi xảy ra tai nạn trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm phải có mặt tại hiện trường để xác định thiệt hại, có hành vi vi phạm trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả. Nhưng trên thực tế, khi tai nạn xảy ra cơ quan bảo hiểm ích khi có mặt tại hiện trường.
2.3. Thực trạng CSGT có hòa giải không, Có lập biên bản hòa giải không và tòa án có xử khi đã hòa giải
Giải quyết trách nhiệm dân sự giữa các bên có liên quan đến TNGT: CSGT viết giấy mời những bên có liên quan đến TNGT về trụ sở công an để giải quyết về trách nhiệm BTTH (trách nhiệm dân sự). Việc giải quyết tai nạn phải được tiến hành tại trụ sở cơ quan công an và việc thỏa thuận giữa các bên phải thể hiện bằng văn bản như: Giấy thỏa thuận, giấy bãi nại… Nếu các bên có tham gia bảo hiểm thì đại diện cơ quan bảo hiểm có thể cùng dự việc giải quyết.
CSGT thông báo về những vấn đề có liên quan đến việc giải quyết vụ tai nạn như quyền và nghĩa vụ giữa các bên… Tóm tắt nội dung vụ TNGT, quá trình điều tra của CSGT… sau đó mời các bên phát biểu ý kiến của mình đối với việc giải quyết, CSGT ghi rõ ý kiến của từng bên, từng người vào biên bản giải quyết và cùng ký tên.
Trường hợp các bên liên quan đến vụ TNGT đạt được sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết trách nhiệm BTTH thì CSGT là cơ quan trung gian để các bên giải quyết. CSGT hướng đẫn cho các bên viết giấy thỏa thuận, bãi nại, giấy nhận tiền…., tiến hành lập biên bản giải quyết báo cáo hướng giải quyết và xử lý lỗi các bên (nếu có).
Như vậy, CSGT là cơ quan trung gian để giải quyết trách nhiệm BTTH và lập biên bản giải quyết BTTH.
Trên thực tế, gần như các vụ va chạm giao thông hay là các vụ TNGT mà chưa đến mức truy cứu TNHS thì CSGT phân tích lỗi và hòa giải cho đôi bên về mức BTTH sau khi đã xử phạt hành vi phạm pháp luật về TTATGT.
Trường hợp khi đã hoàn thành thủ tục thỏa thuận, bãi nại, nhận tiền…Có biên bản giải quyết của CSGT nhưng sau đó hai bên cùng khởi kiện ra Tòa án. Theo tác giả khi phát sinh vấn đề tranh chấp sau khi đã thỏa thuận tại cơ quan công an thì Tòa án vẫn thụ lý và thủ tục hòa giải tại cơ quan công an được xem như là tình tiết hòa giải ban đầu.
2.4. Xác định thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ
2.5. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ TNGT ĐB tại tỉnh Quảng Ngãi
2.5.1. Trường hợp TNGT ĐB do hành vi trái pháp luật của con người gây ra
Theo quy định tại Điều 604 BLDS năm 2005 việc xác định BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB do hành vi trái pháp luật của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra căn cứ vào việc người nào có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải bồi thường. Do vậy, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH phải căn cứ vào năng lực chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.
2.5.2. Các vụ TNGTĐB do phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ gây ra, trách nhiệm của chủ phương tiện như thế nào?
Theo quy định tại Điều 623 BLDS năm 2005 và Nghị Quyết số 03/2006/HĐTP thì trong các vụ TNGTĐB do phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây ra, tùy từng hoàn cảnh cụ thể trách nhiệm BTTH có thể được áp dụng đối với các chủ thể sau:
2.5.2.1. Trách nhiệm của chủ phương tiện
– Trường hợp chủ sở hữu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông.
Chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có nghĩa là chủ sở hữu đang thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ và quản lý tài sản; để khai thác công dụng, hưởng lợi từ tài sản nhưng không được xâm hại tới lợi ích của các chủ thể khác. Do vậy, khi thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông cơ giới gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu phải BTTH.
– Trong trường hợp chủ sở hữu chuyển giao phương tiện giao thông cơ giới cho người khác chiếm hữu, sử dụng,
– Trên thực tế, việc chuyển giao phương tiện giao thông cơ giới cho người khác chiếm hữu, sử dụng có thể thông qua một giao dịch dân sự như cho thuê, cho mượn…hoặc có thể được chuyển giao thông qua quan hệ lao động. Do đó, khi xác định chủ thể phải BTTH trong trường hợp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây thiệt hại, ngoài căn cứ vào khoản 2 Điều 623 thì cần phải căn cứ vào các quy định chung về trách nhiệm BTTH NHĐ
– Trong trường hợp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, khoản 4 Điều 623 BLDS năm 2005 phân định thành hai trường hợp.
+ Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu chuyển giao phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ hoàn toàn không có lỗi trong việc để phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phải BTTH.
+ Trong trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông cũng có lỗi trong việc để cho phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới BTTH với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ.
2.5.2.2. Trách nhiệm của chủ phương tiện khi đã bán phương tiện nhưng chưa làm thủ tục sang tên
Theo khoản 2 Điều 6 thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/04/2014 quy định; “ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ phương tiện phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 ban hành kèm theo thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Trường hợp xe không thông báo thì tiếp tục phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tụ đăng ký sang tên, di chuyển xe“.
Như vây, trách nhiệm của chủ phương tiện phải thông báo cho cơ quan đăng ký xe đã bán, cho tặng xe… nếu chưa thông báo thì trách nhiệm BTTH của chủ phương tiện cũng được xử lý như trên.
Trên thực tế, ngần như tất cả các chủ phương tiện khi đã bán, cho, tặng….đều không đến làm thủ tục thông báo dẫn đến tình trạng không xử phạt được người mua phương tiện không chịu làm thủ tục sang tên theo nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày13/11/2013 của chính phủ, làm cho công tác quản lý phương tiện gặp khó khăn và thất thu ngân sách nhà nước.
2.5.3. Xác định trách nhiệm liên đới trong BTTH khi xảy ra các vụ TNGT đường bộ
Trách nhiệm liên đới BTTH là một loại trách nhiệm dân sự, theo đó người có quyền được quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại và bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ cũng phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với người có quyền khi được người có quyền yêu cầu. Sau khi một trong những người có nghĩa vụ BTTH đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người có quyền thì quan hệ nghĩa vụ giữa những người có nghĩa vụ bồi thường và người được bồi thường chấm dứt, đồng thời làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại cho người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bồi thường của những người có nghĩa vụ liên đới khác trong quan hệ nghĩa vụ. Trách nhiệm liên đới BTTH chính là một biện pháp tối ưu để bảo vệ quyền lợi cho người được bồi thường
2.6. Thực tiễn áp dụng trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB tại tỉnh Quảng Ngãi
2.6.1. Thực tiễn áp dụng BTTH và một số bất cập trong các vụ TNGT ĐB xảy ra tại tỉnh Quảng Ngãi
BTTH trong các vụ TNGT ĐB xảy ra là hành vi vi phạm các quy định về TTATGT ĐB của người tham gia giao thông, Tuy nhiên, trên thực tế tai nạn xảy ra chủ yếu do người điều khiển các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ- nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Một hành vi vi phạm các quy định về TTATGT ĐB gây thiệt hại có đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH nhưng cần phải có các căn cứ để xác định ai là người phải thực hiện BTTH trong vụ TNGTĐB đó. Tuy nhiên để xác định ai là người phải chịu trách nhiệm BTTH không phải là dễ dàng.
2.6.2. Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng chưa phù hợp với thực tiễn
Khoản 3 Điều 623 BLDS 2005 thì người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như đã nói trên, trong thực tiễn việc chuyển giao nguồn nguy hiểm cao độ có thể thông qua quan hệ lao động. Quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2005 chưa có sự phân biệt trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ có thể thông qua một giao dịch dân sự như cho mượn, cho thuê…hoặc có thể chuyển giao thông qua quan hệ lao động. Quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS 2005 chưa có sự phân biệt trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ được chuyển giao theo giao dịch dân sự và trường hợp chuyển giao theo quan hệ hợp đồng
2.6.3. Thực tiễn xác định trách nhiệm liên đới BTTH trong các vụ TNGTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Theo quy định của BLDS 2005, trách nhiệm liên đới BTTH chỉ phát sinh trong trường hợp cùng gây thiệt hại và trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Qua nghiên cứu các quy định về trách nhiệm liên đới BTTH và thực tiễn xét xử cho thấy, các quy định về trách nhiệm liên đới BTTH còn thiếu sót và bất cập.
Việc xác định trách nhiệm liên đới khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu, sử dụng phương tiện giao thông cũng có lỗi để phương tiện giao thông vận tải cơ giới bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật còn chưa đầy đủ và chưa bao quát hết được các trường hợp trong thực tiễn. Theo quy định tại khoản 4 Điều 623 BLDS 2005. Quy định này được hiểu là, nếu “chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng” nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường với “người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật”. Quy định này còn thiếu sót và chưa bao quát được hết các trường hợp xảy ra trong thực tiễn. Bởi vì, trong thực tiễn việc chuyển giao phương tiện giao thông vận tải cơ giới cho người khác chiếm hữu, sử dụng có thể qua nhiều chủ thể.
Chương 2 tập trung taam nghiên cứu thực trạng bồi thường thiệt hại trong các vụ án giao thông dduongf bộ, các phương thức giải quyết và từ đó tìm hiểu những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong quá trình giải quyết. Điều này tạo cơ sở cho việc đề r các giải pháp ở phần chương 3.

Chương 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TNGT ĐƯỜNG BỘ
Qua nghiên cứu thực trạng áp dụng và những bất cập trong các quy định về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, tác giả xin được mạnh dạn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung và trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB nói riêng như sau:
3.1. Xây dựng một quy định riêng biệt điều chỉnh vấn đề BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB
Kiến nghị xây dựng một quy định riêng biệt điều chỉnh vấn đề BTTH trong các vụ TNGT ĐB là xuất phát từ những lý do sau:
Một là, như đã nói ở phần thực trạng áp dụng pháp luật, trên thực tế TNGT ĐB chủ yếu là do hành vi trái pháp luật của con người gây ra với sự tham gia của phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử đều vận dụng chế định trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Việc vận dụng quy định về trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là không chính xác xét từ góc độ văn bản nhưng lại có lợi cho phía người bị thiệt hại. Việc vận dụng pháp luật không chính xác như trên cũng chưa có một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào phản đối. Vì vậy, để có cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan áp dụng pháp luật tác giả kiến nghị xây dựng một quy định riêng biệt để điều chỉnh vấn đề BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
Hai là, việc xây dựng một quy định riêng điều chỉnh vấn đề BTTH trong các vụ TNGT ĐB cũng không phải là một đặc thù của Việt Nam. Chẳng hạn, một số tiểu bang của Mỹ, Thụy Điển, Isarel cũng có quy định riêng điều chỉnh vấn đề bồi thường trong TNGT. Sau nhiều năm tranh luận, Pháp đã ban hành một đạo luật riêng năm 1985 về vấn đề BTTH phát sinh trong TNGT.
Ba là, BLDS 2005 cũng có những quy định riêng biệt để điều chỉnh về trách nhiệm BTTH trong các trường hợp đặc thù, như BTTH do súc vật gây ra, BTTH do làm ô nhiễm môi trường, BTTH do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng… TNGT ĐB là một hiện tượng xảy ra phổ biến và trách nhiệm BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB cũng có những nét đặc thù riêng. Nên việc xây dựng một quy định riêng biệt điều chỉnh vấn đề BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB cũng là điều hợp lý.
3.2. Tăng cường trách nhiệm dân sự của chủ phương tiện trong BTTH khi chủ phương tiện đã bán phương tiện nhưng chưa sang tên
Theo thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/04/2014 quy định trách nhiệm của chủ phương tiện phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 Ban hành kèm theo thông tư số 36/2010/TT-BCA ngày 12/10/2010 khi đã bán phương cho cơ quan đăng ký phương tiện biết khi đã bán, cho, tặng xe. Nếu không thông báo thì vẫn không quy định trách nhiệm BTTH tại khoản 2 Điều 623 BLDS năm 2005 “người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phải BTTH trừ trường hợp có thỏa thuận khác” .
Nhưng trên thực tế, khi phương tiện đã bán, cho, tặng….thì những người sử dụng phương tiện lại không sang tên, di chuyển theo quy định. Vì nhiều lý do khác nhau những người đã mua phương tiện trước đây nhưng không tìm ra được chủ sở hữu Đăng ký xe (vì đã chuyển nhà, chủ phương tiện ở xa đi lại tốn kém, hết tiền đóng thuế trước bạ….).
3.3. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương khi chứng kiến việc đo hiện trường của CSGT
Trách nhiệm của UBND xã nơi có TNGT ĐB xảy ra được quy định tại Điều 38 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nhưng không quy định rõ trách nhiệm của công an xã chuyên trách và bán chuyên trách khi có vụ TNGT ĐB xảy ra. Lực lượng công an xã là lực lượng trực tiếp tại nơi xảy ra tai nạn nên phải có mặt kịp thời để bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn…Lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách phải chứng kiến việc đo hiện trường của CSGT để xác định chính xác hiện trường vụ tai nạn xảy ra và cùng ký vào biên bản hiện trường của CSGT. Theo tác giả hiện trường vụ TNGT ĐB rất dễ bị xáo trộn nên việc bảo vệ hiện trường là điều quan trọng để xác định lỗi của các bên trong vụ TNGT ngoài người chứng kiến thì công an xã là lực lượng đầu tiên giám sát hiện trường và bảo vệ tốt nhất vụ TNGT nên cần phải bổ sung trách nhiệm của UBND xã, công an xã.
3.4. Bổ sung trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm trong các vụ TNGT đường bộ
Việc cơ quan bảo hiểm bồi thường trên nguyên tắt toàn diện, được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm. Tất cả mọi thiệt hại xảy ra đều phải bồi thường. Song cơ quan bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp vi phạm các quy tắt về bảo hiểm gồm: Hành vi cố ý gây thiệt hại của chủ xe, hoặc không có giáy phép lái xe hợp lệ…
Trong trường hợp lỗi hỗn hợp, cơ quan bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại tương xứng với lỗi phần lái xe có lỗi.
Khi TNGT xảy ra, cơ quan bảo hiểm tham gia giải quyết hậu quả tai nạn trên nguyên tắt xác định trách nhiệm bồi thường giữa cơ quan bảo hiểm, chủ phương tiện (chủ xe) và người điều khiển phương tiện.
Như vậy, trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm phải có mặt kịp thời trong các vụ TNGT ĐB để thu thập chứng cứ, xem xét có vi phạm các quy tắc về bảo hiểm không để xem xét trách nhiệm BTTH cho đúng.
Trên thực tế cơ quan bảo hiểm không bao giờ có mặt tại hiện trường vụ TNGT.
Việc cơ quan bảo hiểm bồi thường trên nguyên tắt toàn diện, được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm. Tất cả mọi thiệt hại xảy ra đều phải bồi thường. Song cơ quan bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp vi phạm các quy tắt về bảo hiểm gồm: Hành vi cố ý gây thiệt hại của chủ xe, hoặc không có giáy phép lái xe hợp lệ…
- 3.6. Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn được hưởng cấp dưỡng
Việc sửa đổi, bổ sung quy định này xuất phát từ những lý do sau:
Một là, nhằm mục đích giúp cho những người đang theo học các lớp hệ chính quy sống phụ thuộc vào người có tính mạng, sức khỏe bị xâm hại có điều kiện để hoàn thành chương trình học.
Hai là, việc kéo dài thời hạn cấp dưỡng cho người đang theo học các lớp hệ chính quy cho đến khi học xong theo chương trình cũng không phải là một đặc thù của Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 thì: “Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường, trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này”. Quy định này là chưa thống nhất với các quy định khác của BLDS trong việc sử dụng cụm từ chỉ độ tuổi của các chủ thể. Các quy định khác của BLDS 2005 khi nói về độ tuổi của cá nhân đều sử dụng các cụm từ “người từ đủ” và “người chưa đủ” mà không sử dụng cụm từ “người dưới mười lăm tuổi” như quy định tại khoản 2 Điều 606 BLDS 2005.
Một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH NHĐ là phải có thiệt hại xảy ra. Nếu không có thiệt hại xảy ra thì không làm phát sinh trách nhiệm BTTH. Như đã nói ở phần thực trạng áp dụng và một số bất cập, không phải trường hợp nào những người thân thích của người có tính mạng bị xâm phạm cũng bị tổn thất về tinh thần. Vì vậy, không phải trong mọi trường hợp, những người thân thích về người bị thiệt hại đều được bồi thường tổn thất về tinh thần. Những người thân thích của người có tính mạng bị xâm phạm chỉ được bồi thường tổn thất tinh thần nếu thực tế họ bị tổn thất tinh thần. Do đó, quy định tại điểm c, tiểu mục 2.4 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 03/2006/HĐTP về xác định trách nhiệm BTTH về tinh thần do tính mạng bị xâm hại cần được sửa đổi, bổ sung.
KẾT LUẬN
Theo cách thức tiếp cận đi từ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản đến thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, cuối cùng là đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, luận văn có bố cục bao gồm ba chương.
1. Nội dung cơ bản của chương 1 đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, như trình bày khái niệm về TNGT ĐB và trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, nêu lên những đặc điểm của trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB làm tiền đề cho việc tiếp cận nghiên cứu các chương sau.
2. Chương 2 của luận văn đã tập trung nghiên cứu làm rõ các quy định trong pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB, như căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB; xác định thiệt hại trong các vụ TNGT ĐB; xác định chủ thể có trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB.
3. Nội dung chương 3 nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án về BTTH trong các vụ TNGT ĐB và những bất cập trong các quy định có liên quan đến trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB. Qua việc nghiên cứu cho thấy thực tiễn xét xử và thực trạng pháp luật còn nhiều bất cập và chưa có cách hiểu nhất quán. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm BTTH NHĐ nói chung và trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB nói riêng, như xây dựng một quy định riêng điều chỉnh vấn đề BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB; sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường, thời hạn cấp dưỡng tại Điều 612 BLDS 2005….
4. Trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB là một vấn đề rộng và hết sức phức tạp. Nên trong quá trình nghiên cứu, tác giả chưa có điều kiện để giải quyết hết tất cả các vấn đề có liên quan đến đề tài, như trách nhiệm BTTH trong các vụ TNGT ĐB do người điều khiển phương tiện giao thông thô sơ gây ra; trình tự và thủ tục BTTH phát sinh từ các vụ TNGT ĐB,… Những vấn đề này tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu khi có điều kiện.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT KINH TE\TRAN VAN TAM\SAU BAO VE


