HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách tư pháp và chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Mục tiêu là tạo được một hệ thống pháp luậtđồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước [9].

háp luật về XLV L trong TH DS làmộtbộ phậnquan trọng của phápluật Việt Nam. Bởi vậy, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cần chú trọng đến vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Hoàn thiện pháp luậtvề XLV L trong TH DS sẽgóp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về TH DS nói riêng, pháp luật Việt Nam nói chung.

Thực ti n hiện nay cho thấy, pháp luật về XLV L trong TH DS đang cónhững hạn chế, bất cập nhất định. Nhiều quy định pháp luật chưa đầy đủ, nhiều vướng mắctrong cơ chế thực thi chưa được tháogỡkịp thời. Đặcbiệt, thực ti n XLV L trong TH DS đang bộc lộ những mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực ti n và yêu cầu của đời sống xã hội, vì vậy, hiệu quả đạt được chưa cao, tính nghiêm minh của pháp luật còn là vấn đề lớn hiện nay. Nhiều vấn đề phát sinh trong thực ti n XLV L trong TH DS chưa được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Có thể nói, pháp luật về XLV L trong TH DS ở nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn mang tính chất tình thế, chắp vá và chưa đápứng được yêu cầu của thực ti n. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS nhằm tạo ra sựtương thích, phù hợpgiữa pháp luật và thực tếXLV L, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, khoa học, khả thi và nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện hiệu quả trong thực tế, tránh sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật và gây oan sai trong thực ti n XLV L.

Vấn đề XLV L nói chung và XLV L trong TH DS nói riêng hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội. Việc XLV L không nghiêm, kém hiệu quả sẽ gây dư luận xấu ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật, kỷ cương phép nước bị xem thường.

Do vậy, hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả trong thực ti n XLV L là yêu cầu cấp bách đặt ra trong hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay.

Bên cạnh đó, hiện nay, công tác TH DS đang ngày càng được chú trọng, đang dần được xã hội hóa. Trong đó, số lượng các vụ việc TH DS cần giải quyết ngày càng tăng, mức độ phức tạp ngày càng cao. hạm vi công tác TH DS lúc đầu chỉ giới hạn ở việc tổ chức thi hành các bản án dân sự, hôn nhân và gia đình, phần dân sự trong bản án hình sự thì đến nay đã mở rộng đối với các loại việc mới nhưthi hành các bản án, quyết định tuyên bốphá sản doanh nghiệp, lao động,hành chính, cácbảnán, quyết địnhcủa Tòa án và Trọng tàinướcngoài… Cùngvớiđó, các vụ việc V L trong TH DS xảy ra ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn.

Bởi vậy, yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS càng ngày càng trở nên cấp thiết. Theo đó, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng bảođảm tính đồng bộ,đầyđủ,khả thivà dựliệuđượccác loại V L trong thực ti n hoạt động TH DS, đặc biệt là những loại V L mới có thể xảy ra.

háp luật về XLV L trong TH DS hoàn thiện sẽ góp phần xửlý nghiêm cũngnhư hạn chế các V L trong TH DS.

Từ những vấn đề nêu trên, có thể nhận thấy, việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá pháp luật về XLV L trong TH DS cả về lý luận và thực ti n, để từđóđề ra những quan điểm và giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết.

Với những lý do đó, tôi chọn đề tài ” HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làmđềtài luận án tiến sĩ.

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quan điểm, tư tưởng về XLV L trong THADS, thực trạng pháp luật về XLV L trong lĩnh vực TH DS và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

hạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung tổng hợp, hệ thống hóa cũng nhưlý giải r những vấnđề lý luận về XLV L và pháp luật về XLV L trong TH DS; đánh giá mặt ưu điểm, mặt hạn chế của pháp luật và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS; đề xuất các quan điểm,giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS ở Việt Nam hiện nay.

3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

Để giảiquyết các nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực hiện trên cơsởlý luận khoa học và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểmcủa Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về cải cách tư pháp; về xây dựng và hoàn thiện pháp luật XHCN….

Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau để đáp ứng yêu cầu làm r những nội dung nghiên cứu.

hương pháp phân tích – tổng hợp được sửdụng xuyên suốt để nêu, phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực ti n trong luận án.

hương pháp so sánh, thống kê được sửdụng để cung cấp các số liệu cần thiết, đối chiếu, so sánh, làm r các nội dung liên quan,đặttrong tổng thể hệ thống pháp luật về XLV L trong TH DS cũng như lịch sử phát triển của nó.

hương pháp mô tả được sử dụng để nêu, làm sáng tỏ những vấn đề về hìnhthức thể hiện của pháp luật XLV L trong TH DS.

hương pháp lịch sử – cụ thể được sử dụng để phân tích, đánh giá, bình luậnthực trạng pháp luật về XLV L trong TH DS.

hương pháp khái quát hóa được sử dụngđểnêu và phân tích, kết luận vềnhững vấn đề có tính chất chung, bao quát như thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, những thành tựu đạt được trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS…

hương pháp khảosát thực tế được sửdụng để góp phần tổng kết thực ti nsâu sắc về pháp luật XLV L trong TH DS, quá trình tổ chức thực hiện pháp luật và hiệu quả của nó trong thực ti n.

hương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực ti n cũng được sử dụng trong tiến trình thực hiện luận án để đưa ra những bình luận, quan điểm, kết luận về những nội dung nghiên cứu…

Trên thực tế, hoạt động XLV L trong TH DS ở nước ta khá phức tạp, pháp luật vềXLV L trong TH DS khá đa dạng, còn có nhiều nhược điểm, hạn chế nên để thấy r bản chất, khuynh hướng vận động và phát triển của pháp luật cũng như cơ chế thực thi XLV L trong TH DS nói chung cần phải sửdụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm làm r các khía cạnh khác nhau của vấn đềđặt ra.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực ti n của pháp luật về XLV L trong TH DS, luận án đặt mục tiêu là đề xuất các giải pháp nhằm tiếp

tục hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS ở Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệmvụnghiên cứu sau đây:

hân tích, làm sáng tỏkhái niệm, đặc điểm,ý nghĩa của XLV L trongTH DS; khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức thể hiện của pháp luật về XLV L trong TH DS; khái niệm, đặc điểm, nội dung, mục tiêu, ý nghĩa của hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS; nêu r các tiêu chí xác định mức độhoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

Đánh giá khách quan, toàn diện, có hệ thống về thực trạng pháp luật vàhoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS nhằm làm r những ưu điểm, thành tựu và những nhược điểm, hạn chế, nguyên nhân của những ưu điểm, thành tựu vànhững nhược điểm, hạn chế của pháp luật và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS cũng như cơ chế thực thi.

hân tích các nguyên tắc của việc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

5. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS ở Việt Nam, có những đóng góp mới về khoa học như sau:

Thứ nhất, luận án đã đưa ra được khái niệm, chỉ r đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của XLV L trong hoạt động TH DS.

Thứ hai, xây dựngđược khái niệm, phân tích đặcđiểm,nộidung và hình thức thể hiện của pháp luật về XLV L trong TH DS.

Thứ ba, xây dựng được khái niệm, xác định được mục tiêu, nội dung, ý nghĩa của hoàn thiện pháp luậtvềXLV L trong TH DS; nêu lênđược các tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về XLV L trong THADS.

Thứ tư, phân tích, làm r thực trạng của pháp luật và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS, đánh giá được ưu điểm, thành tựu cũng như nhược điểm, hạn chế và nguyên nhân của nó.

Thứ năm, nêu lênđược các nguyên tắc vàđềxuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

6. Ý nghĩa l luận và thực tiễn của luận án

Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung vào lý luận về TH cũng như pháp luật về TH DS và pháp luật về XLV L trong TH DS.

Luận án là sự nhìn nhận, đánh giá khoa học về những ưu điểm, hạn chế, bất cập của pháp luật về XLV L trong TH DS. Kết quả của luận án cung cấpcác luận cứkhoa học và thực ti n có giá trị tham khảo cho quá trình xây dựng và hoàn

thiện pháp luật về XLV L trong TH DS, góp phần thúc đẩycảicách tư pháp cũng như công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo luật và nghề tư pháp.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật về xửlý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự.

Chương 4: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự.

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

C ươ g 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Hoàn thiện pháp luật là một đòi hỏi khách quan trong hoạt động tư pháp của bất cứnhà nước nào. Ở nước ta, trong xu thế hội nhập quốc tế và thực hiện chủtrương xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN, tăng cườngquản lý xã hội bằng pháp luật cũng đang đặt ra nhu cầu bức xúc về hoàn thiện pháp luật nói chung và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS nói riêng.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội VIII đã đưa ra quan điểm chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật như sau:

Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ưu tiên các luật về kinh tế,về các quyền công dân và các luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa, thông tin. Coi trọng tổng kết thực ti n Việt Nam, nâng cao chất lượngxây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, d hiểu, d thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ởnhững nguyên tắc chung, muốn thực hiện được phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành [1].

Tại Đạihội IX, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vai trò lập pháp của Quốc hội:

“Kiện toàn tổ chức,đổimớiphương thức và nâng cao hiệuquảhoạt động của Quốc hội, trọng tâm là công tác lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành luật” [2]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội X của Đảng cũng chỉ r : “Hoàn thiện hệthống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định pháp luật” và “Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh” [3].

Báo cáo chính trị tạiĐại hội Đảng lần thứXI tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật [4]. Bên cạnh đó, các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI của Đảng đã khẳng định nhất quán chủtrương xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam cùng với quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 [10] và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [11] của Bộ Chính trị ra đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là định hướng và cơ sở chính trị quan trọng để xây dựng, hoàn

7

thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu của thực ti n xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã đánh giá một cách khái quát về công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta. Theo đó, sau gần hai mươi năm tiến hành sựnghiệp đổi mới, dưới sựlãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Tuy nhiên, nhìn chung, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khảthi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Trướcthực trạng đó,Nghịquyết đã đặt ra mục tiêu:

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tếthịtrường định hướng xãhội chủnghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủnghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữvững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyềntựdo, dânchủcủa công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [10].

Có thể nói, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã định hướng r cho công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta. Những quan điểmchỉ đạo cơ bản của Nghị quyết làcơ sở và nền tảng để xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về XLV L trong TH DS nói riêng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định mục

tiêu của cải cách tư pháp là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sựTổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” [11]. Nghị quyết cũng đã đề ra nhiều quan điểm tiến bộ, toàn diện, tổng thể và có tínhđộtphá cho tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp. Trong đó, một trong những nhiệm vụ cơ bảnđược đề ra là cải cách tổ chức và hoạt động các cơ quan TH . Nghị quyết xác định:

Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tưpháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Xác định r trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và của cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành các

8

hình phạt không phải là hìnhphạt tù đểthực hiện nghiêm túc các bản án của tòa án. Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nướcthực hiện một số công việc thi hành án [11].

Như vậy, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác địnhlà cần đổimới tổ chức và hoạt động cơ quan TH . Đây cũng chính là cơsở chính trị quan trọng để hoàn thiện pháp luật về TH DS nói chung, pháp luật vềXLVPPL trong THADS nói riêng.

Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Namđược đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đáng chú ý là một số công trình, bài viết như sau:

Cuốn “Nghiên cứu tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước và pháp luật” 1993 của Viện khoa học pháp lý -Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và phân tích những nội dung cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề xây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó, những kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ và cho thấy những giá trị có tính chất nền tảng trong tư tưởng Hồ chí Minh về xây dựng và hoàn thiện nhà nước cũng như hệ thống pháp luật nước ta [12].

Cuốn “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam – Những vấnđề lý luận và thực tiễn” 2003 của tác giả Lê Minh Tâm đã nghiên cứu và làm sáng tỏnhững nội dung chủ yếu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Trong đó, tác giả đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật như: Bản chất, chức năng, giá trị xã hội, hình thức, hiệu lực của pháp luật và những tiêu chí cơ bản đểxác định mức độ hoàn thiện của pháp luật, xây dựng và hệ thống hóa pháp luật. Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam [82].

Cuốn “Góp phần bàn về cải cách pháp luật ởViệt Nam hiện nay” (2008) của tác giả Ngô Huy Cương đã đề cập đến vấn đề xây dựng, hoàn thiện pháp luật một cách khái quát, trong đó, tác giả đã phân tích và trình bày có hệ thống những vấn đề cơ bản về cải cách pháp luật trên cơ sở lý luận và từ thực ti n Việt Nam [43].

Cuốn “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằmbảođảmphát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” 2010 do tác giả Nguy n Văn Động chủ biên đã phân tích, làm sáng r nhiều vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luậtđápứngyêucầuphát triểnbềnvững như: Cơsởkhoahọctrong

9

các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển bền vững và định hướng của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảođảm phát triểnbềnvững;mốiquanhệphụ thuộc lẫn nhau giữa phát triển bền vững với xây dựng, hoàn thiện pháp luật; cách thức xác định các yếu tố phát triển bền vững trong nội dung pháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dựng, ban hành các văn bản Q L; tiêu chuẩn đánh giá mức độ bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật; hài hòa hóa pháp luật quốc giavớipháp luật quốctếtrong xây dựng, hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững [54]. Đồng thời, tác giả Nguy n Văn Động cũng công bố hai bài nghiên cứu trên Tạp chí Luật học số 3 năm 2010

(Hoạtđộngxây dựng pháp luật trước yêucầuphát triển bền vữngcủaViệt Nam hiện nay) [55] và Tạp chí Luật học số 5 năm 2010 (Cách thức xác định các yếu tố phát triểnbềnvữngcủapháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dựng pháp luật) [56]. Hai bài viết nàyđãtậptrung phân tíchvấnđềxây dựng, hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững; làm r cách thức xác định các yếu tố phát triển bền vững của pháp luật và vấn đề lồng ghép các yếu tố này vào quá trình xây dựng pháp luật.

Cuốn “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” 2011 của tác giả Nguy n MinhĐoan đã nghiên cứu và làm sáng tỏ những nội dungchủyếuvề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, gắn với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Trong đó, tác giả đã tập trung phân tích nhữngvấnđề lý luận cơ bản về xây dựng pháp luật, xem xét tính hệ thống của pháp luật, làm r những nội dung chủ yếu của hệ thống pháp luật XHCN, phân tích những vấn đề cơ bản về văn bản Q L, đánh giá tác động của văn bản Q L, nêu lên những yêu cầu đối với hoạtđộng xây dựng pháp luật, đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật và chất lượng hệ thống pháp luật Việt Nam, đặt ra vấn đề trách nhiệm của người xây dựng pháp luật và vai trò của các nhà khoa học trong hoạtđộngxây dựng pháp luật, vấn đề phảnbiện xã hội đối với công tác xây dựng pháp luật, từ đó, nêu lên những nội dung chủ yếu của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam gắn vớiđiều kiện xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN [53].

Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luậtcủaTrường Đại học Luật Hà Nội cũng đã đề cậpđến vấn đề xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật, nêu lên những yêu cầu và biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta, đáp ứng yêu cầu của thực ti n [93].

10

Bên cạnh đó, một số công trình khác như: Cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập“

tập 5 [73]; Hồ Chí Minh, “Nhà nước – pháp luật” [74]; Cuốn “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia [91]; Cuốn “Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Nam” của GS.TS Đoàn Trọng Truyến [88]…. đều có những nghiên cứu, đánh

giá mang tính tổng thể, toàn diện về nhà nước và pháp luật, nêu lên những yêu cầu, phương hướng, biện pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, đặcbiệt là trong điều kiệncảicách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay. Đâyđềulà những tài liệu có giá trị tham khảo quan trọng trong việc nghiên cứu các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhànước và hệ thống pháp luật Việt Nam.

Có thể nói, vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung đã được đề cập trong những công trình nghiên cứu khoa học và đã được nhìn nhận một cách tổng thể, toàn diện, khoa học, trên cơ sở lý luận và thực ti n, gắn với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội cũng như trước những yêu cầu của thực ti n đang đặt ra ởnước ta. Việc kế thừa và tiếp thu những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng luận án, là cơ sở để phân tích và làm sáng tỏ những vấn đềlý luận, thực trạng cũng như xây dựng những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật theomụcđích xác định của đề tài. Tuy nhiên,đâylà những công trình nghiên cứukhoa học về vấn đề xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam nói chung nên nhìn chung, các vấn đềđược đề cập đều trên diện rộng và tổng quát. Trong khiđó,vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS mang tính chuyên sâu về một lĩnh vực, cần thiết phải nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung cụ thể và sâu hơn.

1.1. NỘIDUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNCỨULIÊN QUANĐẾNĐỀ TÀI LUẬN ÁN

hù hợp với định hướng nghiên cứu đề tài, việc xem xét, đánh giákết quảcác công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án được tiến hành tập trung ởcác nộidung sau: XLV L trong TH DS, pháp luật về XLV L trong TH DS và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

1.1.1. Xử l vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự

Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nghiên cứu độc lập nàođề cập riêng biệt đến vấn đề XLV L trong lĩnh vực TH DS. Do đó, hiện nay, chưa cócác quan điểm riêng nêu lên khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của XLV L đối với

11

hoạt động TH DS. Trên thực tế đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu những vấn đề chung về XLV L trong đời sống xãhộichứchưađề cập đếnhoạtđộngXLV L trong lĩnh vực TH DS. Chẳng hạn, trong vấn đề XLV L hành chính nói chung, có thể kể đến bài viết “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính – thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Minh Hương đăng trên Tạp chí Luật học số 8 năm 2008, đã nêu lên những vấn đề cơ bản về thẩm quyền xửphạt vi phạm hành chính trên cơsở phân tích thực trạng các quyđịnh pháp luật cũng như thực trạng của việc áp dụng pháp luật trong thực ti n, trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra mộtsốquanđiểmnhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xửphạt vi phạm hành chính nói chung [63]; Bài viết “Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính: những bất cập, hạn chế và phương hướng hoàn thiện” – Tạp chí Luật học số 1 năm 2009 của tác giả Bùi Xuân Đức đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề về thực trạng hệ thống xử phạt vi phạm hành chính, làm r những bất cập, hạn chế và nêu lênmộtsốquan điểm nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính [57]… Trong vấn đề xử lý tội phạm hình sự cóthể kểđến cuốn “Một sốvấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam” (2006) của tác giả hạm Văn Tình, đã phân tích và nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản và thực trạng về tình hình tội phạm, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu vấnđề tội phạm nói chung [85]… Trong vấn đề xử lý kỷ luật, có thể kể đến bài viết “Mộtsố bất cập của pháp luật về xử lý kỷ luật công chức” – Tạp chí Luật học số 11 năm 2012 của tác giảCao Vũ Minh và tác giả Nguy n Thị Thiện Trí đã tập trung phân tích và làm sáng rõ những bất cập của pháp luật hiện hành về vấn đề xử lý kỷ luật công chức hiện nay và nêu lên một số giải pháp khắc phục [72]…

Có thể nhận thấy, cho đến nay mới chỉ có các công trình nghiên cứu tổng thểvề vấn đề XLV L và từng biện pháp XLV L trong đời sống xã hội nói chung. Trong đó, hầu hết các quan điểm hiện nay đều cho rằng XLV L làmột vấn đề có ý nghĩarấtquan trọng trongđờisống xãhộivà hoàn thiện pháp luậtvềXLV L làmột vấn đề có tính cấp thiết. Về mặt khái niệm XLV L, các quan điểm đều cho rằng XLV L là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm xử lý đối với chủ thể thực hiện hành vi V L bằng nhiều biện pháp khác nhau tương ứng với mỗi loại V L, là hoạt động có tính chất cưỡng chế và thể hiện quyền lực nhà nước. Các biện pháp XLV L trong đời sống xã hội được phân loại theo từng V L, bao gồm: XLV L hành chính, xửlý hình sự, XLV L dân sự,

12

xửlý kỷ luật, bồi thường thiệt hại trong thi hành công vụ, XLV L gây thiệt hại vềvật chất trong cơ quan, tổ chức. Đây là những quan điểm đúng đắn, phù hợp với quyđịnh pháp luật hiện hành và cần được tiếp thu trong quá trình nghiên cứu vấn đềXLV L trong lĩnh vực TH DS, đặc biệt là trong quá trình xây dựng khái niệm XLVPPL trong TH DS và phân loại các biện pháp XLV L trong TH DS…

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, hiện nay, chưa có công trình nghiêncứu độc lập nào về vấn đề XLV L trong TH DS, do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề này làrất cần thiết. Đề tài luận án “Hoàn thiện pháp luậtvề xửlý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” sẽ tập trung nghiên cứu những vấnđề lý luận chung vềXLV L trong TH DS, nêu bật khái niệm, đặc điểm của XLV L trong TH DS, đề cập và nêu lên các khái niệmvề V L, TNPL trong TH DS,từđó, nêu và phân tích ý nghĩa của việc XLV L trong TH DS. Những nội dung này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bổ sung về lý luận đối với vấn đề XLV L trong lĩnh vực TH DS.

1.1.2. Pháp luật về xử l vi phạm pháp luật trong thi hành án dânsựTrên thực tế, các công trình liên quanđếnpháp luật vềXLV L trong

TH DS được nghiên cứu tách biệt ở hai nội dung là pháp luật về TH DS và pháp luật về XLV L nói chung, cụ thể như sau:

Các công trình nghiên cứu về pháp luật THADS chủ yếu liên quan đến vấn đề lý luận về TH DS, tổ chức TH DS và thủ tục TH DS :

Về vấn đề lý luận TH DS, có thể kể đến một số công trình như: Đề tài khoa học cấp nhà nướcđộc lập”Luận cứkhoa học và thựctiễn của việc đổi mới tổchức, hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” 2003 do TS Nguy nĐình Lộc làm Chủ nhiệm và GS.TS Hoàng Thế Liên làm hó Chủ nhiệmđãnghiên cứumộtcách khá toàn diện, khoa học về từng nộidung liên quanđếntổchức và hoạt động TH nói chung, thực trạng công tác TH ở nước ta, trên cơsởđó, nêu lên các quan điểm, yêu cầu và giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động TH trong thời gian tới [21]. Đề tài KX.04.06 thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà nước 2001-2005) “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” doBộ Tư pháp chủtrì đãnghiên cứu TH trong mối quan hệ với hệ thống tư pháp và việc thực hiện quyền tưpháp, trong đóđã đề xuất một số nội dung cải cách tổ chức và hoạt động của cơquan TH trong điều kiện cải cách tư pháp [22]. Số chuyên đề “Xã hội hóa hoạt

13

động thi hành án dân sự – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2001) – Thông tin khoa học pháp lý, Viện khoa học pháp lý đã đề cập đến vấn đề xã hội hóa hoạt động TH DSở nước ta trên cơsở lý luận và thực ti n, những kinh nghiệm tiếp thutừthực ti n ở các nước, nêu lên một số quan điểm nhằm xã hội hóa hoạt động TH DS

[18]. Cuốn Tổng thuật kết quả nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” 2004 của Trường Đại học Luật Hà Nội đã nêu, tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự“, trong đó, các tác giảđãtập trung đánh giá và làm r những vấn đề cơbản củapháp luật TH DS hiện hành, từ đó nêu lên được những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật TH DS ở nước ta [92]. Đề tài khoa học cấp bộ năm 2005 “Bình luận Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004” do Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp chủ trì đã phân tích và làm r một số vấn đề về khái niệm, bản chất TH DS, đồng thời, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vềTH DS [23]. Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sựởViệt Nam hiện nay” (2008 của tác giả Nguy n Thanh Thủy, Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh đã nghiên cứu trực tiếp và toàn diện vềvấn đề hoàn thiện pháp luật TH DS, trong đó, tác giả đã phân tích và làm r những vấn đề lý luận vềTH DS như: Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật TH DS, các tiêu chí hoàn thiện pháp luật TH DS, phân tích lịch sử và thực trạng pháp luật TH DS, từđó, đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật TH DS, nâng cao hiệu quả hoạt động TH DS [84]. Số chuyên đề về Luật THADS – Tạp chí Nghềluật số 2 năm 2009 đã tập trung phân tích và đánh giá những nội dung cơ bản của Luật TH DS năm 2008, nêu lên những điểmmới, tiến bộ và thành tựu của Luật trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp luật về TH DS trước đây, trongđó tậptrungchủyếuvề những vấn đề như: Ra quyết định TH ; thông báo TH ; xác minh điều kiện TH ; tự nguyện và thỏa thuận trong TH ; hoãn, tạm đình chỉ,đình chỉ, trả lại đơn yêu cầu TH ; chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong TH ; ủy thác THADS; phí THA; các biện pháp bảo đảmTH ; cưỡng chế TH ; xửlý tài sản, vật chứng trong TH ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; quyết định phá sản; TH lao động; giải quyết khiếu nại,tốcáo trong TH [62]. Bài viết “Những điểm mớicơ bản của Luật Thi hành án dân sự” của tác giả Nguy n Văn Nghĩa đăng trênTạpchí Luật học số 5 năm 2009 đã phân tích và làm sáng tỏmột số điểmmới cơ bản của Luật TH DS năm 2008 so với

háp lệnh TH DS năm 2004 cũng như những văn bản liên quan trước đó [79]. Số

14

chuyên đề về TH DS – Tạp chí Dân chủ và pháp luật hàng năm từ năm 2006 đến năm 2012 đã tập trung nghiên cứu cácnộidung cơ bản về TH DS, những vấn đềlý luận và thực ti n, những quy định của pháp luật về TH DS, hoạt động áp dụng pháp luật về TH DS trong thực ti n, những tồn tại, vướng mắc trong tổ chức vàhoạt động TH DS,đồng thời, đãnêuđược những giải pháp cơ bản, trên cơ sở lýluận và thực ti n nhằm đổi mới tổchức và nâng cao hiệu quả công tác TH DS. Thành tựu nổi bật trong các số chuyên đề này là đã phản ánh đượckhá đầyđủ vàchi tiết những vấn đề cơ bản về TH DS ở từng giai đoạn nhấtđịnh, cả thểchế vàthực ti n, đồng thời, đã nêu được những đềxuất, kiến nghị nhằm khắc phục khó khăn, vướngmắctrong tổ chức và hoạtđộngTH DS, góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TH DS [26-33]. Giáo trình Luật TH DS năm 2009 của Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã trình bày nhữngvấn đề cơ bản về pháp luật TH DS cũng nhưhệ thốngtổ chức, hoạtđộngvà thủ tục TH DS ởnướcta hiện nay [97].

Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứuvề pháp luật TH DSở các nước trên thế giới đã có những đánh giá và rút ra kinh nghiệm quan trọng cho nước ta, trong đó có thể kể đến cuốn “Tài liệu tham khảo về thừa phát lại và thi hành án“

dịch từ”L’Hussier de la justice” do Hội đồng thừa phát lại háp ấn hành tháng2/1994 đã đềcậpđếnnhững vấn đề cơ bản về thừa phát lại và TH , trongđó chủyếu đã nêu và làm sáng r những nội dung cơ bản về tổ chức TH tư nhân và quy chế Chấp hành viên Thừa phát lại . Đó là những kinh nghiệm cần thiết cho việc đổi

mới tổ chức và hoạt động TH DS ở nước ta [75]…. Đề tài “Thi hành án dân sự –

thực trạng và hướng hoàn thiện” 1998 của Dự án VIE/98/01 do Bộ Tư pháp phối hợp với Dựán VIE thực hiện cũng đã có những đánh giá quan trọng về thực trạng và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quyđịnh pháp luậtvề TH DS ởViệt Nam [16]. Báo cáo đề xuất “Bình luận của STAR Việt Nam về dự thảo Bộ luật thi hành án của NướcCộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam” (2005 của tác giả Jame F. Harigan [64] và Báo cáo tại Hội thảo góp ý dự thảo Bộ luật TH “Các yêu cầu củaHiệpđịnhthương mại WTO và khuyến nghịcủaDự án STAR – Việt Nam vềdự án Bộ luật thi hành án” 2006 của tác giả John Bently [65] đã có những bình luận mang tính khoa học cao về các quyđịnh trong Dựthảo Bộ luật TH , đồng thời, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về TH ở Việt Nam. Bài viết “Vài nét về thi hành án dân sự ở Singapore” của tác giả Nguy n Công Bình đăng trên Tạp chí Luật học số 5 năm 1999 đã tập trung phân tích và

15

đánh giá những nét mang tính đặc trưng của pháp luật về TH DS ở Singapore [8]. Cuốn “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp một số nước trên thếgiới” 2011 của Bộ Tư pháp cũng đã có những phân tích và đánh giá về tổ chức và hoạt động tư pháp của một số nước trên thế giới, trong đó cóđề cập đến vấn đềtổchức và hiệu quả hoạtđộngcủa TH ở cácnước này.Đâylà những nộidung cótính chất tham khảo quan trọng đốivớiViệt Nam [26]. Cùngvớiđó, các báo cáo của Bộ Tư pháp nghiên cứu, khảo sát về pháp luật TH DS của một số nước tiên tiến trên thế giới như: Báo cáo của Cục Quản lý TH DS – Bộ Tư pháp về kết quả

tọa đàmLuật TH DS của ThụyĐiển từngày 28-29/10/1997 [14], Báo cáo củaĐoàn khảo sát liên ngành – Bộ Tư pháp về kinh nghiệm TH DS tại Cộng hòa Liên bang Đức từngày 15/4/1998 đến ngày 25/4/1998 [15], Báo cáo của Vụ háp luật Dân sự, Kinh tế -Bộ Tư pháp về kết quả tọa đàmpháp luật TH DS Nhật Bản từngày 2-3/10/2000 và ngày 6-7/10/2000 [17], về kết quả tọa đàm pháp luật TH DS Thụy Điển từngày 11-13/12/2002 [19], Báo cáo của Đoàn khảo sát liên ngành BộTư pháp về kết quả khảo sát, tìm hiểu Luật TH tại Hoa kỳ từ ngày 27/9/2005 đến ngày 06/10/2005 [21]… đã có sựnghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá sâu về pháp luật TH DS của một số nước nhưThụy Điển, Hoa kỳ, Đức, Nhật Bản… từ đó nêu lên những kinh nghiệm quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật vềTH DS cho Việt Nam. Năm 2011, được sựhỗtrợcủaUND , một nhóm chuyên gia của Bộ Tư pháp do GS.TS Hoàng Thế Liên chỉ đạo đã biên soạn vàcho công bố cuốn “Nghiên cứu tổ chức và hoạt độngcủa hệthống tư pháp của năm quốc gia: Trung Quốc, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga“. Cuốn sách đã cung cấp đầyđủ các thông tin về TH hìnhsựvà dân sựcủa năm nước nêu trên, làm r loại TH , tổ chức, mô hình, nhiệm vụ chức năng, quan hệ quy trình, các cơchế của TH hình sự và dân sự [26].

Qua việc tìm hiểu những công trình nêu trên có thể nhận thấy, trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu những vấn đề lý luận vềTH DS, trong đó, chủyếu tập trung vào những nội dung cơ bản như: Đổi mới tổchức và hoạt động TH DS; khắc phục những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong TH DS; nâng cao hiệu quả hoạt động TH DS; xã hội hóa hoạt động TH DS; kinh nghiệm về TH DS của một số nước tiên tiến trên thế giới… Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu nàyđãgóp phần đáng kể trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luậtvềTH DS, thực hiện và áp dụng pháp luậtvềTH DS, đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu về TH DS, là quá trình tổng kết pháp luật về TH DS.

16

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về TH DS, những công trình này chưa đềcập đếnvấn đề V L và XLV L trong TH DS, chưa xem xét XLV L dưới góc độ một bộ phận quan trọng của pháp luật TH DS. Điều này là không tương thích với vai trò, ý nghĩa của việc XLV L trong TH DS. Đây có thể nói là một khoảng trống cần được bổ sung kịp thời.

Về vấn đề tổ chức TH DS, có thể kể đến một số công trình như: Đề tài khoa học cấp bộ số 96-98-027/ĐT năm 1996 “Về mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án” do Bộ Tư pháp chủ trì đã phân tích, đánh giá khá r nét cơ chếquản lý trong công tác TH DS, đặt trong mối quan hệ giữa quản lý TH DS với

quản lý các lĩnh vực TH khác hình sự, hành chính… , đồng thời, nêu ra một số kiến nghị về mô hình quản lý thống nhất công tác TH [13]. Luận văn thạc sĩ luật học “Mộtsố vấnđề vềtổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Việt Nam” (1996) của tác giả Trần Văn Quảng đã nêu lên khá đầyđủ và r ràng thực trạng tổ chức, hoạt động TH DS và kiến nghị một số giải pháp kiện toàn tổ chức cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động TH DS [80]. Số chuyên đề “Mộtsố vấn đề về tổchức vàhoạt động thi hành án hiện nay” (2002) – Thông tin khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý đã phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực ti n trong tổchức và hoạt động TH , từ đó nêu lên một số quan điểm nhằm đổi mới tổ chức vàhoạt động TH [20]. Bài viết “Nâng cao tính độc lập trong hoạt động củacác cơquan thi hành án” của tác giả Mai Kim Liên đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật – Số chuyên đề về TH năm 2006, đã phân tích và làm r yêu cầu nâng cao tính độc

lập trong hoạt động TH , đồng thời, đề xuất các giải pháp nâng cao tính độc lập trong hoạt động của cơ quan, cán bộ TH nói chung [69]. Bài viết “Cải cách cơquan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn xây dựng nhànước pháp quyền” đăng trên Tạp chí Nghề luật số 2 năm 2006 của tác giả Lê Cảm đãnêu lên vấn đề cải cách cơ quan TH DS trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân [41]. Bài viết “Đổi mới công tác thi hành án dân sự theo tinh thần cải cách tư pháp” – Tạp chí Nghề luật số 4 năm 2006 đã nêu lên một số quan điểm nhằm đổi mới công tác TH DS gắn với công cuộc cải cách tư pháp [60]…

Một số công trình nghiên cứu về tổ chức TH trên thế giới như: Kỷ yếu hội thảo “Các mô hình tổ chức thi hành án trên thế giới” ngày 17-18/4/2006 của Nhàpháp luật Việt – háp [76]; Bài viết “Mô hình tổ chức thi hành án một số nước trên thế giới” – Tạp chí Nghề luật số 1 năm 2007 [61]; Các bài viết về TH DS của một

17

nước trên thế giới và các báo cáo khảo sát của Bộ Tư pháp về pháp luật TH DS ởcác nước Thụy Điển, Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản… như nêu trên đã có sựphân tích, đánh giá về ưu, nhược điểm của một số mô hình tổ chức TH cơ bản trên thế giới hiện nay như: Mô hình tổ chức TH công, mô hình tổ chức TH bán công và môhình tổ chức TH tư nhân. Đâychính là những kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động TH DS.

Nhìn chung, đãcó nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết khác nhau đề cập đến vấnđề tổchức cơ quan TH nói chung và cơ quan TH DS nói riêng. Trong đó, thành tựu đáng kể là những công trình, bài viết này đã nêu lên khá nhiều giải pháp nhằm cải cách và đổi mới tổ chức cơ quan TH , nâng cao vai trò, tầm quan trọng cũng như tính độc lập của các cơ quan TH trong thực ti n. Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn, góp phần quan trọng trong việc xây dựng mô hình cơ quan TH nói chung và cơ quan TH DS nói riêng. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu về tổchức TH DS chưa đề cập đến vai trò,vị trí của cơ quan TH DS, Chấp hành viên cũng như những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đối với vấn đề XLV L trong lĩnh vực TH DS. Đây cũng là một thiếu sót trong quá trình nghiên cứu về tổ chức TH DS cần được bổ sung và làm r .

Về vấn đề thủ tục và hoạt độngTH DS, có thể kể đến một số công trình như: Luận văn thạc sĩ luật học “Đổi mới thủ tục thi hành án dânsự Việt Nam“

2005 của tác giả Lê nh Tuấn đã đánh giá tương đối đầy đủ và r ràng thực trạngpháp luật về thủ tục và thực ti n áp dụng trong TH DS, nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục về TH DS [86]. Bài viết “Vấn đềđổimới các quyđịnhvề thi hành án dân sự” của tác giả Nguy n Công Long đăng trên Tạp chí Dân chủ vàpháp luật – Số chuyên đề Bộ luật TH dựthảo năm 2005 đã nêu lên một số vướng mắc, bất cập trong thủ tục TH DS và kiến nghị giải pháp khắc phục [70]… Bên cạnhđó, các số chuyên đề về TH DS hàng năm đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghề luật, các bài viết liên quan trên Tạp chí Luật học, Thông tin khoa học pháp lý… đều có những nghiên cứu, phân tích, đánh giá về thể chếcũng như thực trạng công tác TH DS, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, trêncơ sở đó,đề xuất và kiến nghị những biện pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục và nâng cao hiệu quả trong hoạt động TH DS. Ngoài ra, các báo cáo tổng kết về TH DS hàng năm của Tổng cục TH DS và Bộ Tư pháp đều cósựđánh giá, nhận xét sâu và cụ thể về hoạt động TH DS, các vụ việc V L, cách thức

18

xửlý và bài học kinh nghiệm [35-37]… Đây là những tư liệu quan trọng để đánh giáthực trạng pháp luật về XLV L trong TH DS trong quá trình thực hiện luận án.

Có thể nói, hoạt động TH DS nói chung đã được đề cập tươngđốiđầy đủtrong những công trình nghiên cứu, bài viết khác nhau. Trong đó,các công trình, bài viết này đã tập trung phân tích và làm r những vấn đề liên quan đến hoạt động của các cơ quan TH DS, đặc biệt, đã phân tích và đánh giá khá đầy đủ, chi tiếtvềthực trạng thủ tục TH DS hiện nay, từđó, kiến nghị và đề xuất những giải pháp quan trọng nhằm hoàn thiện thủ tục cũng như các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động TH DS. Những kết quả nghiên cứu nàyđãcó đóng góp đáng kể trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về TH DS nói chung. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạtđộngTH DS chưa cósựđềcập cần thiết đếntình trạng V L vàhoạt động XLV L trong TH DS. Đây cũng chính là hạn chế cơ bản trong quá trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động TH DS hiện nay.

Các công trình nghiên cứu pháp luật về XLVPPL chủ yếu được chia theo từng loại V L :

Các công trình nghiên cứu pháp luật về xửlý vi phạm hành chính: Cuốn “Bình luận khoa họcPháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002” 2005 của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, đã phân tích và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của háp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, những điểm mới trong các quyđịnh pháp luật, góp phần nâng cao nhận thức về pháp luật xửlý vi phạm hành chính [24]. Đặc san về xử lý vi phạm hành chính – Tạp chí Luật học năm 2003đã phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về xửlý vi phạm hành chính, những điểm mới của háp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các quyđịnh pháp luật về vấn đề xửlý vi phạm hành chính nói chung [90]. Bài viết “Đổi mới trình tự tố tụng hành chính theo tinh thần cải cách tư pháp” – Tạp chí Nghề luật số 2 năm 2006 của tác giả Nguy n Thanh Bình, đã phân tích những vấn đề cơ bản về trình tự, thủ tục tố tụng hành chính gắn với vấn đề cải cách tư pháp [9]. Số chuyênđề về xửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp – Tạp chí Dân chủ và pháp luật tháng 8 năm 2011 đãphân tích và làm r một số nội dung cơ bản của pháp luật về xửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, nêu lên những khó khăn, vướngmắctrong việc thực hiện pháp luật hiện nay, trong đó, bài viết “Bàn về các biện pháp ngăn chặn và bảođảm xử lývi phạm hành chính” của tác giả Trương Khánh Toàn đã tập trung phân tích thực trạng của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, đồng thời,nêu lên một số đề

19

xuất, kiến nghị để hoàn thiện các quyđịnh về biện pháp ngăn chặn trong xửlý vi phạm hành chính; bài viết “Một số ý kiến vềxây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính” của tác giả Nguy n Thị Kim nh đã đề xuất và kiến nghị một số biện pháp cơ bản vềcấu trúc và hình thức trong việc xây dựng Luật Xửlý vi phạm hành chính; bài viết “Những bất cập của pháp luậtxử lý vi phạm hành chính qua công tác thanh, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo” của tác giả Quốc Hoàn đã tập trung phân tíchmốiquan hệ giữa hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo với việc xửlý vi phạm hành chính, phân tích những hạn chế, bất cập cần xem xét trong thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền, thủ tục tiến hành xử phạt, cơ chế bảo đảm thi hành quyết định xử phạt, cơ chế giám sát việc phát hiện và xử lý vi phạm hành chính; bài viết “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự” của tác giả Hoàng Quốc đã tập trung phân tích và làm r các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TH DS [33]… Gần đây nhất có bài viết của tác giả Hoàng Thế Liên về “Luật xử lý vi phạm hành chính với nhiệm vụ bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8 năm 2013. Bài viết này đã làm r lý do phải ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính, những điểm mớicủaLuật xửlý vi phạm hành chính so với háp

lệnh xửlý vi phạm hành chính, các biện pháp đưa Luậtxửlý vi phạm hành chính vào đời sống xã hội [68].

Các công trình nghiên cứu pháp luật về xử lý tội phạm hình sự: Bài viết “Quyđịnh về tội phạm học của một số trường phái tội phạm học” – Tạp chí Nghề luật số 8 năm 2004 của tác giả Nông Xuân Trường đã nêu và phân tích một số quan điểm về tội phạm học của các trường phái tội phạm học khác nhau [89]. Bài viết “Kỹ thuật xây dựng cấu thành tội phạm và việc hoàn thiện Bộ luật hình sự” của tác giả Nguy n Ngọc Hòa đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2006, đã phân tích một cách khoa học và khái quát về vấn đề cấu thành tội phạm, nêu lên một số quan điểmnhằm hoàn thiện các quy định về kỹ thuật xây dựng cấu thànhtội phạm của Bộluật hình sự, phù hợp với thực ti n [59]. Bài viết “Các nhân tố quyếtđịnhnhu cầu vàmứcđộquy định tội phạm trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009” – Tạp chí Luật học số 1 năm 2010 của tác giả Hồ Sĩ Sơn đã phân tích và làm sáng tỏnhững vấn đề ảnh hưởngvà quyết định đếnnhững quyđịnh về tội phạm trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009 [98]. Bài viết “Tội phạm học – khái niệm và đối tượng nghiên cứu” – Tạp chí Luật học số 2 năm

20

2011 của tác giả Lê Thị Sơn đã nêulên một số vấn đềlý luận cơbản về vấnđề tội phạm học, làm r hơn khái niệm và đối tượng nghiên cứu của tội phạm học [99]…

Các công trình nghiên cứu pháp luật về xửlý kỷluật: Bài viết “Sự khác nhau cơ bản giữa kỷ luật lao động và kỷ luật công chức” – Tạp chí Luật học số 3 năm 2005 của tác giả Trần Thúy Lâm đã tập trung phân tích và làm sáng tỏ những điểmkhác nhau cơ bản giữa kỷluật lao động và kỷluật công chức, giúp cho việc tìm hiểu và phân biệt hai khái niệm này được r ràng hơn trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật [66]. Bài viết “Khái niệm và bản chất pháp lý của kỷ luật laođộng” – Tạp chí Luật học số 9 năm 2006 của tác giả Trần Thúy Lâm đã tậptrung phân tích và làm sáng tỏ khái niệm cũng như bản chất của kỷ luật lao động [67]. Bài viết “Một số vấn đề về kỷ luật cán bộ, công chức” – Tạp chí Luật học số 6 năm 2010 của tác giả Bùi Thị Đào đã tập trung làm r những vấnđề lý luận cơ bản về kỷ luậtđối với cán bộ, công chức nhà nước theo quy định pháp luật hiện hành [51]…

Các công trình nghiên cứu pháp luật về XLV L dân sự: Bài viết “Bàn vềkhái niệm trách nhiệm vật chất của công chức” – Tạp chí Luật học số 10 năm 2006 của tác giả Trần Thị Hiển đã tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề cơbản về trách nhiệm vật chất của công chức theo quyđịnh của pháp luật [58]. Bài viết “Vềsựtương đồng và khác biệt giữa nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự” – Tạp chí Luật học số 10 năm 2006 của tác giả hạm Văn Tuyếtđã tập trung phân tích và so sánh những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt giữa nghĩa vụ dân sựvà trách nhiệm dân sự, giúp cho việc phân biệt hai khái niệm này được r hơn trong thực ti n [87]…

Bên cạnh đó, giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Tố tụng dân sự, LuậtTố tụng hình sự… của Trường Đạihọc Luật Hà Nội đã cung cấp những nội dung cơ bản trên cơ sở quy định của pháp luật về từng ngành luậtở nước ta, trong đó,các loại V L nói chung vi phạm hành chính, tội phạm, vi phạm kỷ luật, V L dân sự, V L của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ,V L gây thiệt hại vềvật chất trong cơ quan nhà nước đã được trình bày chi tiết,cụ thểdướigóc độ nghiên cứu của từng ngành luật [93-96].Đâychính là cơ sở quan trọng góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về khái niệm, bản chất, vai trò của pháp luật nội dung đối với các loại V L.

Nhìn chung, các công trình khoa học, bài viết nêu trên đã tập trung nghiên cứu làm r vấn đề V L và XLV L trong đời sống xã hội. Các vấn đề được đề cập khá đa dạng và phong phú, trên cơ sở lý luận và thực ti n, giúp cho chúng ta có

21

cách nhìn tổng thể về các loại V L cũng như hoạt động XLV L nói chung. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chủ yếuđề cậpđến từng loại V L theo quy định pháp luật,chưa đề cập đến cácloại V L trong một lĩnh vực nhất định, cụthể như lĩnh vực TH DS.

1.1.3. Hoàn thiện pháp luật về xử l vi phạm pháp luật trong thi hànhán dân sự

Có thể nói, việc nghiên cứu về pháp luật cũng nhưvấn đềhoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS ở Việt Nam là một hoạt động còn rất mới m , chưađược quan tâmđầyđủvà mới chỉđược nghiên cứu ởmức độnhất định. Một sốcông trình, bài viết liên quan trực tiếp đến vấn đề này như sau:

Bài viết “Một số ý kiến về cơ chế và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạtđộng thi hành án dân sự” của tác giả Nguy n Quang Thái đăng trên Số chuyênđềvề TH DS – Tạp chí dân chủ và pháp luật năm 2007 đã nêu lên một số nội dung cơbản về cơchế XLV L và vấn đề XLV L trong hoạt động TH DS như: Cơ chếvà hình thức xửlý đốivới hành vi không thực hiện nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án; cơ chế và hình thức xửlýđối với hành vi cố ý cảntrở, chống đối người thi hành công vụ trong hoạt động TH DS; đồng thời, nêu lên một số vấn đề về thực trạngV L đối với hoạt động TH DS như: tình trạng coi thường pháp luật của người phải TH , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tình trạng cơ quan nhànước không gương mẫu,cảntrởviệc TH ; cá nhân và cơ quan chưa nhìn nhận đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác TH ; tình trạng ngân hàng, tổ chức tín dụng, tài chính, bảo hiểm chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong hoạt động TH . Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc XLV L trong TH DS như: xác định r các hành vi V L về TH DS bằng các quy định cụ thể của pháp luật; phân loại cụ thểcác chủ thể đểcó biện pháp xửlý phù hợp; quyđịnh r thẩm quyền XLV L trong hoạt động TH DS; các cơ quan tư pháp cần phải kiên quyết đưa ra và xét xử nghiêm những trường hợp cản trở, chống đối và không chấp hành án; quy định r chế tài đối với các trường hợp bỏ lọt tội phạm liên quan đến hoạt động TH DS. Tuy nhiên, nội dung bài viết mang tính khái quát, chưa đề cập đến từngvấn đề mộtcách cụ thể vàchi tiết,mớichỉdừnglại ở một số ý kiếnvềcơ chế và XLV L trong TH DS. Các hành vi V L trong TH DS mới chỉ được đề cập một cách chung chung, chưa bao hàmđầyđủcác loại hành vi V L cụ thểtrong TH DS. Vấn đề thực trạng XLV L trong TH DS cũng mới chỉ được đề cập ở mức độ nhất định, chủ yếu

22

phân tích, đánh giáởnhận thức, tháiđộ V L mà chưa đềcậpđến mức độhoàn thiện của pháp luật, sức mạnh của chế tài. Các giải pháp nêu ra chủ yếu nhằm mụcđích tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và cũng mới chỉ dừng

lại ở đề xuất xửlý nghiêm các trường hợp V L mà không đề cập đến yêu cầu cần phải hoàn thiện nội dung, hình thức pháp luật về XLV L trong TH DS [83].

Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguy n Thanh Thủy cũng đã đề cập đến vấn đề XLV L trong TH DS khi phân tích nội dung pháp luật TH DS nhưng chỉ mang tính khái quát một cách chung nhất, trongđó tácgiảmới chỉ nêu vấnđề XLV L trong TH DS là một nội dung của pháp luật TH DS mà chưa phân tích sâu dưới góc độlý luận cũng như thực ti n. Do đó, trong phần đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TH DSđã không đề cập đến nộidung hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Điều này là không hợp lý và tương thích với thực ti n cũng như vai trò, ý nghĩa của việc XLV L đối với hoạt động TH DS [84].

Bài viết “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự” của tác giả Hoàng Quốc – Số chuyên đềvề xửlý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp – Tạp chí Dân chủ và pháp luật tháng 8 năm 2011 đã tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TH DS, trong đó, tác giả đã nêu lên khái niệm về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói chung,từđó, tập trung làm r vai trò của từng chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật trong việc xử phạt các vi phạm hành chính trong hoạtđộng TH DS. Tuy nhiên, nội dung bài viết chủ yếu mang tính chất nêu các quyđịnh pháp luậtvềthẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực TH DS mà chưa phân tích sâu, làm r những ưu điểm cũng như hạn chế trong các quy định này [33].

Bên cạnh đó, một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí cũng có đề cập đến vấn đề XLV L trong TH DS nhưng mang tính riêng biệt và mới chỉ đề cập ở một số vụ việc V L cụ thể trong hoạt động TH DS mà chưa có sựnghiên cứu cần thiết về vấn đề này.

Một số công trình nghiên cứu về pháp luật TH DS ở các nước trên thế giới như đã nêu ở trên có đề cập đến các quy định pháp luật về XLV L trong TH DS của các nước này nhưng chủ yếu chỉđề cập đến quyềnhạn, trách nhiệm của Chấp hành viên, Thừa phát lại hoặc Thẩm phán TH trong quá trình thực thi nhiệmvụđược tựmình hoặc đề nghị các cơ quan chức năng xử lý những trường hợp V L trong TH DS mà chưa có sự đánh giá tổng thể, sâu rộng về vấn đề này.

23

1.2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học, bài viết liên quan trực tiếp đếnvấnđề hoàn thiện pháp luậtvềXLV L trong TH DS như nêu trên, cóthể nhận thấy một số ưu điểm và hạn chế như sau:

V ưu đ ể :

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đều cho rằng XLV L trong TH DS là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về XLV L trong TH DS và việc xử lý nghiêm đối với các V L trong TH DS là rất cần thiết. Đây là quanđiểmđúng đắn vàcầnphải tiếp thu, phát triển trong quá trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đều đánh giá tình trạng V L trong TH DS hiện nay di n ra khá phổ biến, trong đó có cả các V L từ phía người phải TH , người được TH , người có quyền lợi liên quanvà từphía các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực TH DS. Các hành vi V L rất đa dạng bao gồm nhiều loại V L trong đời sống xã hội như vi phạm hành chính, phạm tội, vi phạmkỷluật, V L gây thiệt hạitrong thi hành công vụ trong TH DS… Nhữngđánh giá này đã phần nào phản ánh được tình trạng V L trong TH DS. Trong quátrình nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS cần tìm hiểu và làm sáng tỏ, đầyđủ hơn về tình trạng V L trong TH DS, mức độ ảnh hưởng và tác động tiêu cực của nó đối với hoạt động TH DS cũng nhưđối với đời sống xã hội nói chung.

Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã nêu lên yêu cầu của thực ti n đang đặt ra hiện nay là cần phải tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm đối với các trường hợp VPPL trong TH DS. Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực ti n công tác TH DS hiện nay. Trong quá trình nghiên cứu luận án cần tiếp thu và phát triển nội dung này nhằm xây dựng các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

V c ế:

Có quá ít công trình khoa học, bài viết nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Điều này cho thấy mức độ nhận thức về vai trò, ý nghĩa của hoạt động XLV L trong TH DS chưa đầyđủ và còn nhiều hạn chế,đồng thời, việc đánh giá về thực trạng pháp luật cũng như thực trạng XLV L trong TH DS hiện nay là chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực ti n cũng như yêu cầu tổ chức thực hiện pháp luật về XLV L trong TH DS nói chung.

24

Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan mới chỉ tậptrung phân tích, tìm hiểu về một số loại V L phổ biến trong TH DS như vi phạm hành chính, phạm tội mà chưa nghiên cứu sâu về các loại V L khác trong TH DS như vi phạm quy định pháp luật dân sự, vi phạm kỷ luật, V L gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, V L gây thiệt hại về vật chất và tác động, ảnh hưởng của những V L nàyđối với hoạt động TH DS. Điềunày cũng chưa phù hợp và đáp ứngđược đòi hỏi của thực ti n thực hiện pháp luật về XLV L trong TH DS hiện nay.

Có thể nói, việc tìm hiểu, nghiên cứu về các loại V L, việc XLV L và mức độ ảnh hưởng, tácđộng của các V L đối với công tác TH DS là chưa đầy đủvà còn rất nhiều hạn chế. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải cósựnghiên cứu đầy đủ, chuyên sâu về vấn đề này, trên cơ sở đó xây dựng và đề xuất các giải phápđể hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan chưa nêu lênđượctầm quan trọng của các quy định pháp luật cũng như chưa đặt ravấn đề cầnphải hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có sựnghiên cứu sâu, đầy đủ và toàn diện về lý luận cũng như thực ti n đối với việc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Trên cơsở đó, xây dựng và đềxuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS, bổ sung vào kho tàng lý luận về pháp luật TH DS nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung.

Có nhiều nội dung cần nghiên cứu, tìm hiểu và làm r về vấn đề hoàn thiện pháp luật XLV L trong TH DS nhưng chưa được đề cập đến trong các công trình nghiên cứunhư: Khái niệm, đặcđiểm,nộidung, mụctiêu, tiêu chí và nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS… Đây là một khoảng trống và đangđặt ra yêu cầu cần phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu để làm r trong quá trình nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

Thực tế hiện nay cho thấy, vấn đề XLV L trong TH DS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác TH DS nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Hoạt động XLV L hiệu quả sẽ góp phần ngăn chặn, hạn chế đến mức cóthể các V L trong TH DS. Đồng thời, qua việc XLV L, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức và người dân được nâng cao, để từđó,tựý thức được trách nhiệm pháp luật của mình và không thực hiện các hành vi V L.

háp luật về XLV L trong TH DS hoàn thiện là cơ sở và nền tảng cho việc XLV L trong TH DS được đúng đắn, hiệu quả, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác TH DS. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện

25

pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực ti n, góp phần bổ sung vào lý luận vềTH DS, pháp luật về TH DS, pháp luật về XLV L nói chung, đồng thời, góp phần khắc phục những thiếu sót và khoảng trống của những công trình nghiên cứu trước đâycó liên quan đến vấn đề này. Quá trình thực hiện luận án sẽ cố gắng nghiên cứu, làm r những vấn đề lý luận và cơ sở thực ti n của việc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

1. Hiện nay, có rất ít công trình khoa học, bài viết nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Một số công trình liên quan mới chỉ đềcập đến những vấn đềchung và khái quát như: V L và các biện pháp XLV L trong đời sống xã hội nói chung, những vấn đề về pháp luật TH DS, những nội dung cơ bản về hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam…

2. Có rất nhiều nội dung cầnđược nghiên cứu, làm sáng tỏ nhưng chưađược đề cập trong các công trình nghiên cứu trước đó như: Khái niệm, đặc điểm, ýnghĩa của XLV L đối với hoạt động TH DS; khái niệm, đặc điểm, nội dung vàhình thức thể hiện của pháp luật XLV L trong TH DS; mục tiêu, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, tiêu chí và nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS… Đâylà một khoảng trống và đang đặt ra yêu cầu cần phải có sựnghiên cứu, tìm hiểu và làm r trong quá trình nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật vềXLVPPL trong THADS.

3. Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích và làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận của hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của XLV L trong TH DS đối với hoạt động TH DS; khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức thể hiện của pháp luật về XLV L trong TH DS; khái niệm, mục tiêu, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, tiêu chí và nguyên

tắc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS ; thực trạng pháp luật và thực trạng của việc hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS, đểtừviệc nghiên cứu đó, xây dựng và đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS. Đây chính là những điểm mới và là những đóng góp quan trọng của luận án.

26

C ươ g 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶCĐIỂMVÀÝNGHĨACỦAXỬLÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1.1. Khái niệm xử l vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự

XLV L trong TH DS là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm xử lý bằng các hình thức, biện pháp khác nhau theo quyđịnh pháp luật đối với chủ thểthực hiện hành vi V L xâm phạm các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức vàhoạt độngTH DS. Căn cứ thực ti nđể XLV L trong TH DS chính là V L trong TH DS [93]. Do đó, để hiểu được bản chất của vấn đề XLV L trong TH DS thì trướchếtcần tìm hiểu vềV L trong THADS.

V L là một hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội. Thực chất, V L lànhững hành vi tiêu cực của một số cá nhân,tổ chức đi ngược lại ý chí của Nhànước, quyền và lợi ích chính đáng của xã hội, cộng đồng. Những hành vi đó luôn gâyhạicho Nhà nước, xã hội và công dân, do vậy, chúng luônbịlên án và đấu tranh nhằm ngăn chặn, loại bỏra khỏi đời sống xã hội [93]. V L trong TH DS cũng cần phải bị xử lý, bảo đảm cho hoạt động TH DS di n ra phù hợp với pháp luật, đạt được công lý trên thực tế.

TH DS là một dạng hoạt động mang tính hành chính – tư pháp của Nhànước, do cơ quan TH DS thực hiện và được bảo đảmbằng quyền lực nhà nước. Mục đích của hoạt động TH DS lànhằm thực hiện đầy đủ, kịp thờinhững bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Hoạt động TH DS có vai trò, ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội,bảo đảm thực thi các bản án, quyết định của Tòa án về dân sự trên thực tế, góp phần nâng cao chất lượng, hiệuquảhoạtđộng tốtụng cũng nhưhoạt độngáp dụng pháp luật nói chung, đồng thời, góp phần bảo đảm trật tự, công bằng xã hội, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân [21].

Cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong TH DS khó tránh khỏi những V L cầncó cơ chế pháp luật để đấu tranh và loại bỏ. V L trong TH DS có những dấuhiệu của V L nói chung, đồngthời, có những đặc điểm riêng xuất phát từ đặc thù của tổ chức và hoạt động TH DS:

27

Trước hết, có thể nói, V L trong TH DS là những hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực TH DS, xâm hại trật tự về tổ chức và hoạtđộng TH DSđược pháp luậtvề TH DS xác lập, bảo vệ. Hành vi V L trong TH DS có thể biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Đó là những phản ứng, cách ứng xử của chủ thể trái với pháp luật về TH DS được biểu hiện ra bên ngoài trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định, được hình thành trêncơ sởnhận thức và khả năng kiểm soát của chủ thể về hành vi của mình. Hành vi trái pháp luật TH DS tuy ở những mức độ khác nhau nhưng đều nguy hiểm và gây hại cho xã hội. Hậu quả của hành vi trái pháp luật trong TH DS chính là những thiệt hại trong thực tế, có thể là những thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc những thiệt hại khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật trong TH DS được xác định phụ thuộc vào tính chất vàmức độthiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây hại cho xãhộimà hành vi đó gây ra. Hành vi trái pháp luật trong TH DS vàhậuquảtrong thực tế sựthiệt hại cho xã hội có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả hay sự thiệt hại trong thực tế là do hành vi trái pháp luật TH DS trực tiếp gây ra, nói cách khác, sự thiệt hại của xã hội xảy ra là hậu quả trực tiếp và tất yếu của hành vi VPPL trong THADS [93].

Hành vi trái pháp luật trong TH DS chính là những hành vi xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TH DS được pháp luật xác lập và bảo vệ.Đó là những quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động TH DS, được coi là khách thể có thể bị xâm hại bởi những hành vi trái pháp luật [93]. Khách thể của V L trong TH DS rất đa dạng, bao gồm toàn bộ những vấn đề về tổ chức và hoạtđộng TH DS; quản lý nhà nước về TH DS; trình tự, thủ tục TH DS; các mối quan hệ trong TH DS. Trong đó có các mối quan hệ bên trong mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về TH DS; mối quan hệ giữa các cơ quan TH DS; mối quan hệ nội tại trong mỗi cơ quan TH DS; mối quan hệ giữa các cơ quan TH DS với người phải TH , người được TH và người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan đến việc TH và các mối quan hệbên ngoài mối quan hệ giữa các cơ quan TH DS với các cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân ; mối quan hệ giữa các cơ quan TH DS với các cơ quan,đơn vị, cá nhân tham gia quá trình THADS).

Sựphân tích ở trên chothấy đặcđiểm riêng cho phép phân biệt V L trong TH DS với V L trong những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, phản ánh đặc thù trong tổ chức và hoạt động của TH DS.

28

Chủ thể thực hiện hành vi V L của mình trong TH DS có thể là cá nhân hoặc tổchức có năng lực TN L, tức là có khả năng chịu trách nhiệm đối với hành vi V L trong TH DS và được xác định là hành vi trái pháp luật có lỗi cố ý hoặc vô ý [93]. Trong quá trình TH DS luôn tồn tại những mối quan hệ khác nhau nhưđã nêu trên, do đó, chủ thể V L trong TH DS rất đa dạng và phức tạp, có thể là bất cứ chủ thể nào tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật về TH DS xác lập vàbảo vệ như: Thủ trưởng cơ quan TH DS, Chấp hành viên, cán bộ, công chức TH DS; người phải TH DS, người được TH DS, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc TH ; cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết việc TH DS.

Như vậy, có thể hiểu, VPPL trong THADS là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực TNPL thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội trong lĩnh vực THADS, được pháp luật về THADS xác lập và bảo vệ.

Xét về bản chất, V L trong TH DS cũng tương tự các V L trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, đều là những hành vi trái pháp luật, xâm hại các quan hệ xãhội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Tuy nhiên, V L trong TH DS khác với V L trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội ở chỗ,đó lànhững hành vi trái pháp luật, được thực hiện bởi những chủ thể tham gia trực tiếp trong quan hệ TH DS, xâm hại các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TH DS và được pháp luật về TH DS xác lập, bảo vệ. Căn cứvào những quan hệ xã hội trong lĩnh vực TH DS được pháp luật

xác lập, bảo vệ cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi V L xâm hại những quanhệ xãhộiđó, có thể phân loại và đưa ra khái niệm các V L trong TH DS như sau:

Vi phạm hành chính trong THADS: là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhànước trongtổ chức và hoạt động TH DS mà không phải là tộiphạm và theo quyđịnh của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Phạm tội trong THADS: là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quyđịnh trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TH DS.

Vi phạm quy định pháp luật dân sự trong THADS: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản, quan hệ phi tài sản trong lĩnh vực TH DS.

Vi phạm kỷ luật trong THADS: là hành vi trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong tổ chức và hoạt động TH DS.

29

VPPL gây thiệt hại trong thi hành công vụ trong THADS: là hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức của cơ quan TH DS trong thi hành công vụ, không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân.

VPPL gây thiệt hại về vật chất cho cơ quan THADS: là hành vi VPPL, làm mấtmát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc gây ra thiệt hại vềtài sảncủa cơ quan TH DS nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

V L trong TH DS là sựkiện pháp lý và là cơ sở thực tế để truy cứu TN L trong TH DS [93]. Căn cứvào các loại V L trong TH DS nhưđãnêu trên, có thể phân chia và đưa ra khái niệm về các loại TN L trong TH DS như sau:

Trách nhiệm hành chính trong THADS: là loại TN L do các cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng đối vớinhững chủ thể thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong tổ chức và hoạt động TH DS.

Trách nhiệm hình sự trong THADS: là loại TN L nghiêm khắc nhất do Tòa án áp dụng đối với những chủ thể có hành vi phạm tội trong TH DS đã được Bộluật hình sự quy định.

Trách nhiệm dân sự trong THADS: là loại TN L do Tòa án hoặc chủ thể khácđược phép áp dụng đối với các chủ thể có hành vi trái pháp luật xâm hại những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản, quan hệ phi tài sản trong lĩnh vực TH DS. Trách nhiệm kỷ luật trong THADS: là loại TN L do cơ quan nhà nước có

thẩm quyền áp dụng đối với cán bộ, công chức hoặc nhân viên TH DS khác vi phạm kỷ luật trong TH DS.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong THADS: là loại TN L của cơ quan TH DS thực hiện bồi thường cho cá nhân, tổ chức và cơ quan bị thiệt hại do cán bộ, công chức TH DS gây ra trong khi thi hành công vụ.

Trách nhiệm hoàn trả của người gây thiệt hại trong thi hành công vụ trong THADS: là loại TN L do cơ quan TH DS áp dụng đối với cán bộ, công chức TH DS gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ phải hoàn trả cho ngân sách nhànước một khoản tiền mà cơ quan TH DS đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Trách nhiệm vật chất trong THADS: là trách nhiệm bồi thường bằng tiền của cán bộ, công chức hoặc nhân viên TH DS khác cho cơ quan TH DS bị thiệt hại về tài sản do có hành vi trái pháp luật, làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bịhoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan TH DS đó.

30

Có thểhiểu, TNPL trong THADS là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể VPPL phải chịu do có hành vi VPPL trong THADS, được các QPPL về XLVPPL trong THADS xác lập và điều chỉnh.

Như vậy, có thể nhận thấy, lĩnh vực TH DS cũng bao hàm đầy đủ trong nó các loại V L và TN L khác nhau trong đời sống xã hội. Mỗi loại V L trong TH DS được pháp luật quy định TN L tương ứng. Theo đó, các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật TH DS mà có hành vi V L sẽ phải chịu hậu quảpháp lý bất lợi TN L theo quy định pháp luật.

V L trong TH DS chính là căn cứ thực tế để tiến hành XLV L. Việc tiến hành XLV L trong TH DS được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trên cơsở các quyđịnh pháp luật. Đó chính là hoạtđộng áp dụng pháp luật nhằm xử lý chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật xâm phạm các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động TH DS [93].

Căn cứ vào hành vi V L trong TH DS được pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi V L, những thiệt hại thực tế xảy ra do tác động của hành vi V L, từđó, lựa chọn hình thức và biện pháp xửlý phù hợp. Hoạt động XLV L trong TH DS được thực hiện theo trình tự, thủ tụcchặt chẽ do pháp luật quy định, bao gồm toàn bộ quá trình phát hiện hành vi V L, xác định thiệt hại cho xã hội do tácđộng của hành vi V L đến việc xử lý, truy cứu TN L và tổ chức thi hành của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền.

Như vậy, có thể hiểu, XLVPPL trong THADS là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền, mang tính chất cưỡng chế và thể hiện quyền lực nhà nước, nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi VPPL trong THADS bằng những hình thức, biện pháp khác nhau và tổ chức thi hành đối với việc XLVPPL đó theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.

Căn cứ vào các loại V L và TN L trong TH DS, có thể phân loại và hiểu các biện pháp XLV L trong TH DS như sau:

XLVPPL hành chính trong THADS: là hoạt động quản lý nhà nước mang tính chế tài, cưỡng chếhành chính của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền nhân danh Nhà nướcthực hiện theo quyđịnh pháp luậtđối với những hành vi vi phạm hành chính trong TH DS.

Xử lý tội phạm hình sự trong THADS: là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, kết tội và áp dụng hình phạt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với

31

người đã thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TH DS.

XLVPPL dân sự trong THADS: là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án hoặc chủ thể khác có thẩm quyền nhằm buộc những chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật xâm hại những quanhệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản, quan hệ phi tài sản trong TH DS phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quyđịnh pháp luật.

Xử lý vi phạm kỷ luật trong THADS: là hoạt động áp dụng pháp luật của cơquan nhà nước có thẩm quyền nhằm buộc cán bộ, công chức hoặc nhân viên TH DS khác phải chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định pháp luật do đã thực hiện hành vi trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong tổ chức và hoạt động THADS.

XLVPPL gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ về THADS: là hoạt động áp dụng pháp luật củacơ quan TH DS trong việc thực hiện trách nhiệm bồithường thiệt hại và buộc cán bộ, công chức TH DS thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quyđịnh củapháp luật do đã thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ.

XLVPPL gây thiệt hại cho cơ quan THADS: là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm buộc cán bộ, công chức hoặc nhân viên TH DS khác bồi thường về tài sản do có hành vi trái pháp luật làm mất mát, hưhỏng trang bị, thiết bị hoặc gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan TH DS nhưng chưađến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

XLV L trong TH DS là một hoạt động có tính chất phức tạp, đòi hỏi việc áp dụng pháp luật phải đúng đắn và chính xác. Theo đó, việc XLV L trong TH DS phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau:

Một là, chỉ XLV L đối với những hành vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội trong lĩnh vực TH DS được pháp luật quy định.

Hai là, phải luônbảođảmđược nguyên tắc pháp chế trong hoạt động XLVPPL trong THADS.

Ba là, phải bảo đảmsựcông bằng và nhân đạo trong hoạt động XLV L trong THADS.

Bốn là, phải bảo đảm tính phù hợp khi XLV L trong TH DS, tức là phải bảo đảm sự phù hợp của các Q L được áp dụng, sự tương thích giữa biện pháp trừng phạt của nhà nước và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi V L trong TH DS…

Năm là, việc XLV L trong TH DS phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng, công minh, chính xác theo đúng quy định của pháp luật và phải đạt kết quả cao.

32

Như vậy, V L trong TH DS là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại các quan hệ xã hội trong lĩnh vực TH DS, được pháp luật xác lập và bảo vệ. Chủ thể thực hiện hành vi V L trong TH DS phải chịu TN L do pháp luật quy định. Quá trình phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi V L trong TH DS bằng những hình thức, biện pháp khác nhau và tổ chức thi hành trên thực tế chính là hoạtđộng XLV L trong TH DS.

2.1.2. Những đặcđiểmcơ bản của xử l vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự

Qua tìm hiểu khái niệm XLV L và các biện pháp XLV L trong TH DS, có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của XLV L trong TH DS như sau:

XLVPPL trong THADS là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền mànộidung chủ yếu của nó là áp dụng các biện pháp chếtài mang tính cưỡng chế và thể hiện quyền lực nhà nước theo quy định pháp luật đối với chủ thể VPPL trong THADS.

háp luật quy định XLV L là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền. Nói cách khác, pháp luật chỉ trao quyền cho một số chủ thể nhất định tiến hành xử lý đối với những hành vi V L được pháp luật quyđịnh là phải xử lý. Trên cơ sở những quy định pháp luật và căn cứ vào hành vi V L trong TH DS, các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền sử dụng các biện pháp khác nhau có tính chất cưỡng chế nhằm trừng phạt đối với những hành vi V L trong TH DS.Đó chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể V L trong TH DS phải chịu do đãthực hiện hành vi trái pháp luật xâm hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật vềTH DS xác lập và bảo vệ. Do đó, XLV L trong TH DS trước hết là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền, trong đó, các chủ thểnày sử dụng quyền của mình được pháp luật quy định để tiến hành xử lý đối với những V L trong TH DS bằng việc lựa chọn hình thức và biện pháp xử lý tương ứng đối với hành vi V L được pháp luật quy định. Điều này cho thấy hoạt động XLV L trong TH DSgắnliền với vai trò và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cánhân được pháp luật trao quyền áp dụng pháp luật về XLV L trong TH DS.

XLVPPL trong THADS là quá trình bao gồm toàn bộ các hoạt động phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi VPPL trong THADS bằng những hình thức, biện pháp khác nhau và tổ chức thi hành đối với việc XLVPPL đó theo quy định pháp luật.

Hành vi V L trong TH DS phải được phát hiện kịp thời và xử lý theo quyđịnh của pháp luật nhằm đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội,đồng

33

thời để phòng ngừa những V L tương tự có thể xảy ra. Khi phát hiện các hành vi V L trong TH DS, cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm áp dụng các quy định pháp luật để ngăn chặn, xử lý các V L đó, đồng thời, tổ chức thực hiện đối với việc xử lý đó trên thực tế. Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi V L trong TH DS phải chịu TN L tương ứng theo quy định của pháp luật. háp luật quyđịnh cụ thể các loại TN L cũng như các hình thức và biện pháp xử lý tương ứng đối với mỗi loại V L trong TH DS. Việc xử lý đối với những hành vi V Lcụ thểtrong TH DS được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm đưa ra quyết định xử lý đối với các hành vi V L trong TH DS bằng các hình thức, biện pháp khác nhau và tổ chức thi hành việc xử lý đó trên thực tế, theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định, thể hiện sựtrừng phạt của pháp luật đối với chủ thể V L. Hoạt động XLV L trong TH DS được tiến hành dựa trên căn cứthực tế là các V L trong TH DS, do các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền thực hiện và trên cơ sở các quy định của pháp luật về XLV L trong TH DS.

XLVPPL trong THADS chỉ được tiến hành khi có hành vi VPPL trong THADS.

Như trên đã nói, căn cứ thực tế để XLV L trong TH DS là hành vi V L trong TH DS. Có thểnói, chỉ khi có hành vi V L, xâm hại đếntrật tựtrong tổchức và hoạt động TH DS mới đặt ra yêu cầu XLV L trong TH DS. Đây cũng chính là đặc điểm cơ bản để phân biệt việc XLV L trong TH DS với việc XLV L trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội vì hoạtđộngXLV L trong TH DS luôn gắn liền với các V L trong TH DS. Đây đồng thời cũng là một nguyên tắc cần tuân thủ triệt để trong quá trình áp dụng pháp luật về XLV L trong TH DS.

Hoạt động XLVPPL trong THADS được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.

háp luật XLV L trong TH DS quyđịnhvề V L và XLV L tronglĩnh vực TH DS, đồng thời, cũng quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện các quy định đó trên thực tế. Do đó, toàn bộ quá trình xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi V L, hậu quả thực tế xảyra do tác động của hành vi V L, thẩm quyền XLV L, các hình thức và biện pháp XLV L cũng như trình tự, thủ tục tiến hành XLV L đều phải tuân theo các quy định pháp luật về XLV L trong TH DS. Mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về TH DS đều phải tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành các quyđịnh đó. Cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ bị xửlý trách nhiệm tương ứng với hành vi V L của mình. Như vậy, có

34

thể nói, hoạt động XLV L trong TH DS phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, mọi hành vi V L trong quá trình thực hiện XLV L trong TH DS sẽ bị xửlý theo quyđịnh của pháp luật. Đâychính là sựbảo đảmbằng quyền lực nhà nước, làsựbảo đảm bằng các Q L để hoạt động XLV L này được thực hiện nghiêm minh, đúng đắn và trên cơ sở pháp luật.

Hoạt động XLVPPL trong THADS phải được tiến hành theo trình tự, thủtục chặt chẽ do pháp luật về XLVPPL trong THADS quy định.

Toàn bộquá trình phát hiện ra hành vi V L trong TH DS, việc ngăn chặn, xử lý, truy cứu TN L và tổ chức thi hành đối với việc xử lý các hành vi VPPLđó của các cơ quan,tổ chức, cá nhân có thẩm quyền… đều được pháp luật vềXLV L trong TH DS quyđịnh cụ thể bằng các Q L. Do vậy, hoạt động XLV L trong TH DS phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ triệt để các quyđịnh củapháp luật về trình tự và thủ tục. Đó là các quy định bảo đảm cho hoạt động XLV L trong TH DS được tiến hành một cách đúng đắn, đồng bộ, thống nhất vàtrên cơsở pháp luật. Do đó,bất cứcơ quan, tổ chức hay cá nhân nào được Nhànước trao quyền trong việc thực hiện XLV L trong TH DS đều phải tuân theo. Những hành vi vi phạm các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục XLV L trong TH DS cũng sẽ bị xửlý trên thực tế. Đâycũng chính là một vấn đề mang tính nguyên tắc trong việc XLV L trong TH DS.

Hoạt động XLVPPL trong THADS mang tính đặc thù cho phép phân biệt với hoạt động XLVPPL trong những lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

TH DS là một lĩnh vực cụ thểcủađời sốngxã hội nên tổ chức, hoạt động TH DS có nhiều nétđặc thù và hoạtđộngXLV L trong TH DS có những nét riêng biệt được quyết định bởi những đặc thù đó. Điều này cho phép chúng ta phân biệt được hoạt động XLV L trong TH DS với hoạt động XLV L trong những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, được thể hiện ở một số điểm như sau:

Căn cứ pháp lý để XLV L trong TH DS là tổng thể các Q L về V L và XLVPPL trong THADS.

Căn cứthực ti n để XLV L trong TH DS là những hành vi V L xâm hại trực tiếp các quan hệ xã hội trong tổ chức và hoạt động TH DS.

Chủ thể có thẩm quyền XLV L trong TH DS được pháp luật quy định cụ thể theo từng loại V L cơ quan, tổ chức quản lý về TH DS; Thủ trưởng cơ quan TH , Chấp hành viên; cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết việc TH ; các cơ quan tiến hành tố tụng .

35

Đối tượng bị XLV L trong TH DS đối tượng V L trong TH DS làrất đa dạng và phức tạp, có thể là Thủ trưởng cơ quan TH , Chấp hành viên, cán

bộ, công chức TH ; người phải TH , người được TH , người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc TH ; cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia phối hợp giải quyết việc TH hoặc bất cứ chủ thể nào tham gia các quan hệ xã hội được pháp luật về

TH DS xác lập, bảo vệ…

Như vậy, XLV L trong TH DS cũng tương tựnhư hoạt động XLV L trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, là hoạt động áp dụng pháp luật của cơquan nhànước và cá nhân có thẩm quyền nhằmxửlýđốivới các hành vi V L. Bên cạnh đó, XLV L trong TH DS có những đặc thù, phản ánh được những nét riêng của lĩnh vực TH DS. Đây chính là những đặc trưng cho phép phân biệt với hoạt động XLV L trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

2.1.3. Ý nghĩa của xử l vi phạm pháp luật đối với hoạt động thi hànhán dân sự

XLV L trong TH DS thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm xử lý đối với chủ thể thực hiện hành vi V L trong TH DS bằng những hình thức, biện pháp khác nhau tương ứng với mỗi loại V L. Do đó, có thể nói, XLV L trong TH DS là hoạt động căn bản vàcó ý nghĩa, vai trò rất quan trọng đối với lĩnh vực TH DS nói riêngvà đối với đời sống xã hội nói chung, điều này được thể hiện cụ thể như sau:

XLVPPL trong THADS là hoạtđộngnhằm phòng ngừa,đấutranh chống VPPL trong lĩnh vực THADS.

Thực chất, XLV L trong TH DS là hoạt động phòng, chống V L trong TH DS. Theo đó, những hành vi V L trong TH DS được phát hiện và xử lý trên cơ sở các quy định pháp luật, bảo đảm tính đúng đắn và nghiêm minh của pháp luật. Đó chính là hoạt động của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền nhằm đưa ra xửlý trên thực tế những hành vi V L xâm hại đến tổ chức và hoạt động TH DS. Hoạt độngnày thể hiệnsựtrừng phạt của Nhà nước và pháp luật đối với chủ thể đãthực hiện hành vi V L trong TH DS. Qua việc xử lý đó, chủ thể thực hiện hành vi V L trong TH DS phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi tương ứng với tính chất vàmức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật của mình. Từ đó, các chủ thể này sẽnhận thức được TN L của mình mà không thực hiện hành vi V L tương tự, đồng thời, việcxửlý đó cũng sẽ tác động tới ý thức của những người khác về V L vàTN L khi tham gia các quan hệ TH DS để từ đó không V PL trong THADS.

36

Như vậy, hoạt động XLV L trong TH DS mộtmặt có tác dụng ngăn chặn, tiến tới loại bỏ những V L trong TH DS, mặt khác có tác dụng phòng ngừa, răn đe, hạn chế những hành vi V L tương tự. Do đó, cóthểnói, hoạt động XLV L trong TH DS hiệu quả sẽ góp phần giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội trong lĩnh vực TH DS nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Đồng thời, qua việc XLV L, ý thức chấp hành pháp luật về TH DS của người dân được nâng cao, tựý thức được trách nhiệm pháp luật của mình và không thực hiện các hành vi VPPL trong THADS.

XLVPPL trong THADS là một hoạt động nhằm bảođảmtính công bằng trong lĩnh vực THADS.

háp luật về TH DS là ý chí của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực TH DS, là những quy tắc xửsựchung mà các chủthể khi tham gia vào quan hệ TH DS phải tuân theo. Khi tham gia quan hệ pháp luật này, các chủ thể được hưởng quyền cũng như có trách nhiệm và nghĩa vụ tươngứng theo quyđịnh pháp luật. Mọi hành vi V L xâm hạiđếnquyền, lợiích hợp pháp của người khác Nhà nước và công dân đều phải bị xửlý nghiêm minh, công bằng và trên cơ sở pháp luật. XLV L trong TH DS là hoạt động thể hiện sự trừng phạt của Nhà nước và pháp luật đối với hành vi V L trong TH DS nhằm bảo đảm sựcông bằng trong những quan hệ pháp luật TH DSđó.Đó cũng chính là cơsởđểduy trì trật tự pháp luật và an toàn xã hội trong lĩnh vực TH DS.

XLVPPL trong THADS là hoạt động nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của những bản án, quyết định được thi hành theo quy định của pháp luật về THADS.

Về nguyên tắc, những bản án, quyết định củaTòa án về vụ việc và vụ án dân sự phải được đưa ra thi hành trên thực tế. TH DS là hoạt động nhằm đưa ra thi hành đối với những bản án, quyết định đó. Tuy nhiên, việc thi hành những bảnán, quyết định này có thể bị ngăn cản, chống đối hoặc trì hoãn… bởi bất cứ cơ quan,tổchức hay cá nhân nào khi tham gia vào quan hệ pháp luật TH DS. Theo quy định của pháp luậtvề XLV L trong TH DS thì mọi hành vi V L nhằm chống đối, cản trở việc thi hành những bản án, quyết định đó đều phải bị xử lý bởi các cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền. Việc xử lý đối với những hành vi V L này có tính chất ngăn chặn, loại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội, tức là ngăn chặn và loại bỏ việc chống đối, cản trở quá trình thi hành những bản án, quyếtđịnh dân sựcủa cơ quan TH DS. Do đó, hoạt động XLV L này góp phần bảo đảmtính nghiêm minh và hiệu lực thi hành của những bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành

37

trên thực tế.

XLVPPL trong THADS là hoạt động góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác THADS.

Việc xửlý nghiêm các V L trong TH DS có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong hoạt động TH DS, là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả vàchất lượng công tác TH DS. Trong thực ti n, có nhiều vụ việc TH DS rấtphức tạp, đương sựkhông tựnguyện chấp hành, cố tình chống đối, ngăn cản hoặc trìhoãn việc TH . Việc xử lý nghiêm đối với những hành vi này là cơ sở để thi hành dứt điểmnhững vụ việc TH phức tạp. Quá trình XLV L trong TH DS cũng sẽcó tácđộngtích cực tới ýthức củanhững người phải TH , ngăn chặn và phòng ngừa được những V L có thể xảy ra, để từ đó, người phải TH tự nguyện thi hành nghĩa vụ pháp lý của mình.

XLVPPL trong THADSbảođảmcho các quy định của pháp luật về THADSđược thực thi đúng đắn, nghiêm minh và hiệu quả trong thực tiễn.

XLV L trong TH DS là hoạt động áp dụng pháp luật của Nhà nước nhằm đấu tranh ngăn chặn và phòng ngừa các V L trong lĩnh vực TH DS. Mụcđích của hoạt động áp dụng pháp luật đó là để duy trì trật tự pháp luật TH DS, đảm bảo cho pháp luật được thực thi đúng đắn, nghiêm minh và hiệu quả trong đời sống xã hội, không bị chống đối, ngăn cản, vi phạm hay làm sai lệch sự điều chỉnh của nótrên thực tế. Những quy định của pháp luật TH DS phải được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành. Những hành vi trái pháp luật, xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân trong lĩnh vực TH DS sẽ bị xử lý trên cơ sở pháp luật. Qua hoạt động XLV L đó trên thực tế, ý thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và người dân theo đó cũng được nâng cao và việc tuân thủ các quy định pháp luật về TH DS từ đó cũng được triệt để hơn. háp luật về TH DSđược thực thi đúng đắn, nghiêm minh và hiệu quả là cơ sở đảmbảo cho công tác TH DS được thực hiện chất lượng và hiệu quả, góp phần duy trì an ninhtrật tựvàan toàn xã hội của đất nước.

XLVPPL trong THADS góp phần bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội trong hoạt động THADS.

Nhưở trên đã nói, mọi hành vi V L cần phải xửlý nghiêm trên thực tế, nếu không, nó sẽ luôn có tác động tiêu cực đối vớiđờisống xã hội và do đó, mụcđích của pháp luật trong việc điều chỉnh những quan hệ của đời sống xã hội sẽkhông đạt được. Hoạt động XLV L trong TH DS chính là nhằm bảo đảm cho trật

38

tựxã hội trong lĩnh vực TH DS di n ra một cách bình thường, trong khuôn khổpháp luật. Theo đó, mọi hành vi V L xâm hại các quan hệ xãhộiđược pháp luật TH DS xác lập và bảovệ đềuphải bị xửlý nghiêm minh. Đó chính là cơ sở để giữgìn an ninh trật tự và an toàn xã hội trong lĩnh vực TH DS nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung.

XLVPPL trong THADS là hoạtđộngcó ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật về THADS.

XLV L trong TH DS là hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật vềTHADS,để nhữngquy định pháp luật TH DS được thi hành và phát huy hiệu quảtrong thực ti n. Qua hoạt động XLV L, ý thức pháp luật về TH DS của những người bị XLV L nói riêng và cán bộ, công chức, nhân dân nói chung được nâng lên. Có thể nói, hoạt động XLV L trong TH DS là một hoạt động tuyên truyền, giáo dục gián tiếp pháp luật về TH DS. Qua hoạt động XLV L trong TH DS, những chủ thể tham gia quan hệ TH DS hiểu được r hơn về các hành vi bị coi làV L và TN L đối với mỗi hành vi đó, từ đó có sự điều chỉnh hành vi,xửsựcho phùhợp với các quyđịnhpháp luật để không V L. Như vậy, hoạtđộng XLV L trong TH DS một mặt góp phần nâng cao ý thức và hiểu biết pháp luật TH DS cho cán bộ, công chức, nhân dân, mặt khác, đó chính là cơ sở để phòng, chống các V L trong TH DS nói riêng và V L trong đời sống xã hội nói chung.

Tóm lại, XLV L trong TH DS là hoạtđộngáp dụng pháp luật có ý nghĩađặc biệt quan trọng không chỉ đối với lĩnh vực TH DS mà còn đối với cả đời sống xã hội nói chung. Việc tăng cường và nâng cao hiệu quả XLV L trong TH DS làrất cần thiết và có tínhthời sựcao trong thực ti n. Do đó, hoàn thiện pháp luật vềXLV L trong TH DS luôn là một vấn đề có tính cấp bách và là đòi hỏi khách quan của thực ti n hiện nay.

2.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC THỂ HIỆN CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.2.1. Khái niệm pháp luật vềxử l vi phạm pháp luật trong thi hànhán dân sự

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *