Các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Nam có 15 huyện và 02 thành phố, 01 thị xã. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.406 km2, dân số khoảng 1,5 triệu người.
Quảng Nam là một tỉnh lớn cả về diện tích và dân số, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển thành vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, nhưng hiện nay vẫn là một tỉnh nghèo. Để đưa Quảng Nam thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo và kém phát triển vào năm 2010, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 đòi hỏi phải đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…
Khi tái lập tỉnh Quảng Nam (ngày 01/01/1997), cơ sở hạ tầng của tỉnh như đường giao thông, mạng thông tin liên lạc…còn nhiều hạn chế. Để phát triển kinh tế – xã hội, Quảng Nam cần nhiều vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngoài việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách, tích cực huy động các nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước, Quảng Nam chú trọng kêu gọi đầu tư từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trên cơ sở những quy định chung của Nhà nước, Quảng Nam đã xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trên địa bàn với nhiều giải pháp cụ thể và đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Vì vậy, tình hình phát triển kinh tế – xã hội những năm sau tăng hơn năm trước, đặc biệt tỉnh Quảng Nam tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động xúc tiến, thu hút, hỗ trợ đầu tư.
Thực hiện Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ, Nghị quyết số 148/2009/NQ-HĐND ngày 10/12/2009 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ năm 2010, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo đồng bộ với nhiều giải pháp và các cơ chế, chính sách phù hợp, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch và xuất khẩu, trong đó chú trọng mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, du lịch, đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và miền núi, huy động các nguồn vốn và các biện pháp hỗ trợ đầu tư. Trong 03 năm (từ năm 2011-2013), việc thu hút nguồn vốn từ các chương trình ODA, FDI được chú trọng, các biện pháp hỗ trợ đầu tư đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Trên địa bàn tỉnh có 24 chương trình dự án đang triển khai thực hiện, tập trung ở các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế…; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua 3 năm ước thực hiện 2.900 tỷ đồng, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tập trung chủ yếu lĩnh vực dịch vụ du lịch và công nghiệp. Năm 2014, đã cấp mới 09 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 72 triệu USD, tăng 04 dự án so cùng kỳ năm trước. Năm 2015, bên cạnh nguồn vốn trong nước, việc thu hút nguồn vốn từ các chương trình ODA, FDI được chú trọng và đạt nhiều kết quả. Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng 15 chương trình, dự án thuộc nguồn vốn ODA đang triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư 4.097 tỷ đồng, tập trung ở các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội và giảm nghèo. Thu hút hơn 1.100 tỷ đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cùng với sự phát triển cả nước, tỉnh Quảng Nam có nhiều biện pháp hỗ trợ đầu tư phù hợp nên trở thành một trong những địa điểm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo động lực lớn cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, việc thu hút đầu tư vào Quảng Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, các dự án đầu tư triển khai chậm. Nhu cầu đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển dịch vụ, các ngành phụ trợ ở các khu công nghiệp rất lớn nhưng vốn huy động chưa cao… Những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã có những biện pháp hỗ trợ đầu tư như thế nào? Trong thời gian đến, UBND tỉnh cần có thêm các giải pháp hỗ trợ nào nâng cao hiệu quả hỗ trợ đầu tư để tương xứng với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội? Kết quả nghiên cứu giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về các mặt đã đạt được, khắc phục các nhược điểm và đề xuất các biện pháp phù hợp. Xuất phát từ yêu cầu đó, học viên chọn vấn đề “Các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
- Tình hình nghiên cứu đề tài
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận của các biện pháp hỗ trợ đầu tư; phân tích thực trạng quy định và áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ đầu tư qua thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
– Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về các biện pháp hỗ trợ đầu tư.
– Phân tích, đánh giá thực trạng quy định và áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.
– Xây dựng phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thực hiện các biện pháp hỗ trợ đầu tư vào tỉnh Quảng Nam trong những năm tới.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hỗ trợ đầu tư và thực tiễn các biện pháp hỗ trợ đầu tư tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu về các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo Luật đầu tư năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Theo Điều 19, Luật Đầu tư năm 2014, gồm 08 hình thức hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên, với điều kiện địa lý, xuất phát từ thực tiễn và điều kiện phát triển kinh tế nên tỉnh Quảng Nam mới chỉ ban hành về một số hình thức hỗ trợ đầu tư ở lĩnh vực nhất định, các hình thức hỗ trợ còn hạn chế so với các quy định của pháp luật hỗ trợ đầu tư.
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ đầu tư. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược giai đoạn 2011-2020 là: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn”. Theo đó, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều chính sách huy động, các biện pháp hỗ trợ đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau cho mục tiêu ưu tiên này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp hệ thống, thống kê, phân tích – tổng hợp, kết hợp lôgic – lịch sử, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn. Đồng thời đề tài có kế thừa và sử dụng có chọn lọc những đề xuất và các số liệu trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả khác.
- Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Trình bày có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản môi trường đầu tư và các biện pháp hỗ trợ đầu tư ở tỉnh Quảng Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất các giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư vào tỉnh Quảng Nam thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư trong thời gian đến. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng được làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định những chính sách phát triển, nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư ở Quảng Nam.
- Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp hỗ trợ đầu tư;
Chương 2: Thực trạng quy định và áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư qua thực tiễn tỉnh Quảng Nam;
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ đầu tư qua thực tiễn tỉnh Quảng Nam
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
1.1. Khái niệm hỗ trợ đầu tư và các biện pháp hỗ trợ đầu tư
Đầu tư là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông qua hoạt động đầu tư, quốc gia có thể huy động được rất nhiều nguồn lực trong và ngoài nước về vốn, về công nghệ kỹ thuật… để đẩy mạnh tốc độ phát triển đất nước.
1.1.1. Khái niệm hỗ trợ đầu tư
Hỗ trợ đầu tư là việc quốc gia hay địa phương ở quốc gia tiếp nhận đầu tư, quy định hoặc cụ thể hóa bằng hành động với mục đích dành hỗ trợ nhất định về kinh tế và các biện pháp phi kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo động lực thúc đẩy họ đầu tư vào các lĩnh vực, dự án được Nhà nước cho phép.
Đối với Luật Đầu tư năm 2014, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư được quy định từ Điều 19 đến Điều 21, mục 2 chương III: gồm có 08 hình thức, đồng thời nhấn mạnh ở hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển nhà ở và công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Việc hỗ trợ đầu tư đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thể hiện rõ ở mục 2, chương III, Nghị định 118/2015/NĐ-CP.
1.1.2. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư
Biện pháp hỗ trợ đầu tư là các biện pháp của Chính phủ, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặt ra để tác động tới quy mô, địa điểm hay ngành nghề đầu tư thông qua việc tác động tới chi phí tương đối hay lợi nhuận tiềm năng hoặc bằng cách giảm bớt những rủi ro đi kèm dự án đó.
Các biện pháp hỗ trợ đầu tư có thể được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật, các hoạt động của mỗi quốc gia, địa phương nhằm hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư vào địa bàn nhất định, đồng thời tạo mọi điều kiện cho hoạt động đầu tư phát triển.
Pháp luật về hỗ trợ đầu tư có mối quan hệ với bảo đảm đầu tư. Bảo đảm đầu tư là những cam kết của quốc gia, địa phương tiếp nhận đầu tư nhằm đảm bảo an toàn về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tiễn đối với tài sản, vốn, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tiến hành các hoạt động đầu tư tại nơi tiếp nhận đầu tư. Thực chất các biện pháp bảo đảm và hỗ trợ đầu tư có quan hệ mật thiết với nhau, là hai mặt của một vấn đề. Bảo đảm đầu tư là điều kiện tiên quyết dẫn đến quyết định nhà đầu tư có quyết định đầu tư vào quốc gia đó, địa phương đó hay không bởi lẽ không một nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một đất nước, một địa phương không có các quy định về bảo đảm đầu tư hoặc có các quy định song còn thiếu chặt chẽ và không đủ độ tin cậy, không bảo đảm an toàn khi khả năng rủi ro xảy ra. Bảo đảm đầu tư là tiền đề để các biện pháp hỗ trợ đầu tư có tính khả thi trên thực tế trong việc tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, song chúng có mục tiêu thống nhất là thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư, đồng thời là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng thúc đẩy khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư và làm tăng sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.
1.2. Lý do hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện, việc cải thiện môi trường đầu tư, quy định các biện pháp hỗ trợ đầu tư, thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài là hết sức cần thiết vì sẽ mang lại cho quốc gia, địa phương cơ hội để tiếp thu được những công nghệ tiên tiến, tạo việc làm ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Pháp luật về hỗ trợ đầu tư mà cụ thể là các biện pháp hỗ trợ đầu tư có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó mang lại hiệu quả đối với sự phát triển của quốc gia, tác động trực tiếp đến việc thu hút FDI, giúp nhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn sản xuất kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư và bởi họ không những được bảo đảm về mọi quyền lợi hợp pháp mà còn được tạo mọi điều kiện cần thiết trong quá trình đầu tư. Chính các quy định này đã tạo ra sự tin tưởng và an tâm của nhà đầu tư đối với chính sách hỗ trợ đầu tư của quốc gia, địa phương, đồng thời kích thích họ đầu tư vốn, công nghệ và kỹ thuật hiện đại cho các dự án đầu tư.
Các quy định pháp luật về hỗ trợ đầu tư mà cụ thể là vạch ra các biện pháp hỗ trợ đầu tư là những quy định không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Bởi nếu không có quy định này thì sẽ không thu hút các nhà đầu tư và làm cho các hoạt động đầu tư không thể tồn tại được. Do đó, pháp luật về hỗ trợ đầu tư của cả nước nói chung và của tỉnh Quảng Nam cần phải tiếp tục có sự điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút đầu tư.
1.3. Các hình thức hỗ trợ đầu tư của nhà nước
Luật Đầu tư 2014 ra đời đã góp phần quan trọng tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng thu hút đầu tư, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong hoạt động đầu tư và đem lại lợi ích cao nhất cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Đáng chú ý ở hình thức và các biện pháp hỗ trợ đầu tư. Khoản 1, Điều 19, Luật Đầu tư hiện hành quy định các hình thức hỗ trợ đầu tư như sau:
- Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án;
- Hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực;
- Hỗ trợ tín dụng;
- Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh;
- Hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị;
- Hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ;
- Hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin;
- Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển.
1.4. Các nguyên tắc hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
Việc hỗ trợ đầu tư được áp dụng đối với nhà đầu tư và tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh và tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc công bằng, bình đẳng: Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế. Thực tiễn cũng cho thấy, các nhà đầu tư đến từ các quốc gia với các nền kinh tế khác nhau nên họ rất quan tâm đến việc Nhà nước có bảo đảm đối xử công bằng và thỏa đáng với họ không, sự đối xử đó sẽ tạo ra niềm tin và sự an tâm đối với nhà đầu tư và ngược lại. Tuy nhiên, Hỗ trợ đầu tư không tạo ra lợi thế và sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Nhà nước bảo đảm đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu tư phù hợp với cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế, công bằng ở đây không có nghĩa là cào bằng. Nghĩa là các nhà đầu tư có vốn, lĩnh vực đầu tư được ưu tiên thì sẽ có mức hỗ trợ khác nhau.
Nguyên tắc quản lý theo ngành, kết hợp với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ: Nguyên tắc này xuất phát từ xu hướng tất yếu của nền kinh tế, là chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo vùng, lãnh thổ trong đó bất cứ dự án đầu tư nào cũng chịu sự quản lý của cơ quan chủ quản và của cả địa phương. Địa phương chịu trách nhiệm về mặt hành chính xã hội đối với các biện pháp hỗ trợ đầu tư diễn ra ở địa phương, các bộ ngành tổng cục của trung ương chụi trách nhiệm quản lý những vấn đề kỹ thuật của ngành mình. Việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư, để thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ phải giải quyết hàng loạt vấn đề như xây dựng các biện pháp, lĩnh vực, xác định cơ cấu đầu tư hợp lý theo ngành và vùng lãnh thổ, giữa các biện pháp hỗ trợ đầu tư của các bộ, ngành và địa phương… Việc kết hợp quản lý hỗ trợ đầu tư theo địa phương và ngành cho phép tiết kiệm hợp lý chi phí vận chuyển, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội. Ví dụ trong các hình thwucs hỗ trợ có hỗ trợ về giáo dục, đào tạo, có hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án.
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Trong hỗ trợ đầu tư, nguyên tắc này thể hiện ở chỗ với các biện pháp hỗ trợ đầu tư nhất định thì phải đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, hoặc là phải đạt được hiệu quả kinh tế xã hội đã dự kiến.
Nguyên nhân: Biện pháp hỗ trợ đầu tư không phù hợp thực tế; trình độ quản lý chưa xứng tầm. Biểu hiện tập trung nhất của nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các biện pháp hỗ trợ đầu tư đối với các cơ sở là đạt được lợi nhuận cao, đối với xã hội là gia tăng sản phẩm và giá trị gia tăng, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, giáo dục và gia tăng phúc lợi xã hội công cộng…
Nguyên tắc hợp lý: Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của sự hỗ trợ. Hỗ trợ chỉ dừng đúng nghĩa “hỗ trợ”, nên khi đạt được mục đích thì không hỗ trợ nữa. Hỗ trợ không làm sai lệch cạnh tranh. Nhà nước giúp đỡ chứ không làm thay chủ thể được hỗ trợ.
Kết hợp hài hòa các loại lợi ích trong hỗ trợ đầu tư: Nền kinh tế nói chung gồm tổng thể nhiều loại lợi ích.., trong đó lợi ích kinh tế là quan trọng nhất, thúc đẩy mọi hoạt động hỗ trợ đầu tư để thu hút đầu tư. Tuy nhiên lợi ích kinh tế có đối tượng khác nhau, vừa có tính thống nhất, vừa có tính mâu thuẫn dẫn đến chỉ khi có sự kết hợp hài hòa lợi ích của mọi đối tượng trong hoạt động kinh tế thì mới tạo ra động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội, mới làm cho biện pháp hỗ trợ đầu tư nhanh chóng đi đến mục đích.
Mục đích, ý nghĩa của hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
Việc quy định các biện pháp hỗ trợ đầu tư có mục đích và ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó mang lại hiệu quả cao nhất, có ý nghĩa nhất đối với sự phát triển của quốc gia. Các biện pháp đó tác động trực tiếp đến việc thu hút đầu tư, giúp nhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn sản xuất kinh doanh tại Quảng Nam và bởi họ không những được bảo đảm về mọi quyền lợi hợp pháp mà còn được tạo mọi điều kiện, hỗ trợ cần thiết trong quá trình đầu tư. Chính các quy định này đã tạo ra sự tin tưởng và yên tâm của nhà đầu tư đối với chính sách đầu tư của địa bàn tỉnh, đồng thời kích thích họ đầu tư vốn, công nghệ và kỹ thuật hiện đại cho các dự án đầu tư.
Phân biệt hỗ trợ đầu tư với trợ cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp
Trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức mang lại lợi ích cho doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất.
Như vậy, hỗ trợ đầu tư với trợ cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp giống nhau ở điểm đều là các biện pháp, chính sách có lợi cho phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, so với chính sách trợ cấp của Nhà nước thì hỗ trợ đầu tư mang ý nghĩa rộng hơn cả về phương diện hình thức và nội dung.
Một số kinh nghiệm về hỗ trợ đầu tư tại các tỉnh, thành
1.7.1. Kinh nghiệm về hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Thừa Thiên Huế
1.7.2. Kinh nghiệm về hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ĐẦU TƯ QUA THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện các biện pháp hỗ trợ đầu tư trong một số lĩnh vực
Các biện pháp hỗ trợ đầu tư được xây dựng để thu hút, định hướng cho các nhà đầu tư vào những vùng, ngành nghề nhất định và những dự án lớn…. phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phù hợp với định hướng phát triến kinh tế của các ngành, các địa phương. Các hình thức hỗ trợ đầu tư như đã phân tích trên theo điều 19, Luật Đầu tư năm 2014: Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong và ngoài hàng rào dự án; hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị; hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển.
Đối với Quảng Nam, nhận thức được sức ép cạnh tranh của các tỉnh thành trong khu vực, tỉnh đã thay đổi tư duy và thị trường thu hút đầu tư bằng những dự án tạo giá trị gia tăng, những ngành có giá trị cao hơn; chấm dứt tình trạng thu hút theo số lượng và sẵn sàng loại bỏ những dự án lớn nhưng thiếu thực chất. Lĩnh vực thu hút đầu tập trung vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, chế biến các mặt hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, nông lâm thủy sản, vật liệu xây dựng có nguồn tài nguyên tại chỗ; đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp; đầu tư phát triển trồng và chế biến nông sản, công nghệ sau thu hoạch; du lịch, dịch vụ đô thị và đào tạo nhân lực. Cụ thể như Khu công nghiệp cơ khí đa dụng và ô tô tập trung Chu Lai, Trung tâm duy tu, sửa chữa máy bay dân dụng, cảng Tam Hiệp, Khu phức hợp đô thị – du lịch – dịch vụ Nam Hội An, Trung tâm khí – điện – đạm, kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Phú Xuân, 2 trang trại nuôi và nhà máy bò sữa, gà, khu đô thị sinh thái ven sông Cổ Cò… Yêu cầu đối tác đều là những nhà đầu tư năng lực tài chính mạnh, có kinh nghiệm, có thương hiệu và quan hệ quốc tế rộng rãi để bảo đảm tiến độ thực hiện dự án. Sự hấp dẫn của đầu tư Quảng Nam thể hiện từ việc nhà đầu tư được quyền lựa chọn và quyết định thực hiện dự án theo hình thức đầu tư phù hợp, đơn giá thuê đất có kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp bằng 1/3 so với các khu vực khác. Tùy lĩnh vực đầu tư dự án có thể được miễn tiền thuê đất chưa có kết cấu trong thời gian 11 – 15 năm hoặc suốt thời hạn triển khai dự án. Nhà đầu tư sẽ được hỗ trợ một phần chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, chi phí đào tạo lao động xây dựng nhà ở công nhân, chi phí xúc tiến thương mại quảng bá giới thiệu sản phẩm. Ngoài những quy định chung theo pháp luật về hỗ trợ đầu tư, do khó khăn về tài chính và do điều kiện địa lý, xuất phát từ thực tiễn và điều kiện phát triển kinh tế nên tỉnh Quảng Nam mới chỉ ban hành và triển khai thực hiện về một số hình thức hỗ trợ đầu tư ở lĩnh vực nhất định, các hình thức, biện pháp hỗ trợ đầu tư còn hạn chế so với các quy định của pháp luật hỗ trợ đầu tư. Nhiều biện pháp hỗ trợ đầu tư được quy định trong Luật Đầu tư hiện hành chưa được tỉnh thực hiện.
2.2. Hỗ trợ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật
Biện pháp này được quy định tại điểm a, khoản 1, điều 19 Luật Đầu tư năm 2014; mục 2, chương III, Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điểm của Luật Đầu tư. Đối với dự án đầu tư xây dựng Chợ, siêu thị và trung tâm thương mại, tỉnh đã ban hành Nghị quyết 125/2014/NQ-HĐND về cơ chế hỗ trợ và khuyến khích đầu tư xây dựng Chợ, siêu thị…giai đoạn 2014 – 2020 bằng các biện pháp cụ thể như: thu hồi đất và giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư; bảo đảm đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu đến chân tường rào công trình chợ, siêu thị và trung tâm thương mại.
Biện pháp hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở tỉnh Quảng Nam về cơ bản phù hợp với các văn bản pháp luật về hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên Quảng Nam cần ban hành thêm ở các lĩnh vực khác ở các ngành công nghiệp hỗ trợ; du lịch và dịch vụ đô thị để tận dụng 02 nguồn di sản văn hóa thế giới là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn.
2.3. Hỗ trợ đào tạo lao động
Hình thức hỗ trợ này được quy định tại điểm b, khoản 1, điều 19 Luật Đầu tư năm 2014.
Quảng Nam đã ban hành cơ chế đào tạo lao động phù hợp như hỗ trợ kinh phí đào tạo, hỗ trợ mặt bằng cho DN mở cơ sở đào tạo, kết hợp giữa cơ sở đào tạo và DN đã tạo được nguồn lao động đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư về số lượng cũng như chất lượng.
Tỉnh Quảng Nam cần khuyến khích nhà đầu tư lập quỹ hỗ trợ đào tạo từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, bên cạnh đó cần có thêm nhiều biện pháp cụ thể để phát triển nguồn nhân lực vì nguồn nhân lực là nhân tố chính để phát triển kinh tế- xã hội.
2.4. Hỗ trợ tín dụng
Hình thức hỗ trợ này được quy định tại điểm c, khoản 1, điều 19 Luật Đầu tư năm 2014.
Quảng Nam đã thực hiện theo pháp luật về đầu tư, hỗ trợ đầu tư; theo tinh thần Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư về các lĩnh vực Nông nghiệp – nông thôn, các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
2.5. Hỗ trợ chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, cho thuê đất
Hình thức hỗ trợ này được quy định tại điểm d, khoản 1, điều 19 Luật Đầu tư năm 2014: Hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di dời cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, nội thị.
Thực tiễn tại Quảng Nam đã có những biện pháp hỗ trợ về công tác giải phóng mặt bằng, các điều kiện thu hồi đất, hỗ trợ chi phí bồi thường đối với các lĩnh vực ưu tiên. Đặc biệt ở các lĩnh vực dệt may, da giày; nâng cấp, xây mới chợ, siêu thị; các dự án nằm trong Khu công nghiệp.
2.6. Hỗ trợ đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
Hình thức hỗ trợ này được quy định tại điều 19 Luật Đầu tư năm 2014, UBND tỉnh Quảng Nam đã cụ thể hóa và ban hành Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND về chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư trên địa bàn khu kinh tế mở Chu Lai bằng biện pháp: Hỗ trợ đầu tư xây dựng khu nhà ở công nhân; Hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính; Hỗ trợ quảng cáo và giới thiệu sản phẩm.
2.7. Các biện pháp hỗ trợ khác
Điểm e, khoản 1, điều 19, Luật Đầu tư năm 2014 có quy định hình thức: Hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin hình thức. Về hình thức này, UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã có Quyết định 24/2014/QĐ-UBND, quy định chính sách hỗ trợ phát triển du lịch miền núi và hải đảo tỉnh Quảng Nam đến năm 2020: Hỗ trợ quảng bá, xúc tiến du lịch; Hỗ trợ xúc tiến thương mại.
2.8. Tổ chức thực hiện pháp luật về hỗ trợ đầu tư
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thực hiện trong hỗ trợ đầu tư để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên nhằm tăng cường công tác hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, giữ vững và phấn đấu nâng Chỉ số PCI lên thứ hạng cao hơn trong những năm tới, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản: Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Quảng Nam là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư được Quảng Nam ban hành không trái với các quy định của pháp luật về đầu tư, hỗ trợ đầu tư và pháp luật có liên quan, cụ thể là điều 19, Luật đầu tư 2014; mục 2, chương III, Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư; điều 5, Luật Bảo vệ môi trường …Tuy nhiên, các biện pháp hỗ trợ đầu tư ở Quảng Nam chưa đi vào thực tiễn như cơ sở hạ tầng ở các Khu công nghiệp chưa hoàn thiện, chưa tạo mặt bằng sạch để thu hút các nhà đầu tư. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư nên chú trọng về lĩnh vực môi trường, lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và cần có biện pháp hỗ trợ về phát triển nguồn nhân lực.

Chương 3
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ QUA THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Quan điểm hỗ trợ đầu tư
Pháp luật hỗ trợ đầu tư được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, thể hiện ở các quan điểm cơ bản sau:
Một là, thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về đầu tư, cải cách thể chế, môi trường đầu tư. Môi trường đầu tư được cải thiện, thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài ở nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển kinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ của các ngành, lĩnh vực; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế (Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII – Mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước năm 2016 – 2020).
Hai là, hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư phải đặt trong hệ thống và tổng thể với các chính sách, pháp luật khác. Pháp luật về hỗ trợ đầu tư đặt trong một chỉnh thể, có liên quan đến nhiều luật pháp khác, không đơn thuần chỉ là pháp luật về một lĩnh vực mà có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực, phụ thuộc vào các chính sách hỗ trợ, có sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau,
Ba là, hỗ trợ đầu tư phải phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường. Thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ) (Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII). Theo đó, các lĩnh vực được tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Phát triển công nghiệp, Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
Bốn là, hỗ trợ đầu tư phải góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững. Giai đoạn 2016-2020, sẽ tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh và dân sinh ở các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống của người dân, giảm nghèo nhanh và bền vững. Cụ thể, về các giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, Chương trình Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo Bền vững (Chương trình 135) và giai đoạn 2016-2020, sẽ bổ sung và nâng cao kiến thức phát triển kinh tế hộ gia đình, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tiếp cận tín dụng, thông tin thị trường, sử dụng đất đai hiệu quả.
Năm là, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong hỗ trợ đầu tư giữa các thành phần kinh tế và giữa các địa phương.
Quan điểm hỗ trợ đầu tư của UBND tỉnh Quảng Nam là: Tiếp tục hỗ trợ đầu tư theo các Nghị Quyết của HĐND tỉnh về cơ chế phát triển nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, nhà ở cho người thu nhập thấp; phát triển giao thông nông thôn; kiên cố hóa mặt đường các tuyến đường huyện nhằm Phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, miền núi; xây dựng nông thôn mới; Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn theo Nghị định 210/2013/NĐ-CP; khuyến khích xã hội hóa đầu tư vào các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, dạy nghề, thể thao và môi trường theo Nghị định 59/2014/NĐ-CP của Chính phủ.Ưu tiên hỗ trợ nguồn vốn tín dụng và lãi suất cho các doanh nghiệp, nhất là đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
3.2. Định hướng hỗ trợ đầu tư
Với định hướng đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư vào khu công nghiệp; lĩnh vực nông nghiệp, ngành cơ khí chế tạo, lĩnh vực du lịch, xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng. Ưu tiên thu hút các dự án lớn, có tiềm lực kinh tế, có khả năng phát sinh thu ngân sách cao, các dự án sản xuất công nghệ tiên tiến, các dự án có giá trị gia tăng cao, ít gây ô nhiễm môi trường như: điện, điện tử, thiết bị viễn thông, cơ khí, lĩnh vực công nghiệp phụ trợ; du lịch. Chính vì lẽ đó, quan điểm của UBND tỉnh đã vạch hướng đi cụ thể, có các định hướng để thu hút các nhà đầu tư vào Quảng Nam. Các định hướng hỗ trợ đầu tư cơ bản ở các lĩnh vực: Công nghiệp hỗ trợ; Lĩnh vực du lịch, dịch vụ và đô thị; Đào tạo nguồn nhân lực; Lĩnh vực nông nghiệp
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ đầu tư
3.3.1. Sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật
Các hình thức theo điều 19, Luật Đầu tư 2014; mục 2 (Hỗ trợ đầu tư đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế), chương III, Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư và chưa có Thông tư hướng dẫn, cần sớm bổ sung Thông tư hướng dẫn cụ thể các hình thức hỗ trợ đầu tư này.
Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hỗ trợ đầu tư: Nghiên cứu ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bối cảnh hội nhập quốc tế giai đoạn mới trên nguyên tắc Luật Đầu tư, các Nghị định hướng dẫn (Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật đầu tư) là căn cứ pháp lý điều chỉnh thống nhất về quy trình, thủ tục đầu tư và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư, hỗ trợ đầu tư. Các quy định chuyên ngành chỉ điều chỉnh những nội dung liên quan đến điều kiện hoạt động khi thực hiện dự án đầu tư và quản lý nhà nước theo chuyên ngành. Nghiên cứu trên cơ sở Luật Doanh nghiệp theo hướng tiếp tục tạo dựng khung pháp lý thuận lợi, minh bạch cho việc thành lập, hoạt động và chấm dứt các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Rà soát tổng thể hệ thống văn bản liên quan đến pháp luật hỗ trợ đầu tư và các biện pháp hỗ trợ đầu tư theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư 2014; nghiên cứu, đề xuất áp dụng hình thức ban hành một luật để sửa nhiều luật, ban hành một nghị định để sửa nhiều nghị định liên quan nhằm xử lý ngay các bất cập, chồng chéo.
Quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện để được hỗ trợ đầu tư đầu tư đối với nhà đầu tư để một mặt tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư thông qua việc minh bạch hóa thủ tục; đồng thời, đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư và áp dụng các biện pháp hỗ trợ đầu tư
3.3.2. Giải pháp áp dụng biện pháp hỗ trợ đầu tư
Về công tác quản lý lao động;
Về công tác quản lý môi trường;
Nhà ở cho người thu nhập thấp;
Thiết chế văn hóa-thể thao.
Ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể Luật đầu tư năm 2014.
Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư, lập các biện pháp hỗ trợ đầu tư phù hợp điều kiện thực tế; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và xem nhiệm vụ cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị, địa phương mình.
– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện những chủ trương, chính sách đã ban hành trong thời gian qua liên quan đến công tác cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ đầu tư.
KẾT LUẬN
Đối với tỉnh Quảng Nam, những thành tựu đã đạt được trong nhiệm kỳ qua trên các lĩnh vực, nhất là kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trọng yếu đã và đang hoàn thiện đưa vào khai thác; nguồn nhân lực dồi dào; mối quan hệ hợp tác với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung sẽ được phát huy; tiềm năng về kinh tế biển, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ còn rất lớn là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tỉnh trong thời gian đến.
Trong điều kiện nền kinh tế của tỉnh quy mô còn nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp, gặp nhiều khó khăn trong điều kiện hội nhập quốc tế; phải thường xuyên đối phó với thiên tai, bão, lũ, biến đổi khí hậu; nhiều vấn đề căn bản về văn hóa, xã hội cần phải tập trung giải quyết như chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động; chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn, miền núi với đồng bằng, đô thị… đòi hỏi tỉnh Quảng Nam phải tập trung khắc phục những hạn chế, phát huy mọi nguồn lực đang có, cũng như phải đề ra những giải pháp kịp thời về các biện pháp hỗ trợ đầu tư trên nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng khác nhau tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư để phát triển kinh tế nhanh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm quốc phòng – an ninh. Quảng Nam đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước với các dự án tầm cỡ quốc gia và những sản phẩm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như ô tô Trường Hải, kính nổi Chu Lai, gạch men đồng tâm, thiết bị vệ sinh Inax… Nhưng đó chưa phải là tất cả so với yêu cầu phát triển của Quảng Nam. Địa phương mới chỉ dừng lại ở mức cung cấp nhân công gia công giá rẻ và cho thuê mặt bằng là chính. Vốn, thị trường và quá trình chuyển giao công nghệ như mong đợi từ các doanh nghiệp (DN) chưa xảy ra. Có không ít dự án chậm triển khai, dang dở.
Pháp luật về các biện pháp hỗ trợ đầu tư của tỉnh Quảng Nam nói riêng và của cả nước nói chung cần phải tiếp tục có sự điều chỉnh về các lĩnh vực được hỗ trợ, các hình thức hỗ trợ nhằm hoàn thiện hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút nguồn đầu tư. Có như vậy mới có thể đưa Quảng Nam phát triển nhanh, bền vững trong thời gian đến,phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT KINH TE\TA QUANG DUY\SAU BAO VE


