MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu luận án
Trong TTHS có nhiều mối quan hệ tố tụng hình thành trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xétxử và thi hành án hìnhsự nhưngmốiquanhệ tốtụng giữa CQĐT và VKS là mối quan hệ tố tụng đặc biệt giữa hai cơ quan cùng thực hiện chức năng buộc tội. Do đó, mốiquanhệ này xuất hiệnrấtsớmcùng với hoạtđộngbuộctộivà tácđộngđếnhoạt động, kếtquả củatoànbộquá trình TTHS. Thực hiện tốt mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS là yếu tố bảo đảm cho các hoạt động buộc tội chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; góp phần hạn chế oan, sai, bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con người, quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong TTHS.
Tronghệthống CQĐT, CQCSĐT giữvai tròrấtquan trọng, chịu trách nhiệm thụ lý, điều tra các loại tội phạm quy định ở 262/314 điều luật quy định về
tộiphạmcụthểtrong BLHS (83,4%), tươngứngvới phầnlớnsốVAHS được phát hiện trong toàn quốc. Theo thống kê của BộCông an trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm CQCSĐT tiếp nhận, thụ lý, giải quyết hơn 78.500 nguồn tin về tội phạm (chiếm khoảng 93% của cả nước); mỗi năm khởi tố, điều tra 70.000 vụ án với 100.000 bị can (chiếm khoảng 95% tổng số VAHS, 97% tổng số bị canđã phát hiện, khởi tố của cả nước) [73, tr.21]. Chất lượng hoạt động điều tra của CQCSĐT có nhiều chuyển biến tích cực; tỉ lệ án kết thúc điều tra đề nghị truy tốtăng,đãđiềutra, khám phá nhiều chuyên án, vụánlớnđặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có liên quanđếntộiphạm có tổ chức,tộiphạmvềma túy, buôn lậu,
giết người,…Tuy nhiên, hoạt động điều tra của CQCSĐT còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, để xảy ra tình trạng khởi tố, điều tra oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc bức cung, nhục hình, xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; làm giảm lòng tin của nhân dân vào hoạt động tưpháp, tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS chậmđược đổimớitheo yêucầucảicách tư pháp; cơ chếphối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan này chưa thực sựhợplý nên chưa phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong TTHS; quyđịnh pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của CQCSĐT, VKSND trong hoạtđộng khởi tố, điều tra còn nhiều vướng mắc, bất cập nên hiệu quả công tác phối hợp chưa cao…
Xuất pháttừ thựctiễn trên, trong điều kiện thực hiện cải cách tư pháp, xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN và hộinhập quốc tế,Đảngvà Nhà nước ta rấtquan tâmđến việchoàn thiện chức năng, nhiệmvụcủa CQĐT và VKSND,đặc biệt là mối quan hệ giữa hai cơ quan này trong TTHS. Nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng đề cậpđến việctăngcườnghiệu quả quanhệ tốtụng giữa CQĐT vàVKSND như: Nghị quyếtsố49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChínhtrịvề
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW); Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghịquyếtsố49-NQ/TW (Kết luậnsố92-KL/TW), Văn kiệnĐạihộiĐảnglầnthứXI, XII. Gầnđâynhất, trong phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương
Đảng khóa XI trình Đại hội XII xácđịnh: “…tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” [35]. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 bên cạnh việc tiếp tục khẳngđịnhVKSND THQCT và kiểm sát hoạtđộngtư pháp còn nhấn mạnh VKSND có nhiệmvụ:“Bảovệquyền con người, quyền công dân”.Thểchế hóa các quan điểm của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Luậttổchức VKSND năm 2014, Luậttổchức CQĐT hìnhsựnăm 2015 vàBLTTHS năm 2015 đã quy định về chức năng, nhiệm vụ của CQCSĐT và VKS
đầyđủ, cụthể hơn; vídụ:bổsung quyđịnhvề THQCT và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; mở rộng các hoạt động điều tra bắt buộc KSV phải cómặtlà:đốichất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét, thực nghiệmđiềutra;bổsung thẩm quyền của VKS đốivớiviệc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Bên cạnh đó, còn nhiều quy định mới khácvề tổchức,bộmáy, vị trí, vai trò của CQCSĐT, VKSND trong TTHS làm phát sinh nhiềuvấnđềmớitrong quan hệgiữa CQCSĐT và VKSND nhưng chưa được nghiên cứu làm rõ.
Từ những lý do trên,để từngbước thực hiện có hiệu quả chủtrương cải cách tư pháp của Đảng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng mối quan hệ
tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luậtvề mốiquan hệgiữa hai cơ quan này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS. Vì vậy, NCS lựachọnvấnđề:“Mốiquanhệ tốtụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sựViệt Nam hiện nay” làmđề tàiluận án tiến sĩ luật học, ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 9.38.01.04.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần làm sáng tỏ hơn những vấnđề lý luận của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS; đánh giá thực trạng mối quan hệ tố tụng này theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành ở Việt Nam; qua đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS theo định hướng cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và hội nhập quốc tế.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
– Tổng quan tình hình nghiêncứuvềmốiquanhệtốtụng giữa CQĐT vàVKSND ở nước ngoài và ở Việt Nam; những kết quả đạt được và những vấn đềđặt ra cần tiếp tục nghiên cứu.
– Phân tích mô hình,đặc trưng của TTHS Việt Nam;vịtrí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQCSĐT và VKSND; xây dựng khái niệm, xácđịnh đặc điểm, hình thức,nộidungmốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
– Đánh giá các yếu tố liên quan đến việc thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS; thực trạng quan hệtốtụng này trong hoạt độngtiếp nhận, giải quyết nguồn tinvềtộiphạm, khởi tố, điềutra VAHS; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tương trợ tư pháp về hình sự, những ưu điểm, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế.
– Làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS trong quá trình thực hiện các quan điểm, chủtrương của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, các quy định mớicủa Hiến pháp năm 2013 và pháp luật có liên quan đếntăngcườngtrách nhiệm của côngtốtrong hoạtđộngđiềutra;đềxuất phương hướng, giải pháp, nhiệm vụ tăng cường,đổimớimối quan hệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam hiện nay.
Đốitượngnghiêncứucụthể, trực tiếp của luận án là tình hình, kếtquảnghiêncứuvềmốiquan hệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND; khái niệm, đặc điểm, hình thức,nộidung của mốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS và thực tiễn áp dụng; quan điểm, chủtrương của Đảngvềhoàn thiện mối quan hệ tố tụng này trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận ánđược nghiên cứu mốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam theo quyđịnhcủapháp luật hiện hành,từ khi CQCSĐT, VKSND tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi nhiệm vụ điều tra VAHS hoàn thành và trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về TTHS.
Luận án nghiên cứu, đánh giá thực trạng mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong thời gian 10 năm(từnăm 2008đếnnăm 2018). Sốliệu trong luận án được thu thập chủ yếu từ Cục thống kê tội phạm VKSND tối cao và Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; cơ sở lý luận của khoa học luật Hình sự và TTHS.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành và bảo đảm chất lượng luận án, trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra khảo sát, hệ thống hóa phù hợp với từng nội dung của luận án, cụ thể như sau:
– NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm trình bày, làm rõ các quan điểm, quan niệm khoa họcvềmốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKS (có quốc gia gọi là cơ quan Công tố); pháp luật của một sốnước ngoài về nội dung này. Trên cơ sở đó, NCS làm rõ kháiniệm, đặcđiểm, hình thức, nộidung, cơ sở pháp lý của mốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS (các chương 1, 2).
– NCS sửdụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sửđểnghiên cứu, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam; đánh giá thực trạng mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS từ khi triển khai Nghị quyết số 49-NQ/TW, làm rõ ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chếtrong việc thực hiệnmốiquanhệtốtụng này. NCS cũngsửdụng phương phápđiềutra khảo sátđể tìm hiểu nhận thức, quanđiểmcủa các nhà chuyên môn, ĐTV, KSV về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS (Chương 3).
– NCS sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, dự báo để làm rõ các yếu tốcác yêucầuđốivới mốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS thời gian tới; tổng hợp kết quả nghiên cứu, trình bày các quan điểm, chủtrương của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và đề xuất định hướng, giải pháp, nhiệm vụ đổi mới, hoàn thiện mối quan hệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Namđápứngyêu cầu của tình hình mới (Chương 4).
– Phương pháphệ thống hóa,được sử dụng trong toànbộluận án nhằm trình bày các vấnđề,các nộidung trong luận án theomộttrìnhtự,mộtbốcục hợplý, chặt chẽ, cósự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấnđề,các nội dung đểđạt được mục đích, yêu cầu và nhiệm vụđã được xácđịnh cho luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
– Luận án làm rõ hơn cácvấnđềlý luậnvềmốiquanhệtốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay như: khái niệm, đặcđiểm, nội dung, hình thức của mối quan hệ tố tụng.
– Luận án phân tích, làm rõ các yếutốtác động, chi phốimốiquanhệ tốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS ở Việt Nam trong điều kiện nước tađang thực hiệncảicách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và hội nhập quốc tế.
– Khảo sát, đánh giá thực trạngmốiquanhệ tốtụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay để làm rõ những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế của mối quan hệ tố tụng này.
– Đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện mối quan hệtốtụng giữa CQCSĐT vàVKSND trong TTHS Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về lýluận, thực tiễn mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt
Nam hiện nay; đề xuất định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới, hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS để góp phần thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCNđược ghi nhận trong văn kiệnĐạihộilần thứ XI, XII của Đảngvà Hiến pháp năm 2013.
Kếtquả nghiên cứu của luận án cung cấp các luận cứ khoa học cho các nhànghiên cứu, những người làm công táclậppháp tham khảo khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS, về tổchức CQĐT hìnhsự và VKSND, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng điềutra, truy tố, xétxử,góp phần hạnchếoan, sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong TTHS.
Luận án là công trình nghiêncứucó giá trịphục vụcho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật TTHS, điều tra hình sự trong các cơ sở đào tạo về pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận ánđược kết cấu thành 4 chương; cụ thể là:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án Chương 2. Nhữngvấnđềlý luận vềmốiquanhệtốtụng giữa Cơ quan
Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
Chương 3. Thực trạng mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
Chương 4. Hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra vàViện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Qua nghiêncứucác công trình có liên quanđếnnộidung của luận ánđãđượccôngbốởngoàinước và trongnước đã phân tíchở trên, NCS cómộtsốnhận xét, đánh giá như sau:
– Các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây đã luận giải, phân tích về khái niệm, đặcđiểm, nộidung, hình thức, tính chất, khái quát quá trình hình thành, phát triển mối quan hệ giữa CQĐT nói chung và VKSND trong hoạtđộngđiều tra VAHS.
– Các công trình nghiên cứu, làm rõ cơ sở pháp lý của Việt Nam và nước ngoài về mối quan hệ giữa CQĐT và VKS/cơ quan Công tố trong TTHS; đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam về mối quan hệ tố tụng này từ năm 2005 trở về trước, qua đó bình luận, đánh giá về những ưu điểm và vướng mắc, bấtcập, đồngthời đề xuấtcác giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện mối quan hệ tố tụng này trong thời gian tới.
– Nhữngkếtquảnghiêncứucủacác công trìnhđãcôngbốcó ý nghĩa quan trọng và có thể tham khảo khi NCS thực hiện luận án là khái niệm, đặc điểm, cơ sởpháp lý, hình thức, nội dung mối quan hệ CQĐT và VKSND trong điều tra VAHS.
Bên cạnh những kếtquả đạtđược,các công trình nghiên cứu nêu trên chưađề cập, làm rõ những vấn đề sau đây:
– Tuyđã cómộtsốcông trình, bài viết khoa học ở trongnướcvà ở nước ngoài nghiêncứuvề mốiquan hệ tốtụng giữa CQĐT và VKS nhưng chưa cócông trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND không chỉ trong hoạt động điều tra mà trong toàn bộ quá trình TTHS
24
được hình thành trên các quan điểm mới của Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, quy định mới của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, Luật tổ chức VKSND năm 2014, Luậttổ chứcCQĐT hình sự năm 2015 và những thayđổicủa mô hình TTHS Việt Nam hiện nay; chưa làm rõđược nguyêntắcphân công, phối hợp, kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan tiến hành TTHS trong mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND.
-Từ khi thực hiện Chiếnlược cảicách tư pháp theo Nghị quyếtsố49- NQ/TW đến nay, chưa có công trình nào đánh giá, tổng kết toàn diện về việc thi hành các quyđịnhcủa pháp luậtvề mốiquan hệ tốtụng giữa CQCSĐT vàVKSND trong TTHSđể đánh giá chính xác, khách quan những thuận lợi, khókhăn, vướngmắcvà đề ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, điều tra, truy tố, bảovệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích của cánhân, tổ chức trong TTHS, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
– Các công trình đã công bố mới chỉ dừng lại ở việc đề xuất hoàn thiện mang tính định hướng cần sửa đổi, bổ sung quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐT, VKS trong BLTTHS nhưng còn thiếu các giải pháp có tính căn cơ, toàn diện để hoàn thiện, đổi mới quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKS trong TTHS, vừabảođảmnguyêntắcphân công, phốihợpvà kiểm soát quyềnlựcnhànước trong TTHS,vừađồngbộ,thống nhấtvớihệthống pháp luật trongnước,tương thích với pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xãhội của Việt Nam hiện nay.
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiêu cứu trong luận án
Từ nhận xét tổng quan nêu trên, vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu luận án là: (1) Nghiên cứu, làm rõ quanđiểmcủa Đảngvề cảicách tư pháp, xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, các quyđịnhcủapháp luật TTHS, tổchức VKSND, tổchức CQCSĐT đểxây dựng khái niệm, đặc điểm nội dung, hình thức, làm rõ tính chất và yếu tố cấu thành mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay; (2) Phân tích, làm rõ mô hình, đặc trưng mô hình TTHS Việt Nam hiện nay, vịtrí, chức năng, nhiệmvụ,quyềnhạncủaCQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt
25
Nam nhằm làm rõ cơ sở của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND; (3) Khảo sát, đánh giá thực tiễn thực hiện quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam hiện nay; (4)Đềxuất giải pháp góp phần hoàn thiện mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND theo định hướng cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế.
Kết luận Chƣơng 1
Mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS trong TTHS là mối quan hệ đặc biệt, có ý nghĩa quan trọngđốivới toàn bộ quá trình TTHS, góp phần làm cho hoạtđộngđiều tra, truy tố, xétxử đúng pháp luật, khách quan, chính xác. Mối quan hệ tốtụng này cũng là biểu hiện củanguyêntắcphân công, phốihợpvàkiểm soát quyền lực trong TTHS, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân từ phía cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành TTHS. Qua tập hợp, nghiêncứucho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, bài viết trong và ngoàinước đề cậpđếnmốiquan hệ tốtụng giữa CQĐT và VKS trong TTHS dưới nhiều góc độ khác nhau như: chính trị, pháp luật, điều tra hình sự, lịch sử nhà nước và pháp luật,… Tuy nhiên, từ khi thực hiện Chiếnlượccảicách tư pháp theo Nghị quyếtsố49-NQ/TW của BộChính trị đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt, đầy đủ về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong toàn bộ quátrình TTHS và đưa ra nhiệm vụ, giải pháp tăng cường, đổi mới mối quan hệ theođịnhhướngcảicách tư pháp, phùhợpvới quyđịnhmới của Hiến pháp năm 2013, đápứngyêucầuxây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân và hội nhập quốc tế.
Từ thực trạng trên, việc nghiêncứuđềtài:“Mốiquanhệ tốtụng giữa Cơquan Cảnh sátđiềutra và Viện kiểm sát nhân dân trongtốtụng hìnhsựViệt Nam hiện nay” cóý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần cung cấp cứ liệu khoa học cho việ hoàn thiện mối quan hệ TTHS quan trọng này.
26
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ TỐ TỤNG GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Mô hìnhtố tụng hình sự và một số vấn đềvề môhình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
2.1.1. Mô hình tốtụng hình sự thẩm vấn và mô hình tốtụng hình sựtranh tụng
Mô hình TTHS hiểumộtcách chung nhất là cách thứctổchức hoạtđộng TTHS hayđólà cách thứcđể tìm ra sự thật khách quan của VAHS. Mô hình TTHS quyếtđịnhvịtrí, chức năng, tính chất mốiquanhệ giữa các chủthểTTHS. Do đó, khi nghiên cứu về mốiquan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND, cần nghiên cứu về các mô hình TTHS trên thế giới và mô hình TTHS Việt Nam. Trong lịchsử thế giới đã xuất hiện và tồntạinhiều mô hình TTHS nhưng phổ biến nhất là TTHS tranh tụng và TTHS thẩm vấn.
TTHS thẩm vấn là cách thức tiến hành tố tụng VAHS chủ yếu bằng phương thức thẩm vấn, xét hỏi. Qúa trình tiến hành TTHS được chia làm ba giaiđoạn cơbản:điều tra, truytố,xétxử.Việc thẩmvấnđược tiến hành trong toànbộquátrình tiến hành tố tụng từ khi khởi tố, điều tra cho đến khi xét xử. CQĐT và VKS là chủ thể chính tiến hành hoạt động điều tra. CQĐT thực hiện hầu hết các biện phápđiềutra.Kếtthúc quá trìnhđiều tra, nếu xácđịnhđược đầyđủchứngcứbuộc tội, VKS lập bản cáo trạng đề nghị Tòa án đưavụ ánra xét xử.Tạiphiên tòa, KSV công bố cáo trạng, thẩmvấnbị cáo và những người tham gia tố tụng, trình bàybảnluận tội. Tòa án có thể tiếp nhận thông tinvề vụán ngaytừ khi khởi tố và thực hiện việc giám sát quá trình điều tra vụ án. Khi hồ sơ vụ án được chuyển sang Tòa án, thẩm phán vẫn có thêm một thời gian nhất định để nghiên cứu lạihồ sơ vụ án, kiểm tra lại các chứng cứ. Qua đó, thẩm phán đã nhận thức cơ bản đầy đủ về nội dung vụán, đây là cơ sở quan trọng để hội đồng xét xử đưa ra phán quyết. Tuy nhiên, đâycũng chính là hạnchế của mô hình TTHS thẩm vấn, vì phán quyết của hội đồng xét xử dựa vào quá nhiều vào hồ sơ vụ án, phiên
27
toà công khai khôngđược coi trọng, tính tranh tụng và vai trò của người bào chữa mờ nhạt. Mộtđặctrưng khác của mô hình TTHS thẩmvấnlà chỉ CQĐT, VKS và Tòa án mới có thu thập chứng cứ. Cácđồ vật, tàiliệu do bị can, bị cáo, luật sư,ngườitham gia tố tụng khác thu thập không coi là chứng cứ nếu khôngđược cơ quan tiến hành TTHS thừa nhận và sử dụng.
Ưuđiểmlớncủa TTHS thẩmvấn là hướng đến việcbảo vệ quyền lợi cao nhất cho người bị hại. Người bị hại dường như không trách nhiệm gì trong việc chứng minhtộiphạm, ngoại trừ việc khai báođầyđủmọithông tinđã biết cóliên quan đến VAHS. CQĐT, VKS và Tòa án có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp hợpphápđể xác địnhsự thật của vụán mộtcách khách quan, toàn diện,đầyđủ. Do người bịhạikhông thực hiện vai trò buộc tộinên việc hoạtđộng chứng minhtộiphạmbảođảmtínhđộclập, ítbịphụthuộc vàoýchủquan của người bị hại. Mô hình này đề cao quyền công tố, trách nhiệm của nhà nước trong phòng, chốngtộiphạm nênhạnchếđượcviệcbỏtộiphạm, kiểm soátđượctình hình tội phạm nhưng khó bảo đảm được tính khách quan, dân chủ trong hoạt động TTHS. Việc quá đề cao vai trò của người tiến hành tố tụng làm vai trò của người bào chữa mờ nhạt, dễ dẫn đến vi phạm quyền công dân, làm oan người vô tội.
TTHS tranh tụng là cách thức tiến hànhtốtụng bằng hình thứchỏi- đáp liên tục giữa bên buộc tộivà bêngỡ tội(bịcáo, ngườibào chữa). Cũng nhưTTHS thẩm vấn, CQĐT tiến hành hầu hết các hoạtđộng điềutra. VKS giữ vai trò giám sát, chi phối hoạt động điều tra và sử dụng kết quả điều tra để thực hiện quyền buộc tộitrước Tòa án. Quá trình tiến hành TTHS khôngđượcchia làm các giai đoạn như TTHS thẩm vấn, bên buộc tội và bên bị gỡ tội có quyền bìnhđẳng trong việc thu thập chứng cứ để bảo vệ quanđiểmcủa mình và đối đáp với phía bên kia trong phiên tòa. Do đó, vai trò của luật sư bào chữa trong TTHS tranh tụngrấtnổibật. Luật sư có quyền ngang với ĐTV, KSV trong việc thu thập chứng cứđể đưara trước tòa. Tòa án giữ vai trò là trung gian, trọng tài giữa bên buộc tội và bêngỡ tội. Trướckhi mở phiên tòa, thẩm phán không cần nghiên cứu hồ sơ vụ án, không cần biết thông tin về vụ án. Khi xét xử, thẩm phán không tham gia hỏi bị cáo và các nhân chứng, mà lắng nghe KSV và luật sư hỏi bị cáo,
28
nhân chứng và tranh luận với nhau. Ởphiên tòa sơ thẩm, Tòa án thànhlậpbồi thẩm đoànđể tham gia xétxử cùng với thẩm phán. Bồithẩm đoàngồmnhững ngườiđạidiện cho các nhóm lợi ích có liên quan đến vụ án. Khi xétxử bồi thầmđoàn có quyền kết luận bị cáo có tội hay không nhưng đa số họ lại không có kiến thức pháp luật chuyên sâu và nghiệp vụ xét xử.
Ở TTHS trang tụng có sự phân chia rõ ràng giữa ba chức năng của cơ bản của TTHS, đó là: buộc tội, gỡ tội và xétxử.Điểmưu việt lớn nhất của mô hình này tính công khai, minh bạch, dân chủ trong TTHS được bảo đảmở mứccao. Tấtcảchứng cứ do các bên thu thập được đều được mang ra trước phiên tòa để hai bên tranh luận vớinhau trước sự chứng kiến của thẩm phán và bồithẩmđoàn. Tuy nhiên, cũng do quá đề cao đề cao quyền cá nhân trong TTHS nên môhình này cũng có hạn chế, mối quan hệ tố tụng giữa các chủ thể tiến hành tố tụng không chặtchẽ, dễ dẫnđến bỏlọttội phạm; vai trò của nhà nước trong phòng, chốngtộiphạmmờ nhạt. Trong phiên tòa tranh tụng, do vai trò của luật sư rất
lớnnênđươngsự phảicố gắng có tiềnđểthuê đượcluật sư giỏi, cókhảnăng thuyết phục, tranh luận nênđã cóýkiến cho rằng hình thức TTHS này không phù hợp với người nghèo, người yếu thế trong xã hội. Hơn nữa, sự tham gia xét xử của bồithẩm đoàngồmnhiều thành viên không có kiến thức pháp luật vànghiệpvụxétxử dẫn đếnphán quyết của Tòa án nhiều trường hợp thiếu chính xác, công bằng.
Như vậy, không có mô hình TTHS hoàn hảo, mô hình TTHS nào cũng cónhượcđiểm, hạnchế ảnh hưởng đến quá trình làm rõ sự thậtcủa vụ án. Để khắc phục tình trạng này, trongbốicảnh toàncầuhóa, các mô hình TTHS có xu hướng tiến lại gần nhau để tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhau. Các quốc giaáp dụng mô hình TTHS tranh tụng ngày càng đề cao hơn vai trò của CQĐT vàVKS trong hoạtđộngbuộc tội, biểu hiện của việcđề cao trách nhiệm của nhànướctrong phòng, chốngtộiphạm, vốnlàmộtđặctrưng của mô hình TTHS thẩm vấn. Ngược lại, các nước áp dụng mô hình TTHS thẩmvấncó xu hướng mở rộng quyền của ngườibịbuộc tội, người bào chữa, tăngcườngtranh tụng, tính công khai, minh bạch trong quá trình TTHS để hạn chế tình trạng oan, sai và
29
xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là một xu thếtấtyếu, làm cho các mô hình TTHS ngày nay không còn nguyênbảnlà TTHS thẩm vấn hay TTHS tranh tụng mà mỗiquốc gia lạicó công thức kếthợp, pha trộn khác nhauđể xây dựng mô hình TTHS phùhợpvới điều kiện thựctế củađấtnước, nhằmvừaphòng, chống tội phạm hiệu quả,vừabảo đảm được quyền con người trong TTHS.
2.1.2. Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam
Đánh giá mô hình TTHS Việt Nam thuộc mô hình TTHS nào có nhiềuýkiến khác nhau. Quanđiểmthứ nhất cho rằng pháp luậtnước ta vốnchịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Cộng hòa Pháp và mô hình TTHS của Liên Xô do vậy TTHS nước ta là TTHS thẩm vấn. Những nétđặctrưng của mô hình TTHS thẩm vấn được thể hiện rõ nét trong mô hình TTHS Việt Nam như: quyđịnh trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng bắt buộc phải chứng minh mình vô tội; điều tra, thẩm vấn là phương phápchủyếuđượcáp dụngở tấtcảcác giaiđoạntốtụng; Tòa án
tham gia vào việc thực hiện chức năng buộc tội,…Với mô hình TTHS này, Nhànước ta hướng đếnmục tiêu kiểm soát tình hìnhtộiphạm, huyđộngtốiđasựtham gia của các nguồn lực xã hội vào hoạt động TTHS nhằm nâng cao tỉ lệ phát hiện, điều tra, khám phá các VAHS nhưng lại dẫn đến sự chồng chéo, trùng dẫm về chức năng, nhiệmvụ giữacác chủ thể tiến hành tố tụng; tình trạng oan, sai vàxâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong hoạt động TTHS khó kiểm soát [72, tr.32].
Có ý kiến khác cho rằng TTHS của Việt Nam không còn là mô hình TTHS hỗnhợp giữa TTHS thẩmvấnvà TTHS tranh tụng. Bên cạnh nhữngđặctrưng của TTHS thẩm vấn, TTHS Việt Nam cũng mangmột sốnét của mô hình TTHS tranh tụngđượcpháp luật TTHS ghi nhận như:bảođảmquyền bào chữa vàquyền được bồi thường oan, sai trong tố tụng hình sự của người bị buộc tội; quyđịnhtranh tụng trong xétxửlà mộtnguyên tắc cơ bảncủa TTHS; quyđịnh quyền thu thập chứng cứ, đánh giá chứngcứbảođảmsựcông bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong TTHS…[6, tr.13].
30
Đốichiếuvớicác mô hình TTHSđiểnhình trên, NCS cho rằng mô hình TTHS của Việt Nam là mô hình TTHS thẩm vấn nhưng có tiếp thu nhiều yếu tốcủa mô hình TTHS tranh tụng, thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau đây:
– Mô hình TTHS Việt Nam vừa hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ VAHS một cách kịp thời, chính xác, vừa kiểm soát được tình hình tội phạm.
Đây cũng là mục tiêu của các quốc gia áp dụng mô hình TTHS thẩm vấn, nhất là các quốc gia có tình hìnhtộiphạm tăng, phức tạp. Theođó,pháp luật giao trách nhiệm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trách nhiệm thu thập chứng cứ, xácđịnh sựthật của vụ án. Pháp luật không coi VAHS là tranh chấp giữa các cá nhân mà là vụ việc xâm phạmđếnlợi ích công cộng, Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết. TTHS Việt Nam không tồn tại các chế
định của mô hình TTHS tranh tụng như “tùy nghi truy tố”,“mặccảthú tội”,… việc phát hiện và xử lý tội phạm được quy định là bắt buộc, không phụ thuộc vàoý chí của bị cáo, bị hại (trừ một số vụ án có hậu quả ít nghiêm trọng). Để kiểm soátđược tình hìnhtộiphạm, pháp luật tạo điềukiện cho cơ quan, ngườitiến hànhtốtụng trong khởi tố, điềutra,xử lýtộiphạm, nâng caotỉlệ buộc tội. Không chỉ CQĐT và VKS, Tòa án cũng được giao thực hiện chức năng buộc tội nhằm chống bỏ lọt tội phạm.
– TTHS Việt Nam được phân chia thành các giai đoạn khác nhau
TTHS Việt Namđượcphân chia thành các giaiđoạn độc lập gồm: khởi tố, điều tra, truy tố, xétxử.Giai đoạn tố tụng trước làm tiền đề cho giaiđoạn tố tụng sau, giaiđoạntốtụng sau kiểm nghiệmlạikếtquảcủa giaiđoạntốtụng trước. Mỗi giaiđoạn tố tụng lạido một chủ thể chủ trì thực hiện nhưng có sự phối hợp chặt chẽ từ các chủthể khácđể hướngđếnmục tiêu chung là tìm ra chân lýkhách quan của vụ án, trong đó VKS là chủ thể duy nhất tham gia vào tấtcảcác giaiđoạn củaTTHS để thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp. Nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể được được pháp luật TTHS phânđịnhkhá cụ thể, rành mạch và chặt chẽ đểđáp ứngyêu cầuđiềutra,xử lý tội phạm phù hợp với điều kiệncủaViệt Nam. Xuất pháttừ đặcđiểmnày nên trong TTHS Việt Namtồn tạihồ sơ VAHS, một đặc trưng của TTHS thẩm vấn. Hồ sơ
31
VAHS do CQĐT lậptừ khi tiếp nhận nguồn tinvề tộiphạm, sauđóđượccác chủ thể khác củng cố, bổ sung trong các giai đoạn của TTHS.
– Cơ quan tiến hành TTHS, ngườitiến hành TTHS có vịtrí, vai trò quan trọng và nổi bật trong quá trình chứng minh tội phạm
TTHS Việt Nam phân chia chủ thể TTHS thành hai loại chính: chủ thể tiến hành TTHS và chủthể tham gia TTHS. Chủthể tiến hành TTHS gồm: CQĐT, VKS, Tòa án và người có chức danh tư pháp của các cơ quan này. Chủ thể tham gia TTHS gồm: bên gỡ tội (người bị tình nghi phạmtội, bị tạmgiữ,tạmgiam, bịcan, bị cáo, người bào chữa), bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền, nghĩa vụ liên quan, người giám định, phiên dịch,… Trong đó, CQĐT cóchức năng điều tra tội phạm, thu thập các chứng cứ để buộc tội, lập hồ sơ VAHS, tạo tiền đề cho các giaiđoạnTTHS tiếp theo. VKS THQCT và kiểm sát hoạtđộngtư pháp, nhằmbảođảmmọihành vi phạmtộiphảiđượcxử lýkịpthời, nghiêm minh, đúng pháp luật. Tòa án cũng chủ động tham gia quá trình thu thập chứng cứ, làm sángtỏsự thật của vụán, chứng minhtộiphạm. Trước khimở phiên tòa, Tòa án có thời gian tiếp cận, nghiên cứu, thẩm tra các tài liệu, chứng cứtrong hồ sơ VAHS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn có quyền hỏi các bênđểthẩm tra chứng cứ, làm rõ những điểm chưa rõ ràng hoặc những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa.
Trái với vai trò nổi bật, tích cực của chủ thể tiến hành TTHS, chủ thể tham gia TTHS chỉcó trách nhiệm phối hợp, chấp hành yêucầucủachủtiến hành TTHS, riêng bêngỡ tộicó quyền thu thập chứng cứ, tài liệu, đồvậtliên quanđến việc gỡtội nhưng chưa có các quy định pháp lý cụ thể để họ thực hiện quyền thu thập chứng cứ bình đẳng với chủ thể tiến hành TTHS.
– TTHS Việt Namsửdụng phương thức thẩmvấnlàchủyếunhưng cósựkết hợp với phương thức tranh tụng để làm rõ sáng tỏ sự thật của vụ án
Đâylà đặctrưngrấtriêng của mô hình TTHS Việt Nam sovớimô hình TTHS thẩmvấntruyền thống. Phương thức thẩmvấntuyvẫnđược sử dụng trongtấtcảcác giaiđoạn của TTHS nhưng yếu tốtranh tụng trong xétxử đãđược pháp luật Việt Nam tiếp nhận tự nhiên và trở thành một nguyên tắc cơ bản
32
trong TTHS được Hiến pháp và BLTTHS ghi nhận. Nội dung nguyên tắc đòi hỏi hoạt động xétxử phảibảo đảmtranh tụng bình đẳng, dân chủ giữa chủ thể tiến hành TTHS với bên gỡ tội và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra ý kiến đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu trước Tòa án. Bản án, quyếtđịnh của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Mọi chứng cứbuộc tội, gỡ tội đềuphải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.Tạiphiên tòa, chủ tọa phiên tòa điều khiển việc tranh luận giữa bên buộc tội và bên bào chữa, lắng nghe lý lẽ, lập luận của mỗi bên và tạo điều kiện về thời gian để các bên trình bày hết ý kiến. Trong phòng xửán, vịtrí ngồi của KSV và ngườibào chữa ngang bằng nhau,bảođảmsựbìnhđẳnggiữa KSV và ngườibào chữa,tạotâm lý thuậnlợicho luật sư khi tranh
tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.
2.1.3. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\MỐI QUAN HỆ TỐ TỤNG GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY
Mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay


