Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm và uy tín
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường – vấn đề này đã được các nhà làm luật coi đó là một nguyên tắcvà cụthểhóa trong văn bản pháp luật. Xét về nguồn gốc lịch sử thì chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngra đời từrất sớm. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia đều có những qui định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bên cạnh đó còn có những qui định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại,đối tượngbị thiệt hại, hoàn cảnh bị thiệt hại…
Bộ luật dânsựnăm 1995 được áp dụng để giải quyết cho các tranh chấp dân sựnói chung, tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêngkể từngày 1/7/1996. Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự 1995 đã phát huy tác dụng trong việcđiều chỉnh các quan hệxã hội thuộcđối tượngđiềuchỉnh của luật dân sự,bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong giao lưu dân sự, góp phần làm ổn định các quan hệ xã hội. Bên cạnh những thành công đã đạt được, Bộ luật dân sự 1995 còn bộc lộ nhiều bất cậpcần phải sửa đổi,bổsung cho phù hợp với thực tiễn. Bộ luật dân sự 2005 rađời thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 với nhiều sựsửa đổi,bổ sung nhất định, trong đó có chế địnhbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bộ luật dân sự 2005 qui định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngtừĐiều 604 đến Điều 630, trong đó bổ sung qui định vềbồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, bồi thường thiệt hại do xâm phạmmồ mả,hài cốt và rất nhiều sự sửa đổi khác trong từng qui định cụ thể.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những loại trách nhiệm gây nhiều tranh cãi về căn cứphát sinh, mức bồithường…; hơn nữa quiđịnh của pháp luậtvề vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính “định tính” mà không “định lượng” nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó,án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện về bồi thường; sựđối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại hoặc gia
đình của người bị thiệt hại… làm cho các án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng bị kháng cáo, khiếu nại từ phía đương sự.
Xuất phát từtình hình trên đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những vấn đề có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các qui định của Bộ luật dân sự2005 và các văn bản hướngdẫn thi hành, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn hoàn chỉnh dưới lăng kính pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quađó phụcvụ tốthơn cho công việc thực tế của bản thân. Ngoài ra, qua việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngdo xâm phạm sức khỏe, tính mạng cũng như việc áp dụng vào thực tiễn sẽ có những kiến nghị với cơ quan nhànước có thẩm quyền trong việc thực thi,sửađổi và tuyên truyền pháp luật.Để đạtđược mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng; tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng, qua đó chỉ ra nhữngbất cậptrong các quiđịnhcủa pháp luật và phương hướng hoàn thiện qui định của pháp luật về bồi thường thiệt hại nói chung, pháp luậtvề bồithường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đềlý luận cơ bản nhất vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại do có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng, đồng thời xem xét thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự xâm phạm sức khỏe và tính mạng. Luận văn này cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡnhững vướng mắc trong giải quyết bồi thường thiệt hạisức khỏe và tính mạng khi áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởngHồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê…cũngđược sửdụng trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết trong qui định của pháp luật vềtrách nhiệmbồithường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng; chỉ ra những khókhăn, bất cập trong việc áp dụng pháp luật,đồngthời có những kiến nghị trong việc hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng.
7. Kết cấucủa luận văn
Ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chungvề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong luật dân sự
Chương 2: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe và tính mạng bịxâm phạm
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe và tính mạng

Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNGTRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời kỳ sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, theo đó người ta thường áp dụng nguyên tắc “nợgì trả nấy” khi có hành vi gây thiệt hại. Luật XII bảng được ban hành vào năm 449 trước Công nguyên có qui định: Kẻ nào làm gãy tay người khác thì kẻ đó phải chịu lại tương tự như vậy. Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng,
lợi ích của người bị thiệt hại không được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác phát sinh. Đây chính là lý do để sau đó người ta xemxét vấn đề bồi thườngthiệt hại.
Xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế định gây nhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật pháp cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn.
Trải qua các giai đoạnlịch sửkhác nhau, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồngluôn được hoàn thiện bởi các chuyên gia pháp lý. Ở nước ta, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được qui định trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật
lệ.Pháp luật mỗi nước có thể có những qui định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi thường, tuy nhiên một nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại – đó là: “Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại”. Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều chưa có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự. Sự phân biệt rạch ròi giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chỉ ra đời trên cơ sở ba bộ luật đầu tiên (Bộ luật Nam Kỳ ban hành ngày 10/3/1883; bộ Dân luật Bắc Kỳ ban hành ngày 01/4/1931; bộ Dân luật Trung Kỳ ban hành ngày 31/10/1936) và các nguyên lý chungvềtrách nhiệmbồithường dân sự lầnđầuđược ghi nhận một cách cụ thể tại Điều 712 đến Điều 716 (Bộ Dân luật Bắc
Kỳ); Điều 761 đếnĐiều767 (Bộ Dân luật Trung Kỳ) và cho đến năm 1972 chính quyền Sài Gòn có ban hành bộ Dân luật Sài Gòn từ Điều 729 đến Điều 739 đề cập về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Cách mạng tháng Tám thành công, đánhdấumộtbướcngoặt mới: Nhànước Việt Nam dân chủ ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hành được các văn bản quy phạm pháp luật ngay.Để điều chỉnh các quan hệxã hội diễn ra hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lầnlượt ký Sắc lệnhsố 90/SL ngày 10/10/1945 và Sắc lệnhsố97/SL ngày 22/5/1950 thừa nhận luật lệ cũ trên tinh thần không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của Nhànước ta. Những quy định trong Sắc lệnhsố97/SLđã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của luật dân sự. Lần đầu tiên những nguyên tắc thực sựdân chủ, tiến bộ mang tính nhân dân sâu sắc được pháp điển hóa. Như nguyên tắc:
“Những quyền dânsựđều được luật bảo vệkhi người ta hànhxửnó đúng với quyền lợi của nhân dân” hay “người ta chỉ được hướng dụng và sử dụng các vật thuộc quyềnsởhữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân“.
Việc giải quyết các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệmcủangành tòa án. Qua thực tiễn xétxử,vậndụng vàkếthừa những quyđịnh pháp luật đã có, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư 173/UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫncông tác xétxử,trongđónói rõđiềukiện phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc, cách xác định thiệt hại…
Thông tư số 03 ngày 5/4/1983 bổ sung giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụtai nạn giao thông… đều là văn bản dưới luật, lại ban hành trong điều kiện nền kinh tế tập trung bao cấp, tuy đề cập đến nhiều vấn đề xong chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thể… Bên cạnh đó, xu hướng phát triển kinh tế đất nước theo cơ chế thị trườngcó sựquản lý của Nhà nước, đòi hỏi phải có bộ luật dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội rộng lớn. Bộ luật Dân sựra đời pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luật thống nhất nhằm khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn của pháp luật dân sự trước đó.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những trách nhiệm dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác.Chếđịnh “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng’’ được hệ thống ở
chương V, phần thứ 3 với các qui định từ Điều 604 đếnĐiều630 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhằmđảmbảo quyền và lợi ích hợp pháp,đồngthời giải quyết khách quan, nhanh chóng, công bằng theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 5 Điều 281 Bộ luật dân sự Việt Nam thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: “Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”.
Theo qui định tại Điều 604 Bộ luật dân sự thì sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” với “nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật” – Điều 604 Bộ luật dân sự đã xác nhận sựđồngnghĩa này.
Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyền,lợiích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp luật. Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối vớingười khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại.
Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:
1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự,uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
2. Trong trường hợppháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Như vậy, bồi thường thiệt hại là quan hệ phát sinh từhậuquả của hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác. Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dânsựnhằm buộc bên cóhành vi gây ra thiệt hại phải bù đắp,đền bù những tổn thất về vậtchất,về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Điều kiện để phát sinh trách nhiệm này là phải có thiệt hại, có hành vi trái
pháp luật, có quan hệnhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hạixảy ra có lỗi của người gây thiệt hại.
Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì? Qua những phân tích trênđây, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, là biện pháp cưỡng chếcủa Nhà nước theođó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó được thực hiệnvới lỗi cốý hoặc vô ý xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tàisản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc của chủ thể khác.
1.1.2. Ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Là một loại trách nhiệm pháp lý,được áp dụngkhi thỏa mãn những điều kiện do pháp luật qui định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa pháp lý vàý nghĩa xã hội sâu sắc,điều đóđược thể hiệntrên một số phương diện sau đây:
Thứnhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng là chế địnhgóp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Trong các quan hệ xã hội nói chung, giao lưu dân sựnói riêng, chủ thể tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình. Để xã hội ngày càng phát triển, các chủ thể phải tham gia nhiều quanhệ xã hộikhác nhau và trong các quanhệ xãhội mà chủ thể tham gia thì lợi ích luônlà tâm điểm để chủ thể hướng tới.Hiến pháp vàcác văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo vệ quyền lợiích hợp pháp của các chủ thể. Đó có thể là lợi ích vật chất,thể hiện ở quyền sởhữu tài sản, nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ.Bằng việc qui định căn cứ phát sinh, nguyên tắc bồi thường… thì chế địnhbồithường thiệt hại ngoài hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ xã hội khác nhau.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phầnđảm bảo công bằng xã hội.
Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệmvề hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại. Bằng việc buộc ngườigây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Đây cũng lànguyên tắc, là mục tiêu mà pháp luật đặt ra. Chế định bồi thường thiệt hại ngoàihợpđồng đã cụ thể hóa và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thường thiệt hại. Theo chếđịnh này, ai gây thiệt hại thì ngườiấy phải bồi thường, tuy nhiênsẽcó những trường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nguyên tắc giảm mức bồi thường, bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòngvệ chính đáng, bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi…
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng.
Ngoàimụcđích buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm củamình gây ra – nguyêntắcchịu trách nhiệm dânsự-chếđịnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại còn thể hiện ý nghĩa nhân đạo, ý nghĩa xã hội sâu sắc. Thông qua chếđịnh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cùng với việc vận dụng chế định này để giải quyết các tranh chấp liên quanđến trách nhiệm bồithường thiệthạingoàihợpđồng, chếđịnhtrách nhiệm bồithường thiệthạingoàihợpđồng còn cóýnghĩa răn đe, giáo dục và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng. Ngoàingườivi phạm, những ngườikhác cũng sẽthấy rằng nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ chịu sự xử lý của pháp luật.
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngcòn có ý nghĩa trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp chế tài nghiêm khắc. Ngoài ra,ýthức pháp luật của người dân cũng ngày một được nâng cao hơn.
1.2. SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM TÀI SẢN VỚI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM CÁC QUYỀN NHÂN THÂN
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, một trong những sựđa dạngđó là đối tượng bị thiệt hại.Đối tượng bị thiệt hại có thể là tài sản, nhưng cũng cóthể là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín (sự cụ thể hóa các quyền nhân thânđược pháp luật bảo hộ). Chúng ta có thể thấy rõ sự giống và khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm các quyền nhân thân qua sự phân tích dưới đây.
1.2.1. Những điểm giống nhau
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm pháp lý. Đây chính là thái độ của Nhànước đốivới hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó gây ra. Cả hai loại trách nhiệm này đều là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm, buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệm pháp lý nên chỉ phát sinh khi và chỉ khi dựa trên các căn cứ do pháp luật qui định. Những căn cứ đó được xác định cụ thể như: có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại.
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sảnvới trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân còn có những điểmgiống nhau liên quan đến hậu quả (trách nhiệm vật chất), những trườnghợpđược loại trừ, những trường hợp không được loại trừ…
1.2.2. Những điểm khác nhau
Bên cạnh những điểm giống nhau, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân còn có những điểm khác biệt, chúng ta có thể thấy sự khác biệt này qua bảng so sánh dưới đây:
| TIÊU CHÍ SO SÁNH | TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM TÀI | TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM |
| SẢN | CÁC QUYỀN NHÂN THÂN | |
| 1. Căn cứ phát sinh | Phát sinh trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng | Chỉ phát sinh ngoài hợp đồng |
| 2. Đối tượng bịxâm hại | Tài sản (Khái niệm tài sảnđược quy địnhtại Điều 163 Bộ luật dân sự: “Tài sản bao gồm vật, tiền,giấy tờcó giávà các quyền tài sản”) | Các quyền nhân thân được pháp luật qui định và bảo vệ |
| 3. Thiệt hại phải bồi thường | Thiệt hại vật chất | – Thiệt hại vật chất; và- Thiệt hại tinh thần. |
| 4. Hậu quả pháp lý được áp dụng | Bồi thường thiệt hại | – Bồi thường; và/ – Xin lỗi; hoặc/ – Cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng |
| 5. Thay đổi chủ thể | Có thể cósựthay đổi chủ thể: chuyển giao quyền yêu cầu hoặc chuyển giao nghĩa vụ | Không thể thay đổi chủ thể, không thể chuyển giao quyền yêu cầu,Điều 309 khoản 1 điểm a Bộ luật dân sự quy định: “1. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩavụ dân sựcó thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ những trường hợp sau đây: a) quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầubồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân |
| phẩm, uy tín;…” |
Chương 2
XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SỨC KHỎE VÀ TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM
Trách nhiệm bồi thường nói chung, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe nói riêng là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó trách nhiệm bồi thường do xâm phạm tính mạng, sức khỏe phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định.Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm là những căn cứ do pháp luật qui định, khi thỏa mãn các căn cứ đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng phát sinh. Pháp luật dân sự không qui định cụ thể căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng mà chỉquiđịnh căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Do đó, căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng.
2.1. CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE VÀ TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM
Là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thỏa mãn các căncứdo pháp luật qui định.Việc xác định căn cứphát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại có ý nghĩa hết sứcquan trọng: là cơsởđể xácđịnh trách nhiệm bồithường,mứcbồithường… Cơsởphát sinh trách nhiệm bồithường thiệthạiđược đề cập tại Điều 307 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại) và Điều 604 (Căn cứphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại) của Bộ luật dân sự năm 2005. Như vậy, trên cơ sởqui định tại hai điều luật này, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xácđịnh gồm 4 điều kiện:
Phải có thiệt hại xảy ra;
Phải có hành vi gây thiệt hại;
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy ra;
Người gây thiệt hại phải có lỗi. 2.1.1. Phải có thiệt hại xảy ra
Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trọng nhất của trách nhiệm bồi thường thiệthạingoàihợpđồng,bởinếukhông có thiệthạithì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không bao giờ phát sinh.Mụcđích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khôi phục, bùđắp những tổnthất cho người bị thiệt hại, do đó phải có thiệt hại thì mụcđích đó mới đạtđược.
Nếu thiệt hạido tài sảnbị xâm phạm thì việc xác định”có thiệt hại” là vấnđềkhông mấy khó khăn, tuy nhiên trường hợp sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm thì thiệt hại sẽ khó xác định, bởi chúng ta không thể “lượng hóa” được thiệt hại trong trường hợp này. Vậy có thểhiểu thiệt hạilà gì? Thiệt hại có thể được hiểu theo hai khía cạnh: xã hội vàpháp lý.
Theo ý nghĩa xã hội, mỗi hành vi trái pháp luật đều gây thiệt hại, bởi nó làm ảnh hưởngđến những quan hệ xã hội nhất định.
Theo luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản… của cá nhân vàcác chủ thể khác.Tổn thất thực tế được đề cậpở đây làsự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần, hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bịhại phải gánh chịu.
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần. Thiệt hại vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tài sản đã mất mát, những chi phí cần thiếtđể ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế tài sản bị hư hỏng, những khoản thu nhậpthực tếbị mất.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe… của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào? Tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá không thể tính thành tiền, do vậy bồi thường thiệt hại ở đây không phải là bồi thường về tính mạng, sức khỏe mà nó là những bồi thường thiệt hại vật chất. Những
chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại hoặc những chi phí cần thiết khác.
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/3/1972 hướngdẫn thì thiệt hại được xác định: “Đó là thiệt hại vật chất, biểu hiện cụ thểlà thiệt hại về tài sản hoặc những chi phí và những thu nhập bị mất, do có sựthiệt hại vềtính mạng, sức khỏeđưa đến.Thiệt hại đó phải thực sự xảy ra và tính toánđược”.
Bộ luật dân sựnăm 1995 và Bộ luật dân sựnăm 2005 ghi nhận việc buộc người gây thiệt hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần” cho người bị thiệt hại, người thân của họ.
Pháp luật vềdân sựnói chung, chế định bồithường thiệt hại do danh dự,nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảmvà vô cùng phức tạp, bởi vì những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắptổn thấtvề tinh thần cũngchỉnhằm an ủi,động viên làm dịuđi nỗiđau cho chính nạn nhân. Đây là vấn đề rất khó, nhưng cho đến nay,về căn bản các cơ quan cóthẩm quyền chưa có ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho thống nhất, vì vậy khi vận dụng vào thực tiễn còn gây nhiều tranh cãi, chưa thống nhất.
Trên thế giới, thiệt hại về tinhthần đã được một số nước ghi nhậntừlâu như Liên Xô, Cộng hóa Liên bang Đức… Trong cuốn “Trách nhiệm phát sinh do gây thiệt hại” (Nhàxuất bản LGU, Lêningrat, 1973), tác giả Smirnốp T.V khẳng định: “Nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần của công dân Xô viết,về việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ chỉ là thực hiện đầy đủ khi người bị thiệt hại được bồi thường không những thiệt hại về vật chất mà cả thiệt hại vềtinh thần”. Tại khoản 3,Điều 307 Bộ luật dân sựcủa nước ta quy định: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,nhân phẩm, uy tín của người đóthì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bùđắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”. Như vậy, thiệt hại được hiểu là ngoài những thiệt hại vật chất còn có những thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại xảy rađược đánh giá một cách khách quan, trung thực,đảm bảo công bằng xã hội. Trên thực tế, mọi thiệt hại đều mang tính khách quan, tuy nhiên, tiên lượng vàđánh giá tính khách quan của sựthiệt hại lạithông qua ý thức chủ quan của con người.Điều đó cónghĩa là trong điều kiện, hoàn cảnhthực tếnhư vậy ai cũng công nhận thiệt hại là có và mọi người đều chấp nhận việc đánh giá mức độ thiệt hại. Nhưng nhìn chung thìngười bị thiệt hại có thể phức tạp hóavấn đề lên,như khai tăng giá trị thiệt hại còn người gây thiệt hại có chiều hướng đơn giản hóa. Vì vậy mà người có vai trò đánh giá thiệt hại,đại diện cho cơ quan nhànước có thẩm quyền là rất quan trọng. Nhìn nhận và đánh giáthiệt hại dựa trên cơ sở pháp luật quy định để xem xét có thiệt hại xảy ra hay không, mứcđộ thiệt hại như thế nào…
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với mộtsố lượng tiền xácđịnh mớiđảmbảo đầy đủ cơsởcho việc bồi thường. Tuy nhiên,đối với thiệt hại về mặt tinh thần không thể tính toán bằng tiền. Hơn thế đây là khái niệm còn khá trừu tượng, bởi “tinh thần” thì làm sao có thể cân, đo, đong, đếmcụthểđể xác định thiệt hại, do vậy Tòa án chỉcó thể căn cứ vào từng trường hợp cụ thể xác định số tiền bùđắp tổnthấtvề mặttinh thần, nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị nạn và gia đình họ, khắc phục phần nào hậu quả xảy ra. Tòa án cũng chỉ chấp nhận những thiệt hại hợp lý mà thôi, những thiệt hại mang tính suy diễn như: “Tôi là người không bao giờ bị tai nạn, trong tháng này tôi bắt được 5 triệuđồng” hay “thu nhập của một người nông dân ở vùng quê nghèo là từ 2.000.000 đồngđến 3.000.000 đồng /tháng”.
Có thiệt hại tức là những tổn thất thực tế,tồn tại khách quan và phải tính được bằng một số tiềncụ thể nhất định,còn những thiệt hại mang tính suy diễn, chủ quan sẽkhông được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng.
Như vậy, thiệt hạivề vật chấtlà những thiệt hại trị giá được bằng tiền, đó là thiệt hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại. Đó là những thiệt hại vật chất
trong các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm…
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vậtchất, không thể có công thức chung để quy thành tiền áp dụng cho mọi trường hợp. Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tùy vào từng trường hợp cụ thể nhằm mục đích an ủi,động
viên và phần nàođó tạo điềukiện để cóthể khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho chính người bị thiệt hại hay cho những người thân thích của họ.
Thiệt hại về tinh thầnlà sựthiệt hại về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân. Hình thức biểu hiện thiệt hại về tinh thần rất đa dạng như:
Sự suy sụp tâm lý của người bị thiệt hại sau khi sức khỏe bị xâm phạm làm cho bị tàn tật, bị biến dạng bề ngoài (ví dụ như bị sẹo ở mặt, bị gãy chân làm cho người bị thiệt hại đi cànhắc…).
Ngoài những thiệt hại về tinh thần mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu thì có những trường hợp người thân thích của họ cũng phải gánh chịu tổn thất về tinh thần này. Ví dụ,đó có thể là sựsuy sụp, hoang mang, lo lắng, sự đau thương của những người thân thích với cái chết của nạn nhân. Khác với thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần không có tiêu chí chung để xác định chomọicá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là không giống nhau, nhưng thiệthạivề tinh thần thường đi kèm với thiệt hại vật chất.
Điều710Bộluật dânsựcủaNhậtBảnquyđịnh:“Mộtngườichịu trách nhiệm vềthiệt hại theo quy định củaĐiều 709 phải bồi thườngcả vềthiệt hạiphi vật chất bất kểthiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín, hoặc tài sản của người khác”.
Ngoài ra, muốn bồi thường, sự thiệt hại phải thỏa mãn các điều kiện: thiệt hại phải chắc chắn, nhất định, thực tế và chưa được bồi thường.
Nói đến sựthiệt hại chắc chắn, nhất định,thực tế là nói đến một sựthiệt hại đã xảy ra, hoặc chưa xảy ra nhưng nhấtđịnh sẽ xảyra và cóthể ước lượng được.Để chứng minh sự thiệt hại chắc chắn, người bị thiệt hại phải đưa ra những chứng cứ cần thiết và tin cậy như: hóa đơn chứngtừthanh toán những chi phí hợp lý nhằm cứu chữa, phục hồi sức
khỏe…Một sự thiệthại không chắc chắn xảy ra hoặc chỉ có tính chất giảđịnh hoặc chỉlàmất đi một cơ may thì khôngđược bồi thường. (Theo Bộ luật dân sựNhật Bản thì việc “mất đi một cơ may” được coi là một yếu tố cấu thành thiệt hại).
Bồi thường thiệt hại chính là nhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc một phần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặcbù đắpnhững tổn thất do tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự,bị xâm phạm nên thiệt hại được coi là điều kiện có ý nghĩa quan trọng. Không thể bồi thường thiệt hại khi không có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại được hiểu là: bị tổn thất, hư hao về người và tài sản và được xác định bằng một khoản tiền cụ thể. Thiệt hại gây ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế – xã hội được pháp luật bảo vệ,đồng thời cũng phản ánhhậu quả củahành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân cũng như của Nhà nước.
Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên có quan điểmcho rằng thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội và ở phạm vi tình cảm. Nhưng có quan điểm cho rằng, bồi thường bằng tiền có thể khắc phục phần nào thiệt hại về tinh thần, khôngthểdùng tiền bùđắp được.Tuy nhiên, pháp luật dân sựViệt Nam quy định mức tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần tại khoản 2 Điều 609 và khoản 2 Điều 610. Nghị quyếtsố03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồngthẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dânsựnăm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã cósựhướng dẫn cụthể về bồithường tổn thất tinh thần.
Buộc người xâm phạm đến sức khỏe người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại và cho những người thân thích của người bị thiệt hại trong vụ bị xâm phạm tính mạng là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam.
2.1.2. Phải có hành vi gây thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện, nếu hành vi đóđượcthực hiện mà pháp luật khôngcấmthìngườithực hiện hành viđókhông phải bồi thường thiệt hại. Khôngthểcó người gây thiệt hại khi không có hành vi gây thiệt hại. Hành vi gây thiệt hại là hành vi có ý thức của con người diễn ra trái với qui định của pháp luật và gây thiệt hạitới các đối tượngđược pháp luật bảovệ.Hành vi gây thiệt hại có thể bằng hànhđộng hoặc không hành động, hành động và không hành động đều là những biểu hiện của con người ra ngoàithếgiới khách quan,đượcýthức kiểm soát, lý trí điềukhiển và đềucó khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xãhội được pháp luậtbảo vệ.Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếpcủachủ thể
vào đối tượnggây thiệt hại hoặc có thể là tác độnggián tiếp của chủ thểvào đối tượng thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại. Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thườngcủađối tượngtácđộng, gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làmmặc dù có đầy đủ điều kiện để làmviệc đó.
Thực tếthì việc xác định hành vi gây thiệt hại bằng hành động không khó, bởi vì
nó tác độngtrực tiếp đến đối tượngbị thiệt hại như: bắn, đâm,chém…Nhưngởdạng không hành động hoặc được thực hiện thông qua hành vi của người khác thì cần phải xácđịnh mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vi của người gây thiệt hại và trách nhiệm, nghĩa vụ của họ đối với thiệt hại xảy ra. Ví dụ: người gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng, do tình thế cấp thiết thì không phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu hành vi phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết đó mà vượt quá giới hạn cho phép thì các hành vi bị coi là trái pháp luật và phải bồi thường.
Trước khi có Bộ luật dân sựthì ngành Tòa án thường căn cứvào Thông tưsố173/UBTP-TANDTC ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết các quan hệ pháp luật dân sựvề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.Theo tinh thần nội dung Thông tư thì hành vi trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “Cóthể là một việc phạm pháp về hình sự,một vi phạm pháp luật về dân sự,một vi phạmđường lối chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội”.
Như vậy, khi xác định hành vi gây thiệt hại cho người bị thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chúng ta có thể thấy có những đặc điểm của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại:
Thứnhất, hành vi gây thiệt hại phải trái pháp luật, nếu không trái pháp luật thìkhông phải bồi thường mặc dù có thiệt hại xảy ra. Hành vi trái phápluật ở đây được hiểu là hành vi vi phạm các qui định của pháp luật, ngoài ra những hành vi vi phạm các qui tắc xử sựsinh hoạt trong đời sống cũng có thể coi là hành vi trái pháp luật nếu gây ra thiệt hại. Những hành vi gây thiệt hại nhưng do yêu cầu của nghề nghiệp hoặc gây thiệt hại theobảnán, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không phải là hành vi trái pháp luật. Ví dụ:để cứu chữa bệnhnhân tránh vết thương bị hoại tử, bác sĩ phải cắtbỏchân của
bệnh nhân, những người phá dỡ các công trình xây dựng trái phép, những người thi hànhán tử hình…
Thứhai, hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành độnghoặc dưới dạngkhông hành động.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí. Không thể có hành vi gây thiệt hại mà những biểu hiện bên ngoài của nó khôngđược ý thức của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển.
2.1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại
Mối quan hệ nhân quảlà sựliênhệ giữa hai hiện tượng trongđó có chứađựng nguyên nhân và kết quả. Phải có sự vận động của hiện tượng là nguyên nhân trong nhữngđiều kiện hoàn cảnhcụthểmớinảysinh hiệntượnglàkếtquả. Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là hậu quả. Xét về nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kếtquảtrong khoảng thời gian xácđịnhvà hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân quyết định đối với thiệt hại xảy ra). Có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi. Một hành vi vi phạmnhất địnhtrong một điều kiện xác định thì chỉ làm nảy sinh ra hậu quả nàychứkhông phải là hậu quả nào khác. Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại, nếu không có hành vi thì thiệt hại sẽ khôngxảy đến. Nếu không xácđịnh đượcmốiquan hệ này sẽ không xác định được trách nhiệmbồithường thiệthạicủangườicó hành vi vi phạm và không buộcđượcngười gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Nếu chúng ta làm rõ được mối quan hệ nhân quả, sẽ trả lời được hai câuhỏi được đặt ra:
– Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh không?
– Mức bồi thườngthiệt hại được xác địnhnhư thế nào nếu nhiều người gây thiệt hại cho một người hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi?
Trong thực tế mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra biểu hiện rất phức tạp.
Một hành vi trái pháp luật cũng có thể gây nhiều thiệt hại vừa về vật chất,vừa vềtinh thần. Có trường hợp thiệthại xảyra do một hành vi trái pháp luật khác xen vào gây ra chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.
Ví dụ: A gây thương tích cho B, B được mọingười đưa vào cơsởy tế cấp cứu. Với tình trạng vết thương nhưvậythì hoàn toàn có thểcứu chữa được người bịhại. Tuy nhiên, do tắc trách trong quá trình cứu chữa (bác sĩ đã không vô trùng dụng cụ cứu chữa) nên vết thương của B bị nhiễm trùng dẫn tới hậu quả là B bị chết.
Cần phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện: nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, điều kiện không trực tiếp gây thiệt hại nhưng có tác động để cho thiệt hại xảy ra nhanh hơn. Vậy trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân làyếu tốquyết định còn điều kiện làyếu tố quan trọng dẫn đến kết quả. Nguyên nhân và điều kiện trong mối quan hệ nhân quảcó thể là một hay nhiều hiện tượng, nhưng giữa chúng có một điểm khác nhau ở chỗ quan hệ với hậu quảxảy ra.Nếukhông có nguyên nhân thì không có hiện tượng, sựvật xảyra và cũng không tồn tại một điều kiện. Nhưng nhiều trường hợp có nguyên nhân xảy ra nhưng không có kết quả nếu không có điều kiện.
Về nguyên tắc thì không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhân còn hiện tượngkia chỉ là điều kiện. Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xácđịnh thiệt hại.Về mặt lý luận cũng như thực tế để xác định mối quan hệ nhân quảlà một vấn đề tương đối khó khăn. Bởi vì sự thiệt hại thông thường thì do nhiều nguyên nhân chứkhông chỉ do một nguyên nhân gây ra. Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối hợp với nhau phát sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không có kết quả xảy ra. Tuy nhiên,mứcđộ tác động của từng nguyên nhân đối với kết quả có thể làkhác nhau,sựkhác nhau này đã tạo ra vai trò chủ yếu và thứ yếu của từng nguyên nhân. Trong thực tiễn thì thiệt hại có thể có nhiều nguyên nhân, vậy xác định nguyên nhân nào lànguyên nhân chủ yếu và trực tiếp, nguyên nhân nào là nguyên nhân thứ yếu và gián tiếp, một thiệt hại có thể kéo theo nhiều thiệt hại khác, thiệt hại đầu tiên có coi là nguyên nhân của thiệt hại sau hay không. Chúng ta không thể căn cứ vào thứ tự trước sau của hành vi gây thiệt hại để xác định nguyên nhân chủ yếu hay thứyếu được,nhất là trong các vụ án có nhiều người tham gia.
Tóm lại, mối quan hệ nhân quả là sựtồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ýchí của con người, khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra phải bảo đảm tính khách quan, phải đặt trong mối liênhệ tấtnhiên,nộitại củacác hiện tượngchứkhông được chủ quan mà xác định quan hệ nhân quả.
2.1.4. Người gây thiệt hại có lỗi
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN
Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm và uy tín Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm và uy tín Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng sức khỏe danh dự nhân phẩm và uy tín


