Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Không phải ngẫu nhiên mà tronghệthống pháp luật của bấtkỳquốc gia nào, chế định hợp đồng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng vào bậc nhất. Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trịvậtchất trong xã hội. Đã từlâu pháp luậtvềhợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởivì, hầuhếtcác giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằmđápứngcác nhucầusinh hoạt thông thường, đềuliên quanđếnhợp đồng. VấnđềHĐVH là mộttrong nhữngvấnđềnổicộmhiện nay của chếđịnh hợp đồng. Đâylà một vấn đề phức tạp, còn nhiều vướng mắc cần được trảlờisớmnhằmtạoniềm tin cho các chủthểtham gia vàohợpđồng. Khi xây dựng pháp luật về HĐVH, các nhà làm luật đều quan tâm tới các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về xử lý HĐVH. Các quy định này cótác dụngđảmbảosựổnđịnhcủa xã hội, đảmbảolợiích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quanhệ hợpđồng. Do vậy, các quy định về HĐVH phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống,đảm bảo sự hài hòa giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, Nhà nước nói chung.

Tuy nhiên, hiện nay các quyđịnhvềHĐVH nói chung và HĐVH do nhầmlầnvẫncòn nhiềuvướngmắc. Các quyđịnhcó phần còn cứng nhắc, chưa đầyđủ, có quyđịnhcòn chồng chéo, gây nên cách hiểu không thống nhất. Chẳng hạn như: các căn cứ để tuyên bố HĐVH còn có nhiều điểm chưa rõ ràng; hậu quả pháp lý của HĐVH còn quy định chung chung, khó áp dụng. Quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự không được đảm bảo thỏa đáng khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu.

Vềphía các cơ quan nhà nước, do tính phức tạpcủa các quanhệhợp đồng, những quyđịnhkhông rõ ràngcủapháp luậtđã tạochohọrấtnhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xétxửcó liên quan tới HĐVH do nhầm lẫn. Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lực của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng. Và trên thực tế, cũng không ít trườnghợphợpđồngbịtuyênbốvô hiệu do nhầmlẫnhoặc cốý nhầm lẫn, nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình.

Với thực trạng đó, các quy định pháp luật về HĐVH cần sớm được hoàn thiện đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, hướng tới sự bảo đảm an toàn và lẽ công bằng cho cácchủthể, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh. Mộtcơsởpháp lýđầyđủ,hoàn chỉnh,mộthành lang pháp lý thông thoáng không những là yêu cầu chính đáng của người dân, của các doanh nghiệp để họthực hiện hoạt động kinh doanh và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình mà còn làđiềukiệnđểcác cơ quan nhànướccó thẩm quyền hoàn thànhtốtchức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao. Hơn thế nữa, cần phải khẳng định rằng việc nhận thức đúng về bản chất của HĐVH và việc xử lý chúng để từ đó xây dựng các quyđịnhvềHĐVHmộtcách khoa học, phùhợpvớithực tiễn cũngsẽgóp phần hoàn thiện chế định hợp đồng trong hệ thống pháp luật của nước ta.

Từnhững lý do trên, vớimong muốnđược góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐVH nói chung và HĐVH do nhầm lẫn nói riêng, tác giả đã lựa chọnđềtài:“Hợpđồngvô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay”để làm luận văn thạc sĩ luật học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là đề xuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về HĐVH do nhầm lẫn.

Với mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:

– Làm rõmộtsốvấnđềlý luậnvềhợpđồngdânsựvô hiệu do nhầm lẫn như: khái niệm nhầm lẫn và khái niệm HĐVH do nhầm lẫn; đặc điểm của HĐVH do nhầm lẫn; điều kiện của HĐVH do nhầm lẫn; xử lý hậu quả pháp lý của HĐVH do nhầm lẫn.

– Phân tích, đánh giá thực trạng quyđịnhcủa pháp luật dânsựvềHĐVH do nhầm lẫn.

– Đánh giá tình hình thực hiện, áp dụng pháp luật của các chủ thể tham gia kíkếthợpđồngvà của tòa án nhân dân trong quá trình xétxửvụán cóliên quan đến HĐVH do nhầm lẫn.

– Đưa ra phương án góp phần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định HĐVH do nhầm lẫn và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định vềhợp đồngcủa pháp luật dân sự hiện hành.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tácgiảtậptrung vào cácđốitượngnghiên cứu sau:

– Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về HĐVH, mà cụ thể là tập trung vào các quy định về HĐVH do nhầm lẫn trong BLDS năm 2005, 2015 và các vănbảnhướngdẫn, đặttrong tương quanmộtsốquyđịnhcủa Luật

thuơng mại, Luật doanh nghiệp… và các công ước, văn bản pháp luật quốc tếđiều chỉnh vấn đề này.

– Thực tiễn áp dụng các quy định về HĐVH do nhầm lẫn.

Về phạm vi nghiên cứu, trong giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, tác giả luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về HĐVH do nhầm lẫn. Trên cơ sởlý luận phân tích, đánh giá quyđịnhpháp luậtvềHĐVH do nhầmlẫnđồngthời xem xét thực tiễn áp dụng các quyđịnhnêu trên kể từ thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu, đánh giá các vấnđềtrong luận văn dựa trên cơsởphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh… kết hợp giữa lý luận với thực tiễn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận vềhợpđồngvà HĐVH do nhầm lẫn. Đồngthời, nhữngkếtquảnghiên cứu mới của luận vănsẽ đề cập một cáchcó hệ thống, chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhvềhợp đồng,HĐVH, HĐVH do nhầm lẫn;đưara những đánh giá nhận xét về tính hợp lý, logic, độ phù hợp với thực tiễn của các quyđịnhnày và nêu quanđiểmvềhướngsửađổi,bổsung nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐVH do nhầm lẫn ở nước ta hiện nay.

Dướigóc độthực tiễn, luận vănchỉra những khó khăn, vướngmắc trong việc áp dụng, thực hiện pháp luật, đồngthời có những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệuquảáp dụng, thực hiện pháp luậtvềHĐVH do nhầmlẫntạiViệt Nam, góp phầncảithiện, nâng caoýthức pháp luật nói chung, thích ứng với hội nhập quốc tế.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phầnmởđầu,phầnkếtluận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận về HĐVH do nhầm lẫn

Chương 2. HĐVH do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chương 3. Mộtsốkiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềHĐVH do nhầm lẫn

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN

1.1. Khái niệm hợp đồng vô hiệu 1.1.1. Khái niệm hợp đồng

Hợpđồnglà mộtcôngcụchủyếuđểxác lậpquanhệgiữangườivàngườiliên quanđếntàisảntrongmộtxã hộicótổchức. Các quanhệấy không chỉ hình thành trong dân sự mà còn cả trong lĩnh vực thương mại, laođộng, thậm chí trong lĩnh vực hành chính. Trongmỗiloạihợpđồng, trong mỗi lĩnh vực có những đặc điểm rất riêng và do đó, được chi phối bởi những quy định riêng [45, tr.26]. Tuy nhiên là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cảcác hợp đồng đều hình thành và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một hệ thống các quy tắc pháplý được xâydựng và tạo thành luật về quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32].

Tuy nhiên, quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những

quanhệvềđầutư, lao động, kinh doanh thương mại, bảohiểm…Theo đó, nếu trong khái niệmvề hợp đồng từ “dânsự” được đặt đằng sau haitừ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của BLDS hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồngdân sự. Dođó,mà tạiBLDS năm 2015 các nhà làm luậtđã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên.

Cụthể, Điều385 BLDS năm 2015 quyđịnh:“Hợpđồnglà sựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ

7

dân sự”. So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dânsự” sau hai từ “hợp đồng”. Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về mặt kỹthuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng [43, tr.46]. Trong phạm vi luận văn, thì hợp đồng được hiểu là sự thoả thuận có hiệu lực pháp luật hoặc làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý của hai hay nhiều bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ.

1.1.2. Hợp đồng vô hiệu

Cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về HĐVH mà chỉ nêu căn cứ xác định HĐVH hoặc có hiệu lực.

Người làm luật không định nghĩa cụ thể như thế nào là HĐVH mà chỉxác định hệ quả của sự vô hiệu. Theo khoản 1, Điều 137 BLDS năm 2005 quyđịnh“giao dịch dânsựvô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” [32].

Trên cơ sở khái niệm hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn: Hợp đồng vô hiệu được hiểu là hợp đồng khi giao kết và thực hiện không đảm bảo những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hoặc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do khách quan.

Phân loại HĐVH:

Căn cứ váo thủ tục tố tụng có HĐVH tuyệt đối và HĐVHtương đối

– HĐVH tuyệt đối: Là những hợp đồng bị xem là đương nhiên vô hiệu do việc xác lập hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích công cộng. Hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau thì bịcoi là vô hiệu tuyệt đối:

+ HĐVH do giả tạo

+ Hợp đồng có nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật + Hợp đồng có nội dung, mục đích trái đạo đức xã hội

8

Hợp đồng không đúng hình thức do pháp luật quy định và đã được Tòaán cho các bên thời hạn để thực hiện đúng quy định về hình thức này nhưng hết thời hạn đó mà các bên vẫn chưa thực hiện; hoặc trường hợp pháp luật cóquyđịnh vềhợpđồng vi phạm hình thức nhưng các bên chưa thực hiện hợp đồng và các bên có tranh chấp thì hợp đồng bị xem là vô hiệu [47].

Một HĐVH tuyệtđốithì không giải quyết theo yêucầucủacác bên. Mọitrườnghợpđềugiải quyết theo quyđịnhcủa pháp luật và khôngđược hòa giải, không có quyền công nhận giá trịpháp lý của hợpđồngtrong quá trình thụ lý và giải quyết tranh chấpvề hợp đồnghoặc các nội dung pháp lýcó liên quan [47].

– HĐVH tương đối: Là những hợp đồng được xác lập, nhưng cóthể bịTòa án tuyênbốlà vô hiệu theo yêucầucủa ngườicó quyền và lợiích liên quan. Sự vô hiệu tương đối là ở chỗ: giao dịch dân sự đó “có thể vô hiệu” hay “không đương nhiên bị xem là vô hiệu” vì nó chỉ xâm hại trực tiếp tới quyền lơi hợp pháp của cá nhân của từng bên chủ thể tham gia. Do đó, hợp đồng này nếukhông cósựxem xét của Tòa án thìvẫncó hiệu lực. Trong trường hợp muốn tiêu hủy hợp đồng này, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết theothủ

tục tư pháp thông thường chứ hợp đồng không đương nhiên bị xem là vô hiệu.

Trênthếgiới, hiện có ba cách thức xây dựng quy tắc pháp lýđểxác định HĐVH, cụ thể:

Thứnhất, quyđịnhcácđiềukiện có hiệulựccủahợpđồng,theo đó, những HĐVH được xác định là hợp đồng không thoả mãn những điều kiện cóhiệu lực. Các nước quy định theo cách này là các nước theotruyền thống pháp luật La Mã. Cách thức quy định này cho thấy sự can thiệp mạnh của Nhà nước đến quan hệ hợp đồng.

9

Thứ hai, liệt kê các trường hợp vô hiệu của hợp đồng và việc xác định hợp đồng cóhiệu lực bằng phương pháp loại suy. Quy định theo cách này làcác nước như Nhật bản, Cộng hoà Liên bang Đức.

Thứ ba, quyđịnhcácđiềukiện có hiệu lực của hợp đồng và quyđịnh những trường hợp vô hiệu của hợp đồng. Quy định theo cách này cóvẻ đảm bảocả vềlôgíc hình thức và lôgíc biện chứng, tuy nhiên, đã thểhiện sựcan thiệp quá sâu vào quan hệ luật tư vốn dĩ “cốt ở đôi bên”. Việt Nam là nước cóquy định về HĐVH theo cách này [54].

Ba cách thức xây dựng quy này hoặc xuất pháttừnhữngđặc điểm chung mang tính bản chất của hợp đồng và ý chí của nhà làm luật. Tuỳ theođiều kiện lịch sử, kinh tế xã hội và nhu cầu cường thịnh của quốc gia hay khu vực mà nhà làm luật can thiệp nhiều hay ít vào quanhệhợpđồng. Ví dụ,

Cộng Hoà Pháp, Trung Quốc… không can thiệp vào quanhệ hợp đồng bằng cách quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; Thái Lan, Việt Nam… vẫn ghi nhận hình thức là điều kiện có hợp đồng; Châu Âu không cósựcan thiệp nào liên quanđếnhình thức của hợpđồng“Hợpđồngcóthểđược chứng minh bằng bất kì cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng”. Nghiên cứu các quy định về HĐVH theo ba cách trên cho thấy việc xác định HĐVH theo các dấu hiệu sau [54, tr.38-39]:

Năng lực giao kết của các chủ thể: Chủ thể là một trong những yếu tốcấu thành quan hệ pháp luật nói chung hay quan hệ hợp đồng nói riêng, trong quan hệ hợp đồng tối thiểu phải có hai chủ thể. Các chủ thể là cá nhân cóthểtự nhân danh chính mình hoặc thông qua người đại diện để xáclập hợp đồng;

chủ thể là tổ chức xác lập hợp đồng thông qua người đại diện. Như vậy, việc giao kết hợp đồng buộc phảithông qua hành vi của con người cụ thể. Hành vi hợp pháp thì được pháp luật thừa nhận và ngược lại, do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng chủ thể phải có năng lực để nhận biết về hành vi của mình, đó

10

chính là năng lực hành vi -mộttrong nhữngyếutốcăn bảnđểtạolên thẩm quyền giaokếthợpđồng.Đốivớicá nhân khitựnhân danh mình tham gia quan hệ hợp đồng năng lực hành vi của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ. Một cá nhân luôn được coi là có thể thiệt hại khi khi họ tham gia quan hệhợpđồngtạithờiđiểmbịhạnchếhoặc không có năng lực hành vi hoặc năng lực hành vi chưa đầy đủ. Trên cơ sở đó, pháp luật cho phép bên bị thiệt hại gây ra sự vô hiệu nhằm bảo vệ lợi ích một cách công bằng. Đối với tổ chức, pháp nhân thì thẩm quyền giao kết hợp đồng được xác định kết hợp giữa năng

lực hành vicủa người đại diện và điều kiện, phạm vi kinh doanh…thẩm quyền và năng lực thiết lập thoả thuận là do pháp luật quyđịnhhoặc được ghi nhận trên cơsởpháp luật. Do vậy, pháp luậtchỉcông nhận vàbảovệnhững thoảthuận dochủthểcó thẩm quyền giao kết. Ngược lại, thoả thuậnđósẽkhôngđược công nhận, không có hiệu lực pháp luật – vô hiệu [54].

Sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể: Một thoả thuận được coi là hình thành khi có sự thống nhất ý chí giữa các bên về một hoặc nhiều vấn đề. Quá trình đàm phán và thiết lập thoả thuận thực chất là việc tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí của các bên tham gia. Trong quan hệ hợp đồng, việc tuyên bố ý chígọi là đề nghị giao kết hợp đồng và việc chấp nhận ý chí gọi là xác lập quan hệ hợp đồng. Sự thống nhất ý chí chỉ được coi là đích thực khi các bên tham gia thực hiện hành vicủamìnhmộtcáchtựnguyện, chính thuậtngữ“thoảthuận” đã thể hiện rõbản chất nguyên tắc tự nguyện. Pháp luật các nước trên thế giới đều ghi nhận và bảo vệ nguyên tắc tự nguyện trong quan hệ hợp đồng và có thể nói rằng điều kiện bắt buộc đối với việc giao kết hợp đồng là phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện – tự nguyện được hiểu là tự nguyện tuyênbố ý chí và chấp nhậnýchí. Ý chícủacác bên khôngthểcoi là được thống nhất khiýchíđóđượctuyênbốhoặc chấp nhậnmộtcách khôngtựnguyện. Các thoả thuậnđược hình thànhmộtcách thiếutựnguyện – không cósựthống

11

nhất ý chí sẽ không được pháp luật bảo vệ. Nói cách khác thoả thuận nàybịvô hiệu và đương nhiên là không được đảm bảo thi hành [54].

Hành vi giao kết và thực hiện thoả thuận của các bên xâm phạm trật tựcông: Nguyên tắc “côngdânđược làmtấtcảnhững gì mà pháp luật không cấm”được phổbiến rộng rãi, pháp luật các nước đềuthừa nhận nguyên tắc này. Nhật bản -BLDS điều90; Cộng hoà liên bangĐức -BLDS điều134… Việt Nam, trong lĩnh vực kinh doanh, Luật thương mại và Luật doanh nghiệp quyđịnhvềvấnđềnàycụthểnhư sau:“Thươngnhân có quyền hoạtđộng thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm”; “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”. Tựdo là mộtgiá trịchung của nhân loại,tựdo là mộtnguyên tắc căn bản trong quan hệ hợp đồng luôn được pháp luật tôn trọng. Trong xã hội có pháp luật, việc xác định phạm vi hành xử của một người không có nghĩa là hạn chếsự tự do của họ mà có nghĩa là bảo vệ quyền tự do của họ, nếu không có ranh giớiđóthì quyềntựdo của họluônbịđedoạxâm phạm và cóthểdẫnđến không có tự do, vì bản tính tập thể của con người, “tính bắt buộc” phải sống trong xã hội của nó; con người không có khả năng trở nên hạnh phúc và thậm chí đơn giản là tồn tại khi thiếu những người khác. Do đó, khi các bên tham gia thoả thuận thực hiện hành vi mà pháp luậtcấmluônbịcoi là xâm phạm đến những giá trị mà pháp luật bảo vệ [54].

Thoả thuận không tuânthủquy địnhvềhình thức: Hiện tại, pháp luật của mộtsốquốc gia vẫncòn quyđịnhhình thức của hợpđồnglà mộttrong nhữngđiều kiệncó hiệu lực, ví dụ: BLDS và Luật thươngmạiThái Lan, tại điều 115 quy định “Một hành vi pháp lý không theo đúng hình thức quy định thì vô hiệu”, còn Việt Nam BLDS năm 1995 quy định về hình thức tương tựnhư Thái Lan. BLDS năm 2015 có sửa đổi một cách mềm dẻo hơn “Hình thức

12

giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quyđịnh”tuy nhiênvềbảnchấtkhông có gì thayđổi – vẫn ghi nhận hình thức là điều kiện có hiệu lực. Mặc dù quy định tuân thủ hình thức không phải là dạng quy phạm cấm, tuy nhiên, khi pháp luật không thừa nhận thì thoảthuận và bảo đảm thi hành thì thoả thuận không tuân thủ hình thức bị vô hiệu kể từ thời điểm giao kết. Xét đến cùng thì có lẽ nhà làm luật đặt ra quy định này nhằm đảm bảo trật tự công, mặc dù trên thực tế quy định này thường ban phát lợi ích tư (nếu không có lợi có lẽ không ai yêu cầu tuyên vô hiệu) và đặc biệt hơn là quy định này có thể làm tăng chi phí giao dịch và hạn chế sự sinh

lời của tài sản và quyền của chủ tài sản [54].

Trong phạm vi luận văn thì HĐVHđượchiểu là thoả thuận không cóhiệu lực pháp luật kể từ khi giao kết, do một hoặc các bên chủ thể không cóthẩm quyền xác lập hoặc các bênchủ thểkhông có sự thống nhất ý chí đích thực hoặc hành vi giaokếtvà thực hiện thoả thuận của các chủthểbịpháp luậtcấmhoặc xâm phạm trật tự công hoặc thoả thuận không được pháp luật thừa nhận do không tuân thủ hình thức.

1.2. Khái niệm hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 1.2.1. Định nghĩa

Trong thực tế không hiếm trường hợp sự ưng thuận có“tì vết” và yếu tố nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng là một “tì vết” mà luật đã dự liệu để cho phép tuyênbốHĐVH. Nhìn chungvấnđềquyđịnhvềnhầmlẫntrong giao kết hợp đồng được quy định lần đầu tiên trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự vàBLDS năm 1995. Cụ thể, theo khoản 3, Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự, HĐVH “khi một bên hợp đồng nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng” và Điều 141 BLDS năm 1995 về giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn: “Khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch, thì có quyền yêucầubên kia thayđổinộidung giao dịch đó, nếubên kia

13

không chấp nhận yêu cầu thayđổi của bênbị nhầm lẫn thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Khi giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn thì bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường” [32].

Theo quyđịnhtạiđiều116Bộluật Dânsự(BLDS) 2015 quyđịnh:

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Từ quy định tại điều luật này cóthểxácđịnh:kếtquảcủa việc xác lậpgiao dịch dânsựlà làm phát sinh, thayđổihoặc chấmdứtquyền, nghĩa vụdânsựcủa chủthểtrong quanhệpháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn

phương hoặc đa phương–mộtbên hoặc nhiều bên) làm phát sinhhậuquảpháp lí. Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự [38].

Giao dịch là hành vi cóýthức của chủthểnhằmđạtđược mục đích nhất định, cho nên giao dịch dânsựlà hành vi mang tínhýchí của chủthểtham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.

Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự.

Sovớiquyđịnhvềgiao dịch dânsựvô hiệutạiBLDS 2005, BLDS 2015 có bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”.Đâylà quyđịnhcầnthiết, bởilẽcác quyđịnhvềđiềukiện có hiệu lực của BLDS để áp dụng cho đa số các trường hợp nhằm đảm vảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc vô hiệu giao dịch dân sự là không cần thiết. Thực tế, cho thấy giao dịch có thể thiếu điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015 nhưng vẫn không vô hiệu. Chẳng hạn như quy định tại điểm a khoản 2 điều 125 BLDS 2015, giao dịch dân sự của

14

người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó thì không bị xem là giao dịch dânsự vôhiệu. Sựbổsung quyđịnhnàythểhiệnsựlinh hoạt trong các quyđịnhcủa pháp luật [43, tr.61-62].

Hiện nay các nhà làm luật vẫn không đưa ra một khái niệm cụ thể nên nhầmlẫn ởđâycóthểhiểu là việc các bên trong giao dịch hình dung saivềnội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc bên kia, sự nhầm lẫn xuất phát từnhận thức các bên hoặc phán đoán sai lầm vềđối tượng của sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõràng mà căn cứ vào nộidung của giao dịch phải xác địnhđược. Nếubịnhầmlẫnchứng minhđược sự nhẫm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu.

1.2.2. Đặc điểm

Nhầm lẫn đã tồn tại trong hai BLDS nhưng lại không đưa ra định nghĩa chính xác thếnào là nhầmlẫnnênrấtkhó khăn khi xác địnhsựtồntạicủa nhầm lẫn. Nhầm lẫn trong ngôn ngữ pháp lý là sự nhận định không chính xác về cái có thật, tưởng cái sai sự thật là thật và ngược lại. Nhầm lẫn là sự khác biệt giữa nhận thức của một bên về vấn đề và thực tế của vấn đề. Ví dụ anh A xác lậphợpđồngmua bán xe máyvớigiá 30 triệuvớianh B nhưng không biết rằng xe máy đó là tang vật trongmộtvụán hình sự cướp tàisản(ở đây anh B cũng được mua lại từ anh D và không biết tình trạng thật của chiếc xe).Điều này có nghĩa là đối với bên mua có sự khác nhau về nhận thức của họ vềchiếc xe và thực tế về chiếc xe này. Bất kỳ sự khác nhau nào giữa nhận thức và thựctếđềucóthểđược coi là nhầm lẫn. Và nhầmlẫnphảitồntại ởthời điểmxác lậpgiao dịch. Điềuđócó nghĩa là nhận thức của bên nhầmlẫnvềhợp đồng và sự thật về hợp đồng nàyphải được xácđịnh tại thời điểm xác lập hợp đồng. Nhầm lẫn khác với giả tạo ở chỗ trong hợp đồng có sự nhầm lẫn thìbảnthânngườixác lậphợpđồngkhông biếtđược điềuđócòngiảtạotrong

15

hợp đồng thì người thể hiện ý chí muốn xác lập hợp đồng biết việc đó khôngđúng với sự thể hiện ý chí đích thực của họ với sự thể hiện thực tế trong hợp đồng. Nhưng để đánh giá nhận thức của bên bị nhầm lẫn thực chất là rất khó vìnó liên quan đến vấn đề nội tâm. Nếu các bên không ghi rõ trong hợp đồng vềnhận thức của mình thì rất khó để xác định. Phân tích ví dụ trên vì người mua không biếtvềtình trạng thậtcủachiếc xe.Ởđâychúng ta nên dùng phương pháp suy đoán bằng cách xác định nhận thức của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự vì nếu một người bình thường nếu biết chiếc xe đó là tang vật của một vụ hình sự thì có lẽ họ sẽ không mua với giá như thế [43].

Thực tế áp dụng pháp luật Việt Nam vẫn chưa tổng kết được các trường hợp nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng thành lý luận chung. Và một vấn đề đặt ra là các quy định của pháp luật chỉ nói đến nhầm lẫn về nội dung vậy nhầm lẫn về chủ thể của hợp đồng thì như phải giải quyết như thế nào? Vídụ:C là nhà thiếtkếthời trangnổitiếng, cóngườikhác cũng tên là C cũng làm nghề thiếtkếthời trang nhưng khôngnổitiếng, nhưng D không biết tưởng nhầm người đó là C nên ký kết hợp đồng thiết kế hàng mẫu cho Công ty mình. Ở đây, D có nhầm lẫn về chủ thể và C không biết D đã nhầm lẫn mànghĩ Dcầnmình thật. Và trên thực tếnhầmlẫnvềchủthểcủahợpđồng không phải là ít. Mặc dù trongmộtsốtrườnghợptòa án tuyênbốvô hiệu, nhưng xét về gốc độ văn bản để áp dụng luật về tuyên bố HĐVH do nhầm lẫn thì thiếu cơ sở pháp lý. Thiết nghĩ về lâu dài BLDS cần bổ sung thêm trường hợp này [43].

Trong thực tếcóthểxảyra trườnghợpmộtbên cóthểnhầmlẫnmà không do lỗi của bên kia, có nghĩa là bên kia cũng không có lỗi vô ý hay cố ý. Tiếp theo ví dụ về chiếc xe máy ở trên ta thấy thực chất chiếc xe máy của anh B bán cho anh A không phải của anh mà là tangvậttrongmộtvụcướpmà anh cũng không biết. Dù Tòa án có tuyên hợp đồng này vô hiệu nhưng không

16

thểcoi ai trong hai anh là cólỗicả. Ngoài ra luật cũng không quyđịnhvềtrường hợp sự nhầm lẫn đó là do chính bên bị nhầm lẫn gây ra ví dụ như sựcẩu thả, trình độ hiểu biết thấp của chính họ gây ra. Vì có trường hợp do sựchủ quan chưa xem xét kỹ hợp đồng họ đãchấp nhận xác lập hoặc ngay từ khi giao kết họ đã biết mình bị nhầm lẫn nhưng vẫn để mặc rồi sau này xem xét

lạithấy không cólợigì cho mình thìmớiyêucầuTòa tuyênbốHĐVH do mình đã nhầm lẫn. Ở đây nếu như không quy định cụ thể về vấn đề này sẽ dẫn đến khiếu nại tràn lan do người hiểu lầmcứ tưởng họ có quyền khiếu nại đểtuyên bố HĐVH do nhầm lẫn bất cứ lúc nào miễn là còn thời hạn khởi kiện từđódẫnđếntình trạnglạmdụngđểtrốn tránh thực hiện nghĩavụcủa bênbịnhầm lẫn. Vìvậythiết nghĩ BLDScầnsửa đổihoàn thiện hơn quyđịnhvềvấn đề này[51].

Vậytrong lừa dốicũng cóyếutốcủa nhầm lẫn. Nhầmlẫnvà lừa dối đều có một điểm chung là bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối đều đã hiểu sai

lệch về chủ thể, về tính chất của đối tượng…nên đã xác lập giao dịch. Vì vậy để tuyên bố HĐVH do lừa dối thì phải chứng minh có một bên bị nhầm lẫn và sự nhầm lẫn này phải do hành vicố ý của bên kia gây ra. Và việc tuyên bố một HĐVH do nhầmlẫnvì việc xác địnhhành vicốýlà rấtkhó phảicầnnhiều giaiđoạnxác minh, làm rõ các chứngcứđưa ra của đươngsựđiềunày tùy thuộc nhiều vào phán quyết của Thẩm phán xử lý vụ việc đó [51].

Giải pháp tuyên bố HĐVH không phải là giải pháp tối ưu được ưu tiênáp dụng trong các trường hợp vô hiệu tương đối dạng này. Vì hợp đồng được xác lập nhằm mục đích đemlạimột lợi ích hợp pháp nào đó cho các bên vàđược pháp luật bảo vệ nếu như nó không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Cho nên trong trường hợp này Tòa án không triệt tiêu hợp đồng nếu như hợp đồng vẫncóthểkhắc phục được. Giải pháp này tươngđốikhảthiđốivớitrường hợp hai bên đều nhầm lẫn. Hai bên có thể thỏa thuận sửa đổi lại nội dung hợp

17

đồng hoặc lập ra một hợp đồng mới hoàn toàn. Còn chỉ một bên nhầm lẫn bên kia biết mà không thông báo, đểmặc chohợpđồngđược kýkếtthìđólạilàmột dạng của hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng. Ngoài ra quy định này chỉ cho phép vô hiệu nếu bên nhầm lẫn yêu cầu mà bên kia không chấp nhận. Và bên không chấp nhận cókhảnăng thayđổimà không thayđổiđược thìmớicó quyền yêucầutuyênbốvô hiệu. Nhưngnếubênđócũng khôngthểthay đổi, khắc phục được thì sao? Tương tự ví dụ chiếc xe máy ở trên thì cảhai anh A và B đều không thể thayđổi được hoàncảnh, không thể biến chiếc xe bấthợppháp thành hợp pháp dùýchí của anh B có muốn chiếc xe mình trở thành hợp pháp hay không cũng không được. Vì vậy thiết nghĩ, BLDS cần bổ sung thêm quy định nàyđể bảo vệ được quyền lợi của cácbên trong giao kếthợpđồng.HĐVH dobịnhầmlẫnthuộc trườnghợpvô hiệu tươngđốivìvậy nếu không có yêu cầu của bên bị nhầm lẫn thì hợp đồng vẫn có giá trị thi hành đối với các bên giao kết [51, tr.66].

1.3. Các trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Hợp đồng là sự thoả thuận, sự thoả thuận này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng, có nghĩa là ý chí của các bên được thể hiện một cách tự do, không chịu bấtkỳmộtsựtác độngnào. Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên hoặc một trong các bên khi đàm phán, ký kết hợp đồng ý chí của họđược hình thànhmộtcách khôngtựnguyện, tức là họkhôngđược tựdo trong việc thể hiện ý chí của mình hoặc xuất phát từ những ý niệm không xác thực. Pháp luậtgọicác trường hợp này là hợp đồng được ký kết trái nguyên

tắc tự do tự nguyện thoả thuận. Những trường hợp này là: nhầm lẫn, lừa dối và đe doạ [43].

Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn cóthể được coi là căncứđểyêucầutoà án tuyênbốHĐVH, tuy nhiênthếnào là nhầm lẫn được xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau.

18

Pháp luật của các nước hầu như không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý, về vấn đề này có nhiều cách nhìn khác nhau.

Có quan đỉểm cho rằng, nhầm lẫn là những trường hợp hợp đồng được ký kết nhưng ý chí của một hoặc của các bên được hình thành không đúng vìnhiều lý do khác nhau. Nhầm lẫn có thể do các bên chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có thể do các bên khôngthểhiệnsựcẩnthận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của chủ thể hoặc hành vi của người thứba.Ýkiến khác cho rằng, nhầmlẫncó nghĩa làhợpđồngđược ký kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại kết quảmà các bênhướng đếntại thời điểmký kết hợp đồng. Cóthểnói, nhầm lẫnlà khiýchí của các bên không giốngvớiýchícủahọtrong giaiđoạn thống nhất ý chí mặc dù không bị đe doạ hoặc lừa dối.

Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố HĐVH gặp phải haivấn đề phức tạptrong khoa học pháp lý và trong thực tiễn.Mộtmặt, trên xuất pháttừthuyếtýchí, nhầmlẫnđược coi là việc hợpđồngđược kýkếttráivớiýchíđích thực của chủ thể và vì vậy nên cần phải coi hợp đồng đó là vô hiệu. Mặt khác nếu trong mọi trường hợp khi hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể sẽ bị vô hiệu, điều này sẽ tạo ra sự không ổn định, mất trật tựtrong lưu thông dânsựvà trong hoạtđộngkinh doanh thương mại-điềumà không ai muốn. Chính vìvậynên pháp luật cũng như Toà áncẫnphải thận trọng trong việc xem xét HĐVH. Đểtìm giải pháp hài hoà các mốiquanhệtrên cần phải phân biệt hai loại nhầm lẫn: nhầm lẫn không có ý nghĩa pháp lý,

tức là khôngảnhhưởngđếnhiệu lực củahợpđồngvà nhầmlẫncóýnghĩa pháp lý-là căncứđểyêucầutoà án tuyênbốHĐVH. Nhưvậykhông phải mọi nhầm lẫn đều có ý nghĩa pháp lý đối với bên nhầm lẫn. Điều này là nhất quán trongmọihệthống pháp luật. Tuy nhiên trong thực tiễn việc phân biệt

19

hai loại nhầm lẫn nói trên là việc không đơn giản, trong khi đó hậu quả pháp lý của chúng lại khác nhau [52].

Có thể nói rằng, nhầm lẫn, nhìn từ góc độ là điều kiện để yêu cầu Toàán tuyênbốHĐVH là mộttrong nhữngvấnđềphức tạpnhất của pháp luật hợp đồng và gây nhiều khó khăn cho người học khinghiên cứu vấn đề này.

Người bán hàng bán cho người mua một bình gốm Trung Quốc với giárẻvì cho rằng, đólà bìnhgốmgiảcổdongườiđịa phương làm ra. Sauđóngười mua phát hiện ra rằng đó là một tác phẩm nghệ thuật vô giá được làm từ thời Nhà Minh. Trong trường hợp này người bán có quyền yêu cầu toà án tuyên bố HĐVH và đòi lại bình cổ với lý do đã không đánh giá chính xác giátrịcủa chiếc bình hay không? Có hay không cóýnghĩa việcngườibán là

chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đố cổ và có thể đánh giá đúng giá trị của chiếc bình nhưng đã bất cẩn khi thực hiện việc đánh giá? Có quan trọng hay không việc ngườimua biết chính xác hoặc đoán biếtđược đólà bìnhcổnhưng đã giấu người bán? Sẽ như thế nào nếu cả người bán và người mua của hợp đồng ban đầu đều là các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá đồ cổ? Có ýnghĩa hay không việc ngườimua, vì tin vào hiệu lực của hợpđồngđã bỏra một khoản tiền lớn để phục hồi chiếc bình với mục đích bán lại, hoặc đã bán

lại cho người khác? Nếu người mua, một cách trung thực cam kết với người mua rằng, đólà bìnhgiảcổvà yêucầungườibán thực hiệnhợpđồng? Và cuối cùng, nếu người bán yêu cầu người mua trả lại bình, người mua đồng ýnhưng yêucầutrảmức chênh lệch giá? Đểtrảlờicâuhỏinói trêncầnphải xem xét một số điều kiện của sự nhầm lẫn [57].

Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 126 BLDS năm 2015 về “giao dịch dân sựvô hiệu do bị nhầm lẫn” quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn vềnộidung của giao dịch dânsựmà xác lậpgiao dịch thì bênbịnhầmlẫncó quyền yêucầubên kia thayđổinội dung của giao dịch đó, nếu

20

bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này” [37]. Như vậy theo pháp luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của hợp đồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nội dung, tuy nhiên cóthểhiểu rằng, trongnộidung của hợpđồngcórấtnhiềuvấnđề,vídụ, đối tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc.

Không quy định nhầm lẫn về chủ thể có phải là khiếm khuyết của pháp luật hợp đồng Việt Nam hay không? Và việc thiếu vắng quy định của pháp luật trong trườnghợpnày gây ra nhữnghậuquảpháp lý nhưthếnào? Có tácgiảcho rằng, pháp luật quy định như vậy là chưa đủ, bởi lẽ trong thực tế, hoàn toàn có thể xảy ra nhầm lẫn về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và mặc dù pháp luật chưa quy định nhưng thực tiễn xét xử đã thừa nhận nhầm lẫn về chủ thể.

Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng. Điều 126 BLDS năm 2015 chỉ quy định sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quyđịnh mức độ, tính chất của nhầm lẫn. Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy định những tiêu chí để xác định một sự nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm lẫn. Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể giải quyết được vấn đề đặt ra. Trong ví dụ mua bán bình cổnói trên, nếungườibán là chuyên gia trong lĩnh vực đồcổthìsựnhầm lẫn không thể coi là nghiêm trọng. Bởi lẽ người bán biết hoặc buộc phải biếtvềđối tượng của hợp đồng. Nếu người mua là chuyên gia đồ cổ, còn người bán là ngườibình thường thìsựnhẫmlẫncủa ngườibán cóthểcoi là nghiêm trọng. Nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa nếu nó là động lực chủ yếu để bên bị nhầm lẫn

21

ký kết hợp đồng. Với tư cách là động lực chủ yếu nhầm lẫn chỉ được xem xét nếunó là cơ sởduy nhấtđểbênbịnhầm lẫn kýhợpđồng. Nếucòn cókhảnăng kýhợpđồngvớinhữngđiềukiện khác thì khôngthểcoi nhầmlẫnlàđộnglực chủyếu. Thực tiễn xétxửcủa nhiềunước không coi HĐVH nếu nhầm lẫn là do động cơ thông thường. Nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý chỉ trong trường hợp, nếu sự nhầm lẫn đó có liên quan đến đặc tính, vì nó mà các bênđạt được sự thoả thuận một cáchtrực tiếp [43].

Cóthểnhận thấy, việc pháp luật Việt Nam không quyđịnhrõ ràng nhầm lẫn đến mức nào thì có ý nghĩa pháp lý trong xác định hiệu lực của hợp đồngcộngvớiviệc pháp luật không thừa nhận ánlệsẽlàm cho Toà án gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử. Bởi lẽ khó có tiêu chí rõ ràng khi đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhầmlẫn. Một vấn đề nữacần phải được xem xét một cách thận trọng dưới góc độ pháp lý khi xác định nhầm lẫn là có cần thiết phải xác định lỗi của một bên là nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn của bên kia hay không. Vấnđềnàyđược xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành , nhầm lẫn phải do hành vilỗivôýcủa mộtbên gây ra. Điềuđócóthểhiểu rằng, nếu không có lỗi của một bên thì không có sự nhầm lẫn hay nhầm lẫn (nếu có) sẽkhông có ý nghĩa pháp lý và không thể là căncứ để yêucầu toà án tuyênbốHĐVH . Cũng cóthểhiểu rằng, các nhà làm luật Việt Nam không loạitrừnhầm lẫn không phải do lỗi bên kia, tuy nhiên họ chỉ cho rằng, nhầm lẫn do

lỗi của bên kia mới có thể có ý nghĩa pháp lý và có thể được coi là điều kiện đểtuyênbốHĐVH. Khoản 2Điều126 BLDS năm 2015 quy định, trong trườnghợpmộtbên dolỗicốýlàm cho bên kia nhầmlẫnvềnộidung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này. Có

lẽ vì quy định này nằm trong Điều 126 BLDS dưới tên gọi “Giao dịch dân sựvô hiệu do bị nhầm lẫn” [37] nên có tác giả cho rằng, BLDS năm 2015 dự liệu

22

hai trường hợp nhầm lẫn của một bên: nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của bên kia và thực tế cho thấy hai loại nhầm lẫn này hoàn toàn có thể tồn tại.Ở đây, BLDS năm 2015 không coi nhầmlẫnlà dolỗicốýcủa mộtbên mà bằng khoản 2 chỉ nhấn mạnh rằng, nếu một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung của giao dịch thì bị coi là lừa dối. Thật vậy khi một bên có hành vicố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung cả hợp đồng tức là trong hành viđó bao gồm các thủ đoạn gian dối. Một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai bởi lẽbiết rằng, nếukhông nhưvậythì bên kia hiểu đúngvềnộidung của hợp đồng thì sẽ không bao giờ ký [43].

Cùng nhầm lẫn: Pháp luật Việt Nam có xem xét trường hợp khi cả hai bên cùng nhầm lẫn hay không? Đâylà vấn đề đã có tácgiả đặt ra trong khoa học pháp lý Việt Nam . Không riêng gì pháp luật Việt Nam mà pháp luật của nhiều nước không đề cập đến vẫn đề nàymột cách trực tiếp, ví dụ, BLDS của Đức, Pháp, Liên bang Nga và chỉcó pháp luật của mộtsố nước và Nguyên

tắc hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu lại quyđịnhvấnđềnày khá cụthể. Và việc pháp luật có quyđịnhcảhai bên cùng nhầm lẫn một cách trức tiếp hay không ít có ý nghĩa pháp lý bởi lẽ:

Thứnhất, mặc dù không quyđịnhtrực tiếp nhưngđiềuđókhông cónghĩa pháp luật các nước không có sự điều chỉnh loại nhầm lẫn này. Rõ ràng, với cách quy định tại Điều 126 BLDS năm 2015 nhiều người có thể hiểu rằng, theo pháp luật Việt Nam chỉ có một bên trong giao dịch bị nhầm lẫn. Tôi cho rằng, với cách quy định tại Điều 126 BLDS năm 2015 cũng có thể hiểu rằng, hoàn toàn có thể có truờng hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn. Đó là những trường hợp cả hai bên đều có hành vi vô ý và làm cho bên kia hiểu nhầm. Và trong những trườnghợpnàycảhai bênđềucó quyền yêucầuToà án tuyênbốHĐVH [43] [45].

23

Thứ hai, theo quan điểm của tôi thì pháp luật quốc gia cũng không nhất thiết quy định rõ trường hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn, bởi lẽ vấn đề này cóthể được giải quyết bằng các công cụ pháp lý khác. Để làm sáng rõ loại nhầm lẫn này người ta thường lấy ví dụ: A và B, khi giao kết hợp đồng bán một xe hơi thể thao, đều không thể biết hay không thểbiết thực sự là chiếc xe hơi này là xe hơibị ăncắp.Việc huỷ bỏ hợp đồng này là chấp nhận được. Trong thực tiễn xét xử của Việt Nam có một bản án tương tự. Anh Mạnh mua xe của anh Thắng, anh Thắng mua xe của anh Quang, sau một thời gian thì mới biết rằng, xe là tang vật của một vụ cướp tài sản. Toà án tuyên HĐVH do bị nhầm lẫn bởi lẽ cho rằng cả A và B đều nhầm lẫn. Trong khoa học pháp lý Việt Namcóngười đồng tình với cách giải quyết nói trên của Toà án.

Thứ ba, ở nhiều nước, mặc dù pháp luật không quy định trực tiếp, tuy nhiên sự khiếm khuyết này của pháp luật được khắc phục bằng thực tiễn xét xử của Toà án. Trong thực tiễn xét xử của một số nước cả hai bên cùng nhầm lẫnlà những trường hợp, ví dụ, tạithờiđiểmkýkếthợpđồngtàisảnlà đối tượngcủa hợpđồngkhông còntồntại, hoặc trườnghợpcác bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại thời điểm ký kết hợp đồng không biết người được bảo hiểm đã chết.

Sự tồn tại các điều kiện nói trên chỉ là điều kiện cần để HĐVH mà chưa phải là điều kiện đủ.

Để tuyên bố HĐVH do bị nhầm lẫn, theo ý kiến của tôi, ngoài các điều kiện nói trên còncầnphải có cácđiềukiệnđủ. Liên quanđếnvấnđềnày trong pháp luật Việt Nam chỉ có một quy định mang tính chất chung tại khoản 1 Điều 136 BLDS 2005, nếu bên bị nhầm lẫn không yêu cầu Toà án tuyênbốHĐVH trong thờihạnhai nămkểtừthờiđiểmkýhợpđồngthìmấtquyền viện dẫn Điều 131. Tôi cho rằng, sự để ngỏ này sẽ tạo ra nhiều cách hiểu khác

24

nhau khi áp dụng Điều 131 BLDS năm 2005, nhất là khi chức năng giải thích pháp luật của thẩm phán bị hạn chế và án lệ không được thừa nhận [43].

Khác với pháp luật của Việt Nam, vấn đề này được pháp luật và thực tiễn xétxửcủa các nước giải quyết triệtđể, thấuđáohơntuỳthuộc vào các điềukiệncầnsau đây:Thứnhất, nhận thức của bênbịnhầm lẫn, trong mọi trường hợp không phụ thuộc vào nguyên nhân bị nhầm lẫn, bên bị nhầm lẫn mấtquyền yêucầutuyênbốHĐVHnếubênbịnhầmlẫnbiết và buộc phải biếtvềsựnhầm lẫn. Thứhai, nhận thức của bên không nhầm lẫn, nhầm lẫn liên quanđếnnộidungchủyếucủa hợpđồnglà điềukiệnđểHĐVHnếu chứng minhđược rằng, bên kia, vớitư cách là người bình thường, biết hoặc buộc phải biết về sự nhầm lẫn này nếu thể hiện được sự chú ý, cẩn trọng. Thứba, thờiđiểmthông báo cho bên kia (bên khôngbị nhầm lẫn), bênbịnhầm lẫn phải thông báo kịp thời về sự nhầm lẫn của mình cho bên kia. Kịp thời cónghĩa là phải thống báotrước thời điểmbên kia, vì tin vào hiệu lực của hợp

đồngđã có những hànhviệcụthể, ví dụ, bán lại, sửa chữa vật…Vídụ, theo quy định tại Điều 871 BLDS Áo, trong trường hợp người bán nhầm lẫn về đặc tínhcủahàng hoá thìngườibánmấtquyền việndẫnđếnnhầmlẫnnếuhàng hoá đã được người mua bán lại hoặc đã cho thuê, ngoại trừ trường hợp người mua biết về sự nhầm lẫn hoặc có hành vi làm cho người bán nhầm lẫn [12].

Thật khó có thể đưa ra một định nghĩa pháp lý về nhầm lẫn. Theo một số luật gia, nhầm lẫn là “niềm tin không phù hợp với thực tế”, một số luật gia khác lại cho rằng nhầm lẫn là “sự khác biệt giữa ý chí nội tâm và ý chí biểu hiện bên ngoài”. Tựu chung lại, sự nhầm lẫn làm cho sự thể hiện ra bên ngoài của ý chí một trong các bên không phù hợp với ý chí đích thực bên trong của họ khiến cho sự thỏa thuận đạt được đã bị khiếm khuyết, và vì vậy, về nguyên

tắc, mọi sự nhầm lẫn đều làm cho HĐVH vì đã không có sự thống nhất ý chígiữa các bên. Tuy nhiên, nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định của giao lưu dân

25

sự, nhà làm luật chỉ chấp nhận nhầm lẫn là nguyên nhân khiến HĐVH trong một số trường hợp nhất định. Luật pháp một số nước thường chia sự nhầm lẫn – nguyên nhân khiến HĐVH ra ba loạiHĐVH [12]:

– Nhầmlẫnvềbảnchấthợpđồng(chẳng hạn, A nghĩ là B cho mình mượn tài sản, B lại nghĩ mình gửi giữ tài sản cho A);

– Nhầm lẫn về đối tượng của nghĩa vụ của hợp đồng (chẳng hạn, A nghĩbán cho B lô đất 1, trong khi B lại nghĩ A bán cho mình lô đất 2; hoặc A và B kýkếthợpđồngvậnchuyển hàng hóa, Atưởngphải giao hàng hóa tạiđịa

điểm X, trong khi B nghĩ A phải giao hàng tại địa điểm Y…).

– Nhầmlẫnvềcác yếutốchủyếucóýnghĩa quyếtđịnhtớisựthỏa thuận của các bên (thực chất,ởđâymuốn nóitớinhầmlẫnvềmộtđộngcơnào đó khiến một người muốn ký kết hợp đồng). Về nguyên tắc, nhầm lẫn vềmột yếu tố chủ yếu cóý nghĩa quyết định tới sự thỏa thuận giữa các bênchủthể là nguyên nhân khiến HĐVH khi yếu tố này đã được bên kia chú ý tới, trừphi, căn cứ vào bản chất hợp đồng và hoàn cảnh cụ thể, đó là một yếu tố hiển nhiên. Vì vậy, một người mua một bức tượng chỉ vì anh ta nhầm tưởng rằng bức tượng này đã từng được tác giả trưng bày ở salon chỉ có thể yêu cầu Tòa án tuyên HĐVH nếu anh ta đã từng nói tại sao anh ta lại có ý định mua bức tượng đó với người bán.

Không theo cách tiếp cận bằng việc phân chia các loại nhầm lẫn, BLDS tại Điều 131, chỉ quy định khi một bên, do lỗi vô ý của bên kia, nhầm lẫn vềnội dung của giao dịch mà xác lập giao dịch thì có quyền yêu cầu bên kia thay

đổi nội dung của giao dịch đó; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thayđổi của bênbịnhầmlẫnthì bênbịnhầmlẫncó quyền yêucầuTòa án tuyênbốgiao dịch vô hiệu. Như vậy, theo luật Việt Nam, bên bị nhầm lẫn phải chứng minh được nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn là do lỗi của bên kia [12].

26

1.4. Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của một số nước trên thế giới

Có thể thấy rằng việc phân loại HĐVH như trên được hình thành cùng vớilịchsửphát triển của Luật La Mã, xuất pháttừtư tưởng phân chia pháp luật theo luật công và luật tư, thông thường các quan hệ thuộc lĩnh vực công sẽ chịu sự can thiệp sâu hơn của Nhà nước.

Nếu xét các quy định về HĐVH tuyệt đối trong hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau, nhận thấy rằng trong BLDS Cộng hòa Pháp ghi nhậnloại hợp đồng này dưới tên gọi hợp đồng đương nhiên vô hiệu hoặc trong BLDS của Cộng hòa Liên bang Đức, BLDS Nhật Bản, Luật Hợp đồng Công hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng khái niệm vô hiệu (void). Trong khi đó, luật

hợp đồng của các nước theo hệ thống common law như Anh, Mỹ… ghi nhận loại hợp đồng này là “hợp đồng không thể thực thi” (unenforceable). Mặc dùvề tên gọi khác nhau nhưng bản chất là như nhau.

Còn đối với loại hợp đồng thương mại vô hiệu tương đối mà các yếu tố

dẫn đến sự vô hiệu như: hợp đồng giao kết do bị lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn,… thì chúng cũng có những têngọikhác nhau theo quyđịnhcủa các nước khácnhau. Theo quy định của BLDS Cộng hòa Pháp loại hợp đồng này có tên gọi là “HĐVH có điều kiện”, hoặc theo quy định của phápluật một số nước theo hệ thống thông luật (Common law) hợp đồng thương mại vô hiệu tươngđối có tên gọi là “hợp đồng cóthể vô hiệu” (voidable).

Vềhợpđồngthươngmạivô hiệu dobịđe dọa, pháp luật Việt Nam không phân biệt rõ hành vi đe dọa xảy ra lúc nào và mức độ như thế nào thìhợpđồngthươngmạibịcoi là vô hiệu. Dođó,nếuđe dọa ởgiaiđoạnthực hiện hợp đồng để buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì hợp đồng thương mại lúc này có bị tuyên bố vô hiệu hay không? Giải quyết vấn đề đó, luật của Pháp có khái niệm “đe dọa không chính đáng” để phân biệt với khái

27

niệm “gâysức ép chính đáng”, là sự đe dọa không dẫn đến khả năng vô hiệu hóa các hợp đồng. Một trong những trường hợp gây sức ép chính đáng là việc thực hiện một quyền hợp pháp kèm theo yêu cầu đánh đổi quyền nàyvới sựưng thuận của ngườibịđe dọatrong việc xáclậphợpđồngvớinhữngđiều kiện hoàn toàn bình thường. Chính đáng bởi vì, một là, việc gây sức ép không bao gồm một dự tính trái pháp luật; hai là, người gây sức ép không thu nhận các lợiíchbấtthường, lợiích quá đángtừhợp đồngvà ngườibị gây sức ép cũng không bị thiệt hại do việc thực hiện hợp đồng đó [1].

Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Ở Việt Nam, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng được quy định tại Điều 122 BLDS 2005, theo đó, một giao dịch có hiệu lực khingười tham gia giao dịch có năng lực hành vi dânsự;mục đích và nộidung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàntựnguyện. Nếupháp luậtcó quyđịnhhình thức hợp đồng là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thì cũng phải tuân thủ quy định này [32] [1].

Như vậy, vềcơ bản, trừđiềukiệnvềnghĩa vụđối ứng, các điềukiện hợpđồngcó hiệu lực của HoaKỳvà Việt Nam khá tươngđồngvớinhau. Liên quanđếnhợpđồngkhông có hiệu lực thi hành, pháp luật Hoa Kỳchia thành 3 loại là HĐVH (void), có thể vô hiệu (voidable) và không thể thực thi (unenforceable). HĐVHlà hợp đồng bịcoi là không tồn tại, không được toàán công nhận và không được thực thi (loại hợp đồng này giống HĐVH tuyệt đối theo quan niệm trong khoa học pháp lí của Việt Nam). Hợp đồng có thể bịvô hiệu là hợp đồng mà một bên có quyền lựa chọn chấm dứt hợp đồng, ví dụhợp đồng kí sai thẩm quyền (loại hợp đồng này cũng giống HĐVHtuyệt đối ởViệt Nam). Hợpđồngkhôngthểthực thi là hợpđồngmà không bên nào cóthểthực thiệnghĩa vụhợpđồng, vídụởHoa Kỳ, mộtsốloạihợpđồngbắt

28

buộc phải kí bằng văn bản, nếu các bên không tuân thủ quy định này thì hợp đồngbịcoi là khôngthểthực thi. BLDS năm 2005 của Việt Nam cũng lần đầutiên đưa ra căncứHĐVH do cóđốitượngkhôngthểthực hiệnđược (Điều 411). Tuy vậy, với cách quy định tại Điều 411 “Trong trường hợp ngay

từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thìhợpđồngnàybịvôhiệu” cóthểtạora sựhiểu nhầm là trong mọi trường hợp, khi có lí do khách quan làm cho đối tượng của hợp đồng không thểthực hiệnđược thìhợpđồngsẽbịcoi là vô hiệu. Vídụ:A kíhợpđồng mua hàng của B nhưng không may, số hàng này gặp hỏa hoạn và bị tiêu huỷtoàn bộ. Rõ ràngđốitượngcủa hợpđồng này khôngthểthực hiệnđược nhưng không thể nói hợp đồng bị vô hiệu. Hợp đồng vẫn có hiệu lực, bên bán vi phạm hợp đồng(không giao được hàng cho bên mua) nhưng do gặp phải lído bất khả kháng nên được miễn trách nhiệm hợp đồng [1] [2].

1.5. Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 1.5.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ hợp đồng bằng pháp luật

Đểtồntạivà phát triển, cá nhân haytổchức đềuphải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếuđốivớiđờisống xã hội. Song, việc chuyển giao các lợiích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vicó ý chí của của chủthể, như C. Mácđã từng nói:”Tựchúng, hàng hoá khôngthểđiđếnthịtrường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì nhữngngườigiữchúng phảiđốixửvớinhau như nhữngngườimà ýchínằmtrong các vậtđó”. Theo đó, chỉkhi cósựthểhiện và thống nhấtýchígiữa các bên, thì quanhệtraođổilợiíchvậtchấtmớiđược hình thành vàđược gọi là hợp đồng.

29

Hợpđồngchưa xuất hiện trong xã hộinguyên thủybởivì khiấylực lượng sản xuất còn kém phát triển, còn tồn tại hình thức sở hữu chung về tưliệu sản xuất. Khi xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân công lao động trong xãhộithì nhucầutraođổihàng hóa giữa conngườiđòihỏiphải cósựthống nhất ý chí của những người chủ hàng hóa ấy mà hình thức của nó là bản giao kèo. Đâychính là hợpđồnghaykhếước.Vì vậy, cóthểkhẳngđịnhnhững điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa cũng chính là những điều kiện rađời của hợp đồng. Hợp đồng là hình thức cơ bản của mối quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể pháp luật trong xã hội. Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội loài người thì hợp đồng không chỉ dừng lại ở hình thức biểuđạtcho nhucầutraođổisảnphẩm mà nó còn phát triểnvượtra ngoài phạm vicủamốiquanhệnày. Bảnthân việc traođổisảnphẩm giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng cũng không còn mang tính ngẫu nhiên mà nóđã dầnchuyển hóa thànhmộtnghềđộc lập – nghề thương mại. Ban đầu, khi tiến hành các hoạt động thương mại, giữa các thương nhân hình thành những quy tắc xử sự mang tính nghề nghiệp.

Qua thời gian, các quytắcnàyđượclưu truyền vàdầndầnhình thành

tập quán được các thương nhân thừa nhận rộng rãi, gọi là tập quán thương mại. Cáctậpquán nàylạidầnđượcphápđiểnhóa trong cácbộluật,đạoluật đơn hành hoặc được cấu thành những phần riêng trong pháp luật dân sự. Những văn bản pháp luật này lần lượt ra đời ở một số nước Châu Âu, những nước có điều kiện kinh tế, địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu buôn bán

như: Đức, Pháp, Thụy Sỹ…

Chếđịnhhợpđồngtừchỗchỉlàtậphợpnhữnghợpđồngcụthểtrực tiếp xác lập, thayđổihoặc chấmdứtnghĩa vụđãdầndầntrởthànhmộtchếđịnhpháp lý thực sựvớimộtkhái niệmvềhợpđồngtươngđốichặtchẽvàhoàn chỉnh. Từ thời La Mã, hợp đồng đã được định nghĩa là căn cứ làm phát

30

sinh, thayđổihoặc chấmdứtquanhệpháp luậtvớihaidấuhiệuđặc trưng không thể thiếu: thứ nhất, phải có sự thỏa thuận (convention, consensus);thứhai, phải có mục đích (căncứpháp lý) nhấtđịnh(causa) mà các bên hướng tới. Pháp luật về hợp đồng ngày càng được khẳng định cùng với sự ra đời của các Bộ dân luật. Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và tư pháp, songđặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp.Điều1101 BLDS La Mã quy định, hợpđồnglà sựthoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó. Trên cơsởkếthừa nhữnghạtnhânhợplý, khoa học của khái niệm này,tạiĐiều1101 BLDS Pháp hiện hành cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy vềhợp đồng. Theo quy định của Điều 1101 BLDS Pháp năm 1804 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc”. Hoặc theo quy định của Điều 420 BLDS Liên Bang Nga năm 1994 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập,

thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”…

Ở Việt Nam, pháp luật về hợp đồng xuất hiện từ khi có các định nghĩa khái quát về khế ước trong các Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ (năm 1883), BộDân luật Bắc Kỳ(năm 1931) vàBộDân luật TrungKỳ(năm 1936)3. Tuy nhiên, khái niệmkhếước khôngđểlạidấu ấnsâuđậmvà không có ảnh hướng lớn đến hệ thống pháp luật về hợp đồng sau này. Trong bối cảnh hiện nay nhiều nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì quan hệ traođổi hàng hóa mà hình thức của nó là hợp đồng ngày càng phức tạp, có nhiều sắc thái biến động khiến các chủ thể kinh doanh không thể lường trước được. Sựra đờicủa pháp luậtvềhợpđồnglà kimchỉnam, là côngcụhữuhiệu nhất điềuhòa mốiquanhệthươngmạimang tính haimặtnày. Như vậy, các quy

31

phạm pháp luật về hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng là điều rất cần thiết cho việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các thương nhân, giữa thương nhân với chủ thể kinh doanh.

1.5.2. Mục đích và ý nghĩa của quy định về HĐVH

QuyđịnhvềHĐVH, có thể xuất phát từ những quan niệm khác nhau, hoặc chủyếutừnguyên tắc cănbản“nguyên tắc tựdoýchí” hoặc kếthợp giữa tự do ý chí và ý chí Nhà nước. Tuy nhiên, quan niệm tôn trọng sự tự do ýchí luôn được mong đợi hơn, sự tự do được hiểu là tự do của “con người xãhội” không phải là “con người tự nhiên”. Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, một sản phẩm lịch sử được hình thành do quan niệm tự do hoặc những học thuyếttựdođólà “nguyên tắc tựdoýchí”. Theo đó, mộtchủthểsẽbịràng buộc khi tuyênbốýchí hoặc chấp nhậnýchímộtcáchtựnguyện vàkhông chống lại lợi ích công. “Nghĩa vụ tự do ý chí của các người kết ước mà có. Lẽ dĩ nhiên, hiệu lực bắt buộc của nghĩa vụ cũng căn cứ vào nguyêntắc ýchí tự do. Tuy nhiên, ở trên nguyên tắc này cần tôn trọng ích lợi chung và trật tự công cộng”. Nhà nước chỉ luật hoá nguyên tắc tự do thành luật và ở chừng mực nàođóquyđịnhhoặc chấp nhận những giá trịđược gọilà chuẩn mực chungcầnbảovệ, buộc các chủthểphải tôn trọng những chuẩn mực xã hội đó – tự do giao kết nhưng không được xâm phạm trật tự công hoặc lợi ích của chủ thể khác.

Xuất pháttừmục tiêuđiềuchỉnh của pháp luật, việc bảovệquyền và

lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng là tất yếu và việc bảo vệ của pháp luật luôn đặt ra đối với hợp đồng hợp pháp và HĐVH. Pháp luật dân sự Cộng Hoà Pháp có quyđịnh“Hợp đồng đượcgiao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên giao kết”; tương tự, BLDS hiện hành của Việt Nam cũng thể hiện sự bảo vệ này, “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể

32

khác tôn trọng”. Đối với HĐVH, pháp luật không những bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia mà còn bảo vệ trật tự công cộng và các giá trị chung của xãhộinhưđạođức, thuần phongmỹtục…Đây chính lànộidungthểhiện mục đích và ý nghĩa của việc quy định HĐVH.

Tiểu kết chương

Kếtquảnghiêncứutại Chương 1 của luận vănđã nêu lên những nét khái quát nhất về khái niệm cũng như đặc thù của HĐVH do nhầm lẫn, từ đó bước đầu có nhận thức chung về HĐVH do nhầm lẫn qua việc phân tích khái niệm, phân loại HĐVH do nhầm lẫn, đặc điểm của HĐVH do nhầm lần. Cuối cùng, sau khiđã nắmđược những kiến thức cơ bảnvềHĐVH do nhầm lẫn, tác giả bắt đầu tìm hiểu chung về cấu trúc và nội dung của pháp luật khi quyđịnhvềvấnđềnàyđểgiớihạnđược phạm vi tìm hiểu của đềtài. Kếtquảnghiêncứulý luậntạichương 1 của luận văn giúp tác giảđịnhhướngcác nghiêncứuvềquyđịnhcủapháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các quyđịnh của pháp luật trong thực tế về HĐVH do nhầm lẫn.

33

Chương 2

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Điều kiện của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Trong quá trình xây dựng và ký kết hợp đồng, người soạn thảo cần lưuý đến điều kiện của hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu của hợp đồng nhằm tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra trong quá trình hai bên thực hiện hợp đồng. Điều 388 BLDS năm 2015 quy đinh: Hợp đồng dânsự là sựthoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdânsự.Như vây hơp đông dân sư la sư thoa thuân, thông nhât y chi cua cac bên vê viêc xac lâp, thay đôi hoăc châm dưt quyên, nghia vu dân sư. Hợp đồng cóhiệu lực khi đáp ứng đủ 4 điều kiện [37]:

Thứnhất, các chủthểkýkếthợpđồngphảihợppháp. Thông thường các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó.

Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnhđó,nộidung của hợpđồngcầnphảicụthể, bởivì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi. Những nghĩa vụtronghợpđồngmà khôngthểthực hiệnđược thìhợpđồngcũng khôngđược coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ.

Thứtư,thủtục và hình thức của hợpđồngphải tuân theo nhữngthểthức nhấtđịnhphùhợpvớinhững quyđịnhcủa pháp luậtđốivớitừng loại

34

hợp đồng. Hợp đồng không đáp ứng được một trong các điều kiện trênsẽ dẫn đến vô hiệu.

Bảng 2.1. So sánh quy định về HĐVH của BLDS năm 2015 và BLDS năm

2005

BLDS 2015BLDS 2005
Năng lực xác lập giao dịchChủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dânsựphùhợp vớigiao dịch dân sự được xác lập(theo hướng thêm điều kiện năng lực pháp luật)Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
Điều cấm

của luật

Mục đích vànội dung của giao dịch dânsựkhông vi phạmđiều cấm củaluật

(khắc phụcsựhạnchế tựdo nhưquy định BLDS 2005, và theo nhưtinh thần điều 123 BLDS 2015điềucấmcủa luật là những quyđịnhluật không cho phépchủthểthực hiện những hành vi nhấtđịnh)

Mục đích và nộidung của giao dịch không vi phạmđiều cấm củapháp luật,
Mục đích của giao dịchMục đích vànội dung của giao dịch dânsựkhông vi phạmđiều cấm của luật

(điều118, BLDS 2015)

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi íchhợp pháp màcác bên mong muốn đạtđược khi xác lậpgiao dịchđó. (Điều123 BLDS 2005)

35

Giớihạn tự do về hình thứcHình thức của giao dịch dân sự làđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dânsựtrong trường hợp luật có quy định. (làmhẹpđi yêu cầu về hình thức)Hình thức giao dịch dânsựlà điềukiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định
Loại hình

thức của giao dịch

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thôngđiệpdữliệu theo quyđịnhcủa pháp luậtvề giao dịchđiện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.(Đề cập đến luật giao dịch điện tử)

+ Bỏhình thức vănbảnkhông cócông chứng chứng thực như: văn bản viết tay, văn bản đánh máy

+ không coi xin phép là mộthình thức nữa.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữliệuđược coi là giao dịch bằng văn bản

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Do hợp đồng là một hình thức của giao dịch dân sự nên theo quy định tại Điều 407 BLDS 2015 về HĐVH đã liên hệ áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu quy định từ Điều 123 đến Điều 133 BLDS năm 2015.

Theo quy định tại Điều 126 của BLDS năm 2015 thì giao dịch dânsựvô hiệu do bị nhầm lẫn:

36

“1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thìbên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịchdân sự vẫn đạt được.”[37]

Theo Điều 131 BLDS 2005, nếu một bên do nhầm lẫn về nội dung chủyếu của hợp đồng mà đã giao kết hợp đồng thì có quyền yêu cầu bên kia thayđổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn cóquyền yêu cầu tòa án tuyên bố HĐVH. Điều này khác với quy định của một số nước theo truyền thống thông luật, về nguyên tắc, việc một hoặc cả hai bên nhầm lẫn khi giao kết hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng. Nếu cả hai bên nhầm lẫn về một nội dung chủ yếu khi giao kết hợp đồng thìHĐVH. Trong từng trường hợp cụ thể, tòa án sẽ xác định những nội dung nàođược gọilà nộidungchủyếu. Nhầmlẫncủa hai bênvềluật áp dụng, nhầm lẫn về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc nhầm lẫn về các khoản lợi thuđược từhợpđồngvềnguyên tắc không làm cho HĐVH.Nếumộtbên không tiếtlộthông tin, và vìthếbên kia đã giaokếthợpđồngthìhợpđồng vẫn có hiệu lực. Tương tự, nếu một bên vô tình đưa ra một thông tin sai lệch không vì mục đích lừa đảovà bên kia dựa vàođóđã giaokếthợpđồngthìhợp đồng cũng không vì thế mà đương nhiên trở thành vô hiệu [2].

BLDS năm 2005 không đưa ra khái niệm về nhầm lẫn nhưng lại khẳng định nhầm lẫn về nội dung chủ yếu là yếu tố có thể đưa đến giao dịch vô hiệu. Chínhđiềunàyđãgây ra không ít khó khăn cho Tòa án trong việc tuyênbốgiao dịch dânsựvô hiệu do nhầm lẫn.Sựnhầmlẫncóthểlà dosựvôýcủa

37

một bên hoặc của cả hai bên, và thực chất, cả hai bên đều mong muốn giao kết mộthợpđồngnghiêm túc, đúng pháp luật. Vídụ:Khi kýkếthợpđồngmua bán chén, ông A là người miền bắc (bên bán), ông B là người miền nam (bên mua), khihợpđồngđượcký kết, ông A giao hàng thì lúcđóhai bênđãphát hiện ra sự nhầm lẫn do sử dụng từ địa phương. Bởi vì “chén” theo tiếng miền

Nam có nghĩa là “bát” (dùng để ăn cơm, đựng canh,…) còn “chén” theo tiếng miềnBắclà“chénuốngnước”.Dođó,hợpđồngsẽbịtuyênbốvô hiệu nếu một trong hai bên có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố HĐVH [2].

Tuy nhiên. nếu một người do kém hiểu biết, không chịu tìm hiểu thông tin mà mua mộtchiếc xe máy hiệu Spacy của Trung Quốc vớigiá 60 triệu đồng và tưởng rằng đó là xe Nhật, thì không thể dựa vào sự nhầm lẫn đó màđòi trả lại xe máy cho cửa hàng; trừ trường hợp giá xe trên thị trường đã gần nhưcốđịnhvà ngườibán hàng biết (hoặc đánglẽphải biết) nhầmlẫncủa người mua.

Từ những bức tranh nhái các danh họa nổi tiếng bày bán khắp nơi, đồ

giảcổ, chođếnhàng tiêu dùng,điệnmáy… hànggiảvà thông tin thất thiệt tràn ngậpthịtrường Việt Nam, làm cho cơ hộicủa ngườithiếu thông tin cóthể khởi kiện để hủy hợp đồng do bị nhầm lẫn, như được thiết kế trong Điều 131 BLDS năm 2005 dường như trở nên xa lạ và lạc lõng [43].

Giao dịch dânsựvô hiệu trong BLDS năm 2015được quyđịnhtại Điều 126 có rất nhiều thay đổi so với BLDS 2005, cụ thể:

“1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thìbên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc

38

các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịchdân sự vẫn đạt được.”[37]

Như vậy, BLDS năm 2015 không còn quy định về lỗi vô ý của một bên dẫn đến việc nhầm lẫn nữa mà thay vào đó chỉ xác định có sự nhầm lẫn của một bên hoặc các bên và tiêu chuẩn để xác định hợp đồng có vô hiệu do nhầm lẫn hay không còn được xem xét ở việc: kết quả (hay mục đích) của việc xác lập giao dịch đã đạt được hay chưa hoặc các bên có tự khắc phục được nhầm lẫnhay không?Quả thực, khiếu kiệnđểhủybỏnghĩa vụhợpđồngdo nhầm lẫnlà mộttrong nhữngvấnđềphức tạp; các nghiên cứu ởphương Tây tuy nhiều, song vẫn chưa thể đưa ra một lý thuyết hợp lý để xác định những tình huống nhầm lẫn có thể dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng. Giới luật học nước ta cũng chỉ đưa ra một vài lời bình luận khái quát mà chưa thể tổng kết thực tiễn và đưa ra lý thuyếthữudụng giúp thẩm phán tuyênbốHĐVH do nhầm lẫn.Những tình huống nhầm lẫn này chưa được phân xử rõ ràng theo pháp luật hợp đồng và thực tiễn xét xử ở nước ta. Dù các bên thận trọng đến tối đa cũng không thể tuyệt đối tránh được nhầm lẫn, mà mọi sự nhầm lẫn nhỏ đều có thểgây ra tranh chấp lớn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *