Khởi kiện và thụ lý vụán dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiêncứu đề tài

Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhànước và pháp luật ra đời thì việc bảo vệ quyền và lợiích hợppháp củacông dân được ghi nhận bằng pháp luật vàbảo đảmthực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước thiết lập. Theo đó,quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đãđược pháp luật quy định và chủ thể cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mìnhbị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc khởi kiện. Khởi kiện vụán dân sự (VADS)được phápluật ghi nhận là hoạt độngtốtụngđầutiênbảovệ quyền dân sựcủa chủthể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và cácchủthể được pháp luật trao quyền; là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự (TTDS). Khiđơnkhởi kiện của các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì Tòa án có trách nhiệmthụ lý vụán.

Ở Việt Nam, vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS được quy định trong các văn bản pháp luật từ khá sớm [153, Điều 508] và ngày càng được hoàn thiện. Bộ luật Tố

tụng dân sự(BLTTDS) năm 2004 là văn bảnpháp luật quy định đầyđủ và cóhệ thống các vấn đềvề TTDS nói chung và chếđịnhkhởi kiện và thụlý VADS nói riêng. BLTTDSđã bổ sung những thiếu sót, khắc phụcđược nhữngđiểmbấtcập, chưa hợp lý về khởi kiện và thụ lý VADS trong các Pháp lệnh thủtụcgiải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết cácvụán kinh tế (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

(PLTTGQCTCLĐ).Đồngthời, các quy địnhvề khởi kiện và thụlý VADS trong BLTTDS đã thể chế hóa được quan điểm, chủ trương về cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyếtĐại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới… Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện BLTTDS năm 2004, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) cho rằng: “Khi triển khai thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự cho thấy một số quy địnhcủa Bộ luật Tố

tụng dân sự không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định; có những quyđịnh chưađápứng được các yêu cầu cam kếtquốc tế đa phương và song phương; cónhững quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn cónhững cách hiểu khác nhau; có những quyđịnh chưa bảo đảm đượcquyền và lợiích hợp pháp của đương sự” [100, tr. 1-2]. Nhận thức được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS năm 2004, Quốc hội khóa 12 đã ban hành Luậtsố 65/2011/QH12 ngày 29/03/2011 sửa đổi,bổ sung mộtsốđiều củaBLTTDS năm 2004, trong đó có nội dung sửa đổi, bổsung các quy định vềkhởi kiện và thụ lýVADS. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004(sửa đổi,bổ sung năm 2011) (sau đây gọi làBLTTDS năm 2011) chỉ giảiquyết đượcmộtphần vướng mắctrong việc áp dụng các quy định củaBLTTDS. BLTTDS năm 2011 nói chung, các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS nói riêng vẫn còn có những quy định chưa đápứng được yêu cầucủa thực tiễn, chưa thựcsự bảo đảmquyền con người, quyên công dân. Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy, có nhiều VADS sau khi đã được thụ lý giải quyết trong một thời gian khá dài, các bênđươngsự trongvụán phải tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để theo kiện tại Tòa án nhưng sauđó lại nhận được quyết địnhđình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện. Thậm chí có vụ án đã qua nhiều cấpxét xử cảsơ thẩm, phúc thẩm và giámđốc thẩm nhưng sau đó Tòa án lại ra phán quyết đình chỉ việc giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện do các căn cứ thụ lý vụ án không đúng. Theo số liệu tại Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 và nhiệm vụtrọng tâm công tác Tòa án năm 2014 của TANDTC cho thấy,về công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dânsự năm 2013: “Tòa án nhân dân các cấp đãthụ lý  301.912vụ,tăng 30.606 vụ; đã giải quyết, xét xử274.303 vụ…Tỷlệ các bản án, quyếtđịnhbịhủylà 1,1% trên tổng số các vụ việcđãxétxử sơ thẩm (do nguyên nhân chủ quan 1,1% và do nguyên nhân khách quan 0,5%“. Báo cáo cũng nêu một số khuyết điểm, thiếu sót trong công tác giải quyết các vụ việc dânsự của Tòa án trong năm 2013 như: ” …Xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Xác định thiếu người tham giatố tụng; xácđịnhkhông đúng yêucầukhởi kiện củađương sự. Xác định sai thời hiệu khởi kiện;Thụlý giải quyết vụán không đúng thẩm quyền…” [102]. Tại Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015 của các Tòa ánthể hiện tỉlệcác bản án, quyết định dânsự bị hủyđã giảm còn 1% và bị sửa còn 1,5% nhưng do nguyên nhân chủquan vẫn chiếm đasố.Báo cáo cũng chỉ ra mộtsố khuyếtđiểm,tồn tạitrong công tác giải quyết các vụ việc dân sự như: “… xác định thiếu người tham gia tố tụng; xác định không đúng quan hệ tranh chấp; sai thời hiệu khởi kiện hay thẩm quyền xét xử… Chưa xem xét đầy đủ yêu cầu của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến giải quyết không đủ hoặc vượt quá yêu cầu của đương sự...” [103]. Nguyên nhân của thực trạng này một phần là do năng lực của một bộ phận Thẩm phán, cán bộ Tòa án còn hạn chế nhưng nguyên nhân khách quan là do pháp luật về khởi kiện và thụ lýVADS đang có nhiều bất cập, một số quy định của pháp luật TTDS hiện hành chưa thực sự đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền khởi kiện đã được pháp luật quốc tế và quốc gia thừa nhận như một phương thức bảođảmquyền con người, quyền công dân.

Nhận thức được những hạn chế, bất cập trong các quy định của BLTTDS,Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân công cho TANDTC chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng Dự án BLTTDS năm 2015. Trong quá trình thực hiện Dự án, đã có nhiều quan điểm, ý kiến có giá trị được đưa ra nhằm hoàn thiện các quyđịnh của BLTTDS trong đó có các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS. Tuy nhiên, BTTDS năm 2015 được được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hànhkểtừ ngày 01/7/2016 mới chỉ giải quyết được phần nào vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS và còn có những quy định chưa phù hợp với lý luận, chưa đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn, có quy định chưa rõ ràng, minh bạch dẫnđến có nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất. Thực tiễn thực hiện khởi kiện và thụ lý VADSvẫncòn nhiều tồn tại, hạn chế. Có Tòa án trảlạiđơnkhởi kiện không đúng quy định, thụ lý vụ án sai thẩm quyền, chậm xem xét,thụlý đơn khởi kiện, lúng túng trong việc xem xét cácđiều kiện thụ lý VADS. Báo cáo tổng kết công tác Tòa án cho thấy, năm 2016, tỷ lệ các bản án, quyết địnhbị hủylà 0,75% (do nguyên nhân chủ quan 0,63% và do nguyên nhân khách quan 0,12%) với các sai sót chủ yếu như xác định thiếu người tham gia tố tụng hoặc xác định không đúng tưcách tham gia tố tụng, xác định không đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, sai thời hiệu khởi kiện hay thẩm quyền xét xử [108]. Năm 2017, tỉ lệ các bản án, quyết định bị hủylà 0,73% (do nguyên nhân chủ quan 0,6% và do nguyên nhân khách quan 0,13%); bị sửa là 1,1% (do nguyên nhân chủquan 0,7 và do nguyên nhân khách quan 0,4%) [112]. Vai trò của ngườibảo vệ quyền vàlợiích hợp phápcủacácđương sự trên thực tế còn hạn chế và đôi khi còn chưa được tôn trọng. Một số Viện kiểm sát (VKS) chưa thựcsựcoi trọng công tác kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện và thụ lý VADS của Tòa án… Trước tình hình đó, việc nghiên cứu toàn diện, sâu sắc các quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện và thụ lý VADS để nhận biếtđược những kếtquả đạt được, những hạn chế, bất cập củaquy định pháp luật cũng như những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật cũng như đề xuất các giải phápbảođảm thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, việc nghiên cứu đề tài “Khởi kiện và thụ lý vụán dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” cũng nhằm bảo vệ tối đa quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, đáp ứng mộttrong các nhiệm vụ cải cách tư pháp được đề ra trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chínhtrị về một số nhiệmvụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới: “Khi xét xử,các Tòa án phải bảođảmmọi công dân đều bình đẳngtrướcpháp luật,thực sựdân chủ, khách quan. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào

kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiếncủakiểm sát viên…nguyên đơn, bịđơnvà nhữngngườicó quyền,lợiích hợp pháp” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…; bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền conngười“.

2. Tình hình nghiên cứuđềtài

3. Phạm vi nghiêncứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứuđược giới hạn bởihai phần:

Thứ nhất, về phạm vi nội dung nghiên cứu.

Khởi kiện và thụ lý VADS trong TTTDS là một vấn đề nghiên cứu tương đối rộng, được hiểu dưới nhiều góc độ,phương diện khác nhau cảvềmặt lý luận vàthực tiễn. Do đó,để nghiên cứu chuyên sâu về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS, trong phạm vi nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh (NCS) tập trung vào những vấn đềcơ bản như sau:

– Luận án chỉ nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS và chỉ luậngiải vềkhái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện và thụ lý VADS;chủthể có quyền khởi kiện; phạm vi khởi kiện; đơn khởi kiện và phương thức gửi đơn khởi kiện; các căn cứ trả lạiđơnkhởi kiện; khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việctrả lạiđơnkhởi kiện; trình tự,thủ tụcthụlý vụ án.

– Trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều quan điểm, cách hiểu về nội hàm của khởi kiện, theo nghĩa hẹp thì khởi kiện là việc nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện và là căn cứ làm phát sinh VADS tại Tòa án; theo nghĩa rộng thì khởi kiện bao gồm cảviệc đưa ra yêu cầu của bị đơn (yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; yêu cầuđộc lập với người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập trong cùng một vụ án. NCS sẽ nghiên cứu khởi kiện theo nghĩa rộng.

– Nghiên cứu sinh có nghiên cứu khởi kiện và thụlý VADSdưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau nhưng có tập trung nghiên cứu sâu hơn về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS dưới phương diện là các quy định pháp luật, xuất phát từ nhận thức trong BLTTDS của một số nước trên thế giới cũng như của Việt Nam, khởi kiện và thụ lý VADS được quyđịnh là một chương gồm nhiều điều luậtquyđịnh về nhiều nộidung khác nhau có liên quan đến khởi kiện và thụ lý VADS vàpháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS vẫn được coi là cơ sở cho mọi phương diện và cách tiếp cận. Bên cạnh đó, khởi kiện và thụlý VADS cũngđược NCS nghiên cứu dướigóc độthực tiễn thực hiện.

– Vì luận ántậptrung nghiên cứu khởi kiện và thụlý VADSdưới góc độ pháp luật và thực tiễn thực hiện nên các giải pháp, kiến nghị luận án đưa ra tập trung chủ yếu vào vấn đề hoàn thiện pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS, bên cạnh đó có đưa ramộtsố giải pháp thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS.

Thứ hai, về phạm vi thời gian nghiên cứu.

Một là, luận án tập trung vào các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bảnpháp luậthướngdẫnthi hànhvềkhởi kiện vàthụlý VADS bằng việc: (i) phân tích, đánh giá ưu điểm và hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS; (ii) có chỉ ra điểm mới so với các BLTTDStrước đó khi đề cậptới khởi kiện và thụ lý VADS.

Hai là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật, NCS sẽ nghiên cứu thực tiễn thực hiện thông qua một số bản ánđãcó hiệu lực pháp luật hoặc những tình huống thực tế trong đời sống xã hội, qua đó đánh giá quy định pháp luật hiện hành,đồng thời đưa ra một sốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS.

Ba là, mặc dù luận án tập trung nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên docó một sốquy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS mặc dù đã có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xửtừtrước đó nhưng vẫnchưađược khắc phục, sửa đổi bổ sung trong BLTTDS năm 2015 nên NCS có sử dụngmột sốbản án có hiệu lực pháp luật trước thời điểm BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành để làm ví dụ minh họa cho những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp luậtvề khởikiện và thụ lý VADS.

4. Mục đích nghiên cứucủa đề tài

– Làm sángtỏ những vấn đề lý luậnvề khởi kiện và thụlý VADS trong TTDS. Đặc biệt, xây dựng và hoàn thiện hơn khái niệm về khởi kiện, thụ lý VADS,đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện và thụ lý VADS, xác định cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy địnhpháp luậtvề khởi kiện và thụ lý VADS, các yếu tố ảnh hưởng đến việcthực hiện khởi kiện và thụ lý VADS, xácđịnhđược nhữngnội dung cơ bản của pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS

– Làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS và những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các VADS tại TAND, chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS.

– Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS, từ đó nhằm xây dựng quy trình khởi kiện và thụ lý đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện, dễ áp dụng cho người khởi kiện và cho Tòa án, làm cho Tòa ánthực sựlà chỗ dựa cho nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sựTổ quốc Việt Nam XHCN như chủtrương của Bộ Chính trịđược nêu tạiNghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Bên cạnh đó,luận án cũng đưa ra một sốkiến nghịnhằm bảo đảmthực hiện khởi kiện và thụ lý VADS.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp luận: Trong suốt quá trình thực hiện luận án, các nội dung trong luận ánđều được NCSdựatrên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vềnhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, vì thế các kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luậtđều được xuấtphát và thực hiện trên những quan điểmchỉ đạo đó.

b) Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, việc nghiên cứu đề tài luận án cònsử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến và điển hình trong lĩnh vực luật học như:

Thứnhất, phương pháp phân tích và tổng hợpđược sửdụng xuyên suốt luận ánđểnhận thứctừchi tiết đến khái quát vấn đề nghiên cứu;

Thứ hai, phương pháp thống kê, tổng hợp nhằm liệt kê một cáchđầy đủcác công trình khoahọc đã được công bố trướcđây để tiếp thu các kiến thức, thành tựuđã đạtđượcvềvấn đềnghiên cứu;

Thứba, phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật một về khởi kiện và thụ lý VADS;

Thứ tư, phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các quyđịnhpháp luậtvề khởi kiện và thụ lý VADSmột số nước nhằm đưa ra các kiến nghị xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS ở Việt Nam.

Hệ thống các phương pháp nghiên cứu nêu trên trong luận ánđược sử dụng linh hoạt, có sự kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu tùy theo từng nội dung nghiên cứu, từngvấnđề nghiên cứu và từng phần nghiên cứu được triển khai trên thực tế; do đó, các phương pháp nghiên cứu được đồng thời sử dụng, có sự kết hợp chứ không áp dụng vào luận án một cách rời rạc, tách biệt.

6. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS. Những đóng góp mới nổi bật của luận ánthểhiện ởnhững nội dung sau:

Thứnhất, luận án đãlàm sáng tỏ một sốvấnđề lý luận rất cơ bản, quan trọng về khởi kiện và thụ lý VADS trong TTDS, đặc biệtlà vấn đềkhái niệm quyền khởi kiện, khởi kiện, thụ lý VADS; cácđặcđiểmđặc trưng của khởi kiện, thụ lýVADS, cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS, các yếu tố ảnh hưởng đến việcthực hiện khởi kiện và thụ lý VADS, những nội dung cơ bản của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS. Việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nàysẽ là cơsởđể tiếp cận các quy định củapháp luật TTDS hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS, là định hướngcho việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS.

Thứhai, luận án phân tích, đánh giá một cách tương đối, toàn diện thực trạng các quy định pháp luật TTDS Việt Nam về khởi kiện và thụ lý VADS và thực tiễn thực hiện những năm gần đây, chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật TTDS và những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các VADS tại Tòa án.

Thứ ba, luận án kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTDS về khởi kiện và thụ lý vụ án nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS Việt Namvề vấn đềnày,từ đó góp phần bảo đảm quyềncon người, quyền tiếp cận công lýcủangười dân, nâng cao hiệu quả thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS trong thực tiễn như bổsung điều luật quyđịnhvề điều kiện khởi kiện, điều kiện thụ lý VADS, bổ sung quy định về cơ chếkhởi kiện tập thể,bổ sung quyđịnh vềquyềnđượctrình bày trực tiếp yêu cầu khởi kiện tại Tòa án; sửa đổi quy định về thẩm quyền theo loại việc của Tòa án; sửađổi quy định về thời hạnđưa ra yêu cầuphảntố,yêu cầu độc lập… Những kiến nghị này được đưa ra dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp vớiđường lối,chủtrương của Đảng về cảicách tư pháp và xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam XHCN cũng như đáp ứng yêu cầu hộinhập kinhtế quốc tếcủa Việt Nam.

Thứtư, luận án đưa ramộtsốkiến nghị thực hiện khởi kiện và thụ lýVADS như: Bổ sung nội dung báo cáo, thống kê hàng năm về trả lại đơn khởi kiện của Tòa án các cấp; công khai, minh bạch hoạtđộng tố tụng xem xét, thụ lý đơn khởi kiện; phát huy vai trò của VKS trong hoạt động tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện; củng cố, xây dựng đội ngũ luật sư; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu nhữngvấn đềcó liên quan đếnđềtài luận án, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận ángồm3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện và thụ lývụ ándân sự. Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về khởi

kiện, thụ lý vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện.

Chương 3: Yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự ở Việt Nam.

Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự- Những vấn đề lý luận  và thực  tiễn
Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNGVẤN ĐỀ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Trên diễn đàn nghiên cứu khoahọctrongnước đã có nhiều công trình

nghiên cứu thể hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận án, luận văn, sách chuyên khảo, giáo trình, bài đăng tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo liên quan đến khởi kiện và thụ lý VADS. Ngoài ra, còn một số bài viết, quan điểm của các chuyên gia nước ngoài có liên quan đếnvấn đềnày. Các công trình đã công bố gần đây được NCS nghiên cứu là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá sự liên quan đến đề tài luậnán và hệ thống các vấn đềthuộc phạm vi nghiêncứumà luận áncầngiải quyết.Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho NCS trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Trong số các công trình đã công bố, có nhiều công trình nổi bật có nội dung nghiên cứu chuyên sâu về khởi kiện và thụ lý VADS được nêu tại Phụ lục 1.

2. Đánh giá sự liên quancủacác công trình nghiên cứu đã côngbố vớiđề tài “Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự – Nhữngvấn đề lýluận và thực tiễn”

2.1. Sự liên quan của các công trình đã công bố với những vấn đề lý luận về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

– Về khái niệm quyền khởi kiện và khởi kiện VADS: Đã có không ít học giả đưa ra khái niệmvà đặc điểmcủa quyền khởi kiện và khởi kiện VADS như:

PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên trong cuốn sách chuyên khảo “Trình tựthủ tục giải quyết cácvụviệc dân sự,kinh doanh thương mại, lao động,hôn nhân và gia đình” và trong Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đại học Huế định nghĩa:

“Khởi kiện vụ án dân sự là quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết một vụán dân sựdo cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy địnhcủa pháp luậttố tụng dân sựthực hiện nhằm bảo vệ các quyền, lợiíchhợppháp của mình hay củangườikhác” [39, tr. 127]. Theo Giáo trình Luật tố tụng dânsự Việt Nam do PGS.TS Phan Hữu Thư và TS. Lê Thu Hà đồngchủbiên thì “Khởi kiện vụ án dân sựlà quyền tốtụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa ánbảo vệcác quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm” [75, tr. 246]; tác giả Liễu Thị Hạnh đưa ra khái niệm “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền năng tố tụng cơ bản của cá nhân, cơ quan,

tổ chức, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi íchhợppháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dân

9

sự,hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”[37, tr. 8]. Tác giả Trần Đức Thành định nghĩa: “Quyền khởi kiện là quyền của cá nhân, cơ quan,tổchức trong phạm vi quyền hạn của mình yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan,tổ chức củamình phụ trách khi quyền, lợi ích đó bịxâm phạm hoặc có tranh chấp” [72, tr. 8-9]. Cũng xuất phát từ góc nhìn này, tác giả Trần ThịLượt địnhnghĩa: “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa ánbảovệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của nhà nước, của tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm” [51, tr. 11].

Dưới góc nhìn khởi kiện là một hoạt động tố tụng, tác giả Nguyễn Thu Hiền trong luận văn “Hoàn thiệnchếđịnhkhởi kiện và thụ lý vụ án dânsựtrong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” [40, tr. 9]; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội do TS Nguyễn Công Bình chủ biên [11, tr. 238]; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội do ThS. GVC Bùi Thị Thanh Hằng chủ biên [36, tr. 229] đều đưa ra khái niệm: “Khởi kiện vụ án dânsựlàviệc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật

tốtụng dân sựnộpđơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợiích hợp phápcủamình hay củangườikhác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước“.

Cũng tiếp cận dưới góc nhìn này nhưng tác giả Bùi Thị Quế Anh trong luận văn “Khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên” lại không sử dụngcụm từ”nộpđơn” mà chỉ định nghĩa: “Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dânsựyêucầuTòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền,lợiích hợpphápcủamình hay của ngườikhác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước” [2].

Có thể nhận thấy rõ, trong các công trình nêu trên, tuy cách tiếpcậnvấn đềkhác nhau nhưng đều nhìn nhận khởi kiện VADS là khởi phát,bắt đầuviệc kiện vàđã nêu được bản chất của khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi tranh chấp hay có vi phạm.

Ở một góc nhìn khác, trong cuốn Luật Dân sự – Tố tụng Việt Nam, xuất bản năm 1962tạiSài Gòn, nhà nghiêncứuNguyễn HuyĐẩuđãsửdụng thuậtngữ”tố quyền” và đưa ra định nghĩa “tố quyền như một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công lí xin xác nhận hay che chở quyền lợi của mình” hay “tố quyền cóthể đượcphân tách như một quyền lợi trong thể động” [29, tr. 36]. Tác giả cũngđề cập và phân tích đến những nội dung khác như điều kiện khai pháttốquyền, phân biệt tố quyền với đơn kiện và quyền lợi; phân loạitốquyền… Mặc dù

10

là cuốn sách nghiêncứu về pháp luật TTDSdưới thời Chính phủViệt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam nhưng công trình này rất có giá trị tham khảo cho NCS khi triển khai những nội dung có liên quan.

– Về đặc điểmcủa khởi kiện VADS:Một số tác giả có đề cập đến đặc điểm của khởi kiện VADS như tác giả Trần Thị Lượt với cácđặc điểm:khởi kiện VADS là hoạt độngdo các chủ thể có thẩm quyền theo quyđịnh pháp luật nội dung vàpháp luật tố tụng quy định thực hiện; được pháp luật ghi nhận là hoạt động bảovệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích bị xâm phạm; được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án; là phương thức văn minh thay thế cho việc tự do hành xửcá nhân… Tuy nhiên,những đặcđiểm mà tác giả đã luận giải chưa thực sự phù hợp với khái niệm khởi kiện VADS mà tác giả đã xây dựng [51].

– Về ý nghĩa của của khởi kiện VADS

Một số tác giả như Trần Thị Lượt [51, tr. 13-14], Nguyễn Thu Hiền [40, tr. 10], Bùi Thị Quế Anh [2, tr. 13-15], Nguyễn Công Bình [11, tr. 238-239] đều cho rằng khởi kiện VADS là phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khi bị xâm phạm; là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS; là tiền đề cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết VADS. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết VADS khi cóđơn khởi kiện của cácchủthể. Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trênđềuđã nhận diện và phân tích được một số ý nghĩa cơ bản của khởi kiện VADS và NCS sẽtiếp thu và kế thừa những nội dung nghiên cứu này. Tuy nhiên, thông qua việc nghiên cứu, NCS nhận thấy trong phần lý luận về khởi kiện của các công trình trên mới chỉ dừng ởviệc nêu ý nghĩa của khởi kiện VADSdưới góc độlà một hành vi (hoạtđộng)

tốtụng mà chưa có sựphân tíchýnghĩa của khởi kiện dướigócđộquyền con người, quyền tố tụng và dưới góc độmột chếđịnh pháp luật; chưa đặt ra phân tích mối liên hệ giữaýnghĩa của khởi kiện VADS với việc bảo đảmnguyên tắctranh tụng trong TTDS mới được quy định rõ trong BLTTDS 2015. Mặt khác, do giới hạn phạm vi nghiên cứu là các luận văn hoặc một chương trong giáo trình luật TTDS, nên các tácgiả mới chỉnêu ý nghĩa của khởi kiện VADS theo cách liệt kê mà chưa phân thành các nhóm ý nghĩa về mặt chính trị-xã hội; pháp lý, kinh tế…

– Về khái niệm thụ lý VADS: Một vài công trình đã đưa ra khái niệm thụ lýVADS như luận văn thạc sĩ luật học của Liễu Thị Hạnh [37]. Tuy nhiên, theo quanđiểm của NCS thì cần thiết phải xây dựng khái niệm thụ lý VADS dưới các gócđộtiếp cận khác nhaumớitoàn diện.

– Về đặc điểmcủa thụlý VADS: Các công trình nghiên cứu mà NCS tiếp cậnđược đến nay cho thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm củathụ

11

lý VADS màmớichỉcó tác giảLiễuThịHạnh đề cập đến bản chấtcủathụ lý VADS [37, tr. 12]. Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, việc phân tích và và chỉ ra những đặcđiểmcủathụ lý VADS là cần thiết, giúp làm rõ hơn khái niệm thụ lýVADS. Theo NCS, thụ lý VADS có nhữngđặc điểm cơ bảnnhư là hoạt động đầu tiên của quá trình TTDS xác nhận trách nhiệm giải quyết VADS của Tòa án; là hoạtđộngdo Tòa án có thẩm quyền thực hiện; căn cứ phát sinh thụ lý VADS dựa trên đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện…

– Về ý nghĩa của thụ lý VADS: Ý nghĩa của thụ lý VADSđãđược đề cập đến trong mộtsốcông trình khoa học ởcấp độluận văn, sách chuyên khảo, giáo trình [11, tr. 247-248], [37, tr. 15-16], [39, tr. 136], [76, tr. 9-10]. Tuy nhiên, các công trình này mới dừng ở việc phân tích ýnghĩa của thụ lý VADS theo phương pháp liệt kê nên chưa có tính khái quát cao; một số công trình do phạm vi, mục đích nghiên cứu chỉ là một phần nhỏ trong sách chuyên khảo chung về các vấnđề tố tụng khác nên ý nghĩa của thụlý vụ án chỉ đượcđề cập, phân tíchhếtsứcngắn gọn, mang tính chất giới thiệu mà chưa có sự phân tích chuyên sâu. Bên cạnhđó,các tác giả cũng chỉ phân tích ý nghĩa của thụ lý VADS dưới góc độ hoạt động của Tòa án mà chưa nêu ý nghĩa dưới góc độ quy định pháp luật.

– Về cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS + Cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện VADS

Tác giả Trần Đức Thành cho rằng, quyền khởi kiện được nghiên cứu trong mối liên hệ giữa quyền lợi và việc bảo vệ quyền lợi. Pháp luật nội dung ghi nhận vàbảo hộcác quyền dânsựcủa các chủ thểvà để các quyền lợi hợp pháp trênđượcđảm bảothực hiện trên thực tế thì pháp luật cần phải trao cho chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hay tranh chấp một phươngtiện để bảo vệ quyềnlợi của mình nhằm thiết lập lại trậttựcủa các quan hệ pháp luật nội dung đang bị xáo trộn. Cũng theo tác giả thì quyền khởi kiện chính là quyền mà pháp luật trao cho các bên trong quan hệ pháp luật nội dungsử dụngđể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự xâm hạicủa chủthể khác [72, tr. 13-15]. Tuy nhiên, do giới hạn phạm vi nghiên cứu về quyền khởi kiện và bảo đảmquyền khởi kiện nên tác giả mới chỉ đề cập đến cơ sở của quyền khởi kiện xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợiíchhợppháp của các chủ thể bị xâm phạm mà không phân tích, luận giảivềcơ sở xây dựng các quyđịnhpháp luật về khởi kiện VADS.

Tác giả Trần Thị Lượt phân tích cơ sở của khởi kiện gồm hai nội dung: i) Cơsở lý luận của quyền khởi kiện xuất phát từ các quy định về bảo vệ quyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và trong các Côngước quốc tế khác cũng như trong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam. Trên cơ sở quy định về

12

quyền con người trong Hiến pháp, pháp luật TTDS cũng cụ thể hóacơ chế bảo vệcác quyền này thông qua phương thức khởi kiện tại Tòa án. Do đóviệc ghi nhận khởi kiện VADS là hoạt động triển khai thực hiện quyền khởi kiện; ii) Cơ sở thực tiễn của khởi kiện VADS xuất phát từ nhận thức pháp luật của các chủ thể chưa cao nên đã xâm phạm đến quyền hay lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác nên cần phải có cơ chế bảo vệ các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bằng con đường khởi kiện; các tranh chấp ngày càng đa dạng, phức tạp trong khi trình độ hiểu biết pháp luật của các đương sự còn hạn chế nên khi có tranh chấp xảy ra sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình; dựa trên quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về khởi kiện VADS [51, tr. 15-21]. Về cơ bản, tác giả đã có nhận thức và phân tích một cách rõ ràng một số cơ sở lý luận và thực tiễn của khởi kiện VADS. NCS sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, phân tích sâu sắc hơn nữa những ưuđiểmnày.

Tác giả Bùi Thị Quế Anh đã phân tích được một số cơ sở của việc xây dựng các quy định về khởi kiện VADS như: Việc xây dựng các quy định về khởi kiện VADS dựa trên cơ sở ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người về dân sự;dựa trên cơ sở trách nhiệm của Tòa án trong việcbảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS và trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam [2, tr. 15-18].

Những phân tích củatác giả trên rất có cơsở khoahọcvà có giátrịtham khảo đối với đề tài của NCS. Tuy nhiên, theo quan điểm của NCS thì bên cạnh các cơsở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy địnhpháp luật về khởi kiện VADS mà các tác giả đã nêu trên thì cần thiết phải nghiên cứu, phân tích thêm một số cơ sở khác để làm sáng tỏ nội dung này.

+ Cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về thụ lý VADS:

Nội dung này chưa được công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận án là cả vấn đề khởi kiện và thụ lý VADS nên NCS sẽ phân tích chung cơ sởxây dựng các quyđịnhpháp luật vềkhởi kiện và thụlýVADS mà không tách thành hai nội dung riêng.

– Các yếutố ảnh hưởng đến việcthực hiện khởi kiện và thụ lý VADS: Nội dung này chưa có công trình khoahọc nào đề cập đến.

– Nội dung các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS: Cho đến nay, nội dung này chưa có công trình nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS nào đề cập tới. NCS nghiên cứu nội dung này thông qua kinh nghiệm lập pháp TTDS của một sốnước và Việt Nam, từđóxác định những nội dung cơ bản của pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS, xây dựngmộtsốkhái niệm như chủthể khởi kiện,

13

điều kiệnkhởi kiện, điều kiện thụ lý VADS làm cơ sở soi chiếu với pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành tại Chương 2 của luận án.

2.2. Sự liên quancủacác công trình nghiên cứuđã côngbốvới vấn đềthực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

Một số công trình nghiên cứu đã phân tích nội dung, thực trạng pháp luậtvề khởi kiện và thụ lý VADS với nhữngsố liệu kếtquả thụ lý, giải quyết các VADS theo báo cáo tổng kết của TANDTC, nêu và phân tích được một cách khái quát các quy định của pháp luật TTDS hiện hành tại thời điểm nghiên cứu; làm rõ các vấnđềvề khởi kiện, trình tự, thủtục thụlý VADS. Tuy nhiên, các tácgiả mới chỉ dừng ởviệc nêu các quy định của pháp luật mà chưa có sự phân tích, bình luận và đánh giámột cách sâu sắc đối với các quy định này cũng như chưa đưa ra các ví dụ thực tiễnđể minh họa cho từng nội dung cụ thể; chưa có sự so sánh với pháp luật TTDS một số nước trên thế giới vềvấn đềnày để rút ra những kinh nghiệm cho Việt Nam. Các công trình cũng chưa có sự phân biệt rõ ràng đâu là điều kiện khởi kiện, đâu là điều kiện thụ lý VADS. Đasố các tác giả đều nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm 2004 về khởi kiện và thụ lý VADS; cá biệt có tác giả nghiên cứu các quy định củaPLTTGQCVADS năm 1989 về thụlý VADS như tác giả Đoàn Đức Lương, trong khi BLTTDS năm 2015 đã được ban hành và có hiệu lực nên các công trìnhđều chưa có sự cập nhật phân tíchmộtsốquy định mới vềkhởi kiện và thụlýVADS. Các công trình nghiêncứucũng chỉ ra một sốhạn chế, bất cập và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS như:

Theo tác giả Lê Thu Hà,vớihạn chế, bất cập của cách quy địnhvề thẩm quyền theo loại việc của Tòa án theo hướng liệt kê sẽ không bao giờ đủ,nhất làtrong xã hội hiệnđại,các quan hệ dân sự,kinh doanh, thương mại, laođộng phát triển ngày càng nhanh, đa dạng, phức tạp. Trong trường hợp này, dù có điều khoản mở cũng vẫn cần sự giải thích. Do đó,dễ dẫnđến sự tùy nghi, thiếu khách quan trong việc xác địnhnhững loạivụ việcmớiphát sinh có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không. Mặt khác,nếu vụviệc không nằm trong phạm vi được liệt kê từ Điều25 đến Điều 32 thì những chủ thể đangcần sựbảo hộđối với quyền và lợi ích của mình không biết phải yêu cầu cơ quan nhà nước nào giải quyết, bảo vệ. Thực trạng này khiến cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức mỗi khi có quyền và

lợi ích bị xâm phạm hoặc tranh chấp rấtvất vả, lúng túng trong việc xác địnhcơquan có thẩm quyền giải quyết. Tác giả cũng cho rằng, việc quy địnhngười khởi kiện phải gửi kèm theođơnkhởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp tại Điều 165 BLTTDS 2011 vẫn là một

14

rào cản lớn chongườidân tiếp cận công lý, chưa phù hợp với chủtrương “người dân nộpđơn đếnTòa án, Tòa án có trách nhiệm nhận và thụlý đơn” và cầnphảiđổi mới thủ tục nhận đơn khởi kiện theo hướng khi có đơn khởi kiện thì Tòa án phải thụ lý [32, tr. 12-16]. Tuy nhiên, quan điểm của tác giả cũng vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận trái chiều và cần được tiếp tục nghiên cứu.

Tác giả Đoàn Đức Lươngmặcdù đã chỉ ra được một sốvướngmắctrong thực tiễn thụ lý các VADS của Tòa án [48, tr. 37]. Tuy nhiên, có vướng mắc tác giảnêu chỉ là việc hạn chế phát sinh từ yếu tố con người, chủ thể tiến hành tố tụng mà không phải vướng mắcnảysinh từ quy định của pháp luật.

Một sốtác giả khácđã nêu được vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật như tác giả Liễu Thị Hạnh vớimột sốkhó khăn, vướng mắcvềphạm vi khởi kiện; về quy định chuyển đơn khởi kiện; về thủ tục nộp tiền tạm ứngán phí; về hậu quả pháp lý của việc không nộp cho Tòa án văn bản ý kiến về việc khởi kiện; về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn vàyêu cầuđộclậpcủa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan [37, tr. 68-69]. Tác giảTrần Thị Lượt với các vướng mắc như tình trạng tồn đọng đơn khởi kiện chưa được xem xét,thụ lý ở một sốnơi; trình độ dân trí và hiểu biết pháp luật chưa đồng đều nên không thực hiện đúng việc khởi kiện; việc không quy định quyền khởi kiện củaỦy ban Mặt trận Tổ quốc và các thành viêncủa Mặttrận là chưa hợp lý; việc xácđịnh thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo nơi cư trú, làm việccủa bị đơn làkhóthực hiện, gây khó khăn cho người dân; một số Tòa án yêu cầu người khởi kiện xin ly hôn phải qua thủtụchòa giải tạicơ sở mới thụlý vụán… [51, tr. 63-68]. TácgiảNguyễn Thu Hiền với mộtsốbất cập về khởi kiện và thụ lý VADS như quyết định trả lạiđơnkhởi kiện của Tòa án có phải là đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị hay không; áp dụng Luật Thương mại hay BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp kinh doanh thương mại; có sự chồng chéo trong phương thức xácđịnh thời hiệu khởi kiện giữa hướng dẫnchung của TANDTC và những quyđịnh chung của các luật chuyên ngành đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong thực

tế áp dụng; việc Tòa án buộc người có yêu cầu ly hôn với người biệt tích phải trải qua thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tíchtrước mới được phépkhởi kiện vụ án ly hôn liệu có đúng quy định của pháp luật hay không [40, tr. 56-86].

Những vướng mắc, bất cập mà các tác giả đã nêu trên cơ sở sự nghiên cứu và đánh giá pháp luật thực định và việc áp dụng trong thực tiễn tố tụng là thấu đáo và kỹ lưỡng. Tuy vậy, có một sốhạn chếlà các tác giả mới chỉ dừng ở việc nêu ra các vướng mắc, bất cập theo hướng liệt kê mà chưa có sự phân tích theo hệ thống vàtheo từng nhóm riêng biệt; chưa làm rõ đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh

15

do quyđịnhcủapháp luậtvề khởi kiện và thụ lý VADS chưa đầyđủ,toàn diện, mâu thuẫn, chồng chéo; đâu là những vướng mắc, bất cập nảy sinh do cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng;đâulà vướng mắc nảy sinh từ việc cố tình gây khó khăn, cản trở việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự…Một số vướngmắcmà các tác giả nêu ra đãđược khắc phục trong các lầnsửa đổi,bổ sung BLTTDS. Bên cạnh đó,các công trình khoa học trên đều nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của BLTTDS năm 2011 nên chưa đề cập đếncác vướng mắc, bất cập nảy sinh từ việc áp dụng một số quyđịnh mới về khởikiện và thụ lýVADS trong BLTTDS năm 2015.

2.3.Sự liên quan của các công trình khoa học đãcông bốvới vấn đề hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lývụ ándân sự

Ởgóc độ phạm vi bài viết đăng tạp chí,kỉ yếu hội thảo, tọa đàm… đã cómột số tác giả đưa ra kiến nghị về một vài vấn đề cụ thể, chẳng hạn như tác giả Lê Thu Hà với kiến nghị về sửa đổi các quyđịnhvề thẩm quyền giải quyết của Tòa án [32, tr. 12-16]. Tác giả Nguyễn Như Bích với một sốkiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả củaviệc thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế[8, tr. 26-32]. Tác giả Nguyễn KimLượngđưakiến nghị bổ sung vào Điều 36 BLTTDSvề thẩm quyền theo lãnh thổcủaTòa án [49]… Mặc dù các bài viết này không phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu và mới chỉ dừng ở việc đưa ra kiếnnghị về một vài vấn đềcụ thể. Nhưng có thể nhận thấy, những nội dung kiến nghị này tươngđối sâu sắcvàcó giá trị tham khảorất lớn đốivới nghiêncứusinh.

Ởcấp độluận văn, cũng có một sốcông trình nghiên cứu đã đánh giá và đưa ra kiến nghị tổng hợp chochếđịnhkhởi kiện và thụlý VADS hoặc chỉ riêng phần khởi kiện VADS hoặc chỉ riêng phần thụ lý VADS. Chẳng hạn, tác giảNguyễn Thu Hiền với các kiến nghị: bổ sung thêm những quy định về khởi kiện bảo vệ ngườitiêu dùng; bổ sung quyđịnhvề chủthể có quyền khởi kiện trongvụán sởhữu trí tuệ; bổ sung quy định về khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường; hoàn thiện chếđịnh về chứng cứ,chứng minh để tạo điều kiện cho người dân được thực hiện quyền khởi kiện [40, tr. 86-96]. Tác giả Trần Đức Thành với các kiến nghị về bỏquy định thời hiệu khởi kiện là một trong những điều kiện khởi kiện; sửa đổi quy định về điều kiện hòa giải cơ sở chỉ bắt buộc đối với tranh chấp quyền sử dụng đất, mốc giới giữa cáchộ liềnkề; sửa đổi quy định về chứng cứ, tài liệu buộc phải nộp kèm theo đơn khởi kiện [72, tr. 69-79]. Tác giả Trần Thị Lượt với các kiến nghị như:cầnsửa đổi BLTTDS và Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng bỏ cơquan về dân số, gia đình và trẻ em có quyền khởi kiện về hôn nhân và gia đình; nên

16

khôi phục lạiquyền khởi kiện của Ủy ban MặttrậnTổ quốc và các thành viên đểbảo vệ những người không có khả năngtựbảo vệ, bảovệ lợi ích công cộng hoặc trật tựxã hội; bỏ quy địnhvề việc xửlý các trường hợp không biết địa chỉ người bịkiện tại Công văn số 109/ KHXX ngày 30/6/2006; cần có quy định hướng dẫn cụthể thế nào là người không biết chữ; cần quy định theo hướng nếu cơ quan, tổ chức đã ủyquyền toànbộ việc giải quyết vụán cho chủthể khác thì không nhất thiết người đại diện phải ký tên, đóng dấuvào đơn khởi kiện; cần có hướng dẫn cụ thểcho phép một số trường hợp nhất định được giải quyết tranh chấp dân sự và yêu cầu dân sự trong cùng một vụ án [51, tr. 66-69]. Tác giả Đoàn Đức Lương với một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thụ lý VADS như: cần quy định trường hợp VKS khởi tốVADS, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung thì người có quyền lợi được bảo vệkhông phải nộp tạm ứng án phí; nên quy định Tòa án có thẩm quyền thụ lý VADS cóquyền thu tiền tạm ứng án phí để đảm bảo thuận lợi cho người dân [48, tr. 37-38]. Tác giả Liễu Thị Hạnh với một số giải pháp như: quy định mỗi Tòa áncó một bộphận chuyên trách giải quyết đơn; việc phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hoặc trả lạiđơn khởi kiện, giải quyết khiếu nại phải bằng hình thức quyết định; nên quyđịnh rõ hậu quả pháp lý của việc không gửi cho Tòa án ý kiến bằng vănbản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cần quy định rõ thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập có thể thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi Tòa án ra phán quyết;cần hướng dẫncho phép một số trường hợp nhất định được giải quyết tranh chấp dân sự và yêu cầu dân sự trong cùng một vụ án [37, tr. 69-73].

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đã nêu ra được các kiến nghị, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS. Nhiều kiến nghị có giá trị khoa học cao và đã được tiếp thu trong cáclần sửa đổi, bổsung BLTTDS. Tuy nhiên, đa số cáckiến nghị đều được nêu ra theo hướng liệt kê mà chưa được phân chia thành các nhóm kiến nghị, giải phápcụ thể vềmặtlậppháp, về các văn bảnhướngdẫnthi hành,về thựchiện pháp luật cũng như các nhóm giải pháp về phía các cơ quan, người tiến hành TTDS; các cơ quan, tổ chức hữu quan và về phía bản thân những người có quyền đi kiện và cácđương sự khác trongvụ án. Một sốcông trình có nội dung kiến nghị chung chung mà không kiến nghị sửa đổi, bổsung điều luậtcụthể nào. Nhiều kiến nghị, giải pháp có sự trùng lặp giữa một số công trình.Một sốkiến nghị được nêu ra cũng cóphần chưa hợp lý, không cần thiết như kiến nghị Tòa án là cơ quan thu tiền tạm ứngán phí; kiến nghị bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ có quyền đưa ra yêu cầu phản

tố, yêucầuđộc lập cho đến trước khi Tòa án ra phán quyết… Một số kiến nghị đưa ra khi chưa có BLTTDS nên có phần lạc hậu. Bên cạnh đó, có nhiều kiến nghị đã

17

được khắc phục, bổsung qua lần sửa đổi, bổ sung năm 2011 và trong BLTTDS năm 2015 nên không còn phù hợp trên thực tế.

2.4. Sự liên quan của các công trình nghiên cứu pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự của nước ngoài

* Cuốn sách “Civil Litigation in Comparative Context-Tố tụng dân sựtrong bối cảnh so sánh“, chủ biên: Oscar G.Chase và Helen Hershkoff, West Academic Publishing, Second Edition, 2017. Cuốn sách có nội dung phân tích, so sánh sự khác biệt giữa tố tụng dân sự Châu Âu lục địa và tố tụng dân sự Anh – Mỹtrên các khía cạnh: tổng quan, nghề luật, tổ chức hệ thống Tòa án,về khởi kiện vụán dân sự, xácđịnh vấnđềpháp lý, thu thập chứng cứ, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm…

* Cuốn sách “Electronic Technology and Civil Procedure: New Paths to Justice from Around the World” (Công nghệ điện tử và tố tụng dân sự: Những ngả đường mới dẫn đến công lý trên thế giới), chủ biên: Miklosn Kengyel và Zoltan Nemessanyi, NXB. Springer, 2012. Cuốn sách có nội dung phân tích tác động của công nghệ điện tử đến tố tụng dânsựvà những điều chỉnh gần đây của pháp luật tố tụng dân sự ở một số quốc gia để thích ứng với sự phát triển của côngnghệ điệntử.

* Bài giới thiệu của Giáo sư MICHEAL BROWDE, Giáo sư khoa Luật, Trường Đại học New Mecxico (Mỹ) về “Pháp luật tố tụng dân sựcủaMỹ và một số nước theo hệthống luật ánlệ“. Trong bài viết này, tác giả có một sốnhận xét vềvấn đề khởi kiện VADS theo pháp luật TTDS Mỹ và so sánh với quy định tương tựtrong Dự thảo BLTTDS của Việt Nam [54].

* Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự của Tiến sĩ Tobias Oelsner – Thẩm phán Tòa khu vực Berlin, Cộng hòa liên bang Đức. Trong báo cáo này, tác giả đã phân tích và bình luận về thủ tục khởi kiện theo pháp luật tố tụng dânsự củamột số nước như Anh, Đức… [118].

* Bài viết “Thủ tục tranh tụng dân sựởThái Lan” do tácgiảLưu Tiến Dũng dịch. Trong bài viết này tácgiảđề cập đếnthủtục khởi kiện VADS theo BLTTDS năm 1985 của Thái Langồmcácbước như kiểm tra đơn khởi kiện; trátđòi trả lời;trả lờivà việc kiện trởlại đốivới nguyên đơn… [20].

* Cuốn sách giảng dạynghiệpvụ TTDS Trung Quốc nhan đề “Giải thích pháp luật tố tụng dân sự” của tác giả TrươngHữuNgư, chủ biên Lương Thư Văn có những nội dung giải thích các quy định về khởi tố và thụ lý VADSđược trình bày tại Mục I Chương 12 như điều kiện khởi tố VADS, phương thức khởi tố, căn cứkhông thụ lý đơn khởi tố… [141, tr. 21-26].

Những công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài nêu trên đã chỉ ra một cách khái quát nhất những quy định của pháp luật TTDSmột số nước về khởi kiện

18

và thụ lý VADS và là những tài liệu tham khảo quý giá cho NCS khi triển khai luậnán của mình. Tuy nhiên, cũng cần phải nghiên cứu sâu hơn các nội dungnày để từđó có sự so sánh và rút ra những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Bên cạnh đó,còn có một số bài viết của các nhà khoa học pháp lý trong nước nghiên cứu về pháp luật TTDS một số nước trên thế giới như: Bài viết “Thủ

tục tố tụng dânsự củamột số nước Châu Âu và so sánh vớithủ tụctố tụngdân sựViệt Nam” của TS. Trần Anh Tuấn. Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu, phân tích thủ tụcTTDS của mộtsốnước trên thế giới, trong đó cóđề cập đếnthủ tục khởi kiện, thụ lý VADS và đưa ra quanđiểmđánh giá, so sánh với trìnhtự thủtục TTDS Việt Nam. Bài viết “Pháp luật tố tụng dân sự Hoa Kỳ và khả năng ứng dụng trong việc hoàn thiện pháp luật tốtụng dân sựViệt Nam” của Nguyễn Thị Thu Hà đãnghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật TTDS Hòa Kỳ về việc giải quyết VADS theo trình tự sơ thẩm và trình tự phúc thẩm, nêu một số nội dung khác biệt giữa hệ thống pháp luật TTDS HoaKỳ vàhệ thống pháp luật TTDS Việt Namvề các vấn đề trên, từ đó đưa ra các khuyến nghị cần tiếp thu cho BLTTDS Việt Nam, trong đó có nội dung phân tích các quyđịnh của pháp luật TTDS HoaKỳ về khởi kiện và thụ lý VADS.

Do giới hạn phạm vi nội dung nghiêncứu củabài viếtnên vấn đềkhởi kiện và thụ lý VADS theo pháp luật TTDS một số nước trên thế giới chỉ chiếm một dung lượng nhỏtrong các bài viết nêu trên. NCSsẽ sử dụng làm nộidung tham khảo trong luận án và tiếp tục phát triển thêm những vấn đề cóliên quan trong bài viết của các tác giả này.

3. Hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứucủa đề tài luậnán Từkết quả phân tích, đánh giá các công trình khoa học đã công bố,NCS

đưa ra hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, bao gồm những vấn đề sau đây.

3.1. Nhữngvấn đề lý luận vềkhởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

– Khái niệm quyền khởi kiện: Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm do các nhà khoa học pháp lýđãđưara, luận án tiếp tục nghiêncứuvà hoàn thiện hơn khái niệm này như: Quyền khởi kiện VADS là một quyền tố tụng được ghi nhận trong pháp luật, theo đó cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác trong phạm vi quyền hạn của mình có quyền tựquyết định việc yêu cầuTòa án có thẩm quyền bảovệ quyền, lợi ích hợppháp của mình, lợi ích của người khác hay lợi ích công cộng, lợi ích của Nhànước khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hay có tranh chấp.

– Khái niệm khởi kiện VADS: Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những kết quảnghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đó, luận án đưa ra khái niệm khởi

19

kiện VADS như: Khởi kiện VADS (hay kiện VADS) là việc các cá nhân, tổ chức cóquyền lợi dân sự và tư cách pháp lý hoặc các chủ thể khác theo quyđịnhcủa pháp luậttựquyết định nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hay lợiích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

– Đặc điểm củakhởi kiện VADS: Từ khái niệm của khởi kiện VADS, luận án phân tích những đặc điểm cơ bản của khởi kiện VADS như: Khởi kiện VADS là việc thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế; khởi kiện VADS theo nghĩa hẹp là việc nguyên đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết VADS và theo nghĩa rộng còn bao gồm cả việcbị đơn nộpđơn phản tố và người liên quan đưa ra yêu cầu độc lập; khởi kiện VADS là việc cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự định đoạt của mình, trong đócác đương sự được tự do định đoạttrong việc bảo vệ quyền lợi của mình; khởi kiện VADS là hoạt động do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nhằm bảo vệ lợi ích tư của chính mình, của người khác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng…

-Ýnghĩa của khởi kiện VADS: Luận án phân tích ý nghĩa của khởi kiện VADS dưới hai góc độ: chính trị, xã hội và pháp lý. Theo đó, khởi kiện VADS góp phần bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp chế XHCN; là hành vi pháp lý đầu tiên làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS; là căn cứ xác định thời hiệu khởi kiện…

– Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thụ lý VADS: Trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được của cáccông trình nghiên cứu có liên quan về khái niệm thụ lýVADS, luận án tiếp tục nghiên cứu và xây dựng nộihàm của khái niệm này dưới các góc độ tiếp cận khác nhau như dướigóc độcác quy định pháp luật, dưới góc độmột thủ tục tố tụng…; đưa ra những đặc điểm cơ bản của thụ lý VADS như: thụ lýVADS là giai đoạn đầu tiên của quá trình TTDS do Tòa án thực hiện; là một hoạtđộngdo Tòa án có thẩm quyền thực hiện; căn cứ phát sinh thụ lý VADS là dựa trên đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện; là một quy trình tố tụng gồm nhiều bước khác nhau để đi đến kết quả là Tòa án nhận trách nhiệm giải quyết VADS.

– Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện và thụlý VADS: Luận án đưa ra một số cơ sở khoa học như việc xây dựng các quy định vềkhởi kiện và thụ lý VADS dựa trên cơ sở ghi nhận vàbảođảm thựchiện quyền con người về dân sự; việc xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS phải trên cơsở trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; việc xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS còn xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS; việc xây dựng các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.

20

– Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS: NCS phân tích và luận giải một số yếu tố cơ bản ảnh hưởngđến việc thựchiện khởi kiện và thụ lý VADS trong thực tiễn như: tính thống nhất, phù hợp củacác quy định pháp luật; năng lực, trình độ và trách nhiệm của Thẩm phán, cánbộ Tòa án; năng lực, trình độ nhận thức của người dân; hiệu quả hoạt động và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan; vai trò, chức năng kiểm sát hoạt động khởi kiện và thụ lý VADS của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)…

– Nội dung các quy định pháp luậtvề khởikiện và thụ lý VADS: Pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS có rất nhiều nội dung khác nhau. Do đó, trong phần này, luận án sẽ phân tích một cách tổng quát nhấtdưới góc độlý luận về một số nội dung cơ bản của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS, từđólàm cơsở soi chiếu với pháp luật thực địnhcủaViệt Nam về các nội dung này.

3.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự ở Việt Nam

Luận án phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về khởi kiện vàthụlý VADSở ViệtNam, theo đó sẽ phân tích, bình luận những điểm mới của BLTTDS năm 2015vềkhởi kiện và thụ lý VADS; chỉrõ những hạnchế, bất cập của pháp luật TTDS về khởi kiện và thụ lý VADS như hạn chế, bất cập của pháp luậtvề chủthể khởi kiện, hạn chế, bất cập về phạm vi khởi kiện; hạn chế, bất cập của pháp luật về đơnkhởi kiện và phương thức gửi đơn khởi kiện; hạn chế, bấtcậpcủa pháp luật vềthụ lý VADS…Đồngthời, NCS cũng phân tích, chỉ ra những tồntại, hạn chếtrong thực tiễn thực hiện khởi kiện và thụ lý VADS, chỉ ra nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập nêu đó.

3.3. Yêu cầu, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự ở Việt Nam

Mặc dù nhiều tác giả khi nghiên cứu về khởi kiện và thụ lý VADS đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện khởi kiện,thụlýVADS ở Việt Nam; tuy nhiên, những kiến nghị, giải pháp này hoặc là chỉ nhỏ lẻ đối với từng trường hợp cụ thể, hoặc không còn giá trị thực tiễn do BLTTDS năm 2015 đã có hiệulựcpháp luật. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những kiến nghịhoàn thiện pháp luật TTDS nói chung và quy định của BLTTDS năm 2015 nói riêng về khởikiện và thụ lý VADS cũng như những kiến nghị thực hiện khởi kiện, thụ lýVADS là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà luận án cần giải quyết. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện khởi kiện, thụ lý VADSđược đề ratrên cơ sở lýluận vềkhởi kiện và thụ lý VADS.

21

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩacủakhởi kiện vụ án dân sự1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ ándân sự

Trong quá trình con người trao đổi lợi ích với nhau, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách quan mang tính quy luật. Bởi, con người vốn không hoàn hảo và loài người vốn bất toàn. Do vậy, từ xưa tới nay,dù ở Đôngphương hay Tây phương thì trật tự xã hội được duy trì là nhờ vào luân lý và luật pháp [131]. Với bản chất là một hiện tượng xã hội khách quan nên không thể phủ nhận hay né tránh những vi phạm, tranh chấp dân sự mà cần phải tìm ra những giải pháp, phương hướng nhằm giải quyết tranh chấp theo chiềuhướngtích cực nhất. Khi có tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền quyết định biện pháp bảo vệ quyền và lợiích phù hợpvớiquy định của pháp luật. Nhà nước trao cho các chủ thể những phương tiện pháp lý cần thiết và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp, yêu cầu để mọi người có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình [133, tr. 20]. Một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự của các chủ thểhay bảo đảmquyền con người trong TTDS chính là khởi kiện VADS ra Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp. Việc khởi kiện VADS là tiền đề pháp lý để các chủ thể có thể yêu cầu Tòa án khởi động quá trình tố tụngđể khôiphục lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tạo cơ chế chủđộng tựbảo vệ cho cá nhân, pháp nhân khi quyền và

lợi ích của mình bị xâm phạm, tranh chấp hay có yêu cầu cần giải quyết. Người bịvi phạm có thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó [125, tr. 212]. Khởi kiện VADS chính làviệc thực hiện quyền khởi kiện VADS mà pháp luật quy định cho các chủ thể khi có quyền, lợi ích dân sự bị vi phạm hay tranh chấp. Chính vì vậy, trước khi nghiên cứu khái niệm khởi kiện VADS, cần phải làm rõ khái niệm quyền khởi kiện VADS.

Trên thế giới, quyền khởi kiện VADS đã được quy định trong pháp luậttừkhá sớmvà ngày càngđược hoàn thiện tronghệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia. Ngay từ thời La Mã cổ đại đã có những quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công dân La Mã, theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiệnđến Tòaán yêu cầu bảo vệ quyềnlợi củamình.

Trong xã hội hiện đại, quyền khởi kiện được ghi nhận là một quyền con người trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các côngước quốc tế khác. Quyền khởi kiện là mộttrong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con

22

người, là quyền của một chủ thể trong mối quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm tốt nhất cho những quyền, lợi ích hợppháp của mình được thực hiện.Điều này thể hiện tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 “Mọi ngườiđều có quyền đượcbảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyền với phương diện pháp lý có hiệu lực chống lạinhững hành vi vi phạm các quyền căn bản đãđượcHiến pháp và pháp luật“. Quy định này trong Tuyên ngôn đãkhẳng định quyền khởi kiện yêu cầuTòa án bảovệquyền và lợi ích hợp phápcủamình hoặc của người khác khi xảy ra tranh chấp hoặc vi phạm là một quyền con người cơ bản. TạiTuyên ngôn nhân quyền cũng đãkhẳng địnhcác quyền con người trong bản tuyên ngôn này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tấtcả các dân tộc và các quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này đểnỗ lực, phát huy sự tôn trọng các quyền tự do bằng nhiều biện pháp khác nhau như giáo dục, học vấn, biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tếbảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thổ bị giám hộ. Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra cáctiền đề, điều kiện vềchính trị, kinh tế, xãhội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, cáctổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [70, tr. 1]. Việc bảo đảmquyền con người trong tố tụng dânsự phải được đặt trong tổng thể các quyền dân sự của con người trong suốt quá trình giải quyếtvụ án. Tuyên bố Viên và Chương trình hànhđộng về quyền con người năm 1993 đã khẳng định:

“Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc

lẫn nhau và liên quan đến nhau. Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử,văn hóa và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩavụ đềcao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản” [121, tr. 104]. Chính bởi vậy, việc quyđịnhvề quyền khởi kiện cũng như các cơchếpháp lý bảo đảm quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự là một đòi hỏi cấp thiết đặt ra đối với mỗi Nhà nước. Thông qua các cách thức và cơ chế khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội khác nhau của từng quốc gia, vùng lãnh thổ, mỗi Nhà nước sẽxây dựng, thiết lập các quy định pháp lý khác nhau về quyền khởi kiện vụ án dân sự.

Ở Liên bang Nga, quyền khởi kiện VADS được quy định khá rõ ràng, theo đó,công dân,tổ chức có liên quan theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định cóquyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp trong thời hạn hợp lý hoặc quyền thực hiện một biện pháp tư pháp trong khoảng thời gian hợp lý [163, đoạn 1 Điều 3] và i) Người có quyền, tự

23

do và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án; ii) Trong những trường hợp do Bộ luật này và luật Liên bang quy định, một người cóthể nhân danh mình khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòaán bảo vệquyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, tập hợpngườikhông xác định hoặc lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương [163, Điều 4]. Về cơ bản, quy địnhvề quyền khởi kiện trong pháp luật TTDS Liên bang Nga hướng đếnmục đích là việc các chủ thể khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi xảy ra xâm phạm hoặc tranh chấp. Theo đó, trọng tâm của quyền khởi kiện chính là việc hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự.

ỞCộng hòa Pháp, quyền khởi kiện VADSđược quyđịnh:”Chỉ các bên đương sự mới có quyền khởi kiệntrừtrường hợp pháp luật có quy định khác. Các bên đương sự đượctự do chấmdứt tố tụng trướckhihết hạn tố tụngtheo quyết định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật” [60, tr. 7]. Pháp luật TTDS Pháp giới hạn chủ thể có quyền khởi kiện, theo đó “chỉ các bên đương sự” mới có quyền khởi kiện trừ các trườnghợpkhác theo luật định. Việc hạn chế chủ thể khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ dân sựđồng thời hạn chế việc cácchủ thểkhông liên quan cố tình lợi dụng quyền khởi kiện vào những mục đích không tốt, ảnh hưởng đến sự bình ổn trong các giao lưu dân sự cũng như giúp Tòa án tiết kiệm được thời gian để không giải quyết các khiếu kiện vô căn cứ. Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật tố tụng Pháp khôngđềcập đến mục đích cụ thể của việckhởi kiện VADS nhưng thông qua việc giới hạn chủ thể quyền khởi kiện sẽ xác định được trọng tâm của quyền khởi kiện chính là việc bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích khi cácđươngsự tham gia quan hệ dân sự, đồng thời là cơ chế để bảo đảmcho cácchủthể khi tham gia quan hệ pháp luật dânsự có ýthức hơn trong việc tôn trọng quyền của chủ thể khác và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, duy trì sự ổn định trong giao lưu dân sự cũng như giúp cho mục đích xác lập quan hệ dânsựđược bảođảm thực hiện. Xuất phát từbảnchất tự do, bình đẳng,tựnguyện khi tham gia các quanhệ dânsự,điểmnổibật trong pháp luật TTDS của Pháp chính là quyền tự do khởi kiện vụ án cũng như việc đương sự có toàn quyền quyết định trong việc tiếp tục hay từ bỏ quá trình tố tụng tại Tòa án “trước khi hết hạn tố tụng”.

Ở nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyền khởi kiện VADS được quyđịnh: “Các đương sự có quyền tố tụng bình đẳng. Tòa án nhân dân có trách nhiệm cung cấp biện pháp bảo vệ và tạo điều kiện cho tất cả các bên tham gia thực hiện quyền

tố tụng của họ,và áp dụng pháp luật bình đẳng cho tất cả các bên” [161, Điều 8] và

24

“Những vụ án dânsự được khởi kiện bởi mốiquan hệ tài sản và quan hệ nhân thân giữa công dân với nhau, giữa pháp nhân vớinhau, giữa các tổchức với nhau, và giữa họ với nhau để Tòa án nhân dân thụ lý đều phải phù hợp với quy định của Bộluật này” [161, Điều 3]. Điều 15 của BLTTDS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Đối với hành vi gây tổn hại tới quyền lợi dân sự của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân, các cơ quan, đoàn thể xã hội, đơn vị, xí nghiệp sự nghiệp cóthể ủng hộcác đơn vị hoặc cá nhân bị thiệt hại khởi kiện với Tòa án nhân dân” [161, Điều 15]. Bên cạnh quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có sự xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp thì pháp luật TTDS còn quy định về quyền khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợiích Nhà nước. Hầu hết tạimộtsốquốc gia trênthếgiới, pháp luậtđều quy định Nhànước là chủ thể cơ bản có quyền hạn và trách nhiệm trong việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các lợi ích công cộng nên quyền xử lý các hành vi vi phạm cũng như quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên đều thuộc về Nhà nước. Tuy nhiên, theo chiều dài lịch sử, khi nền dân chủ phát triển, xã hội dân sự ra đời kéo theo quyền và tiếng nói của người dân càng ngày được chú trọng trong việc giải quyết các vấn đề thuộc lợi ích công cộng thì mô hình khởi kiện vì lợi ích công (PIL) ra đời và phát triển trên nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, khi muốn khôi phục lợi ích chung của cộng đồng thìNhànước không còn là chủ thểduy nhất có quyền khởi kiện mà quyền khởi kiệnđược mở rộng cho cácchủthể khác như công dân, tổ chức xã hội.

Thông thường, trong hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống Common Law thì quyền khởi kiện VADSđể bảo vệ các lợi ích công cộng không được quyđịnh cụ thể trong cácđạo luậtmà chủ yếu được xác lập từán lệ xây dựng bởi Tòa án. Chẳng hạn, tạiẤnĐộ,PIL đượcđặt nền móng lần đầu tiên bởiThẩm phán Krishna Iyer trong vụ Mumbai Kamgar Sabhha v. Abdullabhai năm 1976, với việc giải thích thuật ngữ “lợi ích công” gắn liền với sự mở rộng quyền khởi kiện của cánhân khi kết quả đạt được từ việc khởi kiện này mang lại lợi ích cho số đông trong xã hội. Trên cơsở đó,hướng giải thích mở rộng quyền khởi kiện cũng được áp dụng trong các vụ án về môi trường, điển hình là vụ Ferlitizer Corp. Kamgar Union v. Union of India năm 1981, trongđóThẩm phán Bhagwati kết luận quyền khởi kiện được trao cho tổ chức hoặc cá nhân có tâm nguyện vì lợi ích công cộngvới sự

quan ngại sâu sắc về việc bảo tồn nguồn tài nguyên chung… Cách giải thíchtiến bộvề quyền khởi kiện này đã đưa đến thành công của rất nhiều tổ chức phi lợi nhuận về môi trường tại Ấn Độ với tư cách là nguyên đơn trong các vụ án về môi trường, như vụ Rural Litigation and Entitlement Kendra v. State of Uttar Pradesh năm 1988,

25

India Council for Enviro-Legal Action v. Union of India năm 1996… [38]. Năm 1972, Hoa Kỳ cũng là một quốc gia điển hình theo hệ thống luật án lệ đã xóa bỏ sự ràng buộc lý thuyết truyền thống về quyền khởi kiện liên quan đến lợi ích công cộng. Trong vụ án Sierra Club v. Morton, Tòa án Tối cao Liên bang HoaKỳ đã đưa ra một nhận định tích cực về cơ sở của quyền khởi kiện khi công nhận thiệt hại là cơsở của quyền khởi kiện không chỉ là thiệthại về người,tài sản mà còn bao gồm cảthiệt hại về các giá trị thẩm mỹ, hoặc lợi ích về môi trường.Từđó, quyền khởi kiện được Tòa ánmở rộng cho các tổ chức hoạtđộngtrong lĩnh vực môitrường nếu tổchức đóđáp ứngđược cácđiều kiện: “ít nhất một hội viên trong tổ chức có quyền khởi kiện, tức là có lợi ích cá nhân bị trực tiếp xâm hại bởi hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; nội dung của vụkiện phù hợpvớimục đích hoạtđộng củatổchức; mục đích của việc khởi kiện không phải nhằm khôi phục lợi ích kinh tế của cánhân hội viên trong tổ chức” [38]. Tuy nhiên, khi cá nhân, tổ chức tham gia tố tụngđể bảo vệ lợi ích cho xã hội thì họ không phải là nguyên đơn, bị đơn hoặc người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện. Họ có quyền trình bày trước Tòa án quanđiểm của họ về bảo vệ quyền lợi ích chung của xã hội nhưng không có quyền đưa ra chứngcứđểgiải quyếtvụ kiện giữa nguyên đơn vàbị đơn. Ngoài ra, cá nhân,tổchức có thể kiện ra trước Tòa ánđể bảo vệ lợiích chung của xã hội trong trường hợphọbị ảnhhưởng bởi sự xâm phạm lợi ích chung đó [145, tr. 20].

Khác với hệ thống Common Law, quyền khởi kiện để bảo vệ các lợi ích của người khác, lợi ích công cộng tại cácnước theo truyền thống dân luật được quy định cụthể trong cácđạo luật của Nhà nước.Chẳng hạn, Điều 46 BLTTDS Liên bang Nga quy định về việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợppháp của người khác, theo đó: 1. Trong trường hợp pháp luật quy định,cơquan chính quyền Nhà nước,cơ quan chính quyền tựquảnđịa phương,tổ chức hoặc công dân có quyền khởi khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi íchhợppháp của người khác theo yêu cầu của họ hoặc để bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp phápcủatậphợp ngườikhông xác định. Việc khởi kiện để bảo vệ quyền,

tựdo và lợiích hợp pháp của ngườikhông có nănglựchành vi và ngườichưa thành niên không phụ thuộc vào yêu cầu của nhữngngười đóhoặc những người đại diện hợp pháp của họ.

2.Ngườikhởi kiện để bảo vệ quyền, tựdo và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ như nguyên đơn, trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ trả án phí” [163]. TạiĐiều55 LTTDS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 sửa đổi năm 2012 quy định: “Đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường, xâm phạm đến quyền và lợi íchcủa ngườitiêu dùng rộng lớn hoặc thiệt hại lợi ích công cộng, một

26

cơ quan hay tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật có thể khởi kiện trong Tòa án nhân dân hợp pháp” [161, Điều 55].

Như vậy, pháp luật của các nướcđều ghi nhận quyền khởi kiện là một quyền tố tụng và việc thực hiện quyền tố tụng này nhằmbảovệ quyền và lợi ích hợppháp củamình khi có sựxâm phạm hay tranh chấp hoặc bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước.

Ở ViệtNam, quyền khởi kiệnđược ghi nhận gián tiếp trong các bản Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chẳng hạn tại Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,bảo đảmtheo Hiến pháp và pháp luật“. Tuy nhiên, quyđịnh về quyền khởi kiện trong các văn bản pháp luật TTDS của Việt Namởmỗi thời kỳcó sự khác nhau. Trước khi BLTTDS năm 2004 có hiệu lực, quyền khởi kiện được hiểu rất rộng và đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS hiện nay. Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu làkhả năng Nhà nước cho phép các chủ thể được yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầuTòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.Thờikỳnày, pháp luật TTDS của Việt Nam không có sự phân biệt giữa hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự. Tất cả các việc có tranh chấp hay không có tranh chấp đềuđược gọi chung là VADS và việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cácvụviệc dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác được gọi làkhởi kiện VADS. Ngoài ra, pháp luật TTDS thời kỳ này còn quy định về quyền khởitốVADScủaVKSND. Qua một thời gian áp dụng trên thực tiễn đãbộclộnhững hạn chế, vướng mắc khi pháp luật TTDS không có sự phân biệt giữa thủ tục giải quyết các quan hệ pháp luật có tranh chấp và không có tranh chấp. Khi BLTTDS năm 2004 được ban hành và sau này làsựkế thừacủaBLTTDS năm 2015đãtách thủ tục giải quyết cácvụviệc dân sựthành hai thủ tục tố tụng riêng biệt là thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự nên nên khái niệm quyền khởi kiện không còn bao hàm cả quyền yêu cầu xem xét việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền dân sự (nghĩa rộng) như trướcđây nữamà được hiểu là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước bị xâm phạm hay cótranh chấp của chủ thể có quyền và chủ thể được trao quyền.

Về mặt lý luận, quyền khởi kiện được nghiên cứu dưới nhiều tên gọi, thuật

27

ngữ pháp lý khác nhau. Theo các nhà nghiêncứu về tố tụngcủaPháp thì “tố quyền” là khả năng được thừa nhận đối với cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lýđể đạt được sựtôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình [Dẫn theo 126]. Theo nhà nghiên cứu Châu Tu Phát thì “tố quyền hay quyền đi kiện là một phương cách, một đườnglốichínhyếuvà mạnh mẽ nhất” [61, tr. 17]. Đồng quan điểm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu cho rằng: “Trong số các đường lối do luật pháp dự liệu, tố quyền (action en justice), nghĩa là quyền đi kiện, quyền đưa việc ra tòa xin phân xử, là một phương tiện mạnh mẽ và thường được sử dụng nhất” [29, tr. 35], và “Tố quyền có thể định nghĩa như một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công lý xin xác nhận hay che chởquyền lợicủa mình” [29, tr. 36]. Theo đó, một mặt tố quyền là quyền kêu gọi đến cơ quan tư pháp, ý kiến chủ chốt là sự cầu cứu đến Tòa ánvà như vậy, tố quyền khác biệt với một vài trường hợp tố cầu hành chính chỉbuộc đươngsựphải xin can thiệp của nhà chức trách hành chính không có nhiệm vụxửđoán,mặtkhác tốquyềnđược phân tích như một phương tiện có tính cách luật pháp chế tài của môn dân sự tố tụng vì sự can thiệp của Tòa án có hiệu lực làm quyền lợi đượccủng cốvà tôn trọng. Nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng “tốquyền tứclà có quyền đi kiện” [Dẫn theo 126]. Như vậy, “tốquyền” chính là quyền kiện hay quyền yêucầuTòa án giải quyết tranh chấp. TS.Hoàng Ngọc Thỉnh đã khẳngđịnh trong Giáo trình Luật tốtụng dân sựcủa trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009 rằng: “Quyền khởi kiện VADS là quyền tố

tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệcác quyền lợi hợppháp của mình, của tập thểNhà nước hay của người khácđangbịtranh chấp hoặc vi phạm” [73, tr. 109-110]. Nhà nghiên cứu Tống Công Cường lại sử dụng thuật ngữ “quyền kiện dânsự” trong một nghiên cứu về pháp luật TTDS dưới góc nhìn so sánh,đồngthời đưa ra ý kiến nhận xét: “Quyền kiện dânsựlà một quyền rất quan trọng của ngườidân. Tuy nhiên, việc đặt tên cũng như xác định nội hàm của quyền này cũng còn là một điều mới mẻ” và “việc gọi tên quyền kiện dân sựchỉlàmộtkhái niệm mang tính khoa học“. Cũng theo tác giảthì nội hàm của khái niệm quyền kiện dân sựrộng hơn so với quyền khởi kiện trong BLTTDS. Theođó,quyền kiện dân sựkhôngchỉlà quyền khởi kiện VADS của nguyên đơn mà còn là quyền phản đối của bị đơn, quyền can thiệp vào quá trình tố

tụng của chủ thể thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan [17, tr. 211-212]. Mặc dù được nghiên cứu dướicác tên gọi và thuật ngữpháp lý khác nhau nhưng quyền khởi kiện đều được hiểu là một trong những quyền TTDS. Khi chủthểcóquyền khởi kiện giảthiết quyền và lợi ích hợp pháp bịxâm phạm hoặc có tranh chấp thì chủ thể đó có thể tự mình khởi kiện hoặc được chủ thể khác trong phạm vi

28

quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vì lợi ích của chủ thể có quyền khởi kiện đểyêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đó. Đặt trong mối quan hệ với pháp luật dân sự thì chủthểcó quyền khởi kiện trước hết là cá nhân, pháp nhân trong các quanhệpháp luật dân sựgiảthiết rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Bên cạnhđó,còn có những chủ thể khác tuy không cóquyền và lợi ích bịxâm phạm nhưngđược pháp luật trao cho quyền khởi kiện đểbảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Như vậy, qua các luận giảiở trên, NCS đưa ra khái niệmvề quyền khởi kiện VADS như sau: Quyền khởi kiện VADS là một quyền tố tụng đượcghi nhận trong pháp luật, theo đó cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác trong phạm vi quyền hạn của mình có quyềntự quyết địnhviệc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của người khác hay lợi ích công cộng,lợiích của Nhà nước khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hay cótranh chấp.

Qua nghiên cứu về khái niệm quyền khởi kiện như trên, có thể khẳngđịnh

rằng quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng, cho phép cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác. Việc thực hiện quyền khởi kiện trên thực tế được gọilà khởi kiện VADS.

Ở ViệtNam, từ trước đến nay, khởi kiện VADS trong TTDS được nghiên cứucảtrong ngôn ngữhọc và trong khoa học pháp lý. Nhưng dù có nghiên cứu dưới góc độnào thì đều có mụcđích chung là tìm ra nguồngốcvà bảnchất của khởi kiện VSDS.

Trong ngôn ngữhọc: Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì “khởi” là “bắt đầu,mở đầu một việc gì” [62, tr. 548], còn “kiện” là việc “yêu cầu tòa án xét xửviệc người khác đã làm thiệt hại đến mình” [62, tr. 548]. Nhưvậy, vềmặtngữ nghĩa thì khởi kiện là mở đầu việc yêu cầu tòa án xét xử người khác đã làm thiệthạiđến quyền lợi của mình.

Trong khoa học pháp lý, khởi kiện VADS có thể hiểu dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên nhưđã giới hạn ởphần phạm vi nghiêncứuđề tài, trong luận án này NCS nghiên cứu về khởi kiện VADS dưới hai góc độ: khởi kiện là tổng thể các quy định pháp luật TTDS về khởi kiện VADS và khởi kiện là một hoạt động tố tụng.

Thứnhất,dưới gócđộ là các quy địnhcủapháp luật TTDS, khởi kiện VADSđược hiểu là tập hợpcác quy định của pháp luật TTDS về khởi kiện VADS như quyđịnh về điều kiện khởi kiện, phạm vi khởi kiện, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, phương thức gửi đơn khởi kiện. Khởi kiện VADS là một bộ phận của hệ

29

thống pháp luật nói chung và của ngành luật TTDS nói riêng. Các quy định về khởi kiện VADS có mối liên hệ nộitạithống nhất với các nguyên tắc cơ bản và các quy định khác của pháp luật TTDS cũng như với các quy phạm pháp luật khác trong hệthống pháp luật nói chung và baogồmnhững nội dung sau đây:

+ Các quy định về về điều kiện khởi kiện VADS: Theo đó, pháp luật TTDS quy định về các điều kiện mà các chủ thể phải đáp ứngthì mới đượcthực hiện việc khởi kiện tạiTòa án như điều kiệnvề chủthể, điều kiện về quanhệ pháp luật có tranh chấp chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; điều kiện về thẩm quyền theo loại việc dân sựcủaTòa án.

+ Các quy định về phạm vi khởi kiện VADS.

+ Các quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện, phương thức xửlý đơn khởi kiện.

Dưới góc độ nàythì khởi kiện VADS có thể được hiểu như sau: Khởi kiện trong TTDS Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quanhệphát sinh trong quá trìnhchủthể thực hiện việc khởi kiện VADS tại Tòa án có thẩm quyền để yêucầubảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay có tranh chấp.

Thứhai, khởi kiện VADS được hiểu là một hoạtđộngtố tụng và đãđược một số nhà khoa học pháp lý định nghĩa như: “khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơquan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác” [122, tr. 238] và “khởi kiện VADS là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS. Không có hoạt động khởi kiện thì cũng không có quá trình TTDS cho các giaiđoạn tiếp theo” [122, tr. 238-239]. Qua nghiên cứu các quanđiểmtrên cho thấy cho thấy có sựkhông thống nhất về chủthể khởi kiện. Ởđịnh nghĩa thứ nhất, chủ thể khởi kiện gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc cácchủ thểkhác. Còn ở định nghĩa thứ hai, chủ thể khởi kiện gồm cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Theo quan điểmcủa NCS, việc xác địnhnộihàm của chủ thể khởi kiện phải dựa trên mối quan hệ giữa chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung và chủthể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 1 của BLDS năm 2015 thì chủ thể của quan hệ pháp luật dânsự gồmcá nhân và pháp nhân.Đâylà chủ thể của các quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi các chủ thể này tham gia giao lưu dân sự và cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình có tranh chấp hay bị vi phạm có thể tự quyết định việc khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ. Bên cạnh đó, trong một sốtrường hợp theo quy định pháp luật thì cá nhânđược khởi kiệnđể bảo vệ lợiích của người khác và một số cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn

30

của mình có thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác,lợiích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Nhưng các cơ quan, tổ chức này cũng phải lànhững chủ thể độc lập, có quyền về tài sản và có thể tự mình xác lập các quan hệdân sự. Hay nói các khác, cơ quan, tổ chức đó cũng là những pháp nhân độc lập vàđược hoạtđộng dướimột thực thểgọi làtổchức.Dưới góc độnày, có thể định nghĩa: Khởi kiện VADS (hay kiện VADS) là việc cá nhân,tổ chứccó quyền lợi dân sự và tư cách pháp lý hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,củangườikhác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

Theo những kết quả nghiên cứu thì bản chất của khởi kiện là việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này được cho rằng có tranh chấp tranh chấp hay vi phạm. Hoạt động nàyđược thực hiệnbởi các chủthểnhư nguyên đơn khởi kiện; bị đơnđưara yêu cầu phản tố,yêu cầu độc lậpvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập. Từ góc nhìn này, khái niệm khởi kiện VADS cầnđược hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

– Xét theo nghĩa hẹp thì khởi kiện là việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp và vi phạm:

Khởi kiện của nguyên đơn là việc nguyên đơn thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyềnlợi của chủ thểcó quyền lợi hợp pháp bị tranh chấp hay bị vi phạm và việc thực hiện quyền này sẽ làm phát sinh vụ án dânsựtạiTòa án. Thực chất, đây là việc chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hoặc chủ thể khác trong phạm vi, quyền hạn của mình thực hiện việckiện để bảo vệ quyền lợi củamình, của người khác, lợi ích Nhà nước và công cộng thông qua việc nộp đơnyêu cầu Tòa án cóthẩm quyền giải quyết VADS. Chính việc khởi kiện của nguyên đơn là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS, không có hành vi khởi kiện yêu cầu Tòaán giải quyết tranh chấp thì không có quá trình tố tụng tiếp theo.

– Xét theo nghĩa rộng thì khởi kiện baogồmcả việcnguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa ánbảovệ quyền và lợi ích hợp pháp, bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, yêucầuđộclậpvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập:

Dưới góc độngôn ngữ học,”phản tố” được hiểulà một quyền của người “bị tố” – người bị kiện hay chính là bị đơn nhằm đưa ra những yêu cầu “phản” lại với những “tố” yêu cầu của người khởi kiện. “Phản” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng có tính đối lập với yêu cầu khởi kiện nhưng sự đối lập không chỉ bao gồm việc loại trừtrực tiếp yêu cầu của nguyên đơn mà có thể theo hướng bù trừ nghĩa vụđược nêu trong yêu cầu của nguyên đơn [117, tr. 167]. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất

31

thì phản tốlà việc kiện ngượclạicủa bị đơn. Trong TTDS, khi mộtvụ án dân sự được Tòa án thụ lý, giải quyết thì các đương sự có thể bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi, nghĩavụliên quan có yêu cầu độc lập. Khi một chủ thểđược xácđịnh làbị đơn trong vụ án thì họcóquyền đưa ra ý kiến phản đối việc khởi kiện của nguyên đơn và nếu thực hiện quyền phản tốthì bị đơn còn là người đưa ra yêucầu đốivớinguyên đơn, người có quyền

lợi, nghĩavụliên quan có yêu cầu độc lập. Bên cạnh đó, bị đơn còn có quyền đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Chính vì vậy, sau khi thực hiện phản tố, yêu cầu độc lập thì bị đơn sẽ chủ động trong việc chứng minh yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình. Theo giáo sư Nguyễn Huy Đẩu thì bắt đầu vụ kiện là nguyên đơn “sử dụng quyền để thỉnh cầuTòa án công nhận quyền lợi…Nhưng còn có nhữnglờithỉnhcầukhác trong lúc giao đấu đang tiếp diễn, đó là những lời thỉnh cầu phụ đới… Nếu lời thỉnh cầu là của bị đơn, nghĩa là bị đơn không muốn giữ thế thủ nữa mà chuyển qua giaiđoạn tấncông trở lại, thì là đơn phản tố…Về nội dung, đơn phản tố phải có liên thuộc với đơn khởi kiện, chứ không thể hoàn toàn tự do, không ăn nhập với nội vụ” [29, tr. 59-61]. Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì quyền phản tố, quyền yêu cầu độc lập của bị đơn cần thiết phải được pháp luật ghi nhận. Trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp có mối liên quan đến nhau thì bị đơn có quyền: i) đưa ra yêu cầu phảntố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; ii) đưa ra yêu cầu độc lập đốivớingười có quyền lợi, nghĩa vụliên quan và các yêu cầu này cóthể được Tòaán xem xét giải quyết trong cùng vụ án với yêu cầu của nguyênđơn khi thỏa mãn những điều kiện nhất định.Như vậy, mặc dù việc phảntố,yêu cầuđộc lập của bị đơn được phátsinh sau khi nguyên đơn khởi kiện nhưng xét vềbản chất đólà việc bị đơn trong vụ án dân sự kiện ngược lại nguyên đơn, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc bị đơn đưa ra yêu cầu kiện với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về một yêu cầu khác có liên quan với yêu cầu mà nguyên đơn đãkhởi kiện mình trongvụ án dân sựđang đượcTòa án cóthẩm quyền thụ lý, giải quyết.

Cũng theo góc nhìnvềsựbình đẳng giữa các đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì người có quyền lợi, nghĩavụliên quan cũng có quyền đưa ra yêu cầu độc lập của mình trong vụ án đã được thiết lập giữa nguyên đơn và bị đơn. Bản chất của yêu cầu độc lập này là việc người thứ ba thực hiện quyền tố tụng của mình nhằm bảo vệ quyền lợi của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm trong vụ ánđã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn. Khi nghiên cứu về vấn đề này, TS. Nguyễn

32

Công Bình cho rằng: “Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập vớilợiích pháp lý của nguyên đơn và bị đơn. Thông thường, người có quyền và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ án dân sự nhưng do vụ án dân sựđã xuất hiện giữa nguyên đơn và bị đơn nên họ phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyền và lợi ích của họ sau đó sẽ gặpkhó khăn” [9, tr. 108]. Xétvề bảnchất thì yêu cầu độc lập cũng được xem làkhởi kiện nhưng là củangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm chốnglại cả nguyên đơn vàbị đơnhoặcchỉchống lại nguyên đơn hoặc bị đơn trong vụ án dân sựdo Tòa án có thẩm quyền đang giải quyết giữa nguyênđơnvàbịđơn. Và thuậtngữ“kiện” VADS dùng để chỉ cho khái niệm khởi kiện VADS theo nghĩa rộng, bao hàm cả khởikiện, phản tố và yêu cầuđộc lập.

Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khái niệm khởi kiện VADS có nội hàm rộng hơn so với hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm chủ thể khởi kiện là nguyên đơn, chủ thể khởi kiệnlà bị đơncó yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và chủ thể khởi kiện là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, giữa các chủ thể khởi kiện này có điểm khác biệt đặc thù, nguyên đơn là người đầu tiên phátđộngtranh chấp và việc khởi kiện của họ là căn cứ để tòa án thụ lý VADS thì việc khởi kiện củabị đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làhoạt độngphát sinh sau khi Tòa án đã thụ lý VADS theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, việc khởi kiện của haichủ thể này sẽ bịgiới hạn bởi mộtsố điều kiện nhất định.Cụ thể,đối với yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ được Tòa ánxem xét, giải quyết nếu yêucầuđó để bù trừ nghĩa vụ, loạitrừviệc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và giữa yêu cầuphản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầuđộclập phải có sự liên quan với nhau.Đối với yêucầu độclập của bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được Tòa án xem xét, giải quyết nếu yêu cầuđó có liên quan đến vụ án đang được giải quyết. Bên cạnh đó, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lậpchỉ được đưa ra trướcthời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

1.1.2. Đặcđiểm củakhởi kiện vụ án dân sự

Thứ nhất, khởi kiện VADS là việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp đượcgiả thiết bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.

Khi một chủ thể giả thiết quyền và lợi ích bị xâm phạm hay có tranh chấp thì có quyền lựa chọn các phương thức bảo vệ cho mình. Trong đó, khởi kiện VADS làmột trong các phương thức bảo vệ quyền lợi và việc các chủ thể có lựa chọn quyền

33

này hay không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chính họ. Hay nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu thì: “Chủ nợ có quyền đi thưa để đòi tiền người ta thiếu mình, nhưng không muốn sử dụng quyền này thì thôi, không aicấmđoán” [29, tr. 37]. Giáo sư Serge Guinchard cho rằng, cần phân biệt các bên đương sự trong vụ kiện với chủ thể của tố quyền, nhữngchủthể có tố quyền chỉ trở thành đương sự trongtố tụng, kể từ ngày họ thực hiện quyền đi kiện của mình bằng một đơn kiện; ngược lại, người ta có thểlà một bên đương sựtrong vụ kiện mà không là chủ thể của tố quyền, đó là trường hợp nguyên đơn kiện nhưng sau đó bị phủ nhận quyền khởi kiện bằng một bản án, do không có lợi ích trong việc kiện, hoặc trường hợp người bị đòi ra tòa với tư cách là bị đơn trong vụ kiện, nhưng vụ kiện này kết thúc bởi một phán quyết bác bỏ tư cáchbị đơn của họ[126, tr. 12-13].

Mặcdù vậy, ở một sốnước cũng có những quy định nhằm hạnchế sự lạm dụng quyền khởi kiện VADS, chẳng hạn không phải vì mục đích bảovệquyền lợi chính đáng mà chỉ có ác ý muốn thưa kiện để hãmhại bịđơn thì bị án phạt và bồi thường [29, tr. 38]. Hoặc như trường hợp không được sử dụng quyền khởi kiệnđối với các tranh chấp nhỏ quá nhiều lần trong một năm [142, Điều 278]. Pháp luật Việt Nam cũng có quyđịnhvề giới hạn thực hiện quyền dân sự và quyền TTDS, chẳng hạn Điều10 BLDS năm 2015 quy định, cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dânsựcủa mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật; khoản 25 Điều 70 BLTTDS năm 2015 quy địnhcácđươngsựphải sửdụng quyền một cách thiện chí, khôngđượclạm dụngđể gây cảntrở hoạt độngtốtụng của Tòa án, đương sự khác.

Thứ hai, khởi kiện VADS là việc cá nhân,tổ chứccó quyền và lợi ích hoặc các chủ thể khác theo quy định pháp luật thực hiện quyền tự định đoạt của mình, trongđó các đương sự đượctự dođịnhđoạttrong việc bảo vệ quyềnlợicủa mình.

Quyềntự địnhđoạtcủacácđươngsự là mộtquyềntố tụngquantrọng được thực hiện xuyên suốt quá trìnhtốtụng vàđượchình thànhdựatrênbảnchất của quan hệ pháp luậtnộidung. Để bảođảmsự hợp lývà tương thích trong toànbộ hệthống pháp luật dân sự, khi ban hànhđòihỏiluật TTDSvớivị trí là luật hình thức, cầnxây dựng các quy phạm pháp luật phùhợpvới bản chấtcốtlõicủaluật dân sự.Điềuđóđồngnghĩa những đặc trưngcủalĩnhvựcluật tư cần phảiđượckế thừa vàchuyển hóa một cách phù hợp trong pháp luật TTDS. Bởi vậy, việc tôntrọng sự tựnguyện, bìnhđẳng,tựdo thỏa thuậncủacác bên làmộtđặctrưng mà pháp luật TTDS hướngđếnvà biểu hiện rõ nhất chính là việc quy định quyềntự định đoạtcủađươngsựkhi tham gia các quanhệtốtụngtạiTòa án. Quyềntựđịnhđoạttrong TTDS luôngắnliền với quyềntự địnhđoạttrong pháp luật nội dung [119, tr. 39].

34

Theo đó, các chủ thể có quyền lựa chọn cách ứng xử trong phạm vi pháp luật cho phépđể đạtđượcnhững lợi ích dân sự nhất định. Quyềntự địnhđoạtcủađươngsựđược thực hiệnngay khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thông qua hành vi khởi kiện vụ án. Chủ thể của quan hệ có tính chất tự do, tự nguyện, bình đẳng nên người khởi kiện trong TTDS hoàn toàn chủ động trong việc quyết địnhvấn đề cần hoặc khôngcầnphátđộng một VADS. Pháp luật TTDS tôn trọng quyền tựđịnhđoạt của các bên đương sự, theo đó các bên có thể lựa chọn sử dụng hoặc không sửdụng quyền khởi kiện VADS tại Tòa án để giải quyết tranh chấp. Ngoài ra,để việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự trở nên linh hoạt hơn, cácđươngsự sẽ cóthể thayđổi,bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của mình sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, phù hợp với cácchứng cứ của vụán cũng như yêu cầu khởi kiện ban đầu nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp củamình trong quan hệpháp luật dân sự,hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao độngbịtranh chấp hoặc xâm phạm. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tự định đoạt này cũng có giới hạn nhất định. Nhằm bảo đảm cho quá trình tố

tụng được diễn ra theo thời hạn luật định và nhằm bảo vệ lợi ích của đương sự khác thì việc thayđổi,bổsung yêu cầukhởi kiện tại phiên tòa không được vượtquá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trên cơ sở so sánh, có thể thấy, quyềntự địnhđoạtcủađươngsự khi thực hiện khởi kiệntạiTòa án là quyền có tínhđặctrưng trong TTDS.Đâycũng làđiểmkhác biệt sovớiTTHS và TTHCbởihai hình thứctốtụng nàyđược hìnhthànhđể bảovệ các quan hệ công. Luật hình sự điều chỉnh mối quan hệgiữa Nhànướcvà người được suy đoán là phạm tội.Một vụ ánhình sự đượcphát sinh theo trìnhtự, thủ tụcmà Luậttố tụnghình sự quy định. Trong quá trình tố tụng, khi cơ quan có thẩm quyền cóđầyđủchứngcứđểbuộctộivà chứng minhđược một ngườilà có tội thìngườiđã thựchiện tội phạm không có quyền thỏa thuận với nhànướcvề mức hình phạt, không có quyềnđịnh đoạtnhữngvấn đề liênquanđến

tộiphạmcủamình. Trong TTHC,mặcdù pháp luật cũng ghi nhận nguyên tắc quyềntựđịnhđoạtcủađươngsự,tuy nhiên dođốitượngmàvụán hành chính hướngđếngiải quyết là các tranh chấp giữangườidân và cơ quan Nhànướccóthẩm quyềnvềcác quyếtđịnhhành chính, hành vi hành chính nên quyềntựđịnhđoạtcủa đương sự không có tính chất tuyệtđối nhưtrong TTDS [41, tr. 28-30].

Thứba, khởi kiện VADS là hoạtđộngdo các chủ thểcó quyềnlợihoặc được phápluật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nhằm bảo vệ lợi ích tư của chính mình,của ngườikhác hay lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

Qua việc nghiên cứu cho thấy, khởi kiện VADS nhằmhướng đến bảo vệ lợi

35

ích tư là chủ yếu. Đây chính là đặc điểm phân biệt với việckhởi tốcác vụ án hình sự là nhằm bảo vệ lợi ích công. Theo giáo sư Nguyễn Huy Đẩu: “Một quyền lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không đủ bảođảmcho người có chủquyền hưởng dụng: quyền lợi có thể bị phủ nhận, bị xâm phạm“, vì vậy “chủ thể quyền lợi bị tổn thương có quyền buộc tha – nhân phải tôn trọng quyền lợibị đe dọa bằng những phương tiện hợp pháp”, phương tiện này “danh xưng là Luật tốtụng” [29, tr. 3]. Như vậy, bên cạnh việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, mỗi Nhà nước cần phải có những cơ chế bảo đảm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụđó được thực hiện một cách hiệu quả nhất. TTDS là “định lệ tổ chức việc chi phối là điều hành công lý, đặt ra để bảo đảm cho tư nhân các chế tài và tôn trọng quyền lợi trong tư luật” [29, tr. 4]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi xảy ra các trường hợp xâm phạm quyền vàlợiích hợppháp của mình thì cácchủthể sẽ tìmđến các phương thức để giải quyết các tranh chấp dân sự này. Nhận thứcđược vấnđề đó, pháp luật cần quy định các phương thức để giải quyết tranh chấp. Khởi kiện có thểhiểu như “một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công lý đểxin xác nhận hay che chở quyền lợicủamình” [29, tr. 36]. Khởi kiện chính là một cơ chế bảo đảm được Nhà nước xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa luậtnộidung và luật tố tụng. Giáo sư N. Fricero cho rằng “Mối liên hệ giữa tố quyền và quyền lợi

(quyền chủ quan) là không thể phủ nhận: Quyền lợi (quyền chủ quan) là đối tượng của tố quyền, và học lý phân loại các tố quyền căn cứ vào đối tượng này: tố quyềnđộngsản cóđối tượng là một quyềnlợiđộngsản,tố quyền bất động sảnlà một quyền lợi bấtđộng sản; tố quyền đối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân,tố quyền đối vật dùng cho một quyềnlợi đối vật, tố quyềnhỗn hợp liên quan tới một quyền lợi đối nhân và một quyền lợi đối vật được sinh ratừcùng một hành vi pháp lý” [126, tr. 12]. Như vậy, tất cả các quan về hệ tài sản hoặc nhân thân là đối tượngđược luậtdân sự bảo vệ, khi bị xâm phạm, thì các chủ thể trong quan hệ tranh chấpđều có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự là động lực để các chủ thể thực hiện khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm.

Do tính chất của lĩnh vực luật tư và lĩnh vực luật công có sự khác biệt nên đốitượng bảo vệ giữa TTDS với tố tụng hành chính,tố tụnghình sự có nhữngđiểm khác biệt. Tố tụng hình sự là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự). Pháp luật tố tụng hình sự có mục đích bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,tổchức, bảo vệ trật tự pháp luật

36

XHCN,đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật. Các mục đích được đặt ra cho tố tụng hình sự mà thực chất là mục đích hoạt động của các cơ quan

tốtụng hình sựthiên về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụthể trong vụ ánhìnhsự[135]. Theo đó,tố tụng hình sựlà đi tìmsựthật khách quancủa vụ án; định hướngmục đích cơ bản là bảo vệ lợi ích của Nhà nước,lợi ích côngvà đồngthời tố tụng hình sự cũng đặt ra mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủacông dân, nhưng không xác định một cách cụ thể. Trong tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng, theo đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyếtđịnh khởi tố hoặcquyết định không khởi tố vụ án. Như vậy, thủ tục tố tụng hìnhsự

tại Việt Nam đặt nghĩa vụ khởi tố và giải quyết vụ án cho các cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền, bởi vậy “các chủ thể tố tụng không thực sự có vị trí pháp lýđộc lập với

lợi ích độc lập và không có động cơ tham gia tố tụng một cách độc lập thật sự và do vậy không thể hình thành “các bên” trong tốtụng” [135]. Việc khởi kiện trongtố

tụng hành chính là khả năng pháp luật trao cho các chủ thể cóthể sử dụngđể bảo vệ lợi ích của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án khi cho rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạmđến lợi ích được pháp luật bảo vệ.Mốiquan hệ trong pháp luật hành chính là quan hệgiữa công dân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnchứkhông phải quan hệ bình đẳng như trong pháp luật dân sự.Đối tượngmà luật tố tụng hành chính bảovệ là các quyềnlợi bị xâm phạm thông qua các hoạt động quản lý nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền chứkhông phải các quyền lợi mang tính tự do, tự nguyện, bình đẳng mà pháp luật TTDS hướng tớibảo vệ.Tuy nhiên, đối với một số trường hợp vì lợi ích của người khác,

lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thì một số chủ thể đặc biệt cũng có quyền khởi kiện. Chẳng hạn, Điều 46 BTTDS Liên bang Nga quy định về việc khởi kiện yêu cầu Tòa ánbảo vệquyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, theo đó, cơ quan chính quyền Nhà nước, cơ quan chính quyền tự quản địa phương, tổ chức hoặc công dân có quyền khởi khởi kiện yêucầuTòa án bảo vệquyền,tự do và lợi ích hợppháp của người khác theo yêu cẩu của họhoặc để bảo vệ quyền,tự do và lợi ích hợppháp của tập hợp người không xác định. Việc khởi kiệnđể bảo vệ quyền,tựdo và lợi ích hợp phápcủangười không có năng lực hành vi và người chưa thành niên không phụ thuộc vào yêu cầu của những người đó hoặcnhững người đạidiện hợp pháp của họ. Tại Điều 55 BLTTDS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 sửa đổi năm 2012 cũng quy định: “Đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường, xâm phạmđến quyềnvà lợi ích của người tiêu dùng rộng lớn hoặc thiệt hại lợi ích công cộng, một cơ quan hay tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật có thể khởi

37

kiện trong Tòa án nhân dân hợp pháp” [161, Điều 55].

Thứ tư, trong pháp luật TTDS Việt Nam, việc khởi kiện VADSchỉ được yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền theo loại việc của Tòa án

Khởi kiện VADS là việc người có quyền kiện nộp đơn khởi kiện, đơn phản

tố, đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm. Mặc dù quyền khởi kiện là quyền tố tụng cơ bản được pháp luật ghi nhận, đồng thời chủthểcó quyền quyết định có thực hiện hay không thực hiện việc khởi kiện tạiTòa án, nhưng không phải loại việc hoặc tranh chấp nào cũng do Tòa án giải quyết mà pháp luật quy địnhchỉ đượcquyền yêu cầu giải quyết đối với những loại việc thuộc đối tượng giải quyết của Tòa án. Trong TTDS, thẩm quyền theo loại việc của Tòa án làkhả năng của Tòa án xét xử, giải quyết những vụ việc dân sự nào, thể hiện phạm vi xét xử của Tòa án. Việc quy định thẩm quyền theo loại việc của Tòa án nhằm phânđịnh thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự với các cơquan,tổ chức khác hoặc giữa các Tòa chuyên trách trong Tòa án nhân dân. Việc quy định thẩm quyền theo loại việc dân sự của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết hiệu quả các vụ án, bảođảmcho hoạtđộngbình thường và hợp lýcủa bộ máy nhà nước.Đồngthời, việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án và các cơquan,tổ chức khác, giữa các Tòa chuyên trách trong cùng một Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụvàngườidân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện. Thẩm quyền theo loại việc của Tòa ánđượcxác định mộtcách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạođiềukiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi íchhợppháp củamình. Việc khởi kiện củachủthể khởi kiện được Tòa án chấp nhận khi nội dung tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc của Tòa án. Nếu nộidung tranh chấp không thuộc thẩm quyền theo loại việc được pháp luật quy định thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện hoặc chuyển đơn đến cơquan,tổ chứccó thẩm quyền giải quyết.

1.1.3. Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

1.1.3.1. Về phương diện chính trị, kinh tế, xã hội * Về phương diện chính trị

Thứnhất, khởi kiện là phương thức bảovệkịpthời quyền, lợi ích dân sự trên cơ sở quyền tự định đoạt của các chủ thể, đápứngyêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sự ghi nhận các bên của quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện vụ án góp phần bảo vệ quyền và

lợi íchhợppháp củacon người, củacông dân, đáp ứngcác đòihỏicủa việc xây

38

dựng Nhà nước pháp quyền. Có thể nói nhà nước pháp quyền là mộtyếutố tấtyếuđể xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Theo A.I.Koovalenco, Nhà nước pháp quyền cần phải bbảo đảm các dấu hiệu sau: dựa trên tính tối cao của pháp luật; phải có sự chấp hành và sự tuân thủ thường xuyên của pháp luật của tất cả các công dân, những người có chức vụ, các cơ quan và tổ chức; quy định trách nhiệm tương hỗ của công dân và Nhà nước trong phạm vi pháp luật hiện hành;bảođảm cácquyền và tự do của công dân [18, tr. 33]. Nhận thức được vấn đề này, ngay

từ năm 1919, trong bản “Yêu sách gửi tới hội nghị Vecxây”, tại Điều 7 Chủ tịch Hồ Chí Minhđãnhấn mạnh đến tầmquan trọng của việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Sau này, ý kiến đóđã đượcNgười viếtlạithành diễn ca với tựađề”Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó đáng lưu ý hơn cả là hai câu thơ: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền” [4, tr. 51]. Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần phải xác định: “Tất cả các yếu tố của Nhà nước pháp quyền như việc thừa nhận quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân,bảođảmđịa vịtối cao của pháp luật và thực hiện cơ chế phân quyền trong tổchức quyền lực nhà nước cuối cùng đều nhằm mục đích bảo vệ quyền tự do của con người” [44, tr. 92-93]. Muốn xây dựng được nhà nước pháp quyền thì các hoạt động của đờisống xã hội cần có quy định của pháp luật điều chỉnh một cách khoa học và công bằng. Bên cạnh đó, các quyền con người, quyền công dân, phải được ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện đồngthời có những cơ chế đểhiện thực hóa việc bảo vệ quyền công dân, quyền dân sựđómộtcách hiệu quả. Trong lĩnh vực dân sự, tranh chấp dân sựxảyra trongđời sống là một yếutốkhách quan mang tính quy luật, dođó cần phải có cơ chế để giải quyết các tranh chấp dânsựkhi xảy ra trên thực tế. Bởi vậy, việc quy định về khởi kiện VADS là một biểu hiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Khởi kiện VADS chính là cơ chế mà Nhà nước trao quyền cho các bên trong quan hệ dân sự có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc tranh chấp, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích của các bên khi xác lập giao dịch dân sự, từ đó có thể kịp thời bảo vệ được các quyền lợi của con người cũng như góp phần duy trì sựổn định, cân bằng của xã hội.

Thứhai, khởi kiện VADS là sựhiện thực hóa việc thực hiện quyền con người, quyền công dân trong TTDS góp phần bảo đảm công bằng xã hội, củng cốlòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án trong nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ chế độXHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân. Theo đó,”Bảo vệcông lý, quyền con người, quyền công dân là nhiệmvụđặc trưng, cao nhất, tập

39

trung nhất của cơ quan xétxửthực hiện quyền tư pháp” [140, tr. 500]. Như vậy, bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ của bất cứ nhà nước pháp quyền và không chỉdừng lại ở những tuyên bố chính trị, ghi nhận trong pháp luật mà còn có cơ chế bảo vệcụthểvàmụcđích cuối cùng là thực hiện việc bảo vệquyền conngườitrong thực tiễn. Là cơ quan thực hiện quyền lựctư pháp trong nhànướcpháp quyền, Tòa án có vai trò quan trọng trong việcbảovệquyền con người. Nói cách khác, bảo vệ quyền con người bằng Tòa án là một trong những cơ chế hữu hiệu. Thậm chí có quanđiểm cho rằng: Tòa án là nơi đầu tiên vàtrướcnhất màngườidân trông cậy để gìn giữ quyền conngười[43, tr. 261]và “Tòa án phải là nơi mà mọi con người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật; TAND phải là người cónhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại” [140, tr. 500]. Thông qua việc khởi kiện VADS Tòa án sẽ kịp thời bảo vệ,khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, vào chế độ,đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bịxâm phạm hoặcxảyra tranh chấp là việc thực hiện dân chủtrong TTDS. Trong công cuộc xây dựng và đổimới đất nước, phát huy dânchủXHCN luôn làmục tiêu, động lực mà Đảng và Nhà nước hướngđến.Bởi vậy, việc thực hiện dân chủ được diễn ra trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trong TTDS, khởi kiện VADS là một cơchếpháp lý Nhà nướcđưara đểtạođiều kiện cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sựtựdo định đoạt,thực hiện quyền tố tụng của mình. Theo đó, đương sự có toàn quyền khởi động VADS thông qua hành vi khởi kiện,đồng thời khi tham gia vào quá trình giải quyết VADS, đương sự có toàn quyền chấm dứt, thayđổiyêu cầu khởi kiệncủamình hoặc thỏa thuận với các đương sự khácvề việc giải quyết VADS một cách tự nguyện mà không vi phạm điều cấm củapháp luật, không trái đạo đức xã hội.Để việc thực hiệnquyền tố tụng của đương sự trở nên linh hoạt hơn, các đương sự sẽ có thể thay đổi, bổ sung yêu cầukhởi kiện, yêucầuphản tố, yêu cầu độc lập của mình sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, phù hợp với các chứng cứ của vụ án cũng như yêu cầu khởi kiện ban đầu nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động bị tranh chấp hoặc xâm phạm.

Thứ tư, khởi kiện VADS góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quyền lợi ích dân sự hợp pháp của nhân dân,tạo điềukiện cho việc củng cố an ninh trật tự xã hội và pháp chế XHCN. Khởi kiện VADS là một cơ chế tự bảo

40

vệ mà Nhà nước trao cho người dân, qua đó người dân sẽ nhận thức rõ hơn về việc tự bảo vệquyền và lợi ích hợp phápcủamình cũng như tôn trọng quyền của người khác góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thểtrong quanhệpháp luật dân sự,hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, laođộng. Bên cạnh đó, việc ghi nhận các quyđịnh về khởi kiện VADS còn góp phần bảo đảm sựcông bằng, bìnhđẳng đốivới các đương sự khi tham gia quan hệ pháp

luật dân sự bởi dù họ là ai, dù có địa vị xã hội như thế nào thì họ đều phải tôn trọng quyền lợi của người khác và phải thực hiện đúng nghĩavụcủamình theo thỏa thuận và quy định pháp luật. Bất cứ hành vi xâm phạm quyềnđềucó khả năng bị chủ thểkhác khởi kiện tại Tòa án và có thể phải chịu những hậu quả pháp lý theo phán quyết của Tòa án.Thông qua quá trình xét xử, Tòa án với chức năng là cơ quan tư phápsẽ nhân danh Nhà nước để giúp chủ thể tham gia các quanhệ dân sự,hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thiết lập, khôi phục, sắp xếp lại những giá trị pháp lý mà họ đáng lẽ đã được hưởngkhi tham gia vào quan hệ pháp luậtnộidung.

Ngoài ra, thông qua khởi kiện VADS, pháp luật còn thể hiện được tính giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Sở dĩ như vậy bởi, khi các chủ thể đã tham gia thiếtlậpmột quan hệ pháp luật dânsự,họsẽ phảiý thức được phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình cũng nhưcủa bên còn lại. Từ đó nếu một bên chủ thể có ý định xâm phạm đến quyền lợi của chủ thểkhác, họ đã biết trước rằng hành vi của họ sẽ có khả năng phải chịu những chế tài pháp lý từ phán quyết của Tòa án. Điều này sẽ tác động đến ý chí, tâm lí của các chủ thể để họ phải tựđiều chỉnh hành vi, xử sự của mình sao cho phù hợp với ýchí chung mà các bên đã thống nhất, thỏa thuận khi xác lập quan hệ dân sự. Đồng thời, nếu một bên chủ thể vẫn cố tình xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía chủ thể còn lại, phá vỡ tính ổn định trong giao lưu dân sự thì Tòa ánsẽ căn cứvào hành vi “khởi kiện” của bên khởi kiện để bảo vệ, giành lại công bằng cho họ. Như vậy, các quy định về khởi kiện VADS đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủpháp luật dân sựcủa người dân và dần hình thành trong nhân dân những ứng xửpháp lý dân sự văn minh và lành mạnh,hướng tới đáp ứngcác yêu cầu của cải cách tư pháp, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

* Về phương diện kinh tế – xã hội

Các quy định về khởi kiện và quyền khởi kiện VADS góp phần bảo vệ các lợi ích hợp pháp trong quan hệ pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển kinh tế –

xã hội.Dưới góc nhìn của các nhà đầu tư, nếu mộthệ thống pháp luật quốc gia không đủ để bảo đảm quyền lợichohọkhi tranh chấp xảy ra thì việc từbỏcơ hộiđầu tư làđương nhiên. Nói cách khác, từ góc độ kinh tế học, trong các tiêu chí đánh

41

giá tiềm năng của thị trường trước khi đầu tư vào Việt Nam, tiêu chívề chấtlượng của hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí quan trọng. Bởi vậy, chúng ta cầnphải tiếpcậnpháp luật đặt trong bối cảnh xã hội đang phát triển với những cạnh tranh và thíchứngbấttận đã “làm cho pháp luật dường như không chỉ còn là thượng tầng kiến trúc màđãtrởthành một hạtầng quan trọng giúp xã hội phát triển” [57, tr. 46] và “việc quả quyết rằng pháp luật chỉ chịu ảnh hưởng bởi kinh tếlà một việc sai lầm” [53, tr. 97]. Thời đạicủa sự hội nhập đã đến, chấtlượngpháp luật là một trong những cơ sở góp phần thúc đẩy sự phát triển kinhtế- xã hội.

Một hệ thống pháp luật với các quy định bảo đảm khởi kiện cũng như các quyền tốtụng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa ánsẽ góp phần trong việcmởrộng cơhộilựa chọnđầutư kinh doanh củathương nhân vào Việt Nam. Các quyđịnh về khởi kiện VADS rõ ràng, minh bạch với những cơ chế thuận lợi

tạođiều kiện để các nhà đầu tư, cá nhân, tổ chức kinh doanh có thể nhanh chóng tìm đến “công lý” khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp. Từ đó tạo dựng cho họ niềm tin về một thị trường thương mại có hành lang pháp lý an toàn để mở rộng quy mô kinh doanh củacác thương nhân nước ngoài,đồngthời “giúp khuếch trương nguồn nguyên khí quốc gia – một thờiđại mới sẽ đến với người dân Việt Nam: thời đại của những ngườitrẻ tuổi, có học vấn, có dũng khí kinh doanh, biết giữ gìn vốn cổ của tổ tiên và học hỏi tinh hoa nhân loại để làm giàu cho bản thânvà đất nước” [56, tr. 8].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *