Pháp luật về thuế nhập khẩu từ thực tiễn của Cục Hải quan TP Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế NK là một trong những sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế của Việt Nam, một trong những nguồn thu chủ yếu của NSNN. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế NK để đáp yêu cầu phát triển đất nước, góp phần bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, điều tiết kinh doanh và định hướng tiêu dùng…
Trong những năm qua, công tác quản lý thuế NK ở nước ta nói chung và tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại còn khá phổ biến; việc chấp hành chính sách thuế đối với hàng hoá NK chưa nghiêm túc nên còn gây thất thu thuế, sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ thuế cũng chưa được đảm bảo…
Từ nhận thức vai trò quan trọng của thuế NK, với mong muốn nâng cao hơn nữa việc thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về thuế nhập khẩu từ thực tiễn của Cục Hải quan TP Đà Nẵng” làm hướng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu: là tìm kiếm các giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để hoàn thành mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung chọn lọc và hệ thống hoá các văn bản pháp luật về thuế NK; nêu một số vấn đề lý luận và nội dung pháp luật về thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay; phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thuế NK tại thành phố Đà Nẵng nói chung và Cục Hải quan TP Đà Nẵng nói riêng từ năm 2010 đến năm 2014; qua đó thấy được sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng; từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến pháp luật về thuế NK từ thực tiễn Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: là pháp luật về thuế NK từ thực tiễn Cục Hải quan TP Đà Nẵng trong thời gian 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014. Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong các năm tiếp theo.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về thuế nhập khẩu, đề tài nêu lên một số vấn đề lý luận và nội dung chung nhất về pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay; thực trạng thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng và Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng; từ đó đưa ra các giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng đồng bộ các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc; phương pháp chuyên gia; kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời tham khảo có chọn lọc, kế thừa các công trình khoa học đã công bố của các tác giả có liên quan đến đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trở thành xu hướng phát triển chung của thế giới thì pháp luật thuế nhập khẩu sẽ phản ánh rõ nhất mức độ hội nhập và sự bảo hộ của Nhà nước đối với nền kinh tế.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Những đóng góp khoa học của luận văn:
– Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và nội dung pháp luật về thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
– Thực trạng thực hiện pháp luật về thuế NK tại thành phố Đà Nẵng nói chung và Cục Hải quan TP Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn 2010-2014.
– Tìm hiểu kinh nghiệm thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu của một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố và rút ra bài học kinh nghiệm trong thực hiện pháp luật thuế NK cho Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
- – Nêu lên sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố TP Đà Nẵng. Từ đó đề xuất các giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng trong những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và nội dung pháp luật về thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM HIỆN HAY
- . Khái niệm về thuế nhập khẩu và pháp luật về thuế nhập khẩu
Thuế NK là một loại thuế quan (Custom duty). Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Thuế NK là loại thuế đánh vào hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch được phép nhập khẩu qua biên giới Việt Nam. Thuế nhập khẩu có những đặc điểm sau: Tính quyền lực Nhà nước; Tính pháp lý cao; Tính kinh tế – xã hội.
Đối tượng chịu thuế NK là hàng hoá nhập khẩu qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.
* Thuế NK là cơ sở để Nhà nước kiểm soát và điều tiết tác động của hàng hóa được nhập khẩu đối với thị trường Việt Nam.
* Thuế NK góp phần bảo hộ và phát triển sản xuất trong nước.
* Thuế NK là một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN.
1.1.2. Khái niệm Pháp luật về thuế nhập khẩu
Pháp luật thuế nhập khẩu là danh từ pháp lý dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu, phát sinh giữa Nhà nước với người nộp thuế.
1.2. Nội dung điều chỉnh pháp luật về thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
Tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là đối tượng nộp thuế nhập khẩu.
Căn cứ tính thuế nhập khẩu bao gồm: Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế, thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%).
Một trong các bộ phận cấu thành có tầm quan trọng đặc biệt trong điều chỉnh pháp luật về thuế nhập khẩu là các quy định về nghĩa vụ thuế và trình tự, thủ tục thu nộp thuế, về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế.
Người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mình theo quy định.
Điểm chuyên biệt trong trình tự, thủ tục thu nộp thuế NK thể hiện qua Quy trình kiểm tra thuế, ấn định thuế đối với hàng hóa nhập khẩu trong thông quan: Quy trình này áp dụng đối với hàng hóa thuộc luồng vàng, luồng đỏ. Cơ quan Hải quan kiểm tra khai báo về thuế nhập khẩu; Xác định số tiền thuế phải nộp sau khi người khai hải quan giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu, sau khi kiểm tra thực tế hàng hóa, giám định hàng hóa hoặc tham vấn giá; Quyết định việc ấn định thuế; Ban hành Quyết định ấn định thuế; Lưu văn bản ấn định thuế, kiểm tra chứng từ nộp thuế và xử lý thông tin về thuế của lô hàng; Hủy Quyết định ấn định thuế trong thông quan.
1.3. Hoạt động quản lý thuế nhập khẩu của cơ quan Hải quan theo quy định pháp luật hiện hành
1.3.1. Kê khai, kiểm tra và thu nộp thuế nhập khẩu
Theo quy định của pháp luật quản lý thuế (Luật Quản lý thuế), các nội dung khai báo và kiểm tra, thu nộp thuế NK của cơ quan Hải quan được khái quát gồm các bước:
Khai, kiểm tra, thu nộp thuế NK
Kiểm tra/Đăng ký khai báo thuế của doanh nghiệp
Tiếp nhận khai báo
Ra quyết định ấn định thuế (nếu có)
Thực hiện công tác kế toán thuế
Bảng 1.1: Sơ đồ khai báo, kiểm tra, thu nộp thuế NK
Người nộp thuế thực hiện đầy đủ trách nhiệm khi khai thuế NK. Để người nộp thuế hoàn thành trách nhiệm của mình theo đúng quy định của pháp luật, cơ quan hải quan, công chức hải quan có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục hải quan, cung cấp thông tin tài liệu, công khai các thủ tục hải quan, thủ tục thuế.
Căn cứ khai báo trên tờ khai hải quan của đối tượng nộp thuế, cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra tính chính xác các nội dung khai trên tờ khai hải quan. Kiểm tra các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, kiểm tra số lượng, chủng loại chứng từ, tính hợp pháp của chứng từ, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý NK, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật, kiểm tra nội dung khai hải quan, đối chiếu nội dung khai hải quan với các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan…
1.3.2. Quản lý hoàn thuế, miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, xét giảm thuế nhập khẩu
Hoàn thuế cho DN nhập khẩu thể hiện trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tạo thuận lợi cho DN tái sản xuất, kinh doanh khi họ đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nay chính đáng được hưởng quyền lợi hoàn thuế. Người nộp thuế được hoàn thuế nhập khẩu trong các trường hợp theo quy định.
Miễn thuế là việc thực hiện không thu thuế của đối tượng nộp thuế. Trong các trường hợp được hưởng ưu đãi thuế, mà theo đó cơ sở kinh doanh có hoạt động kinh doanh được miễn thuế NK cho hoạt động này thể theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Xét giảm thuế nhập khẩu, hàng hóa NK đang trong quá trình giám sát của cơ quan hải quan, nếu bị hư hỏng, mất mát được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định, chứng nhận thì được xét giảm thuế tương ứng với tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hóa. Cơ quan Hải quan căn cứ vào số lượng hàng hóa bị mất mát và tỷ lệ tổn thất thực tế của hàng hóa đã được giám định, chứng nhận để xét giảm thuế.
Người nộp thuế có hàng hóa NK thuộc đối tượng xét miễn thuế nộp hồ sơ cho cơ quan hải quan nơi có thẩm quyền xét miễn thuế theo quy định. Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ xét miễn thuế do người nộp thuế khai. Kiểm tra sự phù hợp giữa tờ khai hải quan trên Hệ thống với hồ sơ đề nghị xét miễn thuế. Ban hành quyết định miễn thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế biết lý do không thuộc đối tượng xét miễn thuế. Trên cơ sở quyết định miễn thuế, cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan thanh khoản số tiền thuế được miễn, ghi chú vào Hệ thống dữ liệu của cơ quan hải quan.
1.3.3. Quản lý thông tin về người nộp thuế nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan:
Cơ quan Hải quan thực hiện việc thu thập thông tin về người nộp thuế NK để phục vụ cho công tác đánh giá việc tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế và áp dụng các chế độ, chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hóa NK. Thông tin về người nộp thuế phải được thu thập, xây dựng thành hệ thống.
Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan. Việc kiểm tra sau thông quan nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan.
Việc thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan về thuế NK theo thẩm quyền quy định tại Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI TP ĐÀ NẴNG
2.1. Đặc điểm kinh tế – xã hội của TP Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có một vị trí đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, Đà Nẵng là thương cảng lớn nhất miền Trung Việt Nam. Sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong ba sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam.
Công tác thu thuế NK trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Cục Hải quan Thành phố Đà Nẵng tổ chức thực hiện và thu nộp thuế vào NSNN.
2.2. Thực trạng hoạt động quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng
2.2.1. Khái quát về Cục Hải quan TP Đà Nẵng
Cục Hải quan TP Đà Nẵng là đơn vị trực thuộc Tổng cục Hải quan, có chức năng tổ chức thực hiện pháp luật của nhà nước về hải quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam. Bao gồm: 06 chi cục, 02 đội kiểm soát, 08 phòng tham mưu giúp việc và 01 Trung tâm Dữ liệu và CNTT.
Trong 40 năm qua Cục Hải quan TP Đà Nẵng đã làm thủ tục thông quan: hơn 28.000 chuyến tàu biển, 14000 chuyến máy bay cùng với hơn 1,7 triệu khách du lịch xuất nhập cảnh. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 30 tỷ USD, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 25.000 tỷ đồng.
Địa bàn hoạt động quản lý về hải quan rộng và phức tạp gồm cảng biển, cảng hàng không quốc tế, các khu công nghiệp, các Chi cục Hải quan cửa khẩu và Chi cục hải quan ngoài cửa khẩu với nhiều loại hình hàng hoá như hàng kinh doanh, hàng chuyển phát nhanh, hàng quà biếu, hàng quá cảnh, hành lý xuất nhập khẩu, hàng đầu tư, gia công…
2.2.2. Hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng
Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu từ năm 2010 – 2014
Nguồn: Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
2.3. Thực trạng khai thuế, nộp thuế NK tại thành phố Đà Nẵng
Khi khai thuế NK, người khai hải quan kê khai, tính thuế chính xác, trung thực, đầy đủ, đúng thời hạn và chịu trách nhiệm về việc kê khai, tính thuế của mình. Đồng thời thực hiện việc nộp thuế và các khoản thu khác đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chấp hành quyết định của cơ quan hải quan về thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bảng 2.1: Số giờ chuẩn bị hồ sơ để làm thủ tục XNK và khai báo hải quan
| Nội dung | Xuất khẩu | Nhập khẩu |
| Số giờ chuẩn bị hồ sơ để làm thủ thủ tục xuất nhập khẩu cho 1 lô hàng | 5 | 8 |
| Số giờ hoàn thành việc khai trên tờ khai hải quan | 2 | 3 |
Nguồn: Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
Theo quy trình nộp thuế hiện nay, từ lúc Cổng thanh toán điện tử hải quan chấp nhận thanh toán từ ngân hàng chuyển qua hệ thống kế toán thuế online, từ hệ thống kế toán sang Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS với tần suất 5 giây/lần chuyển. Quy trình này được triển khai từ cuối năm 2014 và mang lại rất nhiều lợi ích cho người nộp thuế, chấm dứt hẳn tình trạng DN bị chậm nộp thuế.
Chủ trương hiện đại hóa công tác thu nộp thuế thời gian qua đã được triển khai rất quyết liệt và mạnh mẽ bằng những con số rất cụ thể: Thời gian nộp thuế NK trước đây là khoảng 30 phút nay đã giảm còn khoảng 5-7 phút. DN có thể nộp tiền tại nhiều điểm khác nhau, trong và ngoài giờ hành chính, nộp vào ngày nghỉ, sử dụng các dịch vụ thanh toán hiện đại rất thuận tiện (qua internet, ATM, thư bảo lãnh…). Việc nộp thuế cúa DN được cơ quan Hải quan cập nhật nhanh, thường xuyên và chính xác hơn. Hạn chế tối đa việc treo nợ thuế của người nộp thuế, giúp DN thông quan nhanh lô hàng, góp phần giảm thời gian thông quan, giảm được chi phí phát sinh cho DN.
Số lượng các ngân hàng thương mại tham gia ký kết phối hợp thu NSNN với Hải quan ngày càng tăng, điều này đã mang lại ngày càng nhiều sự thuận tiện cho người nộp thuế.
Việc thực hiện thủ tục xét miễn thuế : Theo kết quả khảo sát năm 2015, có 55% doanh nghiệp chỉ mất 1 lượt đi lại để hoàn tất hồ sơ xét miễn thuế hợp lệ, 31% doanh nghiệp phải đi lại 2 lần và 14 % doanh nghiệp phải mất từ 3 lượt trở lên mới hoàn tất hồ sơ. Cá biệt có khoảng 1% doanh nghiệp phải mất trên 10 lượt đi lại mới hoàn tất một bộ hồ sơ xét miễn thuế hợp lệ. về tổng thời gian hoàn tất thủ tục xét miễn thuế (kể từ khi doanh nghiệp nộp hồ sơ hợp lệ đến khi cơ quan hải quan có văn bản chấp nhận hoặc không đồng ý cho miễn thuế), một doanh nghiệp thông thường mất khoảng từ 1 đến 10 ngày.
Việc thực hiện thủ tục hoàn thuế : Đối với những trường hợp được hoàn trước, kiểm tra sau thì có 59% DN chỉ mất 1 lượt đi lại để hoàn tất bộ hồ sơ hoàn thuế hợp lệ. Khoảng 33% DN mất 2 lượt đi lại và 8% phải đi lại từ 3 lượt trở lên mới hoàn tất bộ hồ sơ hoàn thuế. Đối với những trường hợp cần kiểm tra trước, hoàn sau có 49% DN phải đi lại 1 lần là có thể hoàn thiện hồ sơ hoàn thuế hợp lệ, 35% DN phải đi lại 2 lượt, 16% phải mất 3 lượt đi lại trở lên mới có thể hoàn thiện bộ hồ sơ hoàn thuế.
Thông thường, các DN mất 7 ngày kể từ ngày DN nộp hồ sơ hợp lệ đến khi nhận được tiền hoàn thuế hoặc văn bản không đồng ý của cơ quan hải quan, dù đó là trường hợp hoàn thuế trước, kiểm tra sau hay kiểm tra trước hoàn thuế sau.
Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN, Cục Hải quan TP Đà Nẵng đã tích cực chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc nghiêm túc thực hiện thu NSNN và các biện pháp chống thất thu NSNN: Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu NSNN năm 2015; Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu; Tăng cường công tác quản lý thu NSNN, thu hồi nợ thuế; Đẩy mạnh công tác chống thất thu qua tham vấn giá, tăng cường kiểm soát giá nhập khẩu đã được quy định tại cơ sở dữ liệu giá, loại hàng hóa xác định mức thuế; tăng cường kiểm tra xuất xứ hàng hóa, công tác kiểm tra sau thông quan, cơ chế phối hợp liên ngành để ngăn ngừa, kiểm tra, phát hiện các hành vi gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa, xác định trọng tâm, trọng điểm các mặt hàng có dấu hiệu kim ngạch bất thường, thuế suất cao…; Xây dựng và ban hành quy trình quản lý rủi ro, danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thu thập và xử lý thông tin, quy chế trao đổi, cung cấp thông tin với Cục Thuế bộ tiêu chí rủi ro xác định doanh nghiệp trọng điểm, áp dụng thống nhất cơ chế quản lý doanh nghiệp; Tăng cường kiểm tra giám sát đối với một số mặt hàng, loại hình còn nhiều bất cập, kiểm soát hiệu quả đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất, hàng gửi kho ngoại quan, hàng hóa XNK vào khu phi thuế quan… Chủ động kiểm tra, phát hiện các vấn đề nổi cộm, nhậy cảm (hàng bách hóa Trung Quốc, thiết bị y tế đã qua sử dụng…) để đưa ra cảnh báo, biện pháp khắc phục kịp thời hạn chế việc lợi dụng chính sách; Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan; Tăng cường công tác chống buôn lậu; Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thu NSNN.
Từ đầu năm 2014, Cục Hải quan TP Đà Nẵng đã triển khai áp dụng Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS); Thực hiện triển khai áp dụng cơ chế một cửa quốc gia; Luật Hải quan sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015; Thực hiện công khai kết quả đo thời gian giải phóng hàng; Triển khai hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu; Triển khai có hiệu quả thực hiện áp dụng mã vạch trong quy trình giám sát hải quan thay cho việc đối chiếu thủ công; Việc chấp hành các quy định pháp luật thuế NK của người nộp thuế, cơ quan Hải quan, cán bộ công chức hải quan trong hoạt động khai thuế, nộp thuế NK được đánh giá tốt hơn trước; Cơ quan Hải quan thực hiện việc quản lý thu, nộp thuế NK đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời tiền thuế vào NSNN theo đúng quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản pháp luật khác có liên quan; Thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan không ngừng thực hiện cải cách mạnh mẽ với những kết quả đáng ghi nhận; Quy trình xóa nợ thuế, nợ phạt được xây dựng, ban hành để thực hiện thống nhất; Công tác phúc tập hồ sơ khai thuế, kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan, kiểm tra sau thông quan tại trụ sở DN, thanh tra thuế là các biện pháp kiểm tra đối với việc chấp hành, tuân thủ pháp luật hảu quan, pháp luật về thuế; Cải cách về thủ tục thu nộp thuế; Kết nối, hoàn thuế giá trị gia tăng, quy trình miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, xét giảm thuế; Rà soát đơn giản thủ tục hành chính.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thuế, nộp thuế NK tại thành phố Đà Nẵng: Năng lực, trình độ, đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan; Tổ chức thực hiện quy trình, thủ tục hải quan; Tính chuyên nghiệp của cơ quan Hải quan; Trang bị phương tiện làm việc của cơ quan Hải quan; Hệ thống chính sách thuế nhập khẩu; Sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan hữu quan

Chương 3
GIẢI PHÁP CHO VIỆC ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP ĐÀ NẴNG
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng
Mục tiêu cải cách toàn diện ngành Hải quan được thể hiện trong Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 và Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ tài chính phê duyệt và chỉ đạo triển khai. Mục tiêu trên cũng được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 19/2014/NQ-CP và Nghị quyết 19/2015/NQ-CP của Chính phủ bằng việc đặt ra yêu cầu phấn đấu giảm thời gian thông quan hàng hóa của Việt Nam bằng mức trung bình ASEAN-6 vào năm 2015 và ASEAN-4 vào năm 2016 và tại Chỉ thị 24/CT-TTg ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, cải cách hành chính về thuế, hải quan nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hiện đại hóa hải quan.
Trong bối cảnh Việt Nam tích cực chủ động đàm phán và ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt khi vừa kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các doanh nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh tốt hơn nhưng buộc phải trở nên cạnh tranh hơn để tồn tại và phát triển. Nhưng không chỉ doanh nghiệp phải cạnh tranh, thủ tục hành chính của nhà nước nói chung và thủ tục hải quan nói riêng cũng phải cạnh tranh được khi so sánh với các nước. Việt Nam cần nhanh chóng đạt được ở mức tiên tiến của khu vực về mức độ thuận lợi và chuyên nghiệp trong thực hiện các thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục hải quan.
Thực hiện tốt Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ là yêu cầu quan trọng, nhưng về lâu dài, ngành hải quan cần phải tiến hành cải cách thường xuyên, liên tục, hướng đến đáp ứng được yêu cầu của DN. Cộng đồng DN trông chờ vào những cải cách thực chất, mang lại lợi ích thực tiễn trong hoạt động kinh doanh. Đặc biệt những tinh thần cải cách phải chuyển tải được tới từng cán bộ giải quyết thủ tục hành chính hàng ngày cho DN, hình thành văn hóa của bộ máy nhà nước là “phục vụ doanh nghiệp”, “đồng hành với doanh nghiệp”.
Về phía các DN, nghĩa vụ quan trọng của DN là tuân thủ tốt những quy định đặt ra, kịp thời phản ánh những khó khăn, bất cập mà DN gặp phải khi thực hiện thủ tục hành chính cho các cơ quan nhà nước, thông qua các hiệp hội DN, hoặc qua các điều tra, khảo sát DN được tiến hành thường xuyên. Với tinh thần trách nhiệm cao của từng DN, những nỗ lực cải cách của ngành Hải quan nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ thu được kết quả tích cực, vì một Việt Nam phát triển bền vững và cạnh tranh.
3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thực hiện pháp luật về thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng
3.2.1. Đa dạng hóa các phương thức tiếp nhận thông tin thủ tục hành chính hải quan, nâng cao chất lượng cung cấp thông tin:
Cục Hải quan TP Đà Nẵng cần đa dạng hóa các phương thức tiếp cận thông tin thủ tục hành chính về hải quan qua thông tin trên cổng thông tin điện tử của TCHQ, thông tin trên trang thông tin điện tử của Cục Hải quan TP Đà Nẵng, thông tin qua các lớp tập huấn, đào tạo do cơ quan hải quan tổ chức, thông tin thông qua đối thoại do cơ quan hải quan tổ chức hoặc phối hợp tổ chức, DN có thể trực tiếp tới gặp đề nghị cung cấp thông tin hoặc gọi điện trực tiếp đề nghị cung cấp thông tin, gửi công văn tới Cục Hải quan đề nghị cung cấp thông tin, qua tờ rơi, ấn phẩm, hoặc các phương thức khác.
Chất lượng thông tin cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Tạo điều kiện để DN chủ động nắm bắt thông tin, cần thông báo trên các phương tiện thông tin ít nhất 3-6 tháng trước ngày văn bản có hiệu lực để tránh tổn thất cho DN.
3.2.2. Tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục quản lý thuế trong lĩnh vực hải quan:
Cơ quan hải quan cần khuyến khích các DN đề nghị cơ quan hải quan hỗ trợ. Các DN sẽ là người được hưởng lợi đầu tiên và trực tiếp nhất từ những cải cách thủ tục hành chính này. Khi những cải cách và thay đổi được thúc đẩy mạnh mẽ và sâu rộng, chi phí thực hiện thủ tục hành chính của DN sẽ giảm. Và những cải cách này chắc chắn sẽ tạo ra những tác động quan trọng góp phần tăng sức cạnh tranh của các DN Việt Nam, tạo hiệu ứng tốt đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.
3.2.3. Tăng cường quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp:
Quan hệ đối tác hải quan – doanh nghiệp là hoạt động hợp tác giữa cơ quan hải quan với doanh nghiệp để cùng thực hiện tốt các quy định pháp luật liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và tăng cường quản lý nhà nước về hải quan. Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các đối tác thực hiện quyền và nghĩa vụ. Quan hệ đối tác hải quan – doanh nghiệp có 2 loại: Quan hệ đối tác thường xuyên và Quan hệ đối tác có điều kiện.
Tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng cần hình thành Tổ tư vấn Hải quan-Doanh nghiệp chịu trách nhiệm tham vấn cộng đồng DN và các bên liên quan; Chỉ định đầu mối liên lạc giữa cơ quan Hải quan với DN và các bên liên quan. Đồng thời công khai địa chỉ liên lạc của mỗi bên, thường xuyên cập nhật, bổ sung thông tin; thiết lập kênh thông tin phản hồi kết quả tham vấn cho các bên liên quan dưới hình thức báo cáo tham vấn và thông tin qua đường công văn, email, internet…
Khi xây dựng văn bản, cần chú trọng nhiều hơn và chủ động hơn trong việc tiếp cận DN. Cần xác định đối tượng DN đặc thù trên địa bàn và phân thành từng nhóm để đưa ra những hỗ trợ thiết thực. Nên thành lập Tổ tư vấn do một Phó Cục trưởng làm Tổ trưởng, các Chi cục cũng có kế hoạch cụ thể và phân công đầu mối trong thiết lập kênh thông tin trao đổi, hỗ trợ DN một cách thường xuyên. Tăng cường trao đổi ý kiến thường xuyên giữa cơ quan Hải quan và DN. Xây dựng và ban hành Chiến lược phát triển quan hệ đối tác Hải quan- Doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 làm kim chỉ nam cho hoạt động quan hệ đối tác; xây dựng và hoàn thiện bộ máy thực hiện quan hệ đối tác theo hướng chuyên trách từ Tổng cục tới các Chi cục; tăng cường triển khai công tác phát triển quan hệ đối tác thông qua các đối tác chuyên đề tại các Cục Hải quan địa phương; đào tạo CBCC để nâng cao năng lực thực hiện quan hệ đối tác; đưa hoạt động tham vấn thành hoạt động thường xuyên của cơ quan Hải quan các cấp; khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp và các bên liên quan chủ động tham gia vào hoạt động tham vấn của cơ quan Hải quan…
Ttuyên truyền để DN hiểu được những lợi ích của việc phát triển tốt quan hệ đối tác Hải quan – Doanh nghiệp, vì ngoài nỗ lực của cơ quan Hải quan cũng rất cần sự hưởng ứng, hợp tác, đồng hành của DN, bởi nếu DN không có nhu cầu, không muốn hợp tác thì cơ quan Hải quan cũng sẽ không có được đối tượng để hỗ trợ.
3.2.4. Xây dựng đội ngũ CBCC Hải quan đáp ứng yêu cầu:
– Xây dựng đội ngũ công chức nghiêm túc thực hiện kỷ luật, kỷ cương thể hiện ở 5 tiêu chí;
– Nâng cao năng lực giải quyết công việc của công chức hải quan, am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ; kỹ năng giải quyết công việc của công chức hải quan tốt;
– Cần đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu một số lĩnh vực như: trị giá hải quan, áp mã hàng hóa, C/O, kiểm tra sau thông quan, thu thập thông tin và QLRR, kiểm tra và phát hiện chứng từ giả…
– Tình trạng cán bộ công chức hải quan xử lý các vấn đề về thuế còn nhiều bất cập;
– Xây dựng cơ chế tuyển dụng, luân chuyển, điều động CBCC; Nâng cao phẩm chất, năng lực cán bộ công chức hải quan.
– Tăng cường hoạt động của Đội kiểm tra, giám sát đột xuất và thanh tra công vụ. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, nhất là kiểm tra nội bộ tại các đơn vị thuộc và trực thuộc về nghiệp vụ hải quan.
3.2.5. Nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế NK qua ứng dụng CNTT
Đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ đồng bộ, đảm bảo về an ninh, an toàn có khả năng hoạt động liên tục 24/7. Hệ thống CNTT cần được tái thiết kế theo mô hình kiến trúc đầy đủ, hiện đại, đảm bảo dễ kết nối, nâng cấp và đáp ứng các chuẩn công nghệ quốc tế; tránh xảy ra trường hợp mạng bị kẹt, bị lỗi; cập nhật kịp thời tình hình nộp thuế của DN.
Để việc tra cứu nợ thuế trên Cổng thông tin của Tổng cục Hải quan không gây rủi ro về lộ thông tin của DN, cần quy định đăng ký và cung cấp riêng một user và mật khẩu (không đăng nhập bằng chứng minh nhân dân và mã số thuế ). Nếu quên mật khẩu thì phải đăng ký và nhận bằng email đã đăng ký trước.
Đề nghị Công ty phầm mềm Thái Sơn nâng cấp chương trình để không gặp lỗi khi khai báo. Thành lập nhóm cán bộ chuyên trách hướng dẫn, trả lời khi DN gặp trục trặc trong quá trình khai báo hải quan. Khắc phục những bất cập của hệ thống VNACCS, giúp DN thuận tiện hơn khi khai báo thủ tục hải quan. Đưa Website của Cục trở thành cổng thông tin điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công cho cộng đồng doanh nghiệp.
Chủ động xây dựng thêm các chương trình ứng dụng mới theo đặc thù của Cục Hải quan TP Đà Nẵng theo hướng dữ liệu tập trung, có tính sẵn sàng tích hợp với các chương trình khác của Ngành. Tiếp tục công tác ứng dụng điều hành văn bản qua mạng (Cloud Office).
Ứng dụng CNTT trong trao đổi thông tin giữa ngành Hải quan với hệ thống Kho bạc, Thuế, Tài chính và Ngân hàng để hỗ trợ cho người nộp thuế giảm thủ tục và thời gian nộp thuế.Tăng cường, khuyến khích các DN nộp thuế điện tử.
Cần sử dụng hệ thống Kiosk tại các nơi khai báo của cơ quan hải quan để DN có thể sử dụng tra cứu thông tin đơn giản, dễ dàng các thông tin liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình…Cơ sở hạ tầng phải đảm bảo có một hệ thống chuẩn giữa các đơn vị thực hiện dịch vụ thuế điện tử.
3.2.6. Ngăn chặn tình trạng gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu thông qua nhận diện được các hành vi gian lận của đối tượng nộp thuế
Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, hoạt động thương mại song phương và đa phương giữa Việt nam với các nước diễn ra sôi động, cùng với đó là tội phạm và các vi phạm trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu cũng tăng lên. Việc nhận diện được các hành vi gian lận của đối tượng nộp thuế để có biện pháp ngăn chặn tình trạng gian lận thuế là cần thiết và quan trọng. Thất thu thuế qua gian lận trị giá tính thuế; phân loại và áp mã số hàng hóa; khai báo xuất xứ hàng hóa đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Thất thu thuế do lợi dụng địa bàn và sử dụng các phương thức thủ đoạn buôn lậu. Thất thu thuế do lợi dụng loại hình gia công đầu tư.
3.2.7. Tăng cường công tác thu thập thông tin, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế
Để đáp ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Hải quan đã có nhiều chính sách cải cách thủ tục hải quan, một trong số các chính sách đó là giảm thời gian tiền kiểm, tăng hậu kiểm. Vai trò của lực lượng KTSTQ, thanh tra thuế có vai trò quan trọng hơn. Để thực hiện được tốt vai trò của hai lực lượng này, cơ quan hải quan cần xác định KTSTQ, thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan hải quan, đây là công cụ quan trọng trong phát hiện ra các hoạt động vi phạm pháp luật thuế, gian lận, trốn thuế từ đó nâng cao ý thức thực thi pháp luật thuế của các đối tượng nộp thuế. Hoàn thiện hành lang pháp lý quy định thẩm quyền của lực lượng KTSTQ, thanh tra thuế. Tăng cường biên chế cho Chi cục Kiểm tra sau thông quan, thanh tra thuế để có đủ lực lượng cho công tác “hậu kiểm”. Tăng cường công tác KTSTQ, thanh tra thuế với các trường hợp nghi vấn, có độ rủi ro cao về gian lận trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa, mã số hàng hóa, khai báo định mức cao… Lưu ý việc đánh giá sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, sự thay đổi bất thường trong việc kê khai thuế qua các năm.
Thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực cũng như phẩm chất, đạo đức cho đội ngũ CBCC làm công tác KTSTQ, thanh tra thuế. Đặc biệt các kỹ năng tổng hợp, phân tích; năng lực phát hiện chứng từ giả, kiểm tra các chứng từ liên quan như chứng từ thanh toán, sổ sách kế toán, hợp đồng ngoại thương…
Cần thiết phải xây dựng quy chế phối hợp giữa các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục Hải quan để việc trao đổi thông tin phục vụ công tác KTSTQ, thanh tra thuế được tăng cường, đạt hiệu quả cao. Tăng cường phối hợp với các đơn vị ngoài ngành để thu thập, trao đổi thông tin cũng như xác minh các vấn đề liên quan nhằm phục vụ tốt hơn các công tác này.
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, ngành hải quan đã không ngừng lớn mạnh và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu “người gác cửa nền kinh tế”. Với đặc thù công việc luôn phải tiếp xúc với tiền, hàng, đối mặt với những thủ đoạn mua chuộc, cám dỗ từ phía các đối tượng buôn lậu, trốn thuế… nên ngành hải quan luôn chú trọng chăm lo giáo dục cán bộ công chức về tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ và coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, ngành hải quan cũng không ngừng nghiên cứu và triển khai áp dụng các kỹ thuật nghiệp vụ mới nhằm đơn giản hóa quy trình thủ tục hải quan và rút ngắn thời gian thông quan, áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong kiểm tra thực tế hàng hóa…Trên cơ sở phân tích và đánh giá pháp luật về thuế NK từ thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, luận văn làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện pháp luật thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Qua đó, đưa ra các giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Bản thân tôi rất mong muốn những giải pháp và kiến nghị được trình bày trong luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng trong thời gian tới. Những giải pháp này sẽ thực sự có hiệu quả khi có sự quan tâm và quyết tâm thực hiện của ngành hải quan, Cục Hải quan TP Đà Nẵng, các Bộ, Ngành, cơ quan có liên quan và của cả cộng đồng doanh nghiệp.
Trong khuôn khổ đề tài, tác giả đã cố gắng vận dụng lý luận và thực tiễn để đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện pháp luật về thuế NK từ thực tiễn Cục Hải quan TP Đà Nẵng giai đoạn 2010-2014 và đề xuất các giải pháp cơ bản đảm bảo thực hiện pháp luật về thuế NK tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế về nguồn tài liệu cũng như thời gian nghiên cứu, đề tài pháp luật về thuế NK là một đề tài rộng đòi hỏi phải được đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng dưới những góc độ khác nhau nên tác giả luận văn rất mong nhận được sự đóng góp của các nhà khoa học, Quý thầy, cô, bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT KINH TE\LUU THI THU TRANG\SAU BAO VE


