Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trên phương diện nhận thức luận, quyền lực nhân dân trong mọi xã hội hiệnđại đều có thể và cần thiết thể hiện theo hai phương thức: dân chủ đại diện, dân chủtrực tiếp và thực hiện trên các phạm vi không gian của đất nước. Điều đó bao hàm cách hiểu, nhân dân – với vị thế chủ thể quyền lực, có thể trao quyền cho cá nhân hay tổ chức đại diện cho mình để thực hiện quyền lực nhân dân đồng thời nhân dân cũng có thểtựmình bàytỏý chí của mình để trực tiếp thực hiện quyền lực nhân dân. Nói cách khác, mặc dù làm chủ thông qua con đường nhà nước là phương thức làm chủ thông dụng và hữu hiệu nhưng nhân dân không thể trao hết quyền lực cho nhà nước. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, Nhà nước luôn vấp phải những lỗi hệthống và nhân dân luôngặpkhó khăn trong việc kiểm soát hoạtđộngcủacác cơquanĐảngvà Nhànướcnhằmđảmbảoquyềnlựcnhân dân. Vì vậy, nhân dân khôngthểđặtcượctoànbộvào nhànước.Nhân dân phảitựmình – thông qua những hình thức khác nhau, trực tiếp thực hiện quyền của chủ nhân quyền lực. Điều này thể hiện rõ nét nhất tại địa bàn cơ sở. Cách đặt vấn đề đó đã chỉ ra nhu cầu phải tìm kiếm căn cứ lý thuyết để tạo khung tư duy cho việc xác lập các cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó – như một tất yếu – có cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở.

Trên phương diện thực tiễn, Đảng ta luôn coi trọng nhân dân, luôn xác định vị thế chủ thể quyền lực của nhân dânvà phấn đấuvì lợi ích của nhân dân. Trong quá trình đổi mới, tính pháp quyền của Nhà nước, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

(XHCN)đãtừngbước đượcxây dựng, củngcố.Bướctiếnđóđãcókhảnăng thâm nhập sâu rộng vàomọilĩnh vực hoạtđộngcủa Nhà nước, vào đời sống xã hội trên nhiều vùng của đất nước, đang tạo ra những mô hình, những điển hình có sức lan tỏa lớn. Tuy nhiên, trong thực tế, cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân vẫn đang tồntạinhữngbấtcập.Mộtmặt, tuy Hiến pháp 2013đã có những thay đổi quan trọng trong ghi nhận chủ quyền nhân dân và các cơ chế thực thi dân chủnhưng trên thực tế, quá trình triển khai thi hành Hiến phápmớiđượckhởi động, mặtkhác, dân chủ cơ sở ở nước ta chưa được phát huy đúng mức – xétcả ởgóc độnhận thức cũng nhưở hiện thựccủacác hình thức và cơ chế đảmbảo quyền tham gia và quyếtđịnhtrực tiếpcủanhân dân đối với cácvấn đề của địa phương và đất nước. Trong suốt những nămđổimớivừa qua, để đảm bảo tính an toàn và ổnđịnhxã hội, quá trình phát huy dân chủ ở nước ta vẫn căn bản dựa trên cơ sở chiêm nghiệm thực tế, vừa làm vừa đúc rút lý luận và kinh nghiệm, do vậy tính tổng thể, tính đồng bộ, tính phù hợp và hiệu quả còn bị hạn chế. Đặc biệt, tạiđịa bàn cơsở,tình trạng vi phạm dân chủ vẫn là hiện tượng tươngđối phổbiến. Đi kèmvớinó là trạng thái suy giảm lòng tin của dân chúng và hiệu ứng ngược đối với năng lực thực hành dân chủ của nhân dân. Những nỗ lực phát huy dânchủở cơ sở trong những nămgầnđâyvẫn chưa phát huyhếtđượctác động thựctế.Các cơ chế, hình thức thực thi dân chủ của người dân và các cơ chế bảovệ, bảođảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở vẫn có không ít khoảng trống về mặt lý luận và thiết kế pháp lý. Nhìn một cách tổng thể, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tại cơ sở vẫn chưa có được những căn cứ chính trị và pháp lý vững chắc cho việc thực hiện nhất quánđể mộtmặtbảo đảmvai trò và sứ mệnh lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, mặt khác, bảo đảmđểcó sự cầm quyền và thực thi quyền lực chính đáng, hợp hiến vì nhân dân, ngăn chặn có hiệu quả mọi biểu hiện của sự lạm dụng quyền lực và nguy cơ phát triển chệchhướng, vượtra ngoài quỹ đạo phục vụ nhân dân.

Nhu cầu khắc phục tình trạng nói trên đã được Đảng và Nhà nước ta nhận thức rất rõ. Nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn để hình thành một chủ thuyết đầy đủ về chủ quyền nhân dân, trên cơ sở đó xác lập cơ chếhữu hiệu đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, tăng cường các cơ chế, hình thứcđảm bảo phát huy dân chủ cơ sở, giải quyết các mối quan hệ giữa quyền làm chủ

trực tiếp của người dân với các thiết chế thuộc hệ thống chính trị cơ sở… đã được xácđịnhlàmộtyêucầucấpbách vàtrởthànhmộtđịnhhướngquan trọng trong nghiên cứu khoa học và được đặt trong bối cảnh đổi mới chính trị hiện nay nhằm khơi thông một cách tiếp cận và quảng bá xã hội về quyền của người dân, về khả năng nhân dânđượclàm gì và làm nhưthếnàođểbảovệvà thực thi quyền lực nhân dân trongmộttrậttựnhànước pháp quyền.Đặcbiệt, thực hiệntốtvàđẩy mạnh dân chủ cơ sở không chỉ đơn thuần là một phản ứng chínhtrị của Đảng vàNhà nước trước tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà còn thể hiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở, do vậy mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài. Theo hướng đó, trên từng bình diện cụ thể, nhiều đề tài nghiên cứuđã được triển khai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đến nay vẫn chưa phúc đáp được yêu cầu.

Trong bối cảnh đó, rất cần thiết phải tiến hành nghiên cứu theo hướng làm sâu sắc thêm về mặt lý luận, tổng kết thực tiễn và định hình một cách cơ bản, đồng bộ, có hệ thống về các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của con người ở Việt Nam. Bối cảnh triển khai Hiến pháp năm 2013 hiện nay càng khiến cho chủ đề này trở nên cấp bách.

Như vậy, có thể khẳng định, trong tình hình hiện nay việc lựa chọn nghiên cứuchủđề“Hoàn thiện cơ chếpháp lý thực hiện dân chủcơsởởViệt Nam hiện nay” trong quy mô của một luận án tiến sĩ và dưới góc độ tiếp cận của khoa học pháp lý là rất cần thiết, xét cả từ góc độ lý luận và góc độ thực tiễn.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam, góp phần phát huy dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu làm sáng tỏ nhận thức về dân chủ cơ sở; xác định khái niệm,đặc điểm, các yếutố cấu thành và vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơsở ở Việt Nam hiện nay.

– Nhận diện các tiêu chí hoàn thiện và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam. Xác định và phân tích các nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế của cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở hiện nay.

– Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các khía cạnh lý luận về hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở. – Hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền dân chủ, các hình thức,

phương pháp, trình tự, thủ tục thực hiện dân chủ tại cơ sở.

– Hệ thống pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế thực thi dân chủ tại cơ sở.

– Các điều kiện, yếu tố tác động đến quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là một phạm trù có nội hàm rộng, khó có thể giải quyết thấu đáo trong quy mô của luận án tiến sĩluật học.

Vì vậy, luận án triển khai nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở trên không gian cả nước nhưng chỉ giới hạn ở đơn vị hành chính – lãnh thổ cấp cơ sở. Khái niệm thực hiện dân chủ cơ sở – đối tượng nghiên cứu của đề tài – được xác định là việc thực hiện dân chủ tại loại hình cơ sở xã, phường, thị trấn (chủ yếu là xã – đơn vị hành chính cơ sở phổ biến ở nước ta hiện nay), không bao hàm việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nhà nước tại cơ sở.

– Phạm vi thời gian:

Luận án triển khai nghiên cứu quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam từ sau khi Bộ Chính trị (khóa VIII) cóChỉ thịsố 30/CT-TWcủaBộ Chính trị ngày 18/2/1998 về xây dựng và thực hiện quychếdân chủ ở cơsở.Trực tiếp là từkhi Chínhphủcó Nghịđịnhsố 29/1998/NĐ-CP ngày 28/5/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đến 2015.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận của luận án

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu luận án là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, chủ quyền nhân dân và bản chất của dân chủ XHCN, về chức năng nhiệm vụ của hệ thống chính trị cơ sở, về vịtrí vai trò của các tổ chức quần chúng, về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máyĐảng và Nhà nước theo hướng phục vụ nhân dân và bảo đảm quyền lực nhân dân.

Luận án trực tiếpdựatrên những quanđiểmvàđịnhhướngcác nhiệmvụchính trị được đề cập trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng về tiếp tục phát huy dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị, về chiến lược phát triển bền vữngở Việt Nam, về tiến bộ và công bằng xã hội, về xây dựng hệ thống pháp luật đồng

bộ, minh bạch, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân…

Luận án cũngdựatrên cách tiếpcậnnghiêncứucủamộtsốlý thuyếtphổbiến hiện nay trên thế giới như: lý thuyết về chủ quyền nhân dân, học thuyết nhà

nước pháp quyền, học thuyết về quyền con người…

4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến hiện nay của khoa học pháp lý, trong đó chú trọng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết hệ thống. Ngoài ra luận văn còn sử dụng một sốphương pháp cụ thể như thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, lịch sử…

Do tính chất liên ngành của đề tài, luận án có chú ý thích đáng đến cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội trên cơ sở lát cắt chủ đạo của khoa học pháp lý và khoa học chính trị.

Chương 1 sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phân tích tài liệuthứcấpnhằmkếthừa các kếtquảnghiên cứuđãcó, phân tích, tổng hợp, khái quát thành quan điểm riêng của tác giả.

Chương 2 sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở quanđiểm biện chứng của triết học Mác-Lênin.

Chương 3 sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, điều tra xã hội học, đánh giá thực hiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Chương 4 sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, lý thuyết hệ thống nhằm phát hiện mối liên hệ giữa bối cảnh, điều kiện với các yêu cầu phát huy dân chủ cơsở; bảo đảm tính tổng thể và khoa học của các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới của luận án

Đâylà công trìnhđầu tiên nghiêncứuvềhoàn thiện cơchếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Tác giả luận án phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễnvềcơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsởvà kiến nghị hệthống các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở ở Việt Nam hiện nay.

Những đóng góp chủ yếu của luận án là:

-Đưara khái niệm cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở;chỉ rõ các thành tố của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam; xác định các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

– Luận án chỉ ra sự tương tác giữa phát huydân chủ cơ sở với đảm bảoquyền con người ở nước ta hiện nay.

– Đánh giá những kết quả và hạn chế, bất cập của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay; Chỉ rõ nguyên nhân của những kết quả và hạn chếtrong sự tácđộngcủacơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơsở đốivới xã hội Việt Nam hiện nay.

– Nêu và luận chứng đầy đủ về hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Về lý luận

Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án góp phần làm sáng tỏ vàphong phú thêm những vấn đề lý luận về thực hiện dân chủ nói chung, về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam nói riêng. Từ đó, luận án góp phần đổi mới nhận thức lý luận về dân chủ và dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

6.2. Về thực tiễn

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và quản lý.

Kết quả luận án có thể được sử dụng phục vụ cho hoạt động đào tạo cho học viên cao học, sinh viên đại học tại các cơ sở đào tạo ngành luật và các ngành khoa học xã hội có liên quan.

Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các cơ quan hữu quan tại cácđịaphươngsửdụng làm luậncứkhoa học, tài liệu tham khảo phụcvụviệc xây dựng các giải pháp, biện pháp cụ thể để phát huy dân chủ cơ sở trên địa bàn, góp phần đảm bảo quyền lực nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, phát triển bền vững tại địa phương.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmở đầu,kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung luận án gồm 4 chương, 15 tiết.

 

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀNHỮNG VẤN ĐỀ

ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

Cùng với quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu phát huy dân chủ trong các lĩnh vực củađờisốngđãđượcđặtra hếtsứcmạnhmẽở Việt Nam. Theo đó, hoạtđộng nghiên cứu hướng tới mục tiêu tìm kiếm các giải phápđảmbảothực hiện dân chủ nói chung, dân chủ cơ sở nói riêng diễn ra đặc biệt sôi động ở nước ta trong những năm gần đây. Số lượng các công trình nghiên cứu liên quanđến chủ đề này khócó thểliệt kêhếtthông qua những consốthống kêđơnthuần.Sảnphẩmcủahoạtđộngnghiêncứu được công bốdưới nhiều hình thức ấn phẩm khác nhau: Báo cáo tổnghợpvà kiến nghị của các đề tài nghiên cứu các cấp, sách chuyên khảo, các bài báo khoa học, các kỷyếu hộithảo khoa học, các luận án và luận văn trong các

lĩnh vực chuyên ngành luật học, chính trị học, hành chính học…

Nhằm phụcvụcho việc nghiêncứuchủđề luận án, nghiêncứusinhchỉdừng ởviệc lựa chọn và tổng quan những quan điểm nghiên cứu chính củamột sốcông trình tiêu biểu có liên quan trực tiếptớicác nội dung thuộc phạm vi bàn luận của luận án. Về cơ bản, có thể gom các công trình đó thành các nhóm sau:

      1. Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ cơ sở

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu trực diện về cơ chế pháp lý và cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

1.3. NHẬN XÉT CHUNGVỀTÌNH HÌNH NGHIÊNCỨUVÀ NHỮNGVẤNĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.3.1. Nhận xét chungvềtình hình nghiêncứuliên quanđến đềtài luận án

Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án rất lớn, phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng vớicác mức độliên quan khác nhau. Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớnđối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án. Kết quả của các công trình nghiêncứu đã cungcấpmộtlượngkiến thức quan trọngvề dân chủ, dânchủcơ sởvà cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam, là nguồn tư liệu vật chấtcầnthiết và có thể tiếp thu để tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung trọng yếu của đề tài luậnán. Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu về dân chủ cơ sở và cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở có nhiềusựkhác biệt, thậm chí trái chiều nhau, cộng với các thông tin đa chiều, thiếu thống nhất và tính phức tạpcủa vấnđề lại là những trở lực không nhỏ cho công việc nghiên cứu đề tài.

Thứ hai, nhiều vấn đề liên quanđến chủđề luận án đã được làm sáng tỏvà đề tài có thể tiếp thu, không cần phải trở lại để phân tích, lập luận làm sáng tỏ thêm.

Trên phương diện lý luận,mộtsốnhận thức chungvềNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về quyền lực nhân dân và dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như vai tròcủaviệc thực hiện dânchủtrong Nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam đã rõ. Tương tự như vậy, quan niệm về cơ sở và cơ chế quản lý cơsởở Việt Namđãđạtđượcsựthống nhất cao. Tiêu chívềmộtnềndân chủ hoàn thiện cũng không còn nhiều vấn đề gây tranh luận. Nhận thức về vai trò của pháp luật trong việc chế định hóa các yếu tố của nền dân chủ và tạo lập cácđảm

27

bảo thực thi dân chủ đã được chấp nhận trong hầu hết các công trình nghiên cứu.Đặc biệt, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã phân tích rất sâu về nội hàm của dân chủ và các phương thức để đạt tới dân chủ trong xã hội hiệnđại.

Trên phương diện thực tiễn, một số khía cạnhcủa đờisống dân chủ đã được làm rõ. Nhiều công trình nghiêncứuđãtổngkếtđầyđủquanđiểmvề dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong nhận thức của Đảng, Nhà nước ta. Quá trình xây dựng pháp luật về dân chủđã được đề cập một cáchkhái quát. Đặc biệt, các nghiêncứuhầu như đã làm rõđược thựctrạngcủanềndân chủ đạidiệnởViệt Nam hiện nay. Công việc tổng kết và đánh giá thực trạng dân chủ trực tiếp trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã được triển khai mạnh mẽ trong nhiều nghiên cứu. Đặc biệt, việc tổngkếtthực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và Pháp lệnh về dân chủcơ sở ở xã, phường,thịtrấnđãđượcnhiều công trình nghiên cứu đề cậpvà đạt đượcsự thống nhất cao trong nhận định. Một số nguyên nhân liên quan đến những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện dânchủcơ sở ởViệt Namđãđượcphân tích, trongđóđiểmnhấn là những nguyên nhân nằm trong quá trìnhtổchức thực hiện pháp luật (vai tròcủatổchứcĐảngvà chính quyền cơ sở; năng lực thực hành dân chủ của người dân; điều kiện vật chất đảm bảo cho việc triển khai thực hiện dân chủ tại cơ sở..).

Trên phương diệnđề xuất, kiến nghị,đãcó nhiềuýkiếnkhảthivềgiải pháp phát huy dânchủ, đảmbảo thực hiện tốt dânchủ ở cơ sở tạiViệt Nam hiện nay. Đã có sự nhất trí cao về sự cần thiết thực hiện tổng thể các giải pháp để phát huy dân chủ ởViệt Nam hiện nay, trongđó tậptrungở mộtsố giải pháp chính như: nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và các bộ phận nhân dân về dân chủ và thực hành dân chủ; hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật về dân chủ; tạo lập cácđảmbảocho việc thực thi dânchủtrong các lĩnhvực cụ thể ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, nhiềuvấnđề trọng yếuliên quan trực diệntớichủ đề nghiên cứu của luận án chưa được đề cập giải quyết hoặcchưa đượcgiải quyết thấu đáo.

Trướchếtđó là mộtsốvấnđềđã đượcđề cập trong nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa đạtđượcsự thống nhất cao như: cách hiểu một số khái

28

niệm: dân chủ ở cơ sở, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở; các yếutố hợp thành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở; đặc điểm của cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ ở cơ sở; trạng thái hiện hành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở ViệtNam hiện nay xét cả từ phương diệnđiềuchỉnh pháp luật và cả

từ phương diện thực thi pháp luật; các giải pháp pháp lý và giải pháptổ chức để hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở, trongđóbất cập lớn nhất là thiếu tính hệ thống giữa các giải pháp đã được đề xuất trong quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở. Cũng liên quan đến vấn đề này là tình trạng thiếu một quanđiểm được thừa nhậnchungvềmô hình pháp luật cần thiết và khung pháp luật cơ bản cho việc ghi nhậnvà điềuchỉnh quá trình dân chủ cơsở ở nước tahiện nay.

Bên cạnh đó, có khá nhiều vấnđề cótầmquan trọng đặc biệt tới việc xác định các luận cứ khoa học đúng đắn nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam nhưng chưa đượcđề cậpnghiêncứu. Cụ thể các vấn đề sau: nội dung cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ở ViệtNam; các yếutốảnh hưởng đến mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam; kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sởở mộtsố quốc gia có hoàn cảnh, điều kiện tương đồng với Việt Nam; những bất cập của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở hiện hành trước nhu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương lớn của Đảng tavềphát huy dân chủ, tăngcườngdân chủ trực tiếp ở Việt Nam hiện nay; Nguyên nhân của các ưu điểmvà hạnchếcủacơchếpháp lý hiện hànhvềthực hiện dân chủ cơ sở;giải pháp về xây dựng chiến lược tổng thể và lâu dài cho quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sởở Việt Nam. Ngoài ra, cũng đang thiếusựlập luận cần thiết và thuyết phục cho từng giải pháp cụ thể liên quan đến yêu cầu hiện thực hóa cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ởViệt Nam hiện nay.

Như vậy nhìn một cách tổng thể, có thể thấy, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu liên quan tớiđềtài luận án lên tới consốhàng trăm nhưng hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tổ chức nghiên cứu một cách hệ

29

thống vàđầyđủ,toàn diệnvề cơchếpháp lý thực hiện dân chủ cơsởởViệt Nam hiện nay để từđó,đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện cơchế pháp lý đảm bảo phát huy dân chủ cơ sở trongbốicảnh xây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN, quá trình phát triển kinh tế- xã hội, hội nhập quốctếcủa đất nước và trong yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Nói cách khác, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào ở trong và ngoài nướcđặtcơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sởởViệt Nam làđốitượng nghiên cứu chính.

1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đề tài luận án

Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiêncứuliên quan đến chủ đề luậnán nêu trên, có thể thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn hết sức rộng rãi, bao gồm những vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những thayđổimớitrong nhận thức lý luận về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nhất nguyên chính trị, một Đảng cộng sản cầmquyền, xây dựng Nhànướcpháp quyền xã hộichủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm và nội dung của dân chủ cơ sở. Nghiên cứu các mối quan hệ phát sinh trong tiến trình dân chủ hoá ở cơ sở (đi từ chủ quyền nhân dân, quyền con ngườiđể xác định các mốiquan hệ cơ bản hướng tớiđảmbảo quyền lực nhân dân và quyền con người: mối quan hệ giữa công dân với các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước

và các thiết chế khác đối với phát huy dân chủ cơ sở…).

Thứ ba, nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò và cácyếu tố hợpthành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phảiđưa ra được định nghĩa về cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở, các yếu tố cấu thành nội hàm cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở. Kết quả nghiên cứu cũng cần đạt đượcsự luậnchứng thuyết phục về vai trò không thể thiếu của cơ chế pháp lý trong thực hiện dân chủ gắn liền với các quyền và lợi ích thiết thực của người dân tại cơ sở.

30

Thứ tư, nghiên cứu xác lập các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Các tiêu chícầnđược xem xét ở mức độ toàn diện và cụ thể.

Thứ năm, nghiêncứuđánh giá toàn diện, tổng thể về quá trình xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở và thực trạng cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sởở Việt Nam hiện nay.Kếtquả nghiêncứuphảichỉrõ đượcnhững thành tựu,hạnchế, bấtcậpvà nguyên nhâncủacác thành tựu, hạn chếcủacơchếpháp lý thực hiện dânchủcơ sở hiện hành.Kếtquảnghiên cứu cũng cần chỉ ra thực trạng các điềukiện đảm bảomức độ hoàn thiện của cơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

Thứ sáu, nghiêncứu dựbáo bối cảnh phát huy dân chủ ở Việt Nam trong giaiđoạntới.Từđóxây dựng các quanđiểmvàđềxuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phảiđảmbảolậpluận thuyết phục hơn về các giải pháp có liên quanđã được các công trình nghiên cứu khác đề cập và luận chứng, đồng thời kiến nghị hệ giải pháp tổng thể mang tính chiến lược cho quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ở nướcta.

Tiểu kết chương 1

Hoàn thiện, phát huy dân chủ, đảmbảoquyền làm chủ của nhân dân ở mọi phạm vi trongđời sốngxã hội là yêu cầu tất yếu khách quan trong xã hội hiệnđại. Chính vì vậy, đây là vấn đề nhận được nhiều nhất sự quan tâm của xã hội.

Trong chương 1, luận ánđãtiến hành khảo cứunhiều công trình nghiên cứu trongnướcvà ngoài nước có liên quan đến chủ đề hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy nhiềuvấnđề lý luận và thực tiễn về dân chủ cơ sở, cơ chế pháp lý và cơ chế

pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở… đã được các nhà khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu ở các mức độ và khía cạnh khác nhau. Nhìn chung, đã có nhiều chất liệu tốt cho việc tiếp tục triển khai nghiên cứu đề tài luận án.

31

Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiêncứu đều tậptrung giải mã một trong haivấnđềlớn: 1/ pháp luậtvềdân chủ cơ sở ở Việt Nam; và 2/ thực tiễn phát huy dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Rất ít các công trình luận bàn toàn diệnvềdânchủcơ sở. Đặcbiệt, chưa có công trình nào nghiêncứutrực diệnvềhoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Vì vậy, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế pháp lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở chưa được giải quyết triệtđể.

Luận án, một mặt tìm kiếm những giá trị có thể kế thừa và phát triển trong các công trình đã công bố, mặt khác có nhiệm vụ triển khai nghiên cứu nhiều nội dung mới, hướngtớitạolậpcơsởkhoahọcvững chắc cho các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013ở ViệtNam hiện nay.

32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM

2.1. NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ CƠ SỞ

2.1.1. Quan niệm về dân chủ

Trong tri thức nhân loại, dân chủ được coi là mộtcụm từ có đượctừ “sản phẩm của nền văn minh”, là điều kiện và tiêu chuẩn tiến bộ xã hội.

Dân chủ trong lịchsử thườngđượcnhận diện như một phạm trù đa nghĩa với bảnchất nhiềuthứbậc, do vậy, dânchủ đượcxem xét ở nhiều phương diện khác nhau.

Nhìn từ khía cạnh tổng quát, dân chủ bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và cao đẹp. Dân chủ là sự hòa hợp giữa các giá trị: tự do, bình đẳng, sự thống nhất trong tính đa dạng. Ở mức độ này, dân chủđượchiểu như một lý tưởng mà con người khao khát hướngđếnvà cố gắng thực hành trong cuộc sống. Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốtđẹpthì dân phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm “dân chủ”

(Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.

Các công trình nghiêncứuđềuchỉra rằng: Dânchủvớitư cách là hiện tượng chính trị gắn liềnvớixã hội có giai cấp, nó mang tính giai cấp nên chế độ dân chủ cần đượcxem xét trongmốitương quan với chế độ nhà nước. Hai chế độ này nhiều khi khác nhau, đối lập nhau, nhưng về cơ bản thì tồn tại không thể thiếu nhau. Dânchủcó liênhệ chặtchẽvớibảnchấtcủanhànước,vớichức năng, nhiệm vụ và hình thức nhà nước. Nhiều cách hiểu đã được đưa ra nhưng về cơ bảnđều quy tụ về bảnchất “Dân chủ tức là chính quyền của nhân dân” “Chế độ dân chủ,đólàmộtnhànước thừa nhận việc thiểusốphục tùng đa số”“Nếukhông khinh thường lẽ phải và lịch sử, ai cũng thấy rõ ràng chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau thì không thể nói đến “dân chủ thuầntuý” được, mà chỉ có thể nóiđếndân chủ có tính giaicấp”[154, tr.304]. Như vậy, dânchủtrướchếtlà thuộc tính của nhà nước, trong đó người dân thể hiện quyền làm chủ của mình, kể

33

cả quyền tạo lập và kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhà nước có trách nhiệmbảođảmbằng quyền năng của Nhà nước, thông qua các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước để nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Nếu xuất phát từ cách hiểu như trên, dân chủ trong hiệnthực đờisống sẽ liên quan đến quan niệm về ba yếutố:1/ Nhân dân; 2/ quyền lực công cộng và 3/ tính chất trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực công cộng trong sởhữu quyền lực công cộng.

Điểmkhác nhau cănbảngiữa cách hiểu về dânchủtrong thờicổđạivới thời hiệnđạilà ở cách quan niệmvề phạmtrù nhân dân và tính chất trực tiếp của mốiquanhệsởhữuquyềnlựccông cộng.Đãlà mộtnềndânchủthì nó phải chứng tỏ quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế nào lại tùy thuộc vào các thờiđạikhác nhau mà xácđịnh.Chế độdânchủnào thì nhà nướccũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa chế độ dân chủ này với chế độ dânchủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân dân có thực quyền. Điều này nói nênnộidung bản chất giai cấp của dân chủ. Không có dân chủ trìu trượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dungcụthể, xác định. Trong xã hội ai là nhân dân mới có dân chủ và trong nhân dân thì quyền lực thực sự, cuối cùng không phải lúc nào cũng thuộc về tất cả nhân dân. Như vậy, dân chủ chỉ là một nhưng nó bị chếướcbởinhữngđiềukiện kinh tế, văn hóa, xã hộiở cácthời đại và các quốc gia khác nhau.

Theo cách hiểu thông dụng ở Việt Nam “dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào cáctổchức và hoạtđộngcủa nhữngtổchức và thiết chế xã hội nhấtđịnh”[91, tr.89].ChủtịchHồChí Minhđãlý giải“dânchủ” mộtcáchhếtsứcgiản dị, côđọngvà dễ hiểu, theo đó: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làmchủ”, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Như vậy, quan niệmvềdân chủ gắn liền với nguyên lý chủ quyền nhân dân.

Vớiviệckếthừa những giá trị tư tưởng và kinh nghiệm thực tiễn có liên quanđếntổ chức nhà nước trong lịch sử, nguyên lý về chủ quyền nhân dânđược

34

khẳng định như là bản chất và trụ cột của việc tổ chức và vận hành xã hội hiệnđại.Cho đếnnay, mặc dù, vớinhững góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng nội dung cơ bản và chung nhấtcủanguyên lý này là: quyền lực nhân dân là quyền lực tốicao và là quyền lực gốctrong các xã hộidân chủ; quyền lực nhân dân không được biểu hiện và thực thi liêntụcbởi chính chủthểcủa nó lànhân dân nhưng tư cách chủ thể của nhân dânthểhiện ở việc trực tiếp thực hiện một phần quyền lực,ủythác thực hiện quyền lực và kiểm tra, giám sát, kể cảviệc thayđổi,hủybỏquyềnlực đã được ủy thác;quyền lực nhà nước là bộ phận cơbảncủa quyềnlựcnhân dân đượchình thành thông quasựđồngthuậnủy quyềncủanhân dân mà bằng chứnghữuhìnhcủasự đồng thuận đó là sự hiện diện của chủ nghĩa lập hiến. Trong nội hàm của nguyên lý nói trên, nhân dân làmột khái niệm dùng để chỉ mộtcộng đồngcủa mọicá nhân trong xã hội tuy có sự khác nhau về thành phần xã hội như dân tộc, sắc tộc, hoạt động chính trị – xã

hội, quan điểm tư tưởng, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp v.v… nhưng thống nhất lại,vượtlên trênsựkhác biệt xã hộiđểcó và thực hiệnmộtýchí,mộtđịnh hướng, mộtmụctiêu phát triểncộng đồng, đất nước.Từphương diện chính trị – pháp lý, nhân dân – với sự thống nhất lại, vượt lên trên sự khác biệtxã hội đóđãtrở thànhmộtđoàn thể pháp lý bao gồmcác cửtriđược quyền hành xửchủquyền thông qua các thể thức pháp lý nhất định. Chính các thể thức pháp lý nàyđịnh chế hóa chủ quyền nhân dân.

Như vậy, dân chủ với tính cách là một chế độ, được thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Dânchủđạidiện (còngọilà dânchủgián tiếp) là hình thức dân chủmà theo đó nhân dân thông qua đại diện của mìnhđể bàytỏ chính kiến, để quyếtđịnh nhữngvấnđề của đờisống cộng đồng. Nhờ thông qua bầucửđể lựa chọnnhững ngườiưu túđứngđầu các cơ quanđạidiện, nhờ đónhữngngườiđạidiện sáng suốt trong việc quyết định vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, giải quyết nhanh chóngkịpthời những vấn đề bức bách trong xã hộiđặtra. Vớisựrađời,hình thành của Nhà nước, do mức độ rộnglớnvề không gian, dân số ngày càng đông, trìnhđộdân cư chênh lệch, tính phức tạp và khẩn trươngcủacông việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà hình thức dânchủ đạidiện trở thành phương thức chủ

35

yếucủa nền dân chủxã hội. Ở hầu hếtcác nước phát triển trên thế giới, quá trình mởrộng dân chủ dường như trướchếtlà quá trình hoàn thiện các hình thức dân chủđạidiện và các thiếtchếđạidiện sao cho các công dân cóthểdễ dàng hơn trong việc bàytỏchính kiếncủamình khi tham gia vào quyếtđịnhcác vấnđềquan trọng của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dânchủ đạidiện có những nhược điểmchođếnnayvẫnchưa khắc phụcđược.Đólà những biểu hiệnđặc quyền, đặc lợi, có khả năng lạm quyền, tham nhũng mà quyềnlựcđó có được do nhân dân ủy quyền.

Dân chủ trực tiếp là hình thái nhân dân trực tiếp quyết định các vấnđề, các công việc quan trọng của quốc giacủa cộng đồnglãnh thổ, trực tiếp thông qua các đạo luật mà khôngmột yếutố trung gian nào. Theo nghĩađó,dân chủ trực tiếp gắn liền với nguồn gốc bản chất của khái niệm dân chủ

(demokratia/δημοκρατία – tiếng Hy Lạp) mà có nghĩa là“quyềnlực,sựcaitrịcủanhân dân” (power/ruleofthepeople). Chính vì vậy, dân chủ trực tiếp đôi khi còn được gọi là dân chủ đích thực/ nguyên nghĩa (pure/true democracy) và được xem là biểu hiện cho chính quyền của dân, do dân và vì dân. Nhìn nhận một cách tổng quát thì dân chủ trực tiếp là phương thức để ngườichủquyền lực trực tiếp thểhiện ýchí của mình, tựmình thực hiệnmộtsốhoạtđộngtrong chu trình quyền lực. Dân chủ trực tiếp là một phương thức làmchủ củanhân dân khi nhân dân – chủ thể quyền lực duy nhất có thể bày tỏ ý chí, nguyệnvọng, đề đạtkiến nghị nàođó trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên. Kết quả của sự bày tỏ ý chíđó cóthể có ý nghĩa quyếtđịnh, bắtbuộc phải thi hành ngay như trưng cầu ý dân,

bầucử,bãi miễnđạibiểu dâncử;hoặcchỉcóýnghĩa tham khảo như các hình thức tham khảo ý kiến nhân dân, kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước v.v.. Trong nền dân chủ hiện đại, các quốc gia đã ngày càng dành sự chú ý đặc biệt tới việc sửdụng các hình thức dân chủ trựctiếp để quyếtđịnhmộtsố vấnđề quan trọng đối với quốc gia và cácvấnđề của cộng đồng tạiđịa phương. Trong rất nhiều trường hợp phương thức dân chủ trực tiếp có nhiềuưu điểmmà phương thức dân chủ đại diện không cóđược. Đólàkhảnăngthểhiệnmộtcách khách quan nhất ýchí,

36

nguyện vọng của nhân dân và thểhiệnmộtcách thiết thực nhất quyền lựccủa nhân dân trong việc quản lý xã hội.

Như vậy, khi nóiđếndânchủđạidiện là người ta nhắcđếnhình thức mà người dân ủy quyền cho những người đại diện cho mình quyếtđịnhcác công việc nhà nướctrong phạm vi xác định. Dânchủđạidiện thườnggắnliềnvớicác cơquanhoạt động tập thểnghị viện (hoặc tên gọi khác), hội đồng địa phương. Còn khi nói đến dânchủtrực tiếp, người ta nói đến việc quyết định các công việc nhà nướcdo công dân trực tiếp thực hiện không thông qua khâu trung gian. Như vậy, dân chủ đại diện hay dân chủ trực tiếpđều dựavào chỗ chủ thể nào quyết định các vấnđềthuộc công việc nhànước,tứclà căncứvào tiêu chí ai quyếtđịnhcông việc nhà nước nào đó.

Như vậy, sẽxuất hiện câuhỏilớn: giữa dânchủtrực tiếp và dânchủđại diện, có những hình thức thể hiện quyền của người dân nhưng sẽ xếp vào đâu nếu chỉ theo tiêu chí nói trên? Các hình thức đó như: khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản biện xã hội, tư vấn xã hội, giám sát trực tiếp của người dân. Các hình thức này tựnó không có vai trò quyết định trong việc ra quyết định hoặc thực hiện các hànhđộng, hành vi nào của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Vậy nên chăng, trong nhận thức lý luận cần xem nó như một yếutốcủa công đoạn, hay quy trình không thể thiếu trong các trường hợp nhất định để chính quyềnquyết định về vấnđề nàođó. Về cơ bản, đây là các hình thức đứng trung gian để thực hiện quyền của người dân, vừa mang yếu tố của dân chủ trực tiếp (xét về tính chất và mục tiêu), vừamangyếutốcủadânchủđạidiện (xétvề kỹthuật thực hiện).Mộtsốnhà nghiên cứu gọi đó là hình thức “dân chủ tham gia” [138, tr.58].

2.1.2. Quan niệm về dân chủ cơ sở và thực hiện dân chủ cơ sở

Nếu xét từ khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của cấu trúc hành chính – lãnh thổ và chỉnh thể hệ thống chính trị thống nhất ở nước ta thì cơ sở là cấp thấp nhất, tuy nhiên cơ sở không đơn thuần là cánh tay nối dài của cấp trên. Cơ sở là địa bàn cư trú của dân, là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động, vì vậy nói tới cơ sở là nói tới vai trò chủ thể của người dân và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội.

37

Cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực làm chủ của nhân dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, cũng là nơiđầu tiên đốimặtvới những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chícảnhững xung đột nảy sinh trong đời sống dân sự. Trong hệ thống quản lý,cấpcơ sởlà cấp cuối cùng nhưnglạilàcấp đầutiên và trực tiếp nhất với tưcách nền tảng xâydựng chế độ dânchủ củatoàn hệ thống chính trị. Cơ sở tuy là cấp thấp nhất nhưng lại là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ vĩmô phải tác động tới, là địa chỉquan trọng nhất màmọichỉthị, nghị quyết, chủ trương,đườnglối, chính sách của Đảng,Nhànướcphải tìmđến, phải bằng mọi cáchtổchức, tuyên truyền, vậnđộnglàm cho dân hiểu, dân tin, dân làm. Cơsởcòn là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cơ sở cũng không chỉ là cấp thực hiện chức năng lãnh đạo và quản lý của Nhà nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt độngtự quản của cộng đồng xã hội, quản lý với tự quản đan xen vào nhau, các thể chế quản lý, pháp luật nhà nước và các quy ước của thôn, làng, ấp, bản tồn tại song hành với nhau. Cấp cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở

từ dân mà ra, là cấp có nhiềulợithếvà khả năng nhất để giảm thiểu xuống mức thấp nhất những thóitậtquan liêu, hành chính, mệnh lệnh,tệhạitham ô, tham nhũng, mặt khác cánbộ ở cơ sở là người sởtại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp với dân, bị chi phối, ràng buộc rất mạnhmẽbởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã.

Liên quanđếnkhái niệm này, cơsở đượchiểu theo tinh thần Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH ngày 20/7/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện dânchủởxã, phường,thịtrấn. Cơsởđượclấylàmđốitượngnghiên cứuởđâykhông phải làmộtđơnvịcơsở bấtkỳ(gia đình, cơ quan, công sở,

trường học, bệnh viện, doanh nghiệp hay viện nghiên cứu…) mà là cơsở với tưcách làmộtcấpquản lý nhà nướctronghệthống quản lý hành chính nhà nước hiện hành. Cơ sở đó chính là xã – phường – thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nướctrong đó xã là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn – địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị cơ sở nước ta.

38

Dân chủ cơ sở là sự phản ánh vị thế quyền lực của nhân dân trên địa bàn cơsở.Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếpthực hiện đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác nhấtđường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan. Thực hiện dân chủ ở cấp xã là toàn bộ quá trình hiện thực hóa các quyền thể hiện sự tham gia của công dân vào chu trình thực hiện quyền lực tại cơ sở. Khi nghiên cứu nhóm quyền này thì dân chủ, với ý nghĩa là quyền tự nhiêntốicao nhất của conngườiđược thực hiệntrướchếtlàởcơ sở. Vớitư cáchchủthểquyền lực, người dântạicơ sở có quyền có đại diện của mình, có quyền trực tiếpđược biết,đượcbàn, được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọihoạt độngquyền lực diễn ra tại cơ sở.

Như vậy, do bản chất của dân chủ ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ mọi mặt của người dân ở cơ sở nên dân chủ cơ sở là một phương thức hỗn hợp để thực hiện dân chủ. Dân chủ cơ sở bao gồm trong nó cả hình thức dânchủ đạidiện và hình thức dân chủ trực tiếp, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa quyền lực của chủ nhân quyềnlựctạiđịa bàn cơ sở. Ngoài ra, dân chủ cơ sở còn thể hiện ở quyền tham gia ý kiến với tư cách cá nhân vào các vấn đề nảy sinh tại cơ sở có liên quan đến quyền và lợi ích của chính họ, của các cá nhân khác hoặc của Nhà nước. Theođó, ý kiếncủa mộtsố nhà nghiên cứu cho rằng, tham gia cũng có thể được xem là mộthình thức thực hiện dân chủ mang đặc thù của dânchủ cơ sở: “Thực hiệndân chủ cơ sở được thông qua bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, cụ thể là dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia” [138, tr.58].

Ở Việt Nam, thực hiện dânchủ cơ sở đượcbiểu hiệntrước hếtở sự tồntại và hoạt động của các thiết chế đại diện của nhân dân, bao gồm Hội đồng nhân dân cấp xã và các đoàn thể nhân dân. Đây là các thiết chế do nhân dânlậpra và trực tiếp ủyquyền lực nhân dân, thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực của nhân dân. Thông qua hoạt động của các thiết chế này, người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và kiểm soát hoạtđộngcủa Nhà nước, buộc hoạt động quyền lực nhà nước vận hành trong quỹ đạo phục vụ nhân dân.

39

Tuy nhiên, trong các quy chế dân chủ ở cơ sở, chẳng hạn như Quy chế dân chủ ở xã, có rất nhiều loại công việc cầnđượcđưa ra trưng cầu ý kiến của nhân dânđểcáccấpcó thẩm quyền tham khảotrướckhi quyếtđịnh.Mặc dùkếtquả trưngcầuýkiến trong Quy chế dânchủở xãđượcxácđịnhlà “để tham khảo” nhưng bản thân việc đưa ra trưng cầu ý kiến là bắt buộc.

Ngoài loại hình trưng cầu ý kiến“để tham khảo”các quy chế cũng đã có những quy định việc lấy ý kiến nhân dâncó “tính chất quyết định”.

Hình thức lấy ý kiến nhân dân có tính chất quyếtđịnhđã đượcquy định cụthể trong quy chế thực hiện dân chủ ở xã như sau:

– Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa, thể thao);

– Xây dựng hương ước, quyướclàng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;

– Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quyđịnh của pháp luật hiện hành.

– Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;

– Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn”.

Như vậy, mặc dù có sự phân biệt các nội dung giữa dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia nhưng dân chủ trực tiếp là hình thức phổ biến vàdễ thực hiện nhất tại cơ sở. Các nội dung “dân bàn và quyết định trực tiếp “chính là những biểu hiện của dân chủ trực tiếp theo nghĩa hẹp, cổ điển nhất. Bên cạnh đó, các nộidung“dânbàn, biểu quyết, tham giaýkiếnđểcấpcó thẩm quyền quyết định” và “dân tham gia kiểm tra, giám sát” là những biểu hiện của dân chủ trực tiếp theo nghĩa rộng và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ trước đến nay.

Dân chủ cơ sở khôngđồngnhất với tự quản cơ sở. Xét về bản chất, dân chủcơ sở tạo ra nhiều khả năng cho sự tham gia trực tiếp và nhiều mặt của người dân vào các công việccủaNhà nước và xã hội. Theođó,dânchủcơsởlàmắtxích quan trọng nối liền những mặt tích cực của dân chủ và củachế độ tự quản cơ sở.

40

Mặc dù vậy, dân chủ cơ sở là hình thức quyền lực nhân dân, không trùng lặp với tự quản cơ sở.

Trên thựctế, cảdânchủ cơ sở và tự quản cơ sở đều được thực hiện ở cơ sở,ở đơnvị nhỏ nhấthoặc các tập thể, cộng đồng khác nhau, nhưng khi nói dân chủ cơ sở là nói đến những khía cạnh giải quyết các vấn đề chính trị – nhà nước, dù là ở cơ sở. Dân chủ cơ sở phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quyền lực gốc – nhân dân – với các thiết chế được nhân dân ủy quyền lực và với việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân tại cơ sở. Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến mối quan hệ tương tác giữa nhà nước và nhân dân tại cơ sở. Ở Việt Nam, các đơn vị cơ sở như vậy là các xã, phường, thị trấn; là các tập thể cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, bệnh

viện… là nơi mọi chính sách, đường lối, pháp luậtcủaĐảng vàNhà nước được phản ánh qua lăng kính của cá nhân, của lợi ích tập thể, là nơi kiểm nghiệm tính đúngđắnvà hiệu quả của các quyết sách của Đảng ta. Dân chủcơ sở là “hệ thống báo động” nhạycảmnhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước để kịp thời sửa chữa, bổ sung. “Hệ thống báođộng” và các thông tin phản hồi này giúp cho Đảngvà Nhànướckiểm nghiệm lại đườnglối, chính sáchcủamìnhmộtcách nhanh nhất, khắc phục bệnhchủquan duy ý chí, xa rời thực tế, tăngcườngmối quan hệ máu thịtgiữa Đảng vớiNhân dân. Trong khi đó, tự quản cơsở là vấn đềnằmngoài hệ thống nhà nước, liên quanđếncách tổ chức và vận hành của xã hội. Xét về bản chất, tự quản cơ sở cũng là một phương thức thực hiện quyền lực nhân dân, tuy nhiên phương thức này khôngnằmtrong mối liên hệ tương tác chặt chẽ với quyền lực nhà nước, không có mục tiêu tác động trực tiếp vào quyền lực nhà nước, không có sự tham gia trực tiếp của các thiết chế quyền lực công. Các hình thức tự quản cơ sở do các cộng đồng dân cư tự tổ chức và thực hiện tại cơ sở để tựgiải quyết những vấn đề của xã hội mà không cần tới sự can thiệp của nhà nước.

Dân chủ cơ sở là một đòihỏi tấtyếucủaquá trình thực hiện và phát huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay. Thực hiện tốt và đẩy mạnh dân chủ cơ sở khôngchỉđơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước trước tình hình phức tạpcủanhữngđiểmnóngở cơsở mà nó thểhiện cái nhìn hướng tớicơsở,coi trọng cái gốc ở cơ sở nên nó mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài.

41

2.2. KHÁI NIỆM,ĐẶCĐIỂM,VAI TRÒ CỦACƠCHẾPHÁP LÝ THỰC HIỆN DÂN CHỦCƠ SỞ

2.2.1. Khái niệm cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở

Cơchếlàmộtthuậtngữcó thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực.

Cơ chế có thể hiểu là “máy móc, bộ máy, cơ cấu”. Chẳng hạn, cơ chế nhà nước(bộmáy nhà nước). Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Cơ chế là cách thức, sắp xếptổ chức đểlàm đường hướng, cơ sở theođómà thực hiện” [161, tr.463]. Theo GS,TS Triết học Phạm Ngọc Quang, “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liênkếtvớinhau theomộtlôgic nhấtđịnhnhờvậymụctiêuđượcthực hiện” [104, tr.38].

Theo cách hiểu thông thường nhấtthì cơ chế đượchiểu là “cách thức theođó một quá trình được thực hiện” [99, tr.234].

Có nhiều loại cơ chế. Đối với khoa học luật học nước ta, khái niệm cơ chế pháp lýmớira đời nhằm giải quyếtmột sốvấn đềthực tiễn trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Trong các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý đều cơ bảnđồngthuận ý kiến khi hiểu cơ chế pháp lý như sau:

(1) Đó là tổng thể các yếu tố, bộ phận cấu thành hay hợp thành;

(2) Các bộ phận trong cơ chế có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, hướng đích; (3) Cơ chế hoạt động theo các nguyên tắc, qui trình do luật quy định;

(4) Thiếu một bộ phận thì cơ chế hoạt động không đồng bộ, kém hiệu quả… Cơ chế pháp lý là một khái niệm luôn gắn liền với pháp luật và khả năng

điều chỉnh của pháp luật. Cơ chế pháp lý trước hết phải được pháp luật ghi nhận ở các cấp độ khác nhau trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau, khởi nguồn từ Hiến pháp – đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất chế định những vấn đề cótính nguyên tắc của cơ chế pháp lý trongmộtlĩnhvựccụ thể của đời sống xã hội.

Xét trên phương diện nội dung, cơ chế pháp lý phải bao gồm hệ thống các quy định pháp luật ghi nhận các quy tắc ứng xử của các cá nhân và tổ chức liên

42

quanđếnmột chuỗi các khâu của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể.

Xét trên phương diệntổchức, cơ chếpháp lý baogồmhệthống các quyđịnhvề tổ chức vàhoạt động của các thiết chế tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnhvực cụ thể.

Xét trên phương diệnthủtục, cơ chếpháp lý làsựhợpthành của các phương pháp, trình tự, bước đi, hậu quả pháp lý do pháp luật ghi nhận để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực nhất định.

Như vậy, cơ chế pháp lý được hiểu là tổngthểcủa nhiều yếutố cóquan hệ tác động qua lại mật thiết với nhau, baogồmcác yếu tố thể chế, thiết chế và các bảo đảmđể thựchiện một chức năng hoặc một nhiệm vụ nào đó trong quản trị nhà nướcvà xã hội. Các yếu tố nàygắn kếtvới nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nếu thiếu một trong các bộ phận đó thì hệ thống không thể vận hành một cách bình thường.

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở:

Cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là tổng thể các nguyên tắc, thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo, gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nhằm xác lập các quyền và khả năng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ tạicơ sở.

2.2.2. Đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở

Thứ nhất, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở gắn liền với pháp luật vàđiều chỉnh pháp luật.

Bản thân khái niệm“cơ chế pháp lý”đã gắn liền với pháp luật bởi lẽ không có pháp luật thì khôngthểcó tính pháp lýcủacơ chế. Hơn nữa,“dânchủ”và “dânchủcơsở”không phải làlờinói suông mà phảiđược thểhiện thông qua hình thức pháp lý,đượcghi nhận, giớihạnvàđảmbảothực hiệnbởipháp luật. Nói cách khác, cơ chế pháp lý thực thi dân chủ cơ sở phảigắn vớipháp luật, tồn tạivàvậnhànhdướihình thức pháp luật. Điều7, tuyên ngônthếgiớivềquyền con người cũng đã ghi nhận: “Tất cảmọi người đều bình đẳng trướcpháp luật và có quyềnđượcpháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân

43

biệtnào”.Mặt khác, trongchế độpháp quyền dân chủ và xã hội dân sự thì mọi quyền đều do luật định [62, tr.95].

Hệthống pháp luật baogồmnhiều vănbảncó cấp độgiá trịkhác nhau, cao nhất là Hiến pháp, tiếpđólà các luật và văn bản dưới luật. Dân chủ dưới hai hình thức cơ bản là dân chủ đạidiện và dân chủ trực tiếp là quyền cơ bảncủa công dân và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nênluôn đượcghi nhận trong Hiến pháp và các luật, bởi lẽ “chỉ bằng Hiến pháp và luật, các quyền và nghĩa vụ trên mớimang đủ ý nghĩa long trọng và hiện thực” [43, tr.185]. Hiến pháp là văn bản chính trị – pháp lý có giá trị cao nhất trong việc giới hạn quyền lực nhà nước vàbảovệquyền con người, quyền công dân dođó bảo đảm bằng hiếnpháp là bảođảm ởmức độ cao nhất.

Quy định pháp luật về dân chủ khôngchỉ đượcthể hiện trong một văn bản mà đượcthể hiện trong nhiều văn bản trên các lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy, khi nóiđếncơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở từ phương diện này, điều đó cũng phản ánh được những nội dung cơ bản của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở được thể hiện ra bên ngoài thông qua việc cụ thể hóa quyền của người dân

tại cơ sở trên các lĩnh vực gắn liềnvớicác phương pháp, hình thức, thủ tục giải quyết có hiệu quả vấn đề dân chủ cơ sở, cũng như các yêu cầu liên quan đến thanh

tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện phápluật dân chủ cơ sở…

Thứ hai, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và yêu cầu của người dân trong việc bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân tại địa bàn cơ sở.

Như đã nói ở trên, cấp cơ sở là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từvĩ mô phải tác động tới. Cơ sở là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi quyết định, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải tìmđến. Đường lối, nghị quyết có đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có đượctổ chức hành động trong phong trào rộng khắpđể biếnkhả năng thành hiện thực hay không; đường lối, chính sách có tác dụng, hiệuquả đếnđâu, đúng sai ra sao đềuđượcchứng thực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành động thực tế củadân chúngtạicơ sở. Vì vậy, cấpcơ sở tuy là cấpthấp nhất trong hệthống

44

quản lý nhưng cótầmquan trọngđặcbiệt, là vấn đề sống còn, thành bại của chế độ. Cơ sở là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, khôngđược xao nhãng mà cầnđặcbiệt quan tâm, chỉđạothường xuyên. Thực chất của mất cơ sở là mất dân, mà khởi đầu của sự mất dân là xa dân của cán bộ xã, sự thiếu trách nhiệm, thiếu đồng bộ, cồng kềnh của tổ chức bộ máy và nạn quan liêu, tham nhũng, thiếu minh bạch của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.

Cơ chế pháp lý thực thi dân chủ cơ sở phản ánh bản chất dân chủ trong việc thực hiện quyền lực nhànướcvàthểhiện trách nhiệmcủaNhànướctrong mối quanhệ Nhà nước- công dân tại địa bàn quan trọng nhất. Trách nhiệm của Nhà nướcthường được hiểu trên hai phương diện là bảo đảm thực hiện và bảo đảm bảo vệ.Bảođảmthực hiện cóýnghĩarấttrực quan,đólà nhànướctạora các điều kiệnđểcông dân thể hiệnýchícủamình, tựmình thực hiệnmộtsốhoạtđộng trong chu trình quyền lực trên thực tế. Bảo đảm bảo vệ là việc nhà nước giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện và xử lý các vi phạm trong quá trình bảo đảm thực thi dân chủ cơ sở. Bảo đảm thực hiện và bảo đảm bảo vệ có quan hệ hữu cơ với nhau. Trên thực tế, khó có thể phânbiệt đượcbảo đảm thực hiện và bảođảm bảovệ bởi

lẽ ngay trong việc tạođiều kiệnđể công dân thực hiện quyền dân chủ tại cơ sở thìđã bao hàm cả mục đích bảo vệ quyền này.

Như vậy, trách nhiệmbảođảmthực hiện dânchủtạicơsởđòihỏiNhà nướcphải ghi nhận các quyền và phương thức thực hiện quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Đó là cơ sở quan trọngđểtạolập các thủ tục pháp lý gắnvớithiết chế, phương tiện và quy trình cụ thể trong việc thực hiện dân chủ cơ sở; kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện dân chủ cơ sở;tạo điều kiệnđể cácchủ thể khác tham gia, hỗ trợ trong việc thực hiện quyền dân chủ tại cơ sở của công dân.

Thứ ba, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở chỉvận hành có hiệu quả trong môi trường dân chủ, pháp quyền của đất nước và trên cơ sở nguyên tắc công khai, minh bạch của Nhà nước. Vì thế, dân chủ hóa đời sống chính trị xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và dân chủ XHCN, tôn trọng quyền tự chủ, tự quản của cơ sở

45

ngày càng được tăng cường thì cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ngày càng có hiệu lực và hiệu quả.

Thứ tư, giá trị và nănglựctácđộngthựctế củacơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở phụ thuộc vào nhận thức, khả năng của mỗi cá nhân công dân, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và sự tôn trọng, hỗ trợ từ phía xã hội.

Quyền dânchủcủa công dân là nhucầuvà khảnăngcủacông dânđược Nhà nước thừa nhận nên cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở luôn gắn liền với khả năng và nhận thức của mỗi cá nhân công dân. Mỗi cá nhân công dân có những đặc điểm riêng về thể chất và tinh thần, với nhu cầu và khả năng riêng rất đa dạng. Do đó, sự thực thi dân chủ cũng được thực hiện bằng các hình thức, mức độ khác nhau tùy thuộc vàoýchí chủ quanvà sựlựachọncủahọ. Nếucông dân không nhận thức đượchoặc không có khả năng để thực hiện thì quyền dânchủtạicơ sở cũng không trở thành hiện thực.Đặcđiểmnàyđòihỏiviệc hoàn thiện cácbảođảmpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở của công dân phải dựa trên nhu cầu và phù hợp vớinăng lực của cá nhân công dân.

Bên cạnh đó, việc thực hiện dân chủ cơ sở còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực của độingũ cánbộ,công chức trong hệ thống chính trị cơ sở – là những người có thẩm quyền xem xét, giải quyết cácvấnđềliên quanđếnthực thi quyền dân chủ của công dân. Phát huy dân chủ, trao quyền thực sự cho nhân dân là nội dung thực chất của đổi mớihệ thống chính trị. Tại địa bàn cơ sở, yêu cầu nàygắnviệc nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở với việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơsởvà nâng cao trách nhiệm thực hành dân chủ trongđảng vàtrong xãhội. Vì vậy, bộ máy Đảng và chính quyền phải chân thành lắng nghe ý kiến nhân dân, hành động vì lợi ích của nhân dân, sẵn sàng đối thoạicởimở với dân, triệtđể khắc phục bệnh quan liêu, cửa quyền, hống hách, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bao che khuyết điểm của cán bộ đảng viên.

Cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở còn chịu sựtácđộngbởinhững điềukiện xã hội, đólàýthức trách nhiệm, văn hóa pháp lýcủacộngđồngnói chung, là sự tham gia trực tiếp của các định chế xã hội trong việc hỗ trợ, thúc đẩy hoặc thậm chí cản trở việc thực hiện dân chủ cơ sở của người dân.

46

Thứ năm, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở mang tínhcụ thểvà linh hoạt, nhanh chóng, có tác dụng đảmbảotính nguyên vẹn của ý chí chính trị của nhân dân, chuyển tải ý chí chính trị của nhân dân một cách cụ thể và hiệuquả đối vớicác vấnđềcủađịaphương và quốc gia,tạolậpcơsởđểnhân dân trực tiếp kiểm soát con đường chính trị của bộ máy Đảng và Nhà nước.

2.2.3. Vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủcơ sở

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *