Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

MỞĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tên thươngmạicủa doanh nghiệp là mộttrong nhữngyếutốđầutiên tạo lên sựthành công của doanh nghiệp trong quá trình hoạtđộngsảnxuất, kinh doanh. Trước đây, trongnềnkinhtếkếhoạch hóa tậptrung, tên thươngmạiítđược quan tâm khôngđược xem là tàisảnquan trọng của doanh nghiệp. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, tên thương mại đã thực sự trở thành một tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp thường gắn liền vớigiátrịtên thươngmạimà doanh nghiệpđóđãtạora.Đểcóđượcmộttên thươngmạicó tên tuổi, doanh nghiệp phảiđầutưrấtnhiều nguồn lực tài chính, thời gian để tạo dựng bởi lẽ không doanh nghiệp nào có tên thương mại có giá trịngay từ khi khởi nghiệp mà nó đòi hỏi một quá trình lâu dài thông qua việc cung cấprathịtrường nhữngsảnphẩm ngày càngtốthơn, giácảhợplý,thểhiện rõtính văn minh thương mại, sự chăm sóc khách hàng… Nhận thức rõ vấn đề đó, hầu hếtdoanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp có chiếnlượckinh doanh

tốt rất quan tâm đến việc bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp mình.

Cóthểnói, các quyđịnhcủa pháp luật liên quan đếntên thươngmạicủa doanh nghiệpđãđược xây dựng và đang từngbước được hoàn thiện, các hoạt độngbảovệquyền đốivớitên thương cũngnỗlực triển khai trên diện rộng. Không phải là hàng hoá nhưng tên thương mại lại có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó là một trong những đối tượng cơ bản của quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT), vì vậy, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam hiện nay rất coi trọng việc bảo hộ tên thương mại.

Tên thương mại đã được nhắc đến, được quy định trong các văn bản pháp luật như:Bộluật Dânsựnăm 1995 và 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005 và2014, Luật Thươngmạinăm 1997 và 2005; LuậtSởhữutrítuệnăm 2005 sửa đổi, bổsung năm 2009 và các vănbảnhướngdẫnthi hành. Theo đó, hệthống pháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệpđược xây dựng tươngđốihoàn chỉnh, đápứngchuẩn mực quốc tế như: Các camkếttham giaTổchức thương mạithếgiới (WTO); Hiệpđịnhđốitác kinhtếxuyên Thái Bình Dương (TPP) của Việt Nam, các điềuước quốc tếđang có hiệu lực tạiViệt Nam. Các thành tựuđạtđược là đáng trân trọng, nó là kếtquảcủa hoạtđộnglậppháp, thực thi pháp luật và chính sách hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả, hệ thống pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi lớn, cầnđược tiếp tục hoàn thiện. Việcđổimới tổchức, cơ chế và phương thứcbảo hộđốivới những tàisảnvô hình của doanh nghiệp như tên thương mại, nhãn hiệu… cần được giảiquyết trên cơ sở phân tích một cách khách quan thực trạng pháp luật hiện có, đánh giá các ưu điểm, nhược điểmvà chỉ ra những nguyên nhân tồn tại cần khắc phục,đồng thời kếthợpvới học tập kinh nghiệmquốc tếđểtừ đó đề xuất các giải pháp nâng cao và hoàn thiện pháp luậtvề tên thương mại nói riêng và hệ thống pháp luật liên quan nói chung.

Chính vì những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làmđề tàiluận án.Đề tàitập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đặt ra và phân tích quy định pháp luật Việt Nam về tên thương mại của doanh nghiệp, trong đó cósựso sánhvớicác quyđịnhpháp luật của các nước và các côngước quốc tế. Phân tích pháp luậtvềtên thương mại, thực trạng thực hiện pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiêncứucủa luận án là: nhận diệnđầyđủbảnchất của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp, đưa ra được khái niệm về tên thương mạicủa doanh nghiệp và pháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp; đánh giá khách quan thực trạng quy định của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp; tiến tới hạn chế và chấm dứt hành vi xâm phạm đối với tên thương mại và nâng cao hiệu quả bảo vệ đối với tên thương mại của doanh nghiệp để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của nhà nước và người tiêu dùng.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứnhất, đểlàm rõ cơ sởlý luận pháp luậtvềtên thương mạicủa doanh nghiệp, luận án cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

– Nghiên cứu cơ sở lý luận về tên thương mại của doanh nghiệp nhằm làm rõ sự phát triển có kế thừa của khoa học pháp lý.

– Phân biệt tên thương mại của doanh nghiệp với một số đối tượng tương tự với tên thương mại, từ đó chỉ ra sự khác biệt cơ bản và tầm quan trọng của tên thương mại.

– Nghiên cứu nội dung pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp, các điều kiện xác lập, bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp.

Thứhai, đểđánh giá đúng thực trạng pháp luậtvềtên thương mạicủa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn áp dụng cần tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:

– Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng pháp luật thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về tên thương mại của doanh nghiệp.

– Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thông qua việc phân tích thực tiễn xác lập, bảovệ, thực thi quyền SHTTđốivớitên thươngmạicủa doanh nghiệp.

Thứba,từthực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp, luận án đưa ra những đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam.

-Chỉra những yêu cầu, định hướng quan trọng để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi phù hợp với tình hình trong nước và thế giới.

– Đề xuất một số giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp hiện nay.

3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận án 3.1. Phạm vi nghiên cứu

Luận ántậptrung nghiêncứucácvấnđềlý luận cũng như thực tiễn của pháp luậtvềtên thương mạicủadoanh nghiệpở ViệtNam hiện nay.

Tên thươngmạiđượcnghiêncứutrong luận án làvấnđềthuộc phạm trùcủasởhữu trí tuệ đãđượccông ướcquốc tếcũng như pháp luật Việt Nam quyđịnh.Vì vậy, luận án nghiên các quyđịnhcủađiềuướcquốctếcũng như của pháp luậtvềbảo hộtên thươngmạicủadoanh nghiệpở ViệtNam.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là việcbảo hộtên thương mại của doanh nghiệp bằng pháp luật. Dođó:

Vềmặtlý luận, luận án không những sẽ làm rõ, làm phong phú, sâu sắc hơn khái niệm tên thươngmạivớinhữngđặcđiểmriêng có, so sánh khái niệm tên thương mạivớicác khái niệm có mối quan hệ khăng khít với tên thương mại màcòn phân tích nhằm góp phần xácđịnh rõnhững nội dung của pháp luậtvềbảo hộtên thương mạicủadoanh nghiệp.

Vềmặtthực tiễn, luận ántậptrung phân tích, đánh giá pháp luậtcủaViệt Namvềtên thươngmạicủadoanh nghiệp, trongđóbaogồmcảviệc đánh giáthực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật nhằm góp phần làm rõnhững thành tựu, nhữnghạnchếcủapháp luật trong quyđịnhcũng như trong thực tiễn thi hành đểtừđó đềxuất những giải pháp phù hợp.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

Từmụctiêu, nhiệmvụnghiên cứu, tácgiảtiếpcậnđốitượngnghiên cứu bằng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

4.1. Phương pháp luận

Trên cơsở vận dụngphép duy vật biện chứng và duy vật lịchsử của chủnghĩa Mác – Lê nin, luận ánsửdụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường trong thời kì nàyđể nghiên cứu.

Việc phân tích các khía cạnh pháp lý liên quanđếntên thươngmạicủa doanh nghiệp là một nghiên cứu mới, khá phức tạp,vừamang tính pháp lý, vừa mang tính kinh tế, hơn nữa, việc thu thập thông tingặpnhiều khó khăn, do vậy việc phân tíchsốliệu thựctếchủ yếu dựatrên các tài liệucụthể đượcthu thập ởtrong và ngoàinướcvềlĩnh vực này. Chính vì vậy luận ánsửdụng phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội nhân văn như lịch sử, kinh tế, luật học nhằm làm rõ bản chất kinh tế, xã hội và pháp lý về pháp luật của tên thương mại của doanh nghiệp, đánh giá mức độ phù hợp, nhất là tính khả thi của các quy định này.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích nhằm làm rõcơ sởlý luận cũng như cơ sởthực tiễn của pháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp ở Việt Nam, đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học trong vàngoàinước vềnhữngvấnđềliên quanđếnluận án, cácsốliệu tổnghợpvàsựkiện thực tế, phương pháp nàyđược sử dụngtrong luận án nhưng trọng tâm là chương 1, chương 2, chương 3.

– Phương pháp so sánh luật học:được sử dụngxuyên suốt luận án nhằm đối chiếu quyđịnhpháp luật qua các thời kỳ, vớipháp luật các quốc gia đểtìm ra nhữngđiểmhợplý trong các quyđịnhpháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật để hoàn hiện phápluật vềtên thương mại.

– Phương pháp phân tích–dựbáo, phương pháp phân tích, tổng hợp,

thống kê… được sử dụng trong chương 4 để dự báo xu hướng phát triển của kinh tế xã hội, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của nghiên cứu sinh, luận án có những đóng góp mới, cụ thể như sau:

Thứnhất, Luận án là công trình nghiêncứucó tínhhệthống pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp, lĩnh vực đặc thù của sở hữu trí tuệ, có tác động trực tiếp đến sựtồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trên thị trường và thúcđẩy sựphát triển của nền kinh tế. Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổsung và phát triển nhữngvấnđềlý luận pháp luậtvềtên thươngmạicủadoanh nghiệp ở Việt Nam, làm rõ cơsởkhoa học nhằm ghi nhận vàbảo hộtên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Thứ2, Luận ánđãđánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệpở ViệtNam hiện nay, chỉ ra những hạn chếmà pháp luậtvềtên thươngmạicủadoanh nghiệpcầnphải khắc phục vàhoàn thiện trong thời gian tới.

Thứ 3, Luận án xác định về các định hướng và đưa ra nhiều giải pháp vừa tổng thể, vừa có tính chất cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luậtvềtên thươngmạicủadoanh nghiệp và nâng cao hiệuquảáp dụng các quy định này trong thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễncủaluận án

– Về lý luận: Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lýluận về tên thương mại của doanh nghiệp và đánh giá tính hiệu quả quy định của pháp luật. Luận án khẳngđịnhvai trò của tên thươngmạiđối vớisựphát triển của doanh nghiệp, luận án cũng chỉ ra các nhân tố tácđộng đến việc bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp, qua đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng phápluật vềtên thương mại, chỉra nguyên nhân của mộtsốhạnchếcòn gặp phải trong thực tiễn.

– Về thực tiễn: Luận án đưa ra những yêu cầu cần thiết, những định hướng cơ bảnđểxây dựng và bảohộquyền SHTT đốivới tên thươngmạicủa doanh nghiệp, tiếp đến luận án đưa ra ba nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu để bảo vệquyền SHTT đối với tên thương mại của doanh nghiệp.

Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiêncứuvàgiảng dạy khoa học pháp lý, phục vụ cho việc hoạch định chính sáchvềbảohộtên thương mạicủacác doanh nghiệp ở Việt Nam.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoàilờinóiđầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđượckết cấu4 chương như sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơsởlý thuyết.

Chương 2. Nhữngvấnđềlý luậnvềtên thươngmạivà pháp luậtvềtên thương mạicủadoanh nghiệp.

Chương 3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vềtên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam.

Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Theo sát yêu cầu nghiên cứu của luận án, tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan nhằm phát hiện những điểm mà luận án có thể kế thừa và xác định những điểm luận án cần đi sâu nghiên cứu. Với tinh thần trên, tác giả tập trung tổng quan những vấn đề chính sau đây.

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

– Đánh giá, nhận xét chung về những vấn đề luận án kế thừa

Nhìn chung, các nghiêncứuvềtên thươngmạicủadoanh nghiệpđược thực hiện trên các khía cạnh sau:

(i) Đã có khá nhiều những nghiên cứu pháp luật về tên thương mại vàđiều kiện bảo hộ tên thương mại. Ở đây, cácvấn đề như:điều kiện bảo hộ, cơ chế bảo vệ đối với tênthương mại của doanh nghiệp được lý giải sâu sắc.

(ii) Nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sáchbảo hộ vàpháp luật bảo hộđốivớitên thươngmạicủadoanh nghiệp, các nghiêncứunàyđãđềcậpởmức độ khácnhau về mối quan hệ giữa tên doanh nghiệp và tên thương mại, các nhóm nghiên cứu, các tácgiảnêu trênđãchỉramốiquanhệgiữa tên doanh nghiệp, tên thươngmạivàsựcầnthiết phảibảohộ đốivớitên thươngmạicủa doanh nghiệp;đã đềcậpđếnvấnđềphân biệt tên thươngmạivà nhãn hiệu, những trường hợp nhãn hiệu và tên thương mại trùng nhau thì pháp luật sẽ bảo hộ như thế nào: “tên thương mại là tên gọi còn tên nhãn hiệu là dấu hiệu”. Theo một cách suy nghĩ khác thì tên thương mại thường được tiếp nhận là thành phần tên riêng của công ty như ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh còn nhãn hiệu làtên một sản phẩm hay dịch vụ nào đó do doanh nghiệp đưa ra thị trường, đó là sựkhác biệt.

Tuy nhiên, trongmộtsốtrườnghợpthì tên thươngmạivà nhãn hiệu cóthể là một. Vậy thì lúc này, tên thương mại có còn được hiểu là thành phần tên riêng của doanh nghiệp như trong Giấy đăng ký kinh doanh không?Điềunày

17

chưa được làm rõ trong các văn bản hướng dẫn thi hành và đây sẽ là một trong những nguyên nhân làm cho tranh chấpxẩyra nhiều trong tương lai vìtừlâu tình trạng doanh nghiệp trùng tên đã là vấn đề hóc búa cho các cơ quan quản lýnhà nước,cơ quan tư pháp, và chocảcác doanh nghiệpbịtrùng tên. Nguyên nhân của việc trùng tên doanh nghiệp đáng tiếc lại có từ quy định của pháp luật doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu đã phản ánh các quy định của pháp luật hiện nay đang còn có những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

(iii) Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp.

Nghiêncứuthực trạng pháp luậtvề tên thươngmạicủa doanh nghiệp lànghiêncứutổng quan những quyđịnhcủa pháp luật dânsự,pháp luật thương mại, pháp luật doanh nghiệp, pháp luậtsở hữu trí tuệ để làmrõ giá trị đích thực của tên thương mại, đồng thời đánh giá thực tiễn vận hành của các quy định đótrong thực tế.

(iv) Nghiên cứu các biện pháp bảo hộ và chế tàixử lýđối với hành vi xâm phạm tên thươngmạicủadoanh nghiệp:bảovệtên thươngmạicủa doanh nghiệp không chỉ bảo đảm quyền tài sản của các chủ thể quyền SHTT mà còn làđộng lực cho sự phát triển không ngừng các sáng tạo trong thương mại, là yếu tốcó ýnghĩa quan trọngđốivớisức mạnh của mỗiquốc gia. Quyđịnhcủa pháp luật vềbảo vệ tên thương mại là không cho phép các chủ thể sử dụng tên thương mạimà ngườikhácđã sửdụngnếuhoạtđộngkinh doanh của chủthểnày là cùng lĩnh vực và cùng khu vực với hoạt động kinh doanh của chủ thể mang tên thươngmạiđó99. Đểđược bảovệ, tên thươngmạicủa doanh nghiệp phải được chủ thể xáclập quyền sở hữu hợp pháp thông qua quá trình sử dụng. Thực tiễnxửlý các hành vi xâm phạm tên thươngmạicủa doanh nghiệp trong thời gian qua chủ yếu dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính và tranh chấp dân sự, hầunhư chưa cóvụnào bịxửlý vềhình sự. Đểcó thểbảođảmquyềnlợicủa các chủ thể thì rất cần một bộ phận chuyên trách về SHTT ở tòa án để giải quyết

18

các tranh chấp liên quanđến SHTT nói chung và tên thươngmạicủa doanh nghiệp nói riêng.

(v) Nghiêncứuđềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềtên thương mại củadoanh nghiệp. Tình hình nghiên cứu vàđềxuấtvềgiải pháp hoàn thiện pháp luậtvềtên thương mạicủadoanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay chưađượcnghiên cứunhiều,mớicó các công trình nghiêncứunhư21, 22, 66, 67, 71] và các nghiên cứu này mới chỉ dừng lạiở việcnên lên sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tên thương mại. Hiện nay, mặc dù hệ thống pháp luật về SHTT Việt Namđã có nhiều tiến bộ, khá hoàn chỉnh và khá phù hợp với các tiêu chuẩncủacácđiềuướcquốc tế liên quanđếnSHTT mà Việt Namđã ký kếthoặc tham gia, tạo hành lang pháp lý an toàn cho hoạtđộng sởhữu trí tuệ, song vẫn cần thiết phải tiếp tục được hoànthiện cảvề nội dung và hình thứcđể bảo đảmhơn nữa tính thống nhất, đồngbộ, minh bạch, công bằng khả thi, đầyđủvà hiệu quả của hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam, phùhợphơn với thực tiễn ở Việt Nam cũng như với tiêu chuẩn quốc tế 101.

Tóm lại, các nghiên cứu nêu trên đã giải quyết mối quan hệ giữa tên thương mạivớicác đối tượng khác của quyền SHTT và pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp hiện nay, như: đề cập và phân tích cơ sở lý luận của phápluật vềtên thương mại của doanh nghiệp, đã khái quátđược đặc điểm, điều kiện bảo hộtên thương mại của doanh nghiệp; làm rõ tên thương mại, điều kiện tên thương mại được bảo hộ, trình tự thủ tục để xáclập tên thương mại; bước đầu có những nghiên cứu về giá trị tài sản của quyền SHTT trong đó có đánh giá vai trò tài sản trí tuệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả của các công trình nghiên cứu đã khái quát cho tác giả luận án một cách khá đầy đủ về thực trạng pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về tên thương mại, từ đó giúp tácgiả có cơ sở đểmở rộng nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa một số vấn đề như sau:

Những vấn đề luận án tiếp tục triển khai nghiên cứu

– Nghiên cứu về tên thương mại, tên doanh nghiệp: Luận án đi sâu nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến tên thương mại, tên doanh nghiệp mà hiện nay

19

đang còn nhiều vướng mắc từ đó đưa ra khái niệm về tên thương mại của doanh nghiệp.

– Nghiêncứuvềpháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật: Luận án tiếp tục nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp, từ đó đưa ra khái niệm và đặc điểm pháp luật về tên thương mại và chỉ ra những thành tựu và hạn chế cần của pháp luật khắc phục.

– Đề xuất kiến nghị, giải pháp liên quan đến pháp luật về tên thương mại của doanh nghiêp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo lợi ích của các chủ thể.

1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.2. 1. Lý thuyết nghiên cứu được áp dụng

Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh dựa trên những cơ sở lý thuyết sau đây:

– Lý thuyết về cạnh tranh được áp dụng để giải quyết những nội dung trong luận án như: đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp và cơ chế bảo vệ chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

– Nguyêntắcthươngmạicông bằng là sựhợptácđặttrênnềntảngđối thoại, minh bạch và tôn trọng, hướng đến cân bằng thương mại quốc tế. Với mục đích xây dựng và phát triểnhệthống thươngmạitoàn cầudựa trên nguyên tắc bình đẳng trong sản xuất và kinh doanh, thương mại công bằng góp phần vào sựphát triển bền vững bằng cách đề ra những điều kiện thương mại lành mạnh hơn và đảm bảo quyền lợi của các nhà sản xuất và người lao động có hoàn cảnh khókhăn. Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống sở hữu trí tuệ là nguyên

tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội. Nguyên tắc nàyđược thể hiện xuyên suốt toàn bộ quá trình bảo hộ từ xác lập quyền, duy trì quyền cho đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Bản chất của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữachủsởhữutrítuệvàlợiích xãhộilàsựdung hoà quyềnlợigiữa các bên nhằm tạo ra điều kiện tồn tại và phát triển cho chính các bên, cao hơn nữa là thúcđẩy sự phát triển của văn học, khoa học và kỹ thuật. Mỗi bên sẽ phải hi sinh một

20

phần quyền lợi của mình để hướng tới lợi ích chung lớn hơn, mà sâu xa hơn chính là tạo ra một xã hội phát triển bền vững, công bằng và bình đẳng.

– Nguyên tắcđốixửquốc gia (nghĩa là theo thuật ngữ thương mại, một quốc gia phải dành cho công dân của các quốc gia khácsự đốixử giống nhưcông dân của nước mình) là quan trọng vì nóđảmbảorằng các doanh nghiệp muốn có được sự bảo hộ đối với quyền SHTT của mình ở thị trường nước ngoài thìsẽ nhậnđược sự bảo hộở mứcđộgiống nhưsự bảohộdành cho công dân của nước đó(ví dụ, thờihạnvà phạm vi bảo hộ). Nguyêntắcđốixử quốc giađược hiểu là hàng hóa xuất nhập khẩu, dịchvụvà quyềnsở hữutrí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuậnlợihơn so với hàng hóa cùng loại trong nước.Trong khuôn khổ WTO, nguyêntắcđối xử quốc gia chỉ áp dụngđốivới hàng hóa, dịch vụvà các quyền SHTT, chưa áp dụngđốivới cá nhân và pháp nhân. Phạm vi áp dụng của nguyên tắc đối xử quốc gia đối với hàng hóa, dịch vụ và SHTT có khác nhau: đối với hàng hóa và SHTT, việc áp dụng nguyên tắcđối xử quốc gia là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hóa và quyền SHTT nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặcđược đăng ký bảo vệ hợp pháp, được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền SHTT trong nước đối với thuế và lệ phí nộiđịa, các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển.

– Các quanđiểmvềtựdo kinh doanh, tựdohợpđồngvà vai tròcủaNhànướctrong nền kinhtếthịtrường được áp dụng để xácđịnhcác nội dung như:

khu vực kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, định giá trao đổi tài sản là tên thương mại của doanh nghiệp, việc thực hiện các yêu cầu này phải tuân theo những quyđịnhcủa pháp luật trongđiềukiện phát triểnnềnkinhtếthịtrường và xuthếquốc tế hóa hiện nay.

– Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện thểchếkinhtếthịtrườngđịnhhướngxã hộichủnghĩa là cơ sởđểgiải quyết những bất cập, hạn chế gặp phải khi thực thi pháp luật và là căn cứ để xây dựng hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

21

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Từcơsởlý thuyết nêu trên, luận ánđượctriển khaivớicác câu hỏi nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh: lý luận, thực tiễn pháp lý và các giải pháp, kiến nghị.

Câu hỏi nghiên cứu chung: Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp baogồmnhữngnộidung nào?Đã đápứngđầyđủyêucầucủa việc bảohộquyền SHTT vềtên thươngmạicủa doanh nghiệp chưa?Đểgiải quyếtvấnđềnày cần giải quyết các câu hỏi sau:

1. Tên thươngmạilà gì?Nộihàm của nó ra sao? Phân biệtdấuhiệu cấu thành tên thương mại của doanh nghiệp với một số đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như: tên doanh nghiệp, nhãn hiệu, thương hiệu.

Những khía cạnh lý luận nào liên quan đến quyền SHTT về tên thương mại của doanh nghiệp đã được nghiên cứu nhiều, cần được kế thừa và phát triển?

Có quan điểm khoa học khác nhau về tên thương mại không? Yếu tố nào trong lý luận về tên thương mại là giá trị phổ biến của nhân loại? Yếu tố nào thể hiện tính đặc thù của Việt Nam.

2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tên thương mại như thế nào?

3. Giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện quy định của pháp luật về tên thương mại trong giai đoạn hiện nay?.

Giả thuyết nghiên cứu chung:

Còn có một số khía cạnh lý luận liên quan đến quyền SHTT về tên thương mạicủa doanh nghiệp chưađượcnghiên cứu, lý giải thấu đáo. Pháp luậtvềquyền SHTTđốivớitên thươngmạicủadoanh nghiệp còn nhiềubấtcậpchưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế cần được làm rõ.

Thực thi pháp luật nói chung và pháp luật về quyền SHTT về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiều yếu kém, cần làm rõ thực trạng này.

Cơ sở khoa học giải quyết giả thuyết nghiên cứu:

22

Sựthống nhất giữa quyđịnhcủacác ngành luật Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư là cơ sở khoa học để làm rõ các vấn đề giả thuyết nghiên cứu.

Dự định kết quả nghiên cứu:

– Đưa ra được khái niệm tên thương mại của doanh nghiệp, khái niệm pháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp, chỉra được đặc điểmđặc trưng của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp một cách đầy đủ và khoa học.

– Đưa ra các tiêu chí phân biệt tên thương mại của doanh nghiệp với một sốđối tượng khác của quyền SHTT

– Tìm hiểu và phân tích những quyđịnhpháp luậtcủanướcngoàivềtên thương mại của doanh nghiệp. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam

– Phản ánh thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tên thương mại và đánh giá các quy định pháp luật đó.

-Đưara các đánh giávềưu,nhượcđiểmtrong quyđịnhpháp luật và thực hiện pháp luật ở nước ta và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế cần khắc phục.

– Chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

-Đưara các địnhhướngđểhoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luậtvềtên thương mại của doanh nghiệp.

-Đềramộtsốgiải pháp, kiến nghị trong quá trình thực thi và hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

Kết luận Chương 1

Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiêncứucó liên quan đến tên thương mại và pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước tạo ra cho tác giả một cái nhìn toàn diện, sâu sắc về các vấn đề liên quanđến đề tàiluận án.

Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các công trình trong và ngoài nước liên quanđếnđềtài của luận án, tác giảnhận thấy: (i)đãcó nhiều công trình

23

nghiêncứuvềtên thươngmạinhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ về tên thương mại của doanh nghiệp, pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp mà các công trình nghiên cứu nêu trên đã bước đầu tiếp cận dưới các góc độ khác nhau như khái niệm, thực tiễn, đề xuất kiến nghị, và các yếu tố tác động đến hoạt động thực thi quyền đối với tênthương mại. (ii) Các công trình nghiêncứuđã đề cập đến những vấn đề thực tiễn thực hiện, thực trạng pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp nhưngđểđánh giá tổnghợpthànhmộtcông trìnhđầyđủcácyếutốliên quan đến pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp thì hiện nay chưa cómộtcông trình nghiêncứukhoa học cũng như luận án tiền sĩ nào nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ, sâusắc về vấn đề này.

Nhận thức được điềuđó, nghiêncứusinhđã xác định rõ mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận án. Đólà: luận ánsẽđi sâu nghiên cứu, tậptrung làm rõcảvềmặtlýluận và thực tiễn của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp, từ đó đềxuất những giải pháp vừa mang tính tổng thể vừa mang tính toàn diện để góp phần hoàn thiện pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp hiện nay.

24

CHƢƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ

TÊN THƢƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP

VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÊN THƢƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP

Ởchương này, vấnđềlý luận pháp luậtvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp và đánh giá tính hiệu quả quy định của pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp là tưtưởngxuyên suốtđểtạonềntảng lý thuyết cho việc nghiên cứu luận án, Vì vậy, tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề cơ bản dưới đây:

2.1. Những vấn đề lý luận về tên thƣơng mại của doanh nghiệp

2.1.1. Khái niệm tên thương mại, tên thương mại của doanh nghiệp 2.1.1.1. Khái niệm tên thương mại

Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội, sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Thương mại, Comerxium (tiếng Latinh), Commerce (theo tiếng Anh) có nghĩa là buôn bán. Ởnước ta, theo cách hiểu phổ thông, thương mại là hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở thuận mua vừa bán [62, tr.29].

Văn bản pháp luật quốc tế đầu tiên có liên quan quan đến việc ghi nhận và bảo hộ tên thương mại là Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. CôngướcParis áp dụng chosởhữucông nghiệp bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý(chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh. Điều 8 Công ước Paris 1883 ghi nhận:“Tênthương mạiđượcbảo hộởtất cảcácnướcthành viêncủaLiên minh mà khôngbịbắtbuộc phảinộpđơnhoặc đăng ký, bất kể tên thương mại đó có hay không là một phần của một nhãn hiệu hàng hoá”[112].

25

Theo quy định tại khoản 21 Điều 4 Luật SHTT [80] thì: tên thương mại làtên gọi của tổ chức, cá nhân sử dụng trong hoạt động kinh doanh, dùng để nhận biết và phân biệtchủthể kinh doanh mang tên gọiđóvớichủthể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực.

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn gắn liền với tên thương mạicủa doanh nghiệp đó. Trongmộtlĩnh vực,mộtkhuvựckinh doanh có rất nhiềuchủthểkinh doanh khác nhau cùng hoạt động. Do đó, tên thươngmạilàmộtyếutốquan trọngđểcá biệt hóa, phân biệt cácchủthểkinh doanh trong hoạt động thương mại giúp cho khách hàng, bạn hàng, đối tác có thể nhận diện đượcdoanh nghiệpđó.Mộtdoanh nghiệp cóthểsởhữuvàsửdụng nhiều nhãn hiệu khác nhauđểphân biệt hàng hóa, dịchvụcủahọvớihàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh nhưng chỉ có thể sử dụng một tên thương mại.

Hiện nay trên thế giới có các quan điểm về tên thương mại như sau:

Quan điểm thứ nhất 146cho rằng, tên thương mại, tên doanh nghiệp vànhãn hiệu là yếutốcấuthành thương hiệu. Do vậy, chỉtồntạikhái niệm nhãn hiệu thương mại và thương hiệu. Ví dụ: tại Anh thì tên công ty được điều chỉnh bởi luật công ty còn thương hiệu và nhãn hiệu thương mại được đăng ký bảo hộtheo quy định của pháp luật SHTT của Anh.

Quan điểmthứhai146cho rằng, tên thương mạithường là mộtphần của nhãn hiệu nênmộtsốquốc gia chỉghi nhận tên thươngmạilà nhãn hiệu thương mại vì người tiêu dùng chỉ quan tâm đến nhãn hiệu thương mại được ghi nhớtrong tâm tríchứkhông quan tâm tên doanh nghiệp là gì. Ngay trong quyđịnh của Hiệp định Trips cũng chủ yếu đề cập đến nhãn hiệu và coi nhãn hiệu làdấu hiệu để phân biệt và làm nên thương hiệu.

Ngoài ra, một số quốc gia khác lại có những quy định đặc thù về tên thương mại như [146]: nước Úc quy định chủ sở hữu có quyền đăng ký nhiều nhãn hiệu dưới dạng tên thương mại riêng hoặc có thể đăng ký nhiều tên thương mại.

26

2.1.1.2. Khái niệm tên thương mại của doanh nghiệp

Tên thươngmạicủa doanh nghiệpở Việt Namđược ghi nhận muộn hơn nhiều so với thế giới, vào năm 1997 Luật Thương mạiquyđịnhcụthểvềtên thươngmạicủadoanh nghiệp như sau“Thươngnhân phải có tên thương mại, biển hiệu, tên thương mại có thể kèm theo biểu tượng; Tên thương mại và biển hiệu không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá,đạo đứcvà thuần phong mỹtục Việt Nam; Tên thương mại, biển hiệu phảiđược viết bằng tiếng Việt Nam; tên thương mại, biển hiệu có thể được viết thêm bằng tiếng nước ngoài với kích thước nhỏ hơn; Tên thương mại phải được ghi trong các hoá đơn, chứng từ, giấy tờ giao dịch của thương nhân.” Điều 24 Luật Thương mại 1997 [77].

Chođếnnay, các vănbảnpháp luật chuyên ngành liên quan đếndoanh nghiệp cũng chưa đưa ra mộtkhái niệmcụthểvềtên thươngmạicủa doanh nghiệp, mà chỉcó Luật SHTT đưa ra khái niệm chungvềtên thương mại dùng cho các chủ thể kinh doanh.

Từ thực tế nghiên cứu ở Việt Nam, cho thấy: đa số thành phần tên riêng của doanh nghiệp là tên thương mại, rất ít trường hợp tên thương mại không phải là thành phần tên riêng của doanh nghiệp. Vídụ:Công ty TNHH Lavie có tên thương mại là Lavie, Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo có tên thương mại là Vĩnh Hảo, Công tycổphần thực phẩm KinhĐôcó tên thươngmạilà Kinh

Đô…Tên thươngmạicủa doanh nghiệp thường là mộtphần của tên doanh nghiệp – thường là thành phần tên riêng, khi doanh nghiệp hoạtđộngdướimột tên doanh nghiệp thì thành tố đầu cấu thành tên doanh nghiệp là để xác định loại hình doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đó, còn thành tố thứhai là tên riêng là để xưng danh khi hoạt động và nó được coi là tên thương mại kể từ thời điểm hoạt động.

Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tên thương mại, có thể đưa ra định nghĩa vềtên thương mại của doanh nghiệp như sau: Tên thương mại của doanh nghiệp làthành phần tên riêngcủatên doanh nghiệpđượcsửdụng trong hoạtđộngsản

27

xuất, kinh doanhđểnhận biết và phân biệtchủthểkinh doanh là doanh nghiệp này với chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

Theo quyđịnhcủapháp luật hiện hành thì“lĩnhvựcvà khuvựckinh doanh” của tên thương mại là tương đối trừu tượng, thiếu cụ thể nên gặp nhiều khó khăn trong việc xác định. Trên thựctế,nhiều doanh nghiệp có chi nhánh khắp các tỉnh, haymộtdoanh nghiệp kinh doanhở khu vực phía bắcrộng lớn gồm nhiều tỉnh, thành phố (được giải thích là khu vựcđịa lý cóbạn hàng, khách hàng), nên tên thươngmạiđược xáclậpdễtrùng với thành phần tên riêng của các doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, theo tác giả thì khái niệm tên thương mại của doanh nghiệp không cần thiết phải thêmtừ “khu vực kinh doanh” và mặc nhiên giới hạnkhuvựcđược hiểu trênmộtphạm vi rộng có thể là nơi doanh nghiệp có bạn hàng hoặc nơi có danh tiếng.

Trong những năm qua, để bảo đảman toàn, doanh nghiệp thường lựa chọn giải pháp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa để được bảo hộ trong phạm vi toàn quốc. Thông qua việc tra cứu nhãn hiệu trên website của Cục Sở hữu trítuệ cho thấy một số lượng rấtlớndoanh nghiệp phát triển tên doanh nghiệp, tên thương mại lên thành nhãn hiệu. Việc xétđơnđề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa sẽ không thể cóđủdữ liệu tên doanh nghiệp, hay tên thương mạiđã được xáclập quyền trước trên toàn quốc. Do đó, thực tế có nhãn hiệu trùng với thành phần tên riêng của doanh nghiệp, tên thươngmạiở các địa phương khác nhau và dẫn đến xảy ra những tranh chấp. Ví dụ: tranh chấp giữa Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) và Trường Đại học Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh) về nhãn hiệu, tên thương mại Đông Á mà Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) đã đăng ký từ năm 2005; hay tranh chấp giữa Công ty Cổ phần Vincom vớiCông tyCổphần Tài chính vàBấtđộngsảnVinconvề nhãn hiệu, tên

thươngmạiVinCon… Do vậy, tên thươngmạiđượcbảo hộcóthểtrùng với thành phần tên riêng cókhảnăng phân biệtcủatên doanh nghiệpchứkhông phải trùng toàn bộ tên riêng gồm cả ngành nghề đăng ký kinh doanh hoặc với

28

phần chữ – thành phần chính có khả năng phân biệt của nhãnhiệu đã được bảo hộ của doanh nghiệp.

Từ những phân tích nêu trên, tác giả thấy rằng các quan điểm, quyđịnh của pháp luật về tên thương mại, tên thươngmạicủa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay tương đồng với nhóm quanđiểmthứ 2 của xu thế trên thế giới và phù hợp với quy định trong Hiệp định Trips.

2.1.2. Đặc điểm về tên thươngmại củadoanh nghiệp

Tên thương mại của doanh nghiệp có những điểm tương đồng như các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, tuy nhiên vẫn có những đặc trưng khác biệt như sau:

Một là, về mặt đối tượng, một mặt tên thương mại của doanh nghiệp được xácđịnhgiống hoặc tươngtựvớinhãn hiệu mà doanh nghiệpđósởhữu67, mặt khác tên thương mại là lại là tên gọi của doanh nghiệp thực hiện chức năng phân biệtvớidoanh nghiệp khác trong vùng lĩnh vực. Do vậy, nếumỗidoanh nghiệpchỉcó mộttên thươngmạiđểxưng danh thì ngược lạicó thểcó nhiều nhãn hiệu để phân biệt, cạnh trạnh trên thị trường.

Hai là,vềmặtkhông gian, quyềnđốivớitên thương mại củadoanh nghiệp chỉ có hiệu lực trong một phạm vi không gian nhất định nơi tên thương mại được bảo hộ67. Nếu tên thương mại của doanh nghiệp được xác lập theo cách đăng ký giống như tên doanh nghiệp thì tên thương mại có thể được bảo hộtrên phạm vi một vùng nhất định của quốc gia hay trên toàn lãnh thổ, nơi mà tên thươngmạiđược đăng ký hoặc phổbiếnvớimọingười;Nếuviệc bảohộtên thương mại của doanh nghiệp dựa trên sự kiện sử dụng của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì được bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ của nước đó không phụ thuộc vào mức độ được biết đến của tên thương mại tại các vùng lãnh thổ khác nhau trong nước.

Ngoài ra, nhữngđiềukiệnbảohộtên thươngmạicủa công dânnước sở

tại cũng được áp dụng với công dân nước ngoài (trừ điều kiện về đăng ký). Nếu tạinướcsởtạitên thươngmạinộiđịa được bảohộtrên cơsởnóđã được biết

29

đếntrên toàn bộ lãnh thổ hoặc một vùng lãnh thổ nhấtđịnhthì tên thương mại nước ngoài cũngchỉđược bảohộnếunhưđã có danh tiếngtạinước đó. Vàngược lại, nếu ởnước sởtạiđiềukiện tên thươngmạiđã được biếtđếnkhông phải là mộttrong những tiêu chíđểbảohộthì tên thươngmạinướcngoàisẽđược bảo hộ không phụ thuộc vào danh tiếng của nó ở nước sở tại [67]. Do vậy, có thểtồntạithực tếlà tạinước xuấtxứtên thươngmạichỉđược bảohộtrên một khu vực nhưng tại nước khác nó lại được bảo hộ trên toàn lãnh thổ.

Ba là,vềmặtthời gian, tên thương mại của doanh nghiệp khôngbịhạn chế vềthời gian, điềuđócó nghĩa là sau khi doanh nghiệp sử dụng tên thương mại để xưng danh trong hoạt động thì doanh nghiệp có thể sử dụng nó mà không bịbấtcứhạnchếnàovềmặtthời gian chừng nào doanh nghiệp còntồntại vàđang sử dụng thì các chủ thể khác không được xâm phạm. Điều này thể hiện sựkhác biệt cơ bảnvớicác đốitượngthuộc quyềnsởhữucông nghiệp khác nhưnhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, những đối tượng này đều có quy định về thời hạnbảohộcụthểvà trách nhiệm của chủsởhữuphảinộpphíđểduy trì văn bằngbảohộkhinộpđơnyêucầubảohộ, nếukhôngsẽbịmấtquyền mặc dùđang còn thời gian bảo hộ.

Một đặc trưng nữa là việc sử dụng tên thương mại không những là quyền mà còn là nghĩa vụcủa chủthểkinh doanh, nghĩa làchủthểkhông những cóquyền kinh doanh dưới tên thương mại mà còn có nghĩa vụ làm điều đó. Ví dụ: theo quyđịnhtạiĐiều17 của Bộluật Thương mạiNhật Bản “khimộtbênđãđăng ký một tên thương mại mà không sử dụng nó trong 2 năm mà không có lýdo chính đáng thì tên thương mại đó bị coi là vô hiệu hóa” [120].

2.1.3. Phân biệt tên thươngmại củadoanh nghiệp với tên doanh nghiệp, nhãn hiệu và thương hiệu

Cùng với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như nhãn hiệu, thương

hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hóa…tên thương mại được sử dụng đểxưng danh nhằm phân biệt chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực. Vì vậy, việc phân biệt tên thươngmạivớicác

30

đối tượng này là cần thiết, đặc biệt, việc so sánh này sẽ chỉ ra sự khác biệt giữa các đối tượng trong vấn đề bảo hộ phù hợp với pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

2.1.3.1. Tên thương mại của doanh nghiệp và tên doanh nghiệp

Đây là hai đối tượng có nhiều điểm tương đồng và dễ gây nhầm lẫn trong thực tế. Như chúng ta biết, tên thươngmạicủa doanh nghiệp và tên doanh nghiệp có những điểm giống và khác nhau cơ bản sau:

– Giống nhau:

Đều là tên gọi của chủ thể kinh doanh

Đều có thành phần tên riêng để phân biệt – Khác nhau

* Khái niệm

Tên thương mại của doanh nghiệp là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp được sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để phân biệt chủ thểkinh doanh là doanh nghiệp nàyvớichủthểkinh doanh là doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

Tên doanh nghiệp là tên gọiđểcá thểhóa doanh nghiệp nàyvớidoanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động, khái quát hóa loại hình tổ chức và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

* Cơ chế xác lập

Tên thương mại của doanh nghiệp được bảo hộ bởi Luật SHTT và xác lập tự động trên cơ sở doanh nghiệp sử dụng trong kinh doanh. Như vậy, chức năng chính của tên thươngmạicủa doanh nghiệp là nhằm phân biệt, cá thểhóa chủthể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác. Sự phân biệt này cần thiết được đặtra khi trong cùngmộtlĩnh vực kinh doanh, trong cùngmộtkhuvựckinh doanh luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh doanh. Khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủthểkinh doanh cóbạnhàng, khách hàng hoặc danh tiếng. Như vậy, khu vực kinh doanh có thể nằm trong phạm vi hay vượt ra ngoài phạm vi lãnhthổcủa quốc gia.Điềunày hoàn toàn phụthuộc vào việc

31

thúc đẩy hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh đến đâu như chiến lược mở rộng tiếp thị, quảng cáo, mở các chi nhánh hay các văn phòng đại diện hoặc sáp nhập giữa các chủ thể kinh doanh để trở thành các tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh trên toàn thế giới.

Còn tên doanh nghiệp muốn được bảo hộ thì phải đăng ký theo Luật DN:

Tên doanh nghiệp và những dấu hiệu của doanh nghiệp phải được đăng ký tại cơquan nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủtục do pháp luật quyđịnhvàđượcNhà nước bảohộ, khôngmộtchủthểnào khácđượcsửdụng những dấu hiệu riêng của doanh nghiệp đã đăng ký để hoạt động.

Về cơ bản, dođược sử dụng trong hoạtđộngkinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, nên tên thương mại của doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng các yêu cầu mà pháp luật doanh nghiệp dành cho tên doanh nghiệp. Trong giao dịch, các chủthể kinh doanh có xu hướng sử dụng tên thương mại ngắn (có thể gọi là tên viết tắt, tên giao dịch). Tên giao dịch mà doanh nghiệp thườngsử dụng trong hoạtđộng thương mạibắtbuộc vẫn phải có thành phần phân biệt. Phần phân biệt hay tên riêngcủatên thươngmạicònđược dùng với chức năng của mộtnhãn hiệu nếu doanh nghiệp đăng ký tên giao dịch này như một nhãn hiệu47, tr.105.

Vídụ:Ngân hàng Công thương Việt Nam (VIETTIN BANK) đăng ký chữ “VIETTIN BANK” làm nhãn hiệu, đâyvừalà tên thương mạicủadoanh nghiệp, vừa là nhãn hiệu.

Như vậy, một khi tên doanh nghiệp được đăng ký, tên đó thuộc quyền sởhữu hợp pháp của doanh nghiệp và thành phần tên riêng là một trong haiyếu tốcấuthành nên tên doanh nghiệp (gồm loại hình doanh nghiệp và tên riêng của doanh nghiệp)trởthành tên thương mạicủa doanh nghiệpđược địnhnghĩa là: “Tên thươngmạicủadoanh nghiệp là thành phần tên riêngcủatên doanh nghiệp được sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để nhận biết và phân biệtchủthểkinh doanh là doanh nghiệp này vớichủthểkinh doanh là doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh”.

32

Từ phân tích trên cho thấy, tên thương mại của doanh nghiệp và tên doanh nghiệp ởViệt Nam cósựtrùng nhau mặc dùđược điềuchỉnhbởihai văn bản luật khác nhau. Thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp trở thành tên thương mạicủa doanh nghiệp khi doanh nghiệp chính thức hoạtđộngdướitên doanh nghiệpđã đăng ký, doanh nghiệp hoạtđộngsẽsửdụng tênđểxưng danh với khách hàng. Từthờiđiểmđó, thành phần tên riêng của doanh nghiệptrởthành tên thương mại của doanh nghiệp và được bảo hộ theo quy định của Luật SHTT, hiện nay chưa có một văn bản pháp luật nào trực tiếp ghi nhận cụ thể tên doanh nghiệp là tên thươngmạinhưng theo cách quyđịnhcủa Luật SHTT và Luật Thương mại thì chúng ta hiểu rằng tên thương mại chính là thành phần tên riêng của doanh nghiệp, do vậy mỗi doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại.

2.1.3.2. Tên thương mại của doanh nghiệp và nhãn hiệu

Nhãn hiệu và tên thương mại của doanh nghiệp là haiđối tượng được bảo hộ bởi quyền SHTT. Do vậy, giữa chúng có những điểm giống nhau là đều dùngđể phân biệt sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với chủ thểkinh doanh khác. Tuy nhiên, tên thương mại của doanh nghiệp và nhãn hiệu cónhững điểm khác biệt sau:

Một là, việc ghi nhận về cơ sở pháp lý.

So với tên thương mại thì nhãn hiệu được ghi nhận và nhắc đến nhiều hơn trong các vănbảnpháp luật trong và ngoàinước,chẳng hạn: trong Côngước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp có khá nhiều điều khoản ghi nhận vềnhãn hiệu cụ thể là ở các điều 6, điều 6bis, 6ter, 6quater, 7, 7bis; trong khi đó tên thương mại chỉ được ghi nhận trong điều 8 “tên thương mại được bảo hộ ở tất cảcác nướcthành viên mà khôngbịràng buộc phảinộpđơnđăng ký hay phải đăng ký, bấtkểtên thươngmạiđócó tạonên mộtphầncủanhãn hiệu hay không” 112.

Ngoài ra, điều 15 Hiệp định Trips đã quy định:“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác,đều có thể

33

làm nhãn hiệu hàng hoá”115. Hay Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế Nhãn hiệu hàng hoá quyđịnh“đăngký quốc tếkhôngthểđược sửdụngbởimộtthểnhân hoặc pháp nhân không có mối liên hệ cần thiết với một thành viên của Liên minh Madrid, thông qua cơ sở kinh doanh, nơi cư trú, quốc tịch, cũng không thểđược sử dụng để bảo hộ một nhãn hiệu hàng hoá ngoài Liên minh Madrid. Một nhãn hiệu có thể là đối tượng của một đăng ký quốc tế chỉ khi nhãn hiệu đó đãđược đăng ký”113.

Trong văn bản pháp luật quốc gia thì: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịchvụcủa các tổchức, cá nhân khác nhau. Trong khi đó, tên thương mại của doanh nghiệp là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp được sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh làdoanh nghiệp này với chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vựckinh doanh.Mốiquanhệ giữa nhãn hiệu và tên thươngmạicủa doanh nghiệp được quy định tại điểm j, khoản 2 điều 74 Luật SHTT theo đó nhãn hiệu sẽ bị coi là không có khả năng phân biệtnếu “Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việcsửdụng dấu hiệuđócó thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ”.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 điều 78 Luật SHTT thì tên thương mạiđược coi là có khả năng phân biệtnếu“Không trùng hoặc tương tựđến mứcgây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫnđịa lýđãđược bảohộtrước ngày tên thương mại đóđược sửdụng”.

Như vậy, một nhãn hiệu cóthể bị từ chối bảo hộ nếudấuhiệu này là dấu hiệu trùng hoặctương tự đếnmức gây nhầm lẫn với tên thương mại của doanh nghiệp đangđượcsử dụngcủangườikhác và ngượclạitên thươngmạicủa doanh nghiệp cũng sẽ không có khả năng phân biệt đồng nghĩa với việc khôngđượcbảohộdướitên thươngmạicủadoanh nghiệpnếutên thươngmạinày trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãnhiệu đã đượcbảohộ trước ngày tên thương mại của doanh nghiệp đó được sử dụng một cách hợp pháp.

34

Hai là, về tiêu chí phân biệt.

Để đánh giá vềkhả năng trùng hoặc tươngtự gây nhầmlẫngiữa nhãn hiệu với tên thương mại thường được đánh giá bởi các tiêu chí sau đây:

(i) Về mặtdấuhiệu: Nhãn hiệu thường được đánh giá trên cơ sở các tiêu chí như cấutrúc, cách phát âm và cảmquan thịgiác còn tên thươngmạicủa doanh nghiệp là tên gọi của doanh nghiệp

(ii) Về thời hạn bảo hộ: Nhãn hiệu được bảo hộ có thời hạn và có thể gia hạn nhiều lần nhưng chủ sởhữuphải nộp đơn và nộp phí duy trì bảo hộ. Còn tên thươngmạicủa doanh nghiệpđược bảohộkhông xácđịnhthời hạn và không phải nộp phí duy trì bảo hộ.

(iii) Về cơchếxác lập: Tên thương mại của doanh nghiệp được xácđịnh trên cơ sở sử dụng, một doanh nghiệp chỉ được sở hữu một tên thương mại, còn nhãn hiệu xácđịnhtrên cơ sở đăng ký theođơncủachủsở hữuvàmộtdoanh nghiệp có thể sở hữu nhiều nhãn hiệu để kinh doanh.

Theo quy định tại điều 17 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của chính phủ vềđăng ký kinh doanh thì khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp “Không được sửdụng tên thương mại, nhãn hiệu,chỉdẫnđịalýcủatổchức, cá nhânđãđược bảo hộđểcấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừtrường hợp được sựchấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu,chỉ dẫnđịa lýđó”.

Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp thì có thể thấy tên doanh nghiệp cũngsẽ bìtừ chối đăng ký trong trường hợp tên doanh nghiệp nàysửdụng nhãn hiệuđã được bảohộđể cấuthành tên riêng của doanh nghiệptrừtrường hợpđược chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu này. Tuy nhiên, nếu hiểu theo đúng quyđịnhtrên thì những trườnghợptên doanh nghiệp tươngtựvới nhãn hiệu đangđược bảohộsẽkhôngnằmtrong phạm viđiềuchỉnhcủaLuật doanh nghiệp. Ví dụ: Công ty TNHH NEWVISION LAW (Hà Nội) đã sử dụng dấuhiệu “NEWVISION” trong tên doanh nghiệp, biển hiệu, giấy tờ giao dịch tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “VISION” đang được bảo hộ cho Công ty

35

TNHHTầmnhìn và Liên danh (Hà Nội)1, do đó, theo yêu cầucủa Công ty TNHHTầmnhìn và Liên danh, ngày 09/01/2015 Thanh traBộKhoahọcvàCông nghệ đã ban hành quyết định xử phạt hành chính số 03/QĐ- XPVPHC và buộc phải đổi tên theo quy định của pháp luật.

So sánh giữa nhãn hiệu và tên thương mại của doanh nghiệp, dễ thấy rằng một chủ thể kinh doanh có thể được bảo hộ độc quyền sử dụng một, một số hay nhiều, rất nhiều nhãn hiệu nhưng mỗi chủ thể kinh doanh chỉ có thể được bảo hộmột tên thương mại. Điều này cũng giải thích tại sao khoản 2 điều 139 và khoản 1 điều 142 Luật SHTT quy định tên thương mại không được phép chuyển quyền sử dụng (li-xăng) và chỉ được phép chuyển nhượng cùng với sự chuyển nhượng toàn bộ cơ sở và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó49, tr.227.

Sự khác biệt trên cũng đồng thời góp phần giải thích thực tế là tùy thuộc vào nhu cầu gắn với lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh và một số lý do khác,chủthể kinh doanh có thể không đăng ký nhãn hiệu mà sử dụng luôn tên thương mại của doanh nghiệp cho hàng hóa, dịch vụ của mình và như vậy vẫn bảo đảm yếu tốphân biệtchủthểkinh doanhgắnvớicác hoạtđộngthuộc vềchủthểkinh doanh đó, điều này được ghi nhận tại khoản 6 điều 124 Luật SHTT như sau:sửdụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thươngmạiđểxưng danh trong các hoạtđộngkinh doanh, thểhiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm hàng hóa, bao bì hàng hóa, và phương tiện cung cấp dịch vụ quảng cáo”. Nội dung này cóthể được sosánh với quy định tại khoản 5 điều 124 Luật SHTT quy định“gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa”.

2.1.3.3. Tên thương mại của doanh nghiệp và thương hiệu

Thương hiệu là mộttrong các nhântốquan trọng góp phần duy trì, mở rộng, phát triển thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp, nâng cao văn minh thương mại, góp phần chống cạnh tranh không lành mạnh. Trong bối

1 Bộ khoa hoc và Công nghệ, Thanh tra bộ quyết định số 127/QĐ –TTra ngày 31 tháng 10 năm 2014 về việc thanh tra về quyền sở hữu công nghiệp.

36

cảnhhộinhập kinhtếquốctế của nước ta, các doanh nghiệpđứngtrước việc cạnh tranh gay gắt, nhất là khi có nhiều hàng hóa của nước ngoài thâm nhập vào thịtrường Việt Nam. Vì vậy,điềucầnthiết là các doanh nghiệp phải xây dựng thương hiệu cho hàng hóa của mình. Hiện nay, thuật ngữ thương hiệu đang được sử dụng rộng rãiở ViệtNam. Tuy nhiên đang tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau xoay quanh thuật ngữ này. Trong văn bản pháp luật của Việt Nam không có thuật ngữ thương hiệu mà chỉcó các thuật ngữ liên quan khác trongđócónhiều quan điểm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp

Do vậy, có thể hiểu thương hiệu là một hoặc tập hợp các ký hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Các ký hiệu này có thể là chữ, ký tự, đường nét, màu sắc. Trên thựctế,các thương hiệu được sử dụng rộng rãi và không buộc phải đăng ký, tuy nhiên, để được bảohộtheo pháp luật thì thương hiệu phảiđược đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền60, tr187.

Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketting Hoa Kỳ [139]: Thương hiệu làmột cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố kểtrên nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của một (hay một nhóm người bán) và phân biệt sản phẩm (dịchvụ) đó vớicác đốithủcạnh tranh.

Một thương hiệu có thể được cấu tạo bởi hai phần: (i) Phát âmđược:Lànhững yếu tố có thể đọc được và tácđộng vào thính giác của người nghe như tên công ty (vídụ:Unilever), tênsảnphẩm (Dove), câu khẩu hiệu (nâng niu bàn chân Việt), đoạnnhạc đặctrưng và cácyếutốphát âmđượckhác; (ii) Không phát âmđược:Là nhữngyếutốkhôngđọcđược mà chỉ cảmnhận được về thịgiác như hình vẽ, biểu tượng (ví dụ hình lưỡi liềm của nhãn hiệu Nike), màu sắc (màu đỏcủa Coca-Cola), kiểu dạng thiếtkế,bao bì (kiểu chainước khoáng Lavie) và các yếu tố khác biệt khác.

37

Ở ViệtNam, khái niệm thương hiệu được hiểu rộng hơn nhiều, nó có thểlà bất kì cái gì được gắn liền với sản phẩm hoặc dịch vụ, logo, biểu tượng, màu sắc, kiểu thiếtkế,bao bì và các yếu tố phân biệt khác trên cơ sở phân biệt thuộc tính của sản phẩm, thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách hàng. Thương hiệu là mộtthuật ngữ phổbiến trong marketing thườngđượcngười ta sử dụng khiđềcậptới: Nhãn hiệu hàng hóa; Tên thươngmạicủa tổchức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh thương hiệu doanh nghiệp; Chỉ dẫn các địa lý với tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Sự khác biệt cơ bản giữa tên thương mại của doanh nghiệp và thương hiệu là thương hiệu có nội hàm rộng hơn nó có thể bao gồm các đối tượng sở hữu trítuệ như: Nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa,chỉ dẫnđịa lý, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền.

Cóthểnói, dướigóc độkinhtế:thương hiệu là hình thức thểhiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong cho sản phẩm hoặc doanh nghiệp. Thương hiệu tạo ra hình thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. Giá trị một “thương hiệu” là triển vọng thuận lợi mà thương hiệu đó có thể đem lại thuận lợi cho nhà đầu tư trong tương lai. Nói cách khác, thương hiệu là sản phẩm vô hình của doanh nghiệp mang lại giá trị kinh tế to lớn.

Qua nhữngđặctrưng cơ bảncủatên thươngmạicủa doanh nghiệp, tên của doanh nghiệp, nhãn hiệu, thương hiệu cho thấy giữa các đối tượng này mặc dù có điểm giống nhau, song điều kiện bảo hộ và đặcđiểmlà không giống nhau, là các đối tượng hoàn toàn độc lập, trong đó tên thương mại của doanh nghiệp vànhãn hiệu làđối tượng bảohộ được quy định cụ thể trong Luật SHTT.

2.1.4. Vai trò và ý nghĩa của tên thương mại đối với doanh nghiệp – Vai trò của tên thương mại.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, để cóthểcạnh tranh với các đốithủcủa mình trong khuvựcvà trên thế giới, các doanh nghiệpnướcta cầnphải nhận thứcđầyđủvà trangbịcho mình hiểu biếtcần

38

thiếtvề tàisảntrí tuệ để xây dựng chiếnlược phát triển phùhợpcho doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có được những lợi thế cạnh tranh nhưmong muốn trênthịtrường trong và ngoàinước,có nhiều lợi ích manglạisau khi doanh nghiệpđã xây dựng cho mìnhđược mộtchiếnlượcphát triển tên thương mại phù hợp44, tr.215-216.

Tên thương mạicủa doanh nghiệp là mộtthànhtốgóp phần vàosựphát triển và sự thành đạt của doanh nghiệp, nó là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường. Ghi nhận và bảo hộ tên thương mại là phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và thông lệ quốc tế,đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc bảo hộ tên thương mại đã và đang đem lại giá trị kinh tế.

Chính từ giá trị tài sản vô hình của tên thương mại mà chúng ta không thểđịnh giá một cách dễ dàng như tài sản hữu hình, muốn khẳng định, đánh giá giátrị của tên thương mại cần xem xét các yếu tố sau:

(i) Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường: Tên thương mại nổi tiếng có thểgiúp doanh nghiệp đạt được các vị thế dẫn đầu trong ngành nghề, lĩnh vực mà nótham gia,ngườitiêu dùngsẽbịthu hút mạnhmẽbởidanh tiếngcủanó.Sựnổi tiếng còn tạo ra sự bền vững về vị thế và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường, tạo ra sự linh hoạt chủ động của chủ sở hữu trong kinh doanh.

(ii) Giá trị về kinh tế của tên thương mại: Tên thương mại nổi tiếng sẽ làm tăng giá trị sản phẩm trên thị trường, đảmbảo mứcđộ pháttriển an toàn và lâu dài cho doanh nghiệpđồngthời tạocơ hộicho doanh nghiệphộinhập vàothịtrường thế giới.

(iii) Uy tín đối với bạn hàng: Tên thương mại nổi tiếng sẽ ghi dấu ấn tốtđốivới bạnhàng, khi nhắc tới sảnphẩm của doanh nghiệp người ta nhớ ngayđến lợi ích mà sản phẩm mang lại cũng như doanh nghiệp sở hữu sản phẩm đó.

– Ý nghĩa của tên thương mại.

Ghi nhận và bảo hộ tên thương mại là phù hợp với sự phát triển kinh tế xãhộicủa đấtnướcvà thônglệquốc tế.Thời gian qua, tên thươngmạiđã khẳng

39

địnhđược vai tròcủamìnhđốivớisựphát triểncủadoanh nghiệp,đặcbiệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc bảo hộ tên thương mại có ý nghĩa quan trọng như sau:

Đốivớingườitiêu dùng: Việc ghi nhận và bảohộtên thươngmạicủa doanh nghiệp giúp cho các chủ thể xácđịnh rõnguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm,

từđótạora niềm tin cho khách hàng, tạođiềukiện chongườitiêu dùng giảm thiểu những chi phí tìm kiếm sản phẩm. Tên thương mại của doanh nghiệp có ýnghĩa quan trọngvớingườitiêu dùng,đólà làm thayđổinhận thức và kinh nghiệm của họvềsảnphẩm, đồngthời góp phầnbảovệquyềnlợichính đáng của ngườitiêu dùng, tên thương mạiđược bảohộsẽngăn ngừa tình trạng sản phẩm bị làm giả, điều này góp phần đảm bảo công bằng trong xã hội.

Đối với doanh nghiệp: Bảo hộ tên thương mại là khẳng định được vị trí của mình trên thương trường. Ngoài ra, tên thương mại còn là công cụ để phân biệt sản phẩm, phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, tên thươngmạigóp phần làm nên thương hiệuđểkhẳngđịnhvịthếtrong thương trường và niềm tin đối với khách hàng.

Đốivớiquốc gia: Tên thươngmạicủa doanh nghiệpđược xây dựng và khẳngđịnhlà điềukiệnđểthúc đẩysựphát triển kinhtếxã hộicủa quốc gia, doanh nghiệp thành đạt, nổi tiếng là biểu tượng của quốc gia. Trong xu thế hội nhập, việc bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp là việc làmcần thiết để bảo vệ sự phát triển kinh tế quốc gia “xây dựng thương hiệu là một trong những cơchếquan trọng nhấtđốivớicác doanh nghiệpđểđảmbảolợinhuận vào việc đổi mới sản phẩm” 145.

2.2. Khái niệm, đặc điểm và nội dung pháp luật về tên thƣơng mại của doanh nghiệp

2.2.1. Khái niệm pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp

Pháp luậtvềtên thươngmạilà mộtchế định quan trọng của phápluật vềSHTT, nó baogồmmộtnhóm quy phạm pháp luật (được quy định trong nhiều

40

vănbảnpháp luật khác nhau)điềuchỉnh cácvấnđềliên quanđếntên thương mại của doanh nghiệp bao gồm:

Theo điều 2 Công ước Stockholm ngày 14/7/1967 – Công ước thành lập Tổchức sởhữutrítuệthếgiới (WIPO)địnhnghĩa quyền SHTT bằng cáchđưara danh sách khônghạnchếcác đốitượngcủa nó“QuyềnSHTT baogồmcác quyền liên quan tới: Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; Việc thực hiện biểu diễn nghệ thuật, phát thanh, ghi âm, truyền hình; Các sángchếtrong mọi lĩnh vực đời sống của con người; Các phát minh khoa học; Kiểu dáng công nghiệp; Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thươngmạivà chỉdẫn thương mại;Bảohộchống cạnh tranh không lành mạnh; và tấtcảcác quyền khácbắtnguồntừhoạtđộngtrítuệtrong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hay nghệ thuật.

ỞViệt Nam, theo quyđịnhcủapháp luật dânsự,quyền SHTT là một loại quyền đặc thù, các đối tượng của quyền SHTT là các tài sản phi vật chất, là những sản phẩm có tính sáng tạo tinh thần, kết tinh của trí tuệ con người vàdo nhữnglợiích vật chất của chúng mà pháp luật thừa nhận chúng là tài sản [71, tr.15-16]

Theo nghĩa khách quan: pháp luật về quyền SHTT đối với tên thương mại là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật để điểu chỉnh những quan hệxã hội phát sinh sau khi con người tạo ra tên thương mại, Nhà nước tổ chức các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácchủsử dụng hợp pháp tên thương mại và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng tên thương mại.

Pháp luật về quyền SHTT đối với tên thương mại của doanh nghiệp gồm:

Nhà nước ban hành các văn bảnpháp luậtvề tên thương mại;vấnđề xác lập quyền; các phương thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tên thương mại (bảo vệ quyền).

Theo nghĩa chủ quan: pháp luật về bảo hộ quyền SHTT nhằm đảm bảo cho chủ sở hữu có vị trí độc quyền về sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, để bồi

41

hoàn côngsứccủa họvà thu lợi nhuận. Với ýnghĩa này, quyền sở hữucông nghiệp đối với tên thương mại là quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc xác lập quyền đối với tên thương mại, dựa trên hành vi sử dụng tên thương mạicủa các chủ thể. Các quyền chủ quan này phải phù hợp với pháp luật quyền sở hữu công nghiệp nói chung và pháp luật về tên thương mại nói riêng [22].

Bản chất quy định pháp luật về quyền đối với tên thương mại là khả năng bảo đảm cho chủ thể tham gia vào các giao dịch dưới tên thương mại của mình. Trên cơ sở đó, một đặc điểm quan trọng của chế độ pháp lý đối với tên thương mại là quyền đối với tên thương mại mang tính chất đặc quyền. Chủ thể có độc quyền khai thác tên thương mại của mình với điều kiện việc khai thác đó phải phù hợp với quy định của pháp luật. Quyền đối với tên thương mại mang tính chất tuyệt đối, các chủ thể khác có nghĩa vụ không vi phạm tên thương mại đó và không được cản trởchủ sở hữu thực hiện các quyền của mình đối với tên thương mại.

Ngoài ra, nếu như pháp luật thường dành sự bảo hộ cao hơn đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì trong khoa học pháp lý không tồn tại khái niệm tên thương mại nổi tiếng và chế độ bảo hộ cao hơn đối với những tên thương mạiđược biếtđến một cách rộng rãi, có uy tín hơn cũng không tồn tại.

Trong khoa học pháp lý còn tồn tại quan điểm cho rằng quyền đối với tên thương mại như một loại quyền nhân thân không mang tính tài sản, theo ý kiến của tác giả thì cũng không thể không đồng ý với cách nhìn nhận như vậyvề bản chất pháp lý của loại quyền này. Bởi quyền đối với tên thương mại luôn gắn bó

một cách hữu cơ với uy tín kinh doanh, với quyền bảo vệ danh dự… của các chủthể. Vì vậy, mối liên quan, thậm chí phụ thuộc của tình trạng kinh tế của người kinh doanh vàomứcđộnổitiếng của tên thương mại, vào cách nhìn nhận của ngườitiêu dùng, bạn hàng vào mứcđộ nổi tiếngcủa tên thương mại cũng mang tính chất hiển nhiên và rõ ràng. Do đó tên thương mạithường được đánh giá cụthể trong thành phần những tài sản vô hình của chủ thể kinh doanh, còn những vi phạm đối với tên thương mại thì có thể là căn cứ xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại [67].

42

Từ các vấnđề lý luận pháp lý liên quan đến tên thương mại, chúng ta cóthể đưara một khái niệm cụ thể như sau: pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp là tổng hợp một nhóm các quy định của pháp luật như Dân sự, Thương mại, Sở hữutrítuệvà các văn bản pháp luật khác có liên quan điều chỉnh các quanhệ làm phát sinh, thay đổi, chấmdứtvềquyền và nghĩavụ củadoanh nghiệp đối với tên thương mại trong quá trình xác lập, thực hiệnvà bảo vệđối với tên thương mại của doanh nghiệp.

2.2.2. Đặc điểm pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp – Về chủ thể

Tên thươngmạicủa doanh nghiệplà đốitượng sở hữucông nghiệp được xáclập tự động dựa trên thực tế khai thác và sử dụng. Chủ thể của pháp luật vềtên thương bao gồm:

(i)Chủsởhữutên thươngmạilà những doanh nghiệp đang thực tếsửdụng, khai thác tên thương mại đó và nếu có tranh chấp xảy ra thì họ phải chứng minh được quyền hợp pháp của mình trước các đối thủ cạnh tranh.

(ii)Ngườiđược chuyển giao quyềnsởhữuthông qua hợpđồngchuyển nhượng tên thương mại hoặc thông qua nhận di sản thừa kế.

– Về đối tượng điều chỉnh

Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ pháp luật liên quan đến quá trình xác lập, sử dụng và bảo vệ quyềnđối với tên thương mại bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.

Quan hệ tàisảncủa tên thươngmạicủa doanh nghiệp là quanhệ giữa doanh nghiệpsử dụng tên thươngmạiđóvới các chủthể khác trong quá trình thực hiện quyền tài sản của doanh nghiệp như: (i) quyềnsửdụng, cho phép người khác sử dụng tên thương mại theo quy định của pháp luật; (ii) Ngăn cấm người khác sử dụng tên thương mại của doanh nghiệp; (iii) Định đoạt tên thương mại của doanh nghiệp theo quy định của pháp luât. Những quan hệ tài sản từ việc thực hiện quyền tàisảnđối với tên thương mại của doanh nghiệp sẽ manglạilợiích vật chất cụ thể mà doanh nghiệp có thể tính toán, dự báo được.

43

Quan hệ nhân thân của tên thương mại đối với doanh nghiệp đó là quan hệgiữa doanh nghiệpsửdụng tên thươngmạiđóvới các chủthể khác trong quátrình thực hiện quyền nhân thâncủatên thươngmạicủadoanh nghiệp. Tên thương mại là đối tượng của quyền SHTT do vậy nó cũng có đầy đủ các quyền nhân thân đốivới doanh nghiệp đólà: quyền tác giả (quyền của chủsở hữu) ngườiđã tạo ra tên thương mại có quyền bảo vệ để tên thương mại không bị xâm phạm, xuyên tạc, làm giả, làm nhái; có quyền được công nhận là tác giả của tên thươngmạivì việc lựa chọn đặttên thương mạicủa doanh nghiệp không đơn giản mà phải có sự đầu tư, nghiên cứu và kỳ vọng.

Có thể nói, đốitượngđiều chỉnh của pháp luậtvề tên thươngmạicủa doanh nghiệp là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Quan hệ nhân thân xuất hiện khi doanh nghiệpsử dụng tên thươngmạiđể xưng danh, kể từ đódoanh nghiệp có quyền và nghĩa vụbảovệ tên thươngmạicủamình còn quanhệ tài sảncủa tên thương mại có thể xuất hiện cùng quan hệ nhân thân nhưng cũng cóthể xuất hiện sau khi tên thươngmạiđã được khẳng địnhvịthế trên thịtrường hoặc khi được chuyển giao.

– Về nguồn luật áp dụng

Do tính chấtđặcthù của tên thương mại nên luật áp dụng trong quá trình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thực hiện dựa trên 2 hệthống là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Cho đến nay, các cam kết tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam, các điều ước quốc tế đang có hiệu lực tại Việt Nam đã và đang từng bước được thực hiện có kết quả, bảo vệ được quyền, lợi ích của công dân và thực hiện nghĩa vụ pháp lý khi sử dụng các sản phẩm trí tuệ của công dân, pháp nhân các nước thành viên. Trong các quy định đó có một số nội dung liên

quan đến quyền SHTT mà tên thương mại của doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh. Vì vậy, khi áp dụng các quyđịnhcủa pháp luậtđể giải quyết, trong những trườnghợpcụthể chúng ta cầnphải áp dụngcảquyđịnhcủa các văn bản nói trên để đảmbảo tính hiệu quả và phù hợp «Trong trường hợp quy định của pháp

44

luật Việt Nam không phùhợpvớiquyđịnhcủaHiệpđịnhthànhlậpTổchức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm”[77].

– Về cơ chế bảo vệ và giải quyết tranh chấp

Theo quy định của pháp luật hiện hành, bảo vệ quyền của doanh nghiệp dối với tên thương mại và giải quyết các tranh chấp thì các chủ thể có thể lựa chọn các biện pháp sau: biện pháp hành chính, biện pháp dânsự,biện pháp hình sự, biện pháp kiểm soáttạibiên giới và biện pháp tự bảo vệ. Tuy nhiên, với nhữngđặc điểm riêng biệt về tên thương mại của doanh nghiệp và thực tế giải quyết các tranh chấp liên quanđếntên thươngmạicủa doanh nghiệp cho thấy: hiện nay các biện pháp mà doanh nghiệpsửdụngphổbiến nhấtđólà biện pháp hành chính và biện pháp dân sự. Đa số các doanh nghiệp khi phát hiện ra tên thương mạicủa mình bị xâmhạithì cách thứcđầutiên mà doanh nghiệp sử dụng đó làchủ động yêu cầu bên có hành vi vi phạm chấm dứt, tuy nhiên do tính cưỡng chếkhông có nên rất nhiều trường hợp cố tình vi phạm dẫn đến gây thiệthạilớncho doanh nghiệp. Ví dụ: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ truyền thông VTV (quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh,đượcthành lập năm 2011) đãsửdụng dấu hiệu VTV trong thành phần phân biệt của tên doanh nghiệp, trên danh thiếp, tên website, phương tiện quảng cáo cho dịch vụ truyền thông, sản xuất phim vàquảng cáo có dấu hiệu xâm phạm quyền đồi với nhãn hiệu VTV đang được bảo hộchoĐàiTruyền hình Việt Namtừnăm 2004. TheođơnyêucầucủaĐài Truyền hình Việt Nam, Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành quyết

địnhthanh tra số 23/QĐ –TTr về việc thanh tra Kết quả xử lý là yêu cầu Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ truyền thông VTVđổi têndoanh nghiệp, đổi tên website códấuhiệu VTV vàxửphạt hành chính theo quyđịnhcủapháp luật [11]. Do vậy, để đảmbảo tính hiệu quả cho việc thực thi quyềnđốivới tên thươngmạicủa doanh nghiệp thì khi phát hiện ra hành vi vi phạmđốivới tên thươngmạicủa doanh nghiệp mình, doanh nghiệpsẽ yêu cầucơ quan quản lý

45

nhà nước hỗtrợ bảovệ bằng biện pháp hành chính, biện phápxử phạt hành chính được áp dụng là yêu cầuchấmdứthành vi vi phạm và có thể bịxử phạt

bằng hình phạt tiền…

Tuy nhiên, nếu tên thương mại của doanh nghiệp bị xâm phạm và gây thiệt hạilớnvềuy tín, thương hiệu, tàisảnthì khiđódoanh nghiệp có thể lựachọn biện pháp kiện dânsự để yêucầubồithường thiệt hại. Biện pháp nàyđược áp dụngsẽbùđắpđược mộtphần thiệthạivềnhân thân của doanh nghiệp thông

qua việc xin lỗi, cảichính… và bùđắptổnthấtvậtchấtvề tàisảnmà doanh nghiệpđã phải gánh chịu trong thời gian tên thương mạibịxâm phạm. Biện pháp này linh hoạt và manglạihiệu quả cao nên thường xuyênđược sử dụng trong thực tế.

Như vậy, trong nền kinh tế thị trường với đặc tính cơ bản là cạnh tranh nhưhiện nay, thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâmđến việctạo ra công cụ pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tên thương mại, bởi lẽ,sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp là tiền đề cho một nền kinh tế lớn mạnh.

2.2.3. Nội dung pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\PHÁP LUẬT VỀ TÊN THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Pháp luật về tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *