GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cách đây hơn 500 năm, vua Lê Thánh Tông đã giao cho Thân Nhân Trung soạn bài văn bia đầutiên ở Văn Miếu – Quốc Tử Giámđểnói vềý nghĩa củakhoa thi hội năm 1442,dƣới thời Lê Thái Tông. Trong văn bia có đoạnviết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy, các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp thêm nguyên khí”.Từ

trƣớc đến nay, con ngƣời luôn luôn là nhân tố hết sức quan trọng trong việc củng cố, giữgìn trật tự, kỷ cƣơng xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội, đặc biệt làđội ngũcán bộ, công chức. Yếu tố con ngƣời luôn giữ vai trò quyết định đối với sự thành bại, gắn liền với vận mệnh của một quốc gia.

Hiện nay, dƣới sự lãnhđạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, đất nƣớc ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc các mặt, các lĩnhvực của đời sốngxã hội.Đặc biệt, chúng ta đangnỗlực xây dựng nhànƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Muốn xây dựng thành công nhà nƣớc pháp quyền thì bên cạnh việc ban hành một hệ thốngpháp luật đầy đủ, đồngbộ, điều quan trọng hơn là phải làmthếnào đểđƣa pháp luật vào thực tếđời sống xã hội,đểmọi thành viên trong xã hội, nhất là đội ngũ cán bộ,công chức hành chính, am hiểu các nguyên tắc, quy định pháp luật;từđó,sửdụng pháp luật nhƣ một côngcụđểbảo vệ

lợi ích của Nhà nƣớc, của tập thể và của mỗi công dân. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ,công chức hành chính đƣợc trangbịkiến thức mới, có tƣ duy mới, nhất là kiến thức pháp luật để đảm nhiệm công tác quản lý nhà nƣớc, giải quyết công việc có hiệu quả. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trungƣơng Đảngkhóa X đã chỉ rõ nhiệmvụ cơbản, bức xúc: “Xây dựng đội ngũ cán bộcó năng lực tổchức và vận độngnhân dân thực hiện đƣờnglối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dƣỡng, giải quyết đồng bộ chính sáchđối với cán bộ”.Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó,một trong những nhiệmvụcấp bách hiện nay là phải đƣa pháp luật vào đời sống xã hội mà khâu trung gian vô cùng quan trọng chính là đội ngũ cán bộ, công chức

1

hành chính; phải nâng cao trình độkiến thức, hiểu biết pháp luật cho đội ngũ cán bộnày. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nêu trên thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, cán bộ, công chức hành chính là khâu chủ yếu thực hiện chủ trƣơng,

đƣờnglối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc phải đƣợc cán bộ, công chức hành chính triển khai thì mới có thể đi vào trongđời sống xã hội.Họlà những ngƣời trực tiếp chuyển “pháp luật trên giấy tờ” thành “pháp luật trong hành động”.Vì vậy,đội ngũ cán bộ,công chức hành chính phải đƣợc trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật và có ý thức pháp luật ở trình độ cao để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Thứhai, trình độdân trí nói chung, dân trívềpháp luật nói riêng trong xã hội ngày càng đƣợc nâng cao, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức hành chính càng phải cókiến thức, hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật ở trình độ cao thì mới đáp ứngđƣợc yêu cầu giải quyết công việc hành chính – công vụ của mình tốt hơn.

Trong khi đó,đội ngũ cán bộ,công chức hành chính ởnƣớc ta hiện nay còn nhiều mặt chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xãhội chủnghĩa. Trình độkiến thức, hiểu biết pháp luật của họcòn có những hạn chế, bất cập, chƣa theo kịp và chƣa đƣợc nâng tầm tƣơngxứng với sự đổi mới của hệ thống pháp luật. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, một số mặt trái của nó đang bộc lộ,nhƣchủnghĩa thực dụng; các tệnạnxã hội; một bộphận cánbộ,công chức đã thoái hóa, biến chất trƣớc những cám dỗ về lợi ích vật chất. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIIIđã nhận định:“Đội ngũ cán bộ,công chức nhìn chung chƣa ngang tầm nhiệmvụ,một bộ phậnkhông nhỏ đã bị thoái hoá, biến chất, chƣa đáp ứng đƣợc các yêu cầu quản lý nhà nƣớctrong thời kì mới” [22]. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự hạn chế về năng lực tƣ duy độc lập, về trình độ quản lí, thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật; đồng thời, chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nƣớc chƣa kịp thời và phù hợp. “Đội ngũ cán bộ tuy đông nhƣng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu. Trình độkiến thức, năng lực lãnh đạo và quản lí chƣa đáp ứngđƣợc yêu cầu nhiệm vụ mới” [23].

Thực trạng trên đây đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội bằng pháp luật,ảnh hƣởngtiêu cực tới tiến trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam, tới quá trình cải cách hành chính nhà nƣớc.Đặc biệt,nó đã và đang

2

tạo ra dƣ luận xã hội bứcxúc trong quần chúng nhân dân, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối vởi hiệu lực, hiệu quảcủa bộmáy hành chính nhà nƣớc.Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫnđến tình trạng trên là do trìnhđộkiến thức, hiểu biết pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức hành chính còn nhiều hạn chế. Giáo dục pháp luật cho cánbộ,công chức hành chính là một biện pháp hữu

hiệu nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính; góp phần bảo đảm cho nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật có hiệu quả, xây dựngđội ngũ cán bộ,công chức hành chính trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nƣớc ta trong thời gian qua còn bộc lộnhững hạn chế, yếu kém trên nhiều mặt,từnội dung, hình thức chođến phƣơng pháp giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính

chƣa đƣợc đặt ngangtầmvới yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, chƣa đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục và đồng bộ; giáo dục chƣa có trọng tâm, trọng điểm, chƣa có sựphối kết hợp giữa các cơ quan,tổchức, giữa các cấp, các ngành. Do vậy, hiệu quả giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính còn nhiều hạn chế. Tình hình trên đòi hỏi nhà nƣớc phải tăngcƣờngcông tác giáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính, trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật cho họ; giúp họ biết cách giải quyết công việc phù hợp với yêu cầu của pháp luật trong khi thực thi côngvụ.

Xây dựng nền hành chính Việt Nam trong sạch, vững mạnh, hiện đại và vì dân là một tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam. Nền hành chính đó đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, công chức hành chính khôngchỉvững vàngvềbản lĩnh chính trị, có đạođứcnghề nghiệp trong sáng, lối sống lành mạnh, mà còn phải có kiến thức, hiểu biết pháp luật ở trình độ cao và tinh thông chuyên môn nghiệp vụ. Việc xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dânđòi hỏi phải chăm lo, đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức hành chính cả về số

lƣợngvà chất lƣợng.

Xuất phát từ tình hình trên, tôi nhận thấy việc xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức hành chính,đặcbiệt là công tác giáo dục pháp luật chohọlà một yêu cầu khách quan, cấp thiết trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vì vậy,việc chọn đề tài “Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức

3

hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam” làmđề tàiluận án là đáp ứng yêu cầu đặt ra hiện nay cả về lý luận và thực tiễn.

2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích củaluận án là làm rõ cảvềphƣơng diện lý luận và thực tiễn vấn đềgiáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính trongđiều kiện xây dựng Nhà

nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta, chỉ ra nhữngbất cập của hoạt độngđó,nguyên nhân của nó để trên cơsở đó,đƣa ra quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Để hoàn thành mục đích đặt ra, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

Một là, phân tích chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; mục đích, mục tiêu,chủthể,đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp và hình thức giáo dục pháp luật chođội ngũ cán bộ, công chức hành chính và những nét đặc thù của nó.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức hành chính – một đối tƣợng đặc biệt, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó; các yếu tố ảnhhƣởngđến hoạt độnggiáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chínhở nƣớc tahiện nay.

Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận án

Từgóc độLuật học, phạm vi nghiên cứu của luận ánchỉgiới hạn trong việc phân tích lý luận và thực tiễn vấn đềgiáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính; luận chứng thực trạng giáo dục pháp luật cho cánbộ,công chức hành chính ở

nƣớc ta hiện nay và đề xuất quản điểm, một số giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đối tƣợngnghiên cứu của luận án là giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trongđiều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

nghĩa Việt Nam. Cán bộ, công chức hành chính mà luận án khảo sát, đánh giá gồm cán bộ, công chức đang làm việc tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc thuộc 4 cấp: trung ƣơng, tỉnh, huyện và xã.

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử về lý luận nhận thức; tƣtƣởngHồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa,về vấn đề xây dựngđội ngũcán bộ, công chức,vềvai trò của giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính nói riêng. Bên cạnh đó, các quan điểm, quan niệm, kết quảnghiên cứu trên phƣơng diện lý luận và thực tiễn vềgiáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật cho cánbộ,công chức hành chính của các tácgiảtrong và ngoài nƣớc cũng là cơ sở lý luận quan trọng của luận án.

Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, khái quát hóa,hệthống hóa…đểnghiên cứu các vấn đềlý luận: khái niệm, mục tiêu,chủthể,đối tƣợng, nội dung,

phƣơng pháp và hình thức giáo dụcpháp luật cho đội ngũ cán bộ,công chức hành chính; sử dụng phƣơng pháp điều tra xã hội học (phƣơng pháp ankét và phƣơng pháp phỏng vấn) để thu thập các thông tin, số liệu thực tế phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu và luận chứng tính khả thi của các giải pháp mà luận án đề xuất.

5. Đóng góp mới của luận án

– Luận án đề cập và phân tích tƣơng đối toàn diện, có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cả về phƣơng diện lý luận và thực tiễn.

– Luận án đã phân biệt giáo dục ý thức pháp luật với giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính.

– Luận án góp phần làm rõ khái niệm mục đích, mục tiêu của giáo dục pháp luật, phân biệt rõ phƣơng pháp giáo dục pháp luật với hình thức giáo dục pháp luật; đƣa ra các tiêu chíđể xác định,phân loại chủ thể, đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp và hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chínhđáp ứngyêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5

– Luận án chỉra những nét đặc thùvềchủthể,đối tƣợng,nộidung, phƣơng pháp và hình thức giáo dụcpháp luật cho cánbộ,công chức hành chính, làm sángtỏnhững yêu cầu khách quan của việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính; từ đó, hình thành quan niệm mới về giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc.

– Tác giả luận án đã tiến hành điều tra xãhội học với đối tƣợnglà cán bộ, công chức hành chính đang công tác tại các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc thuộc 30 tỉnh, thànhphốtrực thuộc trung ƣơngđểthu thập các thông tin,sốliệu thực tế phục vụcho việc đánh giá thực trạng, các nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hoạt độnggiáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính – điều mà các luận án trƣớc đây chƣa làmđƣợc.

– Luận án nêu lên các quan điểm và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đềcập và phân tích một trong những vấn đềcótầmquan trọng và cótính cấp thiết nhƣng chƣa đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống- vấn đềgiáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính trongđiều kiện xây dựng Nhà

nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính trongđiều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam; góp phần làm rõ mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp và hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính.

Với những kết quảđạt đƣợc,luận án có thểdùng làm tài liệu tham khảo phục vụcho việc nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận nhà nƣớcvà pháp luật; dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trƣờng đào tạo cán bộ, công chức hành chính, nhƣHọc viện Hành chính, các Trƣờng Chính trịtỉnh… Luận án còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng các tiêu chícụthểđểkhảo sát, đánh giá vềmục tiêu,nộidung,

phƣơng pháp và hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính phục vụviệc đổi mới,nâng cao chất lƣợngcủa hoạt độngnày; xây dựng chƣơng trình giáo dục – đào tạo pháp luật cho từngđối tƣợngcán bộ, công chức hành chính nhà nƣớc.

6

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục các công trình của tácgiảđã côngbốcó liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, 8 tiết.

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài.

Chương 2: Cơsởlý luận của việc giáo dục pháp luật cho cán bộ,công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chương 3: Thực trạng kiến thức, hiểu biết pháp luật của cán bộ,công chức

hành chính và giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở nƣớc ta hiện nay.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục pháp luật chođội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Về giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức ởnƣớc ta trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ởnhững cấp độ,phƣơng diện khác nhau. Các công trình nghiên cứu đó đƣợc nhóm thành các nội dung sau:

1.1. VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO CÁC ĐỐI TƢỢNGNÓI CHUNG, CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NÓI RIÊNG

1.2. VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ NỀN HÀNH CHÍNH-CÔNG VỤ

13

1.3. VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

16

Kết luận chƣơng 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, nếu đặt các vấn đề giáo dục pháp luật, vấn đề đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và vấn đề xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách riêng rẽ, tách biệt với nhau thì chúng đều đã đƣợc các nhànghiên cứu đề cập, phân tích tƣơng đối kỹ lƣỡng, thấu đáo và tác giảluận án hầunhƣ không còn vấn đềgi đểbàn luận. Tuy nhiên,nếuxâu chuỗi các vấn đề nêu trên trong một đề tài luận án tiến sĩ luật học “Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,thì lại dễ dàng nhận thấy rằng, các công trình nghiên cứu từ

trƣớc đến nay mới chủ yếu đề cập vấn đề giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức nói chung mà chƣa đi sâu vào vấn đềgiáo dục pháp luật cho riêngđội ngũ cán bộ,công chức hành chính. Hơn nữa,đặtvấn đềgiáo dục pháp luật cho độingũ cán bộ,công chức hành chính trong bối cảnh, điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam thì lại cànglà vấn đề mới,còn bị bỏ ngỏ.

Nhƣ vậy, có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chƣa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả mặt lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ,công chức hành chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề nêu trên làmđềtài luận án tiến sĩ với hy vọng góp một phần công sức vào việc nghiên cứu những khía cạnh còn mới mẻ này.

17

Chƣơng 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ

NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2.1. NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚIGIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN

2.1.1. KHÁI QUÁT CÁC ĐẶC TRƢNG CỦA NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Đểthấy đƣợcnhững yêu cầucủagiáo dục pháp luật cho độingũ cán bộ,công chức hành chính trong nhà nƣớc pháp quyền, trƣớc hết,cần thấy đƣợc nhữngđặc trƣng của nhà nƣớc pháp quyền. Vì vậy, trong phần này, luận án tập trung phân tích các đặc

trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam. Mặc dù còn có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về nhà nƣớc pháp quyền, nhƣng trên bình diện chung, nhiều học giả, nhà nghiên cứu thừa nhận và thống nhất ba điểm sau:

Trước hết, cần phải nhận thấy rằng, nhà nƣớc pháp quyền không phải là một kiểu nhà nƣớc trong lịch sử,mà nó là một phƣơng thức tổchức quyền lực xã hội. Trong lịch sử xã hội có giai cấp, giai cấp thốngtrịvà luật pháp đồng nghĩa với nhau, luật pháp đơn giản chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Bƣớc đầu tiên để thoát khỏi chếđộchuyên chếlà khái niệm pháp quyền,kểcảnhữngkẻthốngtrịcũng phải tuânthủtheo pháp luật và cai trị bằng các công cụ pháp luật. Các nền dân chủ đi xa hơn bằng cách xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Và cólẽ ứng dụngquan trọng nhất của nhà nƣớc pháp quyền hiện nay là nguyên tắc chính quyền chỉ thực thi quyền hành một cách hợp pháp theo các luật đƣợc soạn thảo ra và phát hành rộng rãi. Những luật đó đƣợc thực thi theo đúng các bƣớc đƣợc gọi là thủtục pháp lý. Nguyên tắc này nhằm mục đích ngăn ngừa sựcai trịđộc đoán dù cho đó là lãnh đạo chuyên quyền hay quần chúng lãnh đạo.

Thứhai, trong lịch sửcác học thuyết chính trị- pháp lý, khái niệm nhà nƣớc pháp quyền đƣợc các nhà nghiên cứu dùng theo nghĩa đối lập với các thể chế chính trịchuyên quyền,độc đoánhay thần quyền… đã từng tồn tại và hiện giờ vẫn còn tồn tại. Trong hơn 200 quốc gia trên thế giới, đến nay mới chỉ có một số nƣớc tổ chức theo mô

18

hình nhà nƣớc pháp quyền, cònđại bộphận các quốc gia vẫn chƣa tổchức theo môhình này. Một trong những nhà nƣớc đƣợc mệnh danh là có nhiều đặc tính của nhà

nƣớc pháp quyền nhất là nƣớc Mỹ. Theo“Các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền” của Bộngoại giao Hoa Kỳthì “pháp quyền có nghĩa là không một cá nhân nào, dù tổng thống hay công dân,đƣợc đứngtrên luật pháp. Các chínhphủdân chủthực thi quyền lực bằng luật pháp và bản thân cũng phải chịu những hạn chế của luật pháp”.

Thứba, xét trên phƣơng diện ngữnghĩa,cụmtừnhà nƣớc pháp quyền bắt nguồn từtiếngĐức là Reichstag – dùngđểchỉhội đồnglập pháp Đức.Thuật ngữReichstag đƣợc ghép bởi hai từ: Reich – có nghĩa là đế chế hay vƣơng quốc; và Tag cónghĩa là nghị viện hay hội đồnglập pháp. Nhƣ vậy, theo nghĩa gốc, nhà nƣớc pháp quyền là khái niệm chính trị – pháp lý dùng để chỉ bất cứ quốc gia lập hiến nào, nghĩa là quốc gia xây dựng thể chế chính trị bằng con đƣờng dân chủ trên cơsở cómột hiến pháp thểhiệnýchícủanhân dân, bảo đảmcác quyền bìnhđẳng,tựdo, dânchủcủa công dân. Theo nghĩa này, hiến pháp là dấu hiệu cơ bản đểnhận biết nhà nƣớc pháp quyền. Với nội dung này, nhà nƣớc pháp quyền là giá trị phổ biến đối với nhiều kiểu nhà nƣớc tiến bộ, dođó,có thể hiện diện trong các kiểu nhà nƣớc khác nhau (dĩ nhiên, sẽ bị biến đổi ít nhiều cho phù hợp với các đặc điểm lịch sử, văn hóa, truyền thống… của mỗi nƣớc). Không có nhà nƣớcpháp quyền chung chung hay trừu tƣợng, mà tồn tại nhà nƣớc pháp quyền tƣ sản và nhà nƣớc pháp quyền xã hội hội nghĩa. Với ý nghĩa này, các hình thức phát triển lịch sử – cụ thể của nhà nƣớc pháp quyền đƣợc diễn đạt

nhƣ những tầng bậc kế tiếp nhau, cái nọ dẫn xuất sang cái kia theo cách thức: cái sau bao hàm cả cái trƣớc dƣới dạng lột bỏ và nội dung sau này đã đƣợc nâng lên một bƣớc mới về chất, phong phú hơn, tiến bộ hơn và hoàn thiện hơn so với cái ban đầu.

Về nội dung của nhà nƣớc pháp quyền, cho đến nay, vẫn còn một số điểm chƣa thống nhất, thể hiện qua một tập hợp đa dạng các định nghĩa về nhà nƣớc pháp quyền

đƣợc đăngtải trên các sách, báo, tạp chí trong nƣớc và ngoài nƣớc. Mặc dù quan điểm về nhà nƣớc pháp quyền có khác nhau, song nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận nhữngđặc trƣng cơ bản -phổbiếncủanhànƣớc pháp quyền: tính tốicao của pháp luật; phân công quyền lực trong sự chế ƣớc lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, tƣpháp và hành pháp; sự hiện diện của một nền dân chủ; các quyền cơ bản của con ngƣời

19

luôn đƣợc tôn trọng và đềcao; năng lực giải quyết đúngđắn mối quan hệgiữa cácđiều ƣớc quốc tế và pháp luật quốc gia.

Từsựkhái quát các quan niệm hiện đại vềnhà nƣớc pháp quyền, có thểđịnh nghĩa: nhà nước pháp quyền là một hình thức (phương thức) tổchức và thực hiện quyền lực – mà quyền lực đóthuộc vềnhân dân, dựa trên các nguyên tắc phục tùng tính tối cao của pháp luật, phân công quyền lực, nền dân chủ, công bằng; nhằm mục đích bảo vệ tối đa chủ quyền của nhân dân.

Nhà nƣớc pháp quyền không phải là đặc trƣng riêng có của xã hội tƣ sản, mà làmột nhu cầu tất yếu, khách quan, phổ biến của bất kỳ một xã hội nào khi đã phát triển đến trình độ lấy sự phụ thuộc lẫn nhau làm phƣơng thức tồn tại. Mỗi nhà nƣớc lại có cách thức xây dựng mô hình nhà nƣớc pháp quyền khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện đặc thù về lịch sử, văn hóa, truyền thống, kinh tế hay chính trị của nó. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có những đặc trƣng cơ bản riêng. Có thểcòn những quan niệm,định nghĩa khác nhau vềNhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa. Chúng tôi sử dụng khái niệm Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa đƣợc nêu trong bài phát biểu của đồngchí Trần Đức Lƣơng – nguyên Chủtịch nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã dẫn trong phần Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài).

Trong công cuộc đổi mới,mởcửa, hội nhập kinh tếkhu vực và quốc tế,việc xác định Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đƣợc xây dựng, tổ chức và vận hành theo thể chế Nhà nƣớc pháp quyền đã đƣợc Đảng ta đề cập từ lâu.Bắt đầu từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01/1994), khi sử dụng khái niệm Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa,Đảngta đã khẳngđịnh rằng, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền là một điều kiện không thể thiếu để phát triển nền dânchủthực sựvì nhân dân. Tiếp theo, trong văn kiện Đại hộiIX,Đảngta đãkhẳngđịnh:

“Nhà nƣớc ta là côngcụchủyếu đểthực hiện quyền làmchủcủa nhân dân, là Nhà

nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân” [24, tr.48]. Hiến pháp (sửa đổi năm 2001)đã ghi nhận: “Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sựphân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ

20

pháp” [51, tr.178]. Trong văn kiện Đại hội X cũngđã ghi rõ: “Nhà nƣớc ta là Nhà

nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhànƣớc,bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nƣớc đều thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp” [26, tr.45].

Trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam đƣợc thực hiện trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc mang đặc trƣng riêng. Từthực tiễn nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của nhà nƣớc pháp quyền nói chung và từ thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xãhội chủnghĩa ởnƣớc ta,Đảngta đãkhái quát nămđặc trƣng cơ bản củaNhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhƣ sau:

– Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nƣớc đều thuộc về nhân dân.Với đặc

trƣng này,Đảngta khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội công dân trên con đƣờngxây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa.Bởivì,chỉxuất phát từgóc độ xã hội công dân mới hiểu thấu đáo mệnh đề “nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Nếu “phiên dịch” mệnh đề trên theo “ngôn ngữ” của xã hội công dân thì nó có nghĩa là: quyền lực nhà nƣớc là do nhân dân đóng góp chủ quyền tuyệt đối của mình mà thành (của nhân dân); nhân dân áp đặt ý chí chung của mình lên nhà

nƣớc và nhà nƣớc, bất luận thế nào, phải thuận theo ý chí của nhân dân (do nhân dân -đồngnghĩa với một nền dân chủ); và nhà nƣớc,cùng với hệthống pháp luật của nó, không có mục tiêu nào khác hơn là bảo vệvà tạo mọi điều kiện có thểcho sựphát triển tối đa mọi giá trị nhân văn của các cá nhân và cộng đồng (vì nhân dân).

– Nhà nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thƣợng trong điều chỉnh các quan hệthuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

– Nhà nƣớc tôn trọng và bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nƣớc và công dân; thực hành dân chủ,đồngthời tăng

cƣờngkỷ cƣơng, kỷ luật.

– Quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sựphân công rành mạch và phối hợp chặt chẽgiữa các cơ quan nhà nƣớctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành

21

pháp và tƣ pháp. Đó là sự phân công và phối hợp trên cơ sở tổ chức laođộng(quyền lực) khoa học đểtránhsựtrùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của bộ máy nhà nƣớc trong quá trình thực thi quyền lực mà nhân dân trao cho.

– Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo,đồngthời bảo đảm sựgiám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

2.1.2. CÁC YÊU CẦU ĐỐIVỚIGIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘINGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ

NƢỚC PHÁP QUYỀN

Nhữngđặc trƣng cơbảncủa Nhànƣớcpháp quyền đãvà đangđặt ra cho bộmáy nhà nƣớc những nhiệm vụ to lớn và cấp bách trong tổ chức, hoạt động. Đó không chỉ là cải cách nền hành chính quốc gia theo hƣớng dân chủ, chuyên nghiệp,hiện đại hóa,hoạt độngcó hiệu lực, hiệu quả theo đúng nguyên tắc, quyđịnhcủa pháp luật; màcòn là xây dựngđội ngũ cán bộ,công chức hành chính trong sạch vững mạnh, có đủphẩm chất và năng lực công tác để họ thực sự trở thành “côngbộc” của dân,đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàphát triển đất nƣớc trong thời kỳ mới. Cần nhận diện nhà nƣớc pháp quyền từ phƣơng diện của nềnhành chính quốc gia.Đâylà lĩnh vực hoạt độngliên quan trực tiếp,

thƣờng xuyên nhất đến mọi cá nhân,tổchức và xã hội, diễn ra liên tục trong mọi không gian và thời gian, sôi động hơn rất nhiều so với hoạt động lập pháp và tƣ pháp. Năng lực, tinh nhuệ, tiết kiệm, hợp pháp, hợp lý và hiệu quả, giải quyết, phản ứng một cách kịp thời, nhanh chóng các vấn đề nảy sinh trong xã hội – đó là những tiêu chí,tốchất cơ bản nhất của nền hành chính trong nhà nƣớc pháp quyền. Những tố chất cơ bản đó,suy cho cùng,đƣợc thểhiện ra thông qua đội ngũ cán bộ,công chức hành chính. Họ chính là khâu trung gian gắn kết đƣờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc pháp quyền với thực tiễn cuộc sống.Mọichính sách, pháp luật củaNhànƣớc pháp quyền phải đƣợc cánbộ, công chức hành chính triển khai, hiện thực hóa thì mới có thể đi vào lòng dân, vào đời sống xã hội đƣợc.Cán bộ,công chức hành chính trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa là những ngƣời trực tiếp chuyển “pháp luật trên giấy tờ”

22

thành “pháp luật trong hành động”.Để thực hiện tốt nhiệm vụ này thì đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải có một trình độ kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật, có kỹnăng vận dụng pháp luật vào quá trình giải quyết các công việc chuyên môn, nghiệp vụ. Điều đó có nghĩa là phải đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũcán bộ, công chức hành chính trong tiến trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quá trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang đặt ra cho công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính các yêu cầu cơ bản sau:

Thứnhất, trong giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải luôn nhấn mạnh tầm quan trọng và tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hộichủnghĩa Việt Nam. Thông qua giáo dục pháp luật,cầnphải giúp cho cán bộ, công chức hành chức nhận thức sâu sắc rằng, công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nƣớc ta hiện nay đòi hỏi chúng ta phải xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đòi hỏi đó là mang tính tất yếu, là tổ hợp của nhiều nhu cầu mà trên thực tế, các nhu cầu đó đan xen vào nhau.

Nhu cầu thời đại đòi hỏi chúng ta phải xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại toàn cầu hóa. Toàn cầu hóađã và đang làm gia tăngsựphụthuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,đã kích hoạt sựphát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin, sự thâm nhập lẫn nhau của các nền kinh tế, những tích tụ về ô nhiễm hệ sinh thái đang đạt tới mức độ bùng phát buộc các cá nhân và các cộng đồng phải liên kết lại với nhau để tồn vong, nghĩa là tồn tại trong sự tƣơng tác vàphụ thuộc lẫn nhau. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều nhận thức đƣợc rằng, toàn cầu hóa không chỉ đem lại các cơ hội, mà cả những thách thức nữa. Mối quan ngại lớn nhất ởđây là việc phải giải quyết nhƣthếnào mối quan hệgiữa tính địa phƣơng vàtính toàn cầu, dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực cai trị.

Vấn đề đặt ra cho các nhà nƣớc hiện nay là thay đổi phƣơng thức cai trị nhƣthếnào đểcó thểthích nghi đƣợc với môi trƣờng toàn cầu hóa. Tuy nhiên, bản chất của

phƣơng thức cai trị tƣơng lai, bất luận chúng tồn tại dƣới hình thức nào, thì về nguyên tắc, vẫn phải chứa đựngcác chuẩn mực cơ bản của nhà nƣớc pháp quyền. Hiện nay, nhiều yếu tốcủa nhà nƣớc pháp quyền đã đƣợc vận dụng vào việc xây dựng các thể

23

chế cai trị thích nghi với điều kiện toàn cầu hóa. Những yếu tố đó là tính phổ biến của các chuẩn mực pháp luật, nền dân chủ, tính chất quyền lựcnhànƣớc thuộcvềnhân dân, sự phân công, phân cấp quyền lực và tinh thần nhân văn của pháp luật (công bằng, bình đẳng,nhân quyền). Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khuôn khổứngdụng của nhà

nƣớc pháp quyền chẳng những khôngbịthu hẹp lại, mà còn đƣợc nhân rộng ra dƣới nhiều hình thức mới.

Khuynh hƣớngphát triển của nhànƣớc pháp quyền hiện nay làvƣợt ra khỏi khuôn khổ quốc gia để bao trùm lĩnh vực quan hệ quốc tế. Điều đó cũng có nghĩa là,đểcó thểhội nhập đƣợc với môi trƣờng toàn cầu thì mỗi quốc gia phải xây dựng vàcủngcốthểchếnhà nƣớc pháp quyền đểlàm cầu nối pháp lý giữa môi trƣờng bên trong lãnh thổvới môi trƣờng quốc tếbên ngoài. Là một thành viên của cộngđồng quốc tế, Việt Namlẽ đƣơngnhiên không thể đứng ngoài tiến trình này.

Việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam xuất phát từnhu cầu quản lý nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.Nƣớc ta từ quá độđi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quachế độ tƣbản chủ nghĩa,từ một xãhội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lƣợngsản xuất ởtrình độthấp, lại phải trải qua hàng chục năm chiến tranh tàn khốc, hậu quả để lại còn nặng nề. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp vốn phát huy đƣợc vai trò tích cực của nó trong thời kỳ chiến tranh, góp phần huy động tối đa sức ngƣời, sức của phục vụ cho sự nghiệp thống nhất đất nƣớc, nhƣng đến thời kỳ hòa bình tỏ ra không còn phù hợp.

Từ năm 1986, Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện,từ

tƣ duy đếnhoạt độngthực tiễn, chuyển từnền kinh tếkếhoạch hóa sangnềnkinh tếvận hành theo cơ chế kinh tế thị trƣờng đã tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Việc xây dựng, quản lý nền kinh tế thị trƣờngđịnh hƣớng xã hội chủnghĩa đòi hỏi phải xây dựng và ban hành mộthệthống pháp luật toàn diện,đồngbộ, phù hợp và kịp thời, phải đềcao vai trò tối thƣợng của pháp luật nhằmđảmbảo các quyền về tƣ hữu, tạo sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh

tế, xây dựng môi trƣờng ổn định và thuận lợi cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh. Việc đáp ứng các nhu cầu đó đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

24

Việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn xuất phát từnhu cầu quản lý,định hƣớngvà điều tiết xã hội theo hƣởngphát triển bền vững. Pháp luật do nhà nƣớc xây dựng, ban hành là nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ các lợi ích của nhà nƣớc, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân,định hƣớngcho hành vi pháp luật của mỗi ngƣời. Nói cách khác, pháp luật là côngcụduy trì trật tự xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành và phát triển theo đúng định hƣớng,

đƣờnglối hay quỹđạo mà nhà nƣớc đã xácđịnh.Nhà nƣớcpháp quyền xã hộichủnghĩa Việt Nam với bản chất là nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân chính là nhân tố không thể thiếu trongviệc đảm bảo sự ổn địnhchính trị, giữ vững kỷ

cƣơng, phép nƣớc,tạo điều kiện cho ngƣời dân thực hành các quyền tựdo, dân chủ,

hƣớngtới xây dựng một đất nƣớc dân giàu,nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hƣớngxã hội chủnghĩa.Đó đồngthời cũng là những phẩm chất đảm bảo cho xã hội phát triển theo hƣớng bền vững.

Thứ hai, trong quá trình giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải luôn nhấn mạnh tính tối cao của pháp luật – một đặc trƣng cơ bản của Nhà

nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa. Cần phải giáo dục cho cán bộ,công chức hành chính hiểu rằng, Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa xây dựng và ban hành hệthống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thực hiện quản lý nhà nƣớc và quản lý xã hội bằng pháp luật. Trong Nhà nƣớc pháp quyền, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực cao nhất; các bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải phù hợp với các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp. Không một cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào có thể đứng ngoài hay đứng trên pháp luật.Bất kể làai, dù đang giữ cƣơng vị gì trong bộmáy quyền lực của Nhà nƣớc pháp quyền, nếu vi phạm pháp luật thìđều phải bị xử lý theo luật định. Đó chính là nguyên tắc tính tối cao của pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền xã hộichủnghĩa.Sựnhận thức sâu sắc nguyên tắc này lànềntảngđểđội ngũ cán bộ, công chức hành chính nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao các nguyên

tắc, quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc chuyên môn.

Thứ ba, trong quá trình giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải luôn nhấn mạnh nguyên tắc phân công quyền lực trong sự chế ƣớc lẫn nhau giữa các quyền lập pháp, tƣ pháp và hành pháp trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa. Sự phânquyền ở đâychỉ có nghĩa là sự phân biệt giữa các chức năng của quyền

25

lực nhà nƣớc nhằmđảmbảo sao cho không có một cơ quan nào khôngbịràng buộc bởi pháp luật, không có cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan khác; nói cách khác, không có cơ quan nào nắmđƣợc trọn vẹn quyền lực nhà nƣớc. Còn trong bản chất, quyền lực của nhân dân là thống nhất. Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính phải đƣợc quán triệt và thấu hiểu rằng, Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủnghĩa không coi bản thân nhà nƣớc là quyền lực, mà Nhà nƣớc pháp quyền chỉ là công cụ thực hiện quyền lực. Khi thiết lập nhà nƣớc, nhân dân ủy quyền cho nhà nƣớc thực hiện quyền lực của mình, còn bản thân nhân dân giữ lại quyền quyết định số phận của nhà nƣớc.Để sử dụngsự uỷ quyền này vào đúng mục đích của nó, bộ máy nhà nƣớc nói chung, nền hành chính công vụ nói riêng phải đƣợc tổ chức một cách hợp lý.Điều đó cũng có nghĩa, trong Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải loại bỏnền hành chính caitrịvà chuyển hoàn toàn sang nền hành chính phục vụnhân dân.Đội ngũ cán bộ, công chức hành chính không phải là những “ông quan”, mà phải thực sự là “công bộc” của dân.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *