Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện Nghị quyết số08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của BộChính trịvềmột số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,địnhhướngđến năm2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, TTHSnước ta đã có nhiềusựchuyển biến tích cực. Theo đó,các quyđịnh pháp luật về TTHS được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, BLTTHS năm 2015 đãđược ban hành với những đổi mới cả về định hướng, nội dung và kỹ thuật lập pháp. Chất lượng hoạt động giải quyết vụ án hìnhsựtừng bước được nâng lên, việc tranh

tụngtại phiên tòa bước đầu đạt được một số kết quả tích cực; vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS ngày càng được quan tâm, hiệntượngoan, sai, vi phạm quyền con người được hạn chế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, TTHS Việt Nam vẫn đang bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cho thấy những sửađổi,bổ sung “nhỏ lẻ” các quy định pháp luật TTHSkhông đáp ứng được đầy đủ yêu cầu thực tiễn mà cần có sựđổi mới đồngbộ,toàn diện từviệc xác định và hoàn thiện mô hình tố tụng trongđó vấn đề quan trọng là xác định và phân biệt rõ các chức năng của TTHS.Sựphân biệt rõ hơn,độc lập hơn các chức năngtố tụng “làđảm bảo quan trọng cho tính dân chủ và tính tranh tụng của TTHS” [108].Từviệc xác định các chức năng của TTHS, vấn đề xác định chủ thể thực hiện từng loại chức năng cũng như quy định phù hợp về địa vị pháp lý của các chủ thể đó là một trong những nội dung quan trọng.

Tuy còn những quanđiểm khác biệt vềchức năng củaTTHS song nhìn chung phầnlớncác nghiêncứuđềuthống nhấtvềnhững chức năng cơbảncủa TTHS gồm: CNBT, chức năng gỡ tội (chức năng bào chữa) và chức năng xét xử. Trong đó, CNBT được coi là chức năng đóng vai trò chủ đạo, quyết định; không có sự buộc tội thì không thể có TTHS, TTHS sẽ trở thành không có mục đích vàđối tượng [137]. Cùng với việc xác định rõ các chức năng trong TTHS, cần phânđịnhcác chủthểTTHS theo chức năng tố tụng và quyđịnhđịa vịpháp lý của các bên để đảm bảo bên buộc tội, bên bào chữa bình đẳng trước Tòa án; Tòa án

2

là trọng tàiđộc lập, khách quan. Tuy nhiên,vấnđềvềchủthểTTHS nói chung và CTBT nói riêng trong TTHS Việt Nam còn nhiều bất cập cả về nhận thức vàquy định, áp dụng pháp luật.

Về mặt nhận thức, nhận thức về cơsởlý luận để phân định các chủ thể TTHS theo chức năngtố tụng chưa được làm rõ, vẫn còn nhiều e ngại về việc phân định các chủ thể theo các bên buộc tội, bào chữa và xét xử thay cho việc phân định theo vị thếtố tụng, bên THTT và bên tham gia tố tụng như hiện nay. Ngoài ra, nhận thức về CTBT trong TTHS Việt Nam còn nhiều điểmchưa thống nhất. Có quan điểm cho rằngchủthểthực hiện CNBT là CQĐT, VKS và Tòa án; quan điểmkhác lại cho rằng CTBT là VKS và Tòa án; lạicó quan điểmcho rằng CTBT bao gồm ba nhóm: nhómthứnhất là nhóm CTBT đểbảo vệlợi ích chung và nhân danh Nhànước được giao nhiệmvụđểbuộc tội(bao gồm CQĐT, VKS); nhóm thứhai lànhómchủthểbuộc tội đểbảo vệlợi ích của chính mình (gồm người bịhại hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ); và nhómthứba là nhóm phụcvụcho hai nhóm trên (bao gồm cơ quan giám định pháp y, kỹ thuật hình sự, cơ quan định giá…) [68, tr.21].

Từgóc độ lập pháp, do chưa có sự phân định rạch ròi các chức năng cơ bản của TTHS nên các chủ thể của TTHS nói chung và CTBT nói riêng chưa được xácđịnh gắn với chức năngtố tụng. Theo đó,các chủ thể của TTHS Việt Nam đang được chia thành hai nhóm: chủ thể THTT và chủ thể tham gia tố tụng. Sự phân chia này thể hiện quan điểmnhất quán về trách nhiệmxửlý tội phạm của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhànước.Trong đó, những gì liên quan đến tội phạm hầu nhưlà việc riêng, việcchủyếucủa cơ quan và người THTT. Trong phạm vi, thẩm quyềncủamình, cơ quan THTT vàngườiTHTT có toàn quyền áp dụng pháp luật TTHS đểthực hiện mụcđích TTHS và các cơ quan,tổchức,mọicông dân

(kể cả người tham gia tố tụng) hoặc trở thànhđối tượng tác động,hoặc trở thành đối tượng có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, có trách nhiệm phối hợp với các cơquan THTT,ngườiTHTT.Vớisựphânđịnhđó,ngườitham giatốtụng khôngđượcpháp luật ghi nhận những quyền cóthểđốitrọng vớicơ quan và người THTT nênsựyếuthếdường như nghiêng vềphíangườitham giatốtụng. Phân định các chủ thể tố tụng không gắn với chức năng tố tụng cũng dẫn đến sự không

3

rõ ràng, chồng chéo về chức năng giữa các chủ thể và trong tổng thể “không tạo được động cơ, động lực thúc đẩy hiệu quả của TTHS, nếu xét tiêu chí hiệu quả là xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, của công dân” [108]. Bên cạnh đó, do không xuất phát từchức năng của các nhóm chủ thể nên việc quy định địa vị pháp lý của các chủ thểcòn nhiều bất cập, chưa đảm bảo sự tương đồng về quyền, nghĩa vụ giữa các chủthể cùng thực hiện CNBT và sự bình đẳng giữa CTBT với chủ thể thực hiện chức năng bào chữa.

Hiện nay, nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” đã được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và BLTTHS năm 2015. Mặc dù vậy, BLTTHS năm 2015 vẫn phân loại các chủthểTTHS theo nhómchủthểTHTT và chủthểtham gia tốtụng mà chưa thểhiện rõ các bên tham gia tranh tụng theo các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử; chưa thể hiện sự bình đẳng giữa bên buộc tội – bên bào chữa và vai trò độc lập xét xử của Tòa án. Trong khi đó,đây là vấn đề có ýnghĩa quyết định để nguyên tắc tranh tụng thật sự có hiệu quả, tránh việc tranh tụng nửa vời bởi lẽ “để việc tranh tụng được thực hiện và thực hiện có hiệu quả, cần phải có các điều kiện khác nhau, một trong các điều kiện quan trọng là bên buộc tội vàbên bào chữa phải thực sự bình đẳng với nhau và Tòa ánphải độc lập,khách quanđảm bảo cho hai bên có các điều kiện như nhau để thực hiện chức năng của mình”

[9].Đặc biệt, trong xu thếhội nhập quốc tế,việc đềcao tranh tụng, bảo vệquyền con người trong hoạt động tư pháp, đặc biệt là tư pháp hìnhsự, càng cần được đặc biệt quan tâm.

Trong bối cảnh nêu trên, nghiên cứu làm rõ những vấn đềlý luận và thực tiễn về CTBT từ đó đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phân định rõ địa vịtốtụng, vai trò trách nhiệm của CTBT đồngthời đềxuất giải pháp để các CTBT thực hiện tốt hơn CNBT là nhu cầu cấp thiết. Đáp ứng nhu cầu này, trong thời gian vừa qua đã có một số công trình nghiên cứu đề cập những khía cạnh, mức độ khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau về vấn đề CTBT trong TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình, bài viết chủyếu đềcập tới vấn đềCTBT qua việc nghiên cứu về mô hình tố tụng, các chức năng của tố tụng, nguyên

tắc tranh tụng trong TTHS hoặc nghiêncứu về địa vị pháplý của một số CTBT cụ

4

thể(VKS, CQĐT) với tư cách là các cơ quan THTT. Các công trình, bài viết trực tiếp đềcập tới những vấn đềlý luận, thực tiễn vềCTBT không nhiều và chưa cócông trình nghiên cứu nào về vấn đề nàyở cấp độ luận án tiến sĩ(xin xem cụ thể vềtình hình nghiên cứu vấn đề CTBT trong TTHS Việt Nam ở Chương 1 của luận án). Vì vậy, NCS lựa chọn đề tài “Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình.

2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2.1. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đềtài “Chủthểbuộc tội trong tốtụng hình sựViệt Nam” là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về CTBT, thực trạng CTBT trong TTHS Việt Nam đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về CTBT.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

– Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận liên quan tới CTBT bao gồm: khái niệm,đặc điểmcủa CTBT, cơsởxuất hiện CTBT trong TTHS, nhận diện các CTBT trong TTHS Việt Nam và vai trò của mỗi CTBT trong việc thực hiện CNBT;

– Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về CTBT qua các thời kỳ;

– Đánh giá thực tiễn thực hiện hoạt động buộc tội của các CTBT trong TTHS Việt Nam.

– Xác định quanđiểmvà giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảhoạt động của CTBT trong TTHS Việt Nam.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến CTBT trong TTHS Việt Nam dưới góc độ luật TTHS với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Thực tiễn hoạt độngcủa các CTBT được đánh giá chủyếu trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm – nơi vai trò của CTBT được thể hiện rõ nét. Các sốliệu thống kêvềthực trạng hoạt độngcủaCQĐT, VKSđược lấy trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian 10 năm (2009 – 2018); riêngsốliệu đánh giá vềviệc thực hiện quyền buộc tội của bị hại, do hạn chế trong tiêu chí thống kê của các cơ quan THTT và khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin nên NCS đánh giá

5

trên cơ sở tham khảo số liệu của một số luận án có liên quan đã thực hiện và kết quảkhảo sát đối với 467 bản án được lựa chọn ngẫu nhiên trên trang công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao tại địa chỉ http://congbobanan.toaan.gov.vn.

3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật trong việc nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được NCSsử dụngbao gồm:

– Phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu về sự thay đổi phạm vi CTBT trong lịch sửTTHS (Chương 2) và quá trình hình thành, phát triển các quy định pháp luật về CTBT trong TTHS Việt Nam (Chương 3);

– Phương pháp thống kê đểthống kêsốliệu trong thực tiễn hoạtđộngcủa CTBT làm cơ sở cho việc đưa ra nhận xét, kết luận và kiến nghị hoàn thiện các quyđịnh của BLTTHS hiện hành về CTBT (Chương 3);

– Phương pháp so sánh đểđối chiếu, so sánh khi nghiên cứu, đánh giá quyđịnh vềCTBT trong TTHS Việt Nam qua các thời kỳvà thực tiễn hoạt độngcủa các CTBT trong các năm từ 2009 đến 2018 (Chương 3);

– Phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt các chương trong luận ánđể phân tích các tài liệu, số liệu liên quan đến luận án làm cơ sở cho việc đưa ra cácđánh giá, nhận định;

– Phương pháp tổng hợp để hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nội dung luận án (Chương 1); tổng hợp các vấn đềđã được nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và kết luận chung (Chương 2, Chương 3);

tổng hợp đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thểbuộc tội trong TTHS Việt Nam (Chương 4).

– Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng khi nghiên cứu, đánh giácác vấn đề thuộc phạm vi luận án thông qua việc nghiên cứu các ví dụ, tình huống điển hình (Chương 3).

4. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ về đề tài Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam. Những điểm mới cơ bản của luận án bao gồm:

– Luận án làm rõ nhữngvấn đề lý luậnvề CTBT trong TTHS nói chung vàTTHS Việt Nam nói riêng, đặc biệt là khái niệm, đặc điểm của chủ thể buộc tội; cơ

6

sở lý luận của việc phân định các chủ thể TTHS theo chức năng tố tụng; cơ sở xuất hiện CTBT trong TTHS; phạm vi CTBT và vai trò của mỗi CTBT trong TTHS Việt Nam trong việc thực hiện CNBT;

– Luận án phân tích đánh giá quy định của pháp luật TTHS Việt Nam vềCTBT và thực trạng thực hiện CNBT của các CTBT trong TTHS Việt Nam. So với các công trình nghiên cứu đã được côngbố,luận án đã cập nhật, đánh giá những quy định của BLTTHS 2015 về CTBT và thực trạng hoạt động của các CTBT đến năm 2018;

– Luận án đưa ra các giải pháp cụ thể và toàn diện nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động của các CTBT trong TTHS Việt Nam đặc biệt là các giải phảp hoàn thiện quy định pháp luậtvềCTBT từcấpđộchung là giải pháp nhằm phânđịnhrành mạch giữa CTBT với các chủ thể khác trong TTHS, hoàn thiện một số nguyên tắc trong TTHSđến cấp độcụthểlà hoàn thiện quy định vềđịa vịpháp lý của từng CTBT và một số quy định khác liên quan đến CTBT trong TTHS Việt Nam.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của Luận án đóng góp cho sự phát triển lý luận chung vềchủ thể TTHS đặc biệt là làm sâu sắc hơn các nghiên cứu lý luận đã có về nhóm chủthểthực hiện CNBT như khái niệm,đặc điểm,cơsởxuất hiện CTBT, phạm vi CTBT và vai trò của mỗi CTBT trong TTHS Việt Nam. Luận án sẽ là nguồn tư liệu có ý nghĩađể cáccá nhân, cơ quan hữu quan tham khảo, nghiên cứu trong quá trình sửa đổi,bổ sung các quy định của BLTTHS liên quan đến CTBT, là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu về chủ thể TTHS.

6. Kết cấu của luận án

Với dự định nghiên cứu nêu trên, kết cấu của luận án như sau:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận án gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Lý luận về chủ thể buộc tội trongtố tụnghình sự.

Chương 3: Thực trạng chủ thể buộc tội trongtố tụnghình sự Việt Nam. Chương 4: Quan điểmvà giải pháp góp phần nâng cao nâng cao hiệu quả

hoạt độngcủa chủ thể buộc tội trongtố tụnghình sự Việt Nam

 

Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Khái quát chung về tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quanđến đề tài luận án 1.2.1.1. Những vấn đề lý luận về chủ thể buộc tội

Trong các công trìnhđã công bố,nhiều vấn đềlý luận liên quan tới CTBT như chức năng tố tụng, mô hình tố tụng, các nguyên tắc cơ bản trong TTHS đã được

23

nghiên cứu một cách sâu sắc, là nền tảng vững chắc cho việc tiếp tục nghiên cứu vềCTBT trong luận án. Một số vấn đề liên quan trực tiếp đến CTBT cũngđã được đềcập trong các công trình song phần lớn không nghiên cứu trực diện vềCTBT màthông qua các nghiên cứu vềmô hình tốtụng, tranh tụng trong TTHS,chủthể

THTT… Trực tiếp về chủ thể TTHS, các nghiên cứu hiện tại đã tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau như tiếp cận theo truyền thống pháp luật, theo quan hệ pháp luật hoặc tiếp cận theo chức năng tố tụng. Trongđó,hướngtiếp cận theo chức năng tố

tụng có lẽ sẽ hợp lý hơn vì mỗi chức năng tố tụng sẽ do một hoặc một số chủ thể tố

tụngđảm nhiệm và chức năng của mỗi chủthểsẽquy định nhiệmvụ,quyền hạn của chủ thể đó [26, tr.31]. Từ hướng tiếp cận này, tác giả Nguyễn Duy Giảng đưa ra khái niệm “chủ thể tố tụng hình sự là những người tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụnghình sự, có địa vị pháp lý khác nhau, có quyền và nghĩa vụ khác nhau nhằm thực hiện các chức năng của TTHS” [26, tr.36]. Trực tiếpvềCTBT, tácgiảĐặng Văn Phượng đưa ra khái niệm:

CTBT là cơ quan hoặc cá nhân mà theo quyđịnhcủaluật TTHS,họlà người chịu trách nhiệm chính trong việc chứng minh, hướngtới mục đích đểTòa án ra một bản án công nhận rằng một người đã thực hiện một hành vi phạm tội và rõ ràng là có lỗi. Trên cơ sở đó cũngđồngthời thuyết phục Tòa án áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự tương xứng nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [68, tr.26].

Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được những đặc trưng của CTBT song chưa thể hiện được cách tiếp cận về CTBT theo CNBT trong mối quan hệ với các chức năng cơ bản khác của TTHS.

Về cơsở xuất hiện CTBT trong TTHS, nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã cho thấy ảnh hưởng có tính chi phối của việc lựa chọn mô hình tố tụng đối với việc xác định vai trò, chức năng của các chủ thể TTHS. Theo đó “mô hình TTHS là cách thức tổ chức và phương thức hoạt động của TTHS, cách thức tổ chức và phương thức hoạt động này sẽ quy địnhđịa vị pháplý của các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng cũng như động lực của các chủ thể ấy khi thực hiện chức năng tố

tụng được giao” [12, tr.37]. Các mô hình TTHS giống nhau ở một điểm là đều tồn tại ba chức năng TTHS cơ bản là CNBT, chức năng bào chữa và chức năng xét xử

24

nhưng điểm khác nhau là nhận thức về sự tồn tại các chức năng cơ bản, tổ chức vận hành các chức năng cơbản đó mà biểu hiện cụ thể nhất làxác định địa vị pháp lýcủa các chủthểtrong thực hiện các chức năng cơ bản củaTTHS [90, tr.42]. Các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử xuất phát từ nội tại của quá trình giải quyết vụ án hình sự và gắn liền với các chủ thể tương ứng cùng quyền hạn, trách nhiệm đểthực hiện các chức năng đó. Vì vậy cần có một khái niệm chung về các chủ thể của TTHS và luôn gắn với chức năng tố tụng [14, tr.94].

Trong số các chức năng cơ bản của TTHS, CNBT xuất hiện đầu tiên,mở đầu cho việc vận hành các chức năng tố tụng khác. Chức năng này là định hướng hoạt động tố tụng của nhóm chủ thể nhằm mục đích phát hiện tội phạm, chứng minh sựphạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc nghiên cứu về chức năng của TTHS nói chung và CNBT nói riêng rất có ý nghĩađểxác định các CTBT. Nhận thức đúngđắn,đầy đủ các chức năng tố tụng là cơsở để xác định vị trí,vai trò và phạm vi của từng chức năng trong sựvận hànhcủaTTHS, phânđịnh rõ ràng và hợp lýchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THTT, các cá nhân thực hiện chức năng TTHS, góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, không làm hết

chức năng,lẫnlộnchứcnăng…điều thườngđược thểhiện rõ trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm [10]. Tuy đã cơ bản thống nhất vềquan niệm chức năng TTHS, các chức năng cơ bản của TTHS song cho đến thời điểm này, do không tiếp cận trực diện vấn đề phân định chủ thể của TTHS, nên các nghiên cứu mới đặt vấn đề bước đầu mà chưa làm rõ cơ sở lý luận của việc phân chia các chủ thể TTHS theo các chức năng cơ bản của TTHS.

Vềphạm vi CTBT trong TTHS Việt Nam và vai trò của mỗi CTBT trong việc thực hiện CNBT, các công trình đã công bố về cơ bản đã thống nhất về vai tròbuộc tội của VKS;vềCQĐT còn có quan điểmkhác nhau rằng đây là CTBT hay chủthểthực hiện chức năngđiều tra trong TTHS; một sốnghiên cứu xác định bịhại, nguyên đơn dân sự là CTBT. Như vậy, chưa có quan điểm thống nhất về phạm vi CTBT trong TTHS Việt Nam. Vấn đề vai trò của mỗi CTBT, phạm vi, cách thức tham gia buộc tội của mỗi CTBT chưa được đề cập trong các công trình đã công bố.

Từgóc độnghiên cứu so sánh, các công trình nghiên cứu đã côngbố,đặc biệt là nghiên cứu ởnước ngoài,đã đềcập tới vấn đềCTBT chủyếu từgóc độ

25

nghiên cứu về hệ thống TTHS, mô hình TTHS của các nước; địa vị pháp lý của các CTBT cụ thể như Viện công tố; mối quan hệ giữa cơ quan công tố và CQĐT trong TTHS. Theo đó, phần lớn các nước trên thế giới không phân chia các chủ thể TTHS thành các chủ thể THTT và các chủ thể tham gia tố tụng như ở Việt Nam hiện nay mà phân định theo các chức năngtốtụngrấtrạch ròi. Theo đó,cảnh sát, côngtốthực hiện CNBT; người bị tình nghi, bị cáo, người bào chữa thực hiện chức năng gỡ

tội và tòa án thực hiện chức năng xét xử. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án sựphối hợp giữa bên buộc tội và bên gỡtội là khá chặt chẽ và thường xuyên, tòa án giữvai trò trung lập; tính công khai, công bằng trong TTHS được đề cao [26, tr.57- 58]. Những nghiên cứu vềCTBT trong pháp luật TTHS của các quốc gia rất có ýnghĩa đểtác giảluận án tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo cho việc hoàn thiện các vấn đề lý luận của luận án và định hướngcho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam.

1.2.1.2. Thực trạng chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong các công trình đã công bố, các tác giả đã có đánh giá nhất định về quyđịnh pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định vềCTBT trong TTHS Việt Nam. Theo đó,phần lớn các nghiên cứu đều thống nhất đánh giá quy định vềchủthểTTHS trong BLTTHS có một số hạn chế sau đây:

– Các chủ thể chưa được phân định theo chức năng tố tụng mà chia thành chủthểTHTT và chủthểtham gia tốtụng theo “vịthế” tốtụng, theo “dấu hiệu quyền lực nhà nước” [66, tr.61].

– Quy định vềđịa vịpháp lý của các chủthểnày còn nhiều bất cập, có sựchồng lấn giữa các chức năng và khôngđảm bảo bình đẳng giữa bên buộc tộivàbên gỡ tội; Tòa án không độc lập trong quá trình xét xử dẫn tới hệ quả là “không cótranh tụng hoặc tranh tụng nửa vời” [9].

– Việc phân định địa vị tố tụng giữa những người THTT thuộc CQĐT, VKS chưa rõ ràng, còn có sự chồng chéo giữa chức danh hành chính và chức danh tư pháp;

– Mối quan hệ giữa các chủ thể THTT thực hiện CNBT, đặc biệt là giữa VKS và CQĐT, chưa đươc quy định hợp lý [98, tr.113].

– Một số thủ tục tố tụng, đặc biệt là thủ tục tố tụng tại phiên tòa, chưa hợp lý, chưa phù hợp với vai trò của CTBT trong TTHS;

Thông qua các số liệu thống kê liên quan tới hoạt động của CQĐT, cơ quan

26

được giao nhiệmvụtiến hành một sốhoạt độngđiều tra, VKS và việc đảmbảo quyền của người bị hại, một số nghiên cứu đã đánh giá về hiệu quả thực hiện CNBT của các chủ thể này [26]. Theođó,bên cạnh những ưu điểm, hoạt động của CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đápứng được yêucầu nhiệm vụ; tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, vụán bị đình chỉ, người bị buộc tội được Tòa án tuyên không phạm tội còn xảy ra; vai trò buộc tội của người bị hại còn khá mờ nhạt.

1.2.1.3. Giải pháp nâng caohiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội trong tốtụng hình sự Việt Nam

Cho tới thời điểm này, trong các công trình đã công bố, các tác giả tập trung chủ yếu vào giải pháp hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số kiến nghị điển hình:

-Đề nghị sửa đổi BLTTHS năm 2003 bổ sung nguyên tắc tranh tụng vànguyên tắc suy đoán vô tội trong BLTTHS;

-Đề nghị sửa đổi nội dung nguyên tắc xác định sựthật vụ án quy định tạiĐiều 10 BLTTHS năm 2003 để thể hiện đúng chức năng của Tòa án là xét xử

– Đề xuất phân định rành mạch các chủ thể của TTHS theo các chức năng cơbản của TTHS: buộc tội, bào chữa, xét xử.Theo đó,CTBT gồmCQĐT, cơ quanđược giao tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, người bị hại;

– Sửa đổi BLTTHS theo hướng quy định phù hợp về địa vịpháp lý của các CTBT và một số chủ thể thực hiện các chức năng khác như chủ thể gỡ tội, Tòa ánđểđảmbảotách bạch giữa các chức năng cơ bản trong TTHS,đảmbảosựbìnhđẳnggiữa bên buộc tội với bên gỡ tội, đảm bảo tính độc lập của Tòa án khi xét xử;

– Sửa đổi quyđịnh vềcác CTBT thuộc CQĐT, VKS theo hướngchỉĐTV, KSV mới là CTBT; Thủtrưởng, Phó thủtrưởng CQĐT, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS khi tham gia tố tụng cũng với tư cách ĐTV, KSV;

– Sửa đổi các quy định về mối quan hệ giữa CQĐT và VKS đảm bảo các hoạt độngđiều tra gắn với hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng công tố, phục vụ cho việc buộc tội trước tòa án của VKS, chịu sự kiểm sát chặt chẽ của VKS.

Ngoài ra, trong một sốcông trình, các tác giảcũngđềcập tới những giải pháp khác như giải pháp đổimới tổchức, hoạt độngcủaCQĐT, của VKS; giải pháp nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức,năng lực trình độchuyên

27

môn của đội ngũ ĐTV, KSV.

Các giải pháp được đề cập trong những công trình nghiên cứu đã công bố cónhững điểm phù hợp với giải pháp mà tác giả luận án dự định đề xuất.Tuy nhiên, do phần lớn nghiên cứu đều được thực hiện trước khi ban hành BLTTHS năm 2015 nên một sốđiểmkhông còn phù hợp; một sốgiải pháp mà các công trình đã công bố chưa phân tích sâu sắc từ góc độ CTBT mà phân tích từ góc độ là chủ thể THTT theo quy định của luật thực định nên cần được phân tích, luận giải sâu sắc hơn.

1.2.2. Những vấnđề luậnán tiếp tục nghiên cứu 1.2.2.1. Lý luận về chủ thể buộc tội

Kếthừa các kết quảnghiên cứu đã có, NCS dựđịnh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề lý luận về CTBT, cụ thể là:

– Khái niệm chủ thể TTHS theo cách tiếp cận chức năng tố tụng; – Khái niệm, đặc điểm của CTBT trong TTHS;

– Cơ sở xuất hiện CTBT trong TTHS;

– Nhận diện các CTBT cụ thể trong TTHS Việt Nam và những điểm đặc trưng về vai trò, vị trí, mức độ và cách thức tham gia thực hiện CNBT của từng chủ thể.

1.2.2.2. Thực trạng chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố, luận án làm rõ hơn các nội dung sau:

– Quy định về CTBT trong pháp luật TTHS Việt Nam qua các thời kỳ; đánh giá xu hướng phát triển, những hạn chế bất cập trong quy định pháp luật về CTBT cần được tiếp tục hoàn thiện (bao gồm cả quy định của BLTTHS năm 2015 mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập tới);

– Thực tiễn hoạt động của các CTBT trong TTHS Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2018 theo hướng phân tích tình hình thực hiện các quy định, chỉ rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những kết quả, hạn chế đó.

1.2.2.3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Kế thừa các kết quả nghiêncứu đãcó, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và đềxuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảhoạt động của CTBT trong TTHS Việt Nam tập trung vào các vấn đề:

– Xác định quan điểmnâng cao hiệu quả hoạtđộngcủa CTBT trong TTHS

28

Việt Nam;

– Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trêncơ sởphân định rành mạch các chức năng cơ bản trong TTHS cụ thể là: phân chia các chủ thể THTT theo chức năngtố tụng từđó có đề xuất phù hợp về cấu trúc các quy định về chủ thể của TTHS trong BLTTHS; đề xuất hoàn thiện một số nguyên tắc trong TTHS liên quanđến CTBT; đề xuất hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý, mối quan hệ của các CTBT cụ thể trong TTHS Việt Nam; đề xuất sửa đổi một số quy định khác của BLTTHS liên quan đến CTBT.

-Đề xuất các giải pháp khác góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa CTBT trong TTHS Việt Nam bao gồm giải pháp về nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất và tăng cường hiệu quả giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động buộc tội.

1.3. Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu 1.3.1. Cơ sở lý thuyết của luận án

Cơsởlý thuyết trực tiếp của luận án là lý thuyết vềchức năngtốtụng màbản chất là thừa nhận sự tồn tại khách quan của các xu hướng lợi ích khác nhau của các chủ thể tham gia TTHS. Chính sự tồn tại khách quan của các xu hướng lợi ích này đã quyết định định hướng hoạt động của các chủ thể khi tham gia TTHS, hình thành nên các chức năng trong TTHS,từđó cho phép xác định chủthểđó thuộc nhóm chủ thể thực hiện chức năng cơ bản nào trong TTHS. Lý thuyết về chức năng tố tụngsẽ là cơ sở quan trọng để NCS luận giải về sự phân định các chủ thể TTHS theo chức năng TTHS và xác định các CTBT trong TTHS.

Bên cạnh đó, lý thuyết về quan hệ pháp luật, lý thuyết về nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước và lý thuyết về các mô hình cơ quan công tố cũng là nền tảng, cơsở lý thuyết nghiên cứu của luận án. Các học thuyết này là cơ sở đề NCS luận giải vềcơsởlý luận đểxác định CTBT trong TTHSđặc biệt là chủthểthay mặt nhànước thực hiện CNBT trong TTHS từ đó kế thừa và bổ sung, làm sâu sắc hơn nội dung nghiên cứu về VKS/Viện công tố với tư cách là chủ thể giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện CNBT trong TTHS.

1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơsởnghiên cứu các vấn đềlý luận, pháp lý và thực tiễn vềCTBT trong TTHS, tác giả xác định luận án cần chứng minh tính đúng đắn của một số giảthuyết sau đây:

– Việc phân định các chủ thể tố tụng theo chức năng tố tụng trong đó có việc

29

xác định rõ các CTBT có cơsởlý luận, cơsởthực tiễn và là yêu cầu thiết yếu đểthực hiện nguyên tắc tranh tụng;

– Luật TTHS Việt Nam chưa phân định các chủ thế TTHS theo chức năng tố

tụng; các quy định của BLTTHS liên quan đến CTBT có những điểm chưa phù hợp cần được tiếp tục sửa đổi,hoàn thiện;

– Thực trạng hoạt động của các CTBT còn nhữngđiểm bất cập;

– Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về CTBT cũng như đề xuất các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các CTBT là cần thiết qua đó cóthể hạn chế được nhữngbất cập, thiếu sót trong việc thực hiện CNBT nói riêng vàtrong hoạt động TTHS nói chung.

1.3.3. Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đặt ra và sẽ giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

– Chủ thể buộc tội được hiểu như thế nào? Có những đặc điểm gì? – Cơ sở xuất hiện CTBT trong TTHS là gì?

– Các CTBT trong TTHS Việt Namgồmnhữngchủthểnào? Vai trò của mỗi CTBT trong việc thực hiện CNBT ra sao?

– Đánh giá nhưthếnào thực trạng CTBT trong TTHS Việt Nam bao gồm thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động của các CTBT?

– Các giải pháp nào đểnâng cao hiệu quảhoạtđộngcủa các CTBT trong TTHS Việt Nam?

Kết luận Chương 1

ChủthểTTHS nói chung và CTBT nói riêng là vấn đềthu hút nhiều người quan tâm nghiên cứu.. Mặc dù vậy, nghiên cứu chuyên sâu về CTBT vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm, chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận án tiến sĩ về chủ đề này.Trong các công trình khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước, do bịgiới hạn vềphạm vi nghiên cứucũng như cấp độnghiên cứu nên vấnđềvềCTBT chưa được đềcập một cách trực diện,đầy đủ,có hệthống mà chỉđềcập ởmộtsốkhía cạnh khi nghiên cứu về chức năng TTHS, mô hình TTHS, nguyên tắc tranh tụng và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTHS.

Trên cơsở hệ thốngcác công trình nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài,

30

luận án đã chỉ rõ những vấn đề đã thống nhất có liên quan đến đề tài mà luận án sẽkếthừa và tiếp tụcphát triển; những vấn đềđang còn nhiều ý kiến khác nhau vànhững vấn đề chưa được đề cập đến mà luận án cần tập trung giải quyết.

Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án, NCS đã xác định các câu hỏi nghiêncứuvà giảthuyết nghiên cứu. Đây sẽlà địnhhướng cho quá trình nghiên cứu đề tài của NCS. Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu, luận giải, chứng minh tính đúng đắn của các giả thuyết nghiên cứu.

31

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ CHỦ THỂ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở xuất hiện chủ thể buộc tội trong tố tụng hìnhsự

2.1.1. Khái niệm chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự2.1.1.1. Khái niệm chủ thể tố tụng hìnhsự

Tố tụng hình sự, hiểu một cách cụ thể nhất, là trình tự (quá trình) giải quyết vụ án hình sự theo quy định pháp luật. Cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, nhận thức vềmục đích của TTHS, yêu cầu đối với TTHS ngày càngđược mở rộng. Theo đó, TTHS không chỉ cần xác định cho được sự thật của vụ án,đảm bảo để công lý được thực thi mà còn cần “làm thế nào để trên con đường đi tìm sựthật và công lý đó thì quyền của tất cả các bên liên quan đều phải được tôn trọng vàbảo vệ” [46, tr.11].

Tố tụnghình sự vận hành với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, với vai trò,vịtrí, các quyền và nghĩa vụtốtụng khác nhau. Nói cách khác, hoạt động TTHS được hình thành từ hoạt động của các chủ thể quan hệ TTHS nảy sinh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Việc nghiên cứu về chủ thể TTHS có thểđược tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau tùy thuộc mụctiêu nghiên cứu như tiếp cận theo truyền thống pháp luật, theo quan hệ pháp luật hoặc tiếp cận theo chức năng tố tụng. Cách tiếp cận chủ thể TTHS theo chức năng tố tụng tỏ ra có ưu thế trong mục tiêu tìm kiếm mối liên hệ giữa việc thực hiện các chức năng cơ bản trong TTHS với việc phân chia chủthểTTHS và xác định địa vịpháp lý của các chủ thể TTHS.

Chức năng, theo cách hiểu phổ biến nhất, là những định hướng, phạm vi hoạt động của cácchủ thể được xác định bởi cácmục đích, các nhiệm vụ và các nguyên

tắc cơ bản của lĩnh vực nào đó.Khái niệmvềchức năng TTHS tuy đã được quan tâm nghiên cứu song hiện vẫn còn những quan điểm khác nhau.

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, chức năng tố tụng là “nghĩa vụ tố tụng chủ yếu của các chủ thể mà thông qua đó thể hiện bản chất tố tụng và quyết định vai trò của cácchủ thể đótrong hoạt động tố tụng. Mỗi chủ thể chỉ thực hiện một chức năng vốn có của mình” [101, tr.17]. Nhóm quan điểm này gắn chức năng TTHS với

32

chủ thể thực hiện các chức năng và có sự nhầm lẫn giữa chức năng tố tụng với các thẩm quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia TTHS.

Nhóm quan điểmthứhai cho rằng “chức năng TTHSđược hiểu là những phươnghướnghoạt động được tiến hành trong phạm vi, giới hạn của việc giải quyết vụán hình sự.Đó là chức năng điều tra, truy tố,bào chữa, xét xử”[101, tr.17]. Quan điểmnày có yếu tốhợp lý khi xác địnhchức năngtốtụng là những phương hướnghoạt động của các chủ thể tham gia quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, quan điểmnày vẫn gắn chức năng TTHS với hành vi tốtụng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong từng giai đoạn TTHS như điều tra, truy tố, xétxử

từ đó xác định trong TTHS có chức năng điều tra là chưa hợp lý.

Nhóm quan điểmthứba cho rằng “chức năngtốtụng được hiểu là những định hướng đặc biệt phân địnhcác hoạt độngtố tụng của cácchủ thể tố tụngkhác nhau trong những phạm vi nhất định” [12, tr.12-13] hoặc

Chức năng TTHS là nhữngđịnh hướnglớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau, trong những phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tố tụng [12, tr.12]; [37, tr.24]

Hay “chức năng TTHS là những định hướng cơ bản phân định các hoạt động tốtụng của các chủthểkhác nhau, có những mục đích khác nhau, có quyền vànghĩa vụkhác nhau trong quá trình giải quyếtvụán hình sự” [26, tr.32]. Theo đó, chức năng TTHS là nhữngđịnh hướnglớn, phân định các hoạt độngtốtụng của những chủ thể khác nhau, quyền và nghĩa vụkhác nhau trong những phạm vi nhất định nhưng đềunhằmđến mụctiêu chung của TTHS. Quanđiểm này đãtiếp cận chức năng của TTHS ởmức độkhái quát, như là cái chung trong mối quan hệ với cái riêng là các hành vi, nhiệm vụ cụ thể của các chủ thể thực hiện mỗi chức năng.

Trên cơsởnghiên cứu các quan niệm khác nhau vềchức năng TTHS, xuất phát từmối liên hệgiữa các chức năng TTHS với nhau, giữa chức năng TTHS vàchủ thể TTHS, NCS đồng tình với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc, theo đó chức năng của TTHS là những phương diện (hay những dạng) hoạt động TTHS do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện theo quy định của BLTTHS với nội dung, định hướng độc lập với nhau nhưng lại gắn kết với nhau một cách hữu cơ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS [66, tr.49].

33

Vềcác chức năng trong TTHS, hiện tạicó nhiều quan điểm khác nhau. Cóthể khái quát hai nhóm quan điểm như sau:

– Nhóm quan điểmthứnhất cho rằng TTHS chỉcó các chức năng truyền thống: CNBT, chức năng bào chữa, chức năng xét xử liên quan đến ba hướng hoạt độngchủ yếu trong TTHS [66, tr.49].

– Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng các chức năng của TTHS cần được phân loại thành hai nhóm: chức năng cơ bản và chức năng không cơ bản trongđó chức năng cơ bản là những phương diện hoạt độngchủ đạo,tiêu biểu đặc trưng cho hoạt động TTHS, liên quan trực tiếp đến sựxuất hiện, vận độngvà kếtthúc hoạtđộng TTHS; chức năng không cơ bản là những phương diện hoạt động không phải là chủđạo,không tiêu biểu đặc trưng cho hoạt động TTHS và không liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện,tồn tại hoặc chấm dứt hoạt động TTHS nhưng cũng góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS [31, tr.51]. Theo đó, chức năng cơ bản, không thểthiếu trong TTHS là CNBT, chức năng bào chữa và chức năng xét xừ; các chức năng không cơ bản có thể kể đến như chức chức năng duy trì kiện tụng dân sự [104, tr.38]; chức năng giáo dục – phòng ngừa [32, tr.49].

Nghiêncứusinhđồngtình vớinhóm quanđiểm thứhai bởi lẽnóđã phản ánh được tính đa dạng của quá trình tố tụng để thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS đồng thời có sựphân loại theo vai trò,vịtrí của từng chức năng trong tiến trình TTHS. Với cách tiếp cận này, có thể thấy TTHS có ba chức năng cơ bản: chức năng buộc tội, chức nănggỡtội (bào chữa) và chức năng xétxử.Các hoạt độngTTHS chính là sự tổng thành từ hoạt động thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện. Việc giải quyết mối quan hệgiữa các chức năng của TTHS sẽ quy định địa vị pháp lý của các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng khác nhau; nhận thức và điều chỉnh một cách có ý thức mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của TTHS phù hợp với điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, pháp lý và lợi ích của nhànướctrong đấu tranh chống tộiphạm ởmỗi quốc gia chính là cách thức hình thành mô hình TTHS ở quốc gia đó [31, tr.51].

Theo cách tiếpcậnchức năng, có thể địnhnghĩa chủ thể TTHS là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, có địa vị pháp lý khác nhau, có quyền và nghĩa vụ khác nhau nhằm thực hiện các chức năng của TTHS.

2.1.1.2. Buộc tội trong tố tụng hình sự

Buộc tội, theo Từ điển Tiếng Việt, là “buộc vào một tội gì, bắt phải nhận tội, phải chịu tội” [102, tr.118].Định nghĩa này phản ánh cách sửdụngtừ”buộc tội”

34

trong ngôn ngữ phổ thông, không thể hiện được bản chất của buộc tội trong TTHS. Trong khoa học pháp lý, khái niệm buộc tội tuy được sử dụng nhiều song vẫn còn nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau.

Theo Từđiển Luật học, buộc tội là “ghép cho ai một việc bị luật hình sựtrừng phạt” [106]; hay “buộc tội là luận tội” [42]. Theo quan điểm này, buộctội bắtđầu từthời điểmxét xửtại phiên tòa, người thay mặt nhà nước gán ghép cho một

người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội thì đó là thực hiện sựbuộc tội [10]. Có quan điểm khác cho rằng “buộc tội là kết luận của VKS trước phiên tòa về hành vi phạm tội của bị cáo, dựa trên cơsởphân tích chứng cứ, vận dụng các điều, khoản pháp luật đã quy định. KSV có quyền buộc tội nhưng việc kết tội lại thuộc về quyền của Tòa án” [100]. Những quan điểm trên đã đề cập tới vai trò của VKS trong việc buộc tội, cơsởđể buộc tộilà các quy định pháp luật và kết quả đánh giá chứng cứđồngthời đã phân định giữa việc buộc tội của VKS và việc kết tội (xét xử) của Tòaán. Tuy nhiên, quan điểm này nhìn hoạt động buộc tội ở phạm vi rất hẹp cả về chủthể và phạm vi giai đoạn tố tụng, chưa thể hiện đầy đủ các hoạt động buộc tội trong TTHS mà chỉ đề cập tới việc buộc tội của VKS tại phiên tòa.

Tiếp tục nhấn mạnh vai trò buộc tội của VKS song mởrộng phạm vi giaiđoạn TTHScó sựhiện diện của CNBT, có quan điểm cho rằng:

CNBT làmộtdạng hoạt độngTTHS phát sinh khi từkhi có ngườibị

buộc tội(bị bắt, bị tạmgiữhoặc khởi tố với tư cách bị can…) do VKS tiến hành, buộcngườiphạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật [77, tr.18-27].

Quanđiểmnày đã khẳngđịnhrõ CNBT chỉ có trong TTHS (một dạng hoạt độngTTHS), xác định cụ thểthời điểmphát sinh CNBT là từ khi có người bị buộc tội (từ khi cóngười bị bắt, tạmgiữ hoặc khởi tố bị can..) songvẫnbó hẹp phạm vi CTBT chỉ là VKS trong khi thực tiễn và quy định pháp luật thực định cho thấy trong TTHS còn có hình thức buộc tội tư tố do bị hại tiến hành (Liên bang Nga, Phần Lan) và bản thân trong buộc tội công tố, ví dụ tại Việt Nam, thì ngoài VKS còn có các chủ thể khác tham gia tích cực vào việc thực hiện CNBT như CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.Nhận thức đầy đủ,bao quát hơn về CNBT, có quan điểm cho rằng: “CNBT còn gọi là chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự, là một dạng hoạt độngtố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của

35

người đó,bảo đảm phán xửvà hình phạt đối với người đó” [57, tr.22]. Quan điểm này đã thể hiện tươngđối đầy đủ nội dungcủa CNBT, làm rõ CNBT xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của TTHS chứ không chỉ trong giai đoạn xét xử song việc đồng nhất CNBT với chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự và thể hiện một phần chức năng xét xử “bảo đảm phánxửvà hìnhphạt đối với người đó”trong CNBT là chưa thật sựchính xác,cần được làmrõ.

Tiếp cận từgóc độ nghiên cứu về nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, tác giảNguyễn Văn Hiển cho rằng “Buộc tội thực chất là giả thiết cho rằng một người nào dó đã thực hiện hành vi phạm tội và bằng các hoạt động được pháp luật TTHS cho phép CTBT đi chứng minh giả thiết đó” [27, tr.30]. Quan điểmnày đã đề cập tới nội dung cơ bản của CNBT là việc CTBT đưa ra cáo buộc (giả thiết) về tội phạm, người phạm tội và chứng minh giả thiết đó bằng hoạt độngTTHS. Tuy nhiên, theo quan điểmnày, dường như pháp luật TTHSchỉđiềuchỉnh đối với việc chứng minh giả thiết mà khôngđiềuchỉnh việc đưa ra giả thiết, trong khi thực tế mọi hoạt độngcủaCTBT khi đưa ra giả thiết về tội phạm, người phạm tội như khởi tố bị can, kết luận điều trađề nghị truy tố, truy tố, luận tội tại phiên tòa đều được quy định chặt chẽ trong pháp luật TTHS. Mặt khác, quanđiểmnày mới tiếp cận buộc tộitừgóc độ buộc tội côngtố của các chủ thể đại diện cho Nhà nước trongđóbuộc tội, chứng minh quanđiểmbuộc tội là nghĩa vụ bắt buộc của CTBT mà chưa thấy được việc tham gia thực hiện CNBT nhưlà quyền mà không phải là nghĩa vụ của một số CTBT trong TTHS như bị hại.

Trong Luận án tiến sĩ luật học “Các chức năng trong TTHS Việt Nam:

Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng:

Công tố, buộc tội với tư cách là một chức năng TTHS luôn nhằm vào một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Người buộc tội (cơ quan thực hiện CNBT) đưa ra lời cáo buộc đối với những cá nhân cụ thể và trình ra những chứng cứ cụ thể cho sự cáo buộc đó [37, tr.31].

Quan niệm này đã thể hiện được nội dung cốt lõi của hoạt động buộc tội làđưa ra lời cáo buộc đối với những cá nhân cụ thể và trình ra những chứng cứ cụ thểcho sựcáo buộc đó.Tuy nhiên, việc đồngnhất buộc tội với côngtốvà truy cứu trách nhiệm hình sự theo NCS chưa thật sự hợp lý, vừa thu hẹp phạm vi của CNBT và chưa khái quát cho hoạt độngbuộc tội trong tất cảcác hình thức buộc tội (khi

36

đồng nhất buộc tội với công tố) vừa mở rộng phạm vi của chức năng này khiđồng nhất với truy cứu trách nhiệm hình sự.

Gần đây, trong luận văn thạc sĩ vềCTBT trong TTHS Việt Nam, tác giảĐặngVăn Phượng đưa ra khái niệm về CNBT như sau: “CNBT là chức năng cơ bản của TTHS, theo đó các CTBT sửdụng các quyền năngtốtụng của mình chứng minh tội phạm, người phạm tội để truy cứu ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đótrước phiên tòa” [68, tr.15]. Khái niệm này đã hội tụđầy đủnhữngđặc điểm của CNBT với tính chất là chức năng cơ bản của TTHS, phản ánh đúng về phạm vi,chủthể, nội dung của CNBT cũng như vai trò của CNBT trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, với phạm vi chủ thể của tội phạm ở nhiều nước và ở Việt Nam theo BLHS năm 2015 bao gồm cả pháp nhân, khái niệm này cần được bổ sung theo hướngmở rộngphạm vi đối tượng của CNBT.

Như vậy, tới thời điểm hiện nay, trong khoa học pháp lý có rất nhiều quan điểm khác nhau về buộc tội trong TTHS. Khái niệm buộc tội đangđược tiếp cậntừ hai góc độ: ở góc độhẹp là những hành vi buộc tội cụ thể của các CTBT (ví dụ: truy tố. luận tộicủaVKS/Viện công tố);ởgócđộrộng là tổngthểcác hoạtđộngcó cùngđịnh hướngbuộc tội của một nhóm chủ thể trong TTHS – ở góc độ này khái niệm buộc tội đồngnghĩa với CNBT – một dạnghoạt độngTTHS có cùng định hướng. Việc tiếp cận khái niệmbuộc tội ở góc độ rộng(CNBT) là cách tiếp cậnphù hợp đểlàm rõ các nội dung liên quan đến CTBT trong TTHS.

Trên cơsởnhận thức, đánh giá về các quan điểm về buộc tội, CNBT như nêu trên, nhằm làm rõ khái niệm CNBT trong TTHS, NCS cho rằng cần phân biệt khái niệm CNBT với một số khái niệm liền kề mà một số tác giả đã đề cập hoặc thậmchíđồngnhất với khái niệm CNBT, cụ thể là khái niệm “truy cứu trách nhiệm hình sự” và khái niệm “công tố”.

Truy cứu trách nhiệm hình sự là khái niệm còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sự chính là việc buộc tội của các chủ thể nhân danh quyền lực công nói cách khác truy cứu TNHS là hoạt động của CQĐT, VKS trong việc buộc tội [85, tr.57]. BLTTHS Liên bang Nga cũng quy định truy cứu trách nhiệm hình sự là “hoạt độngtố tụngdo bên buộc tội tiến hành với mục đích chứng minh người bị tình nghi, bị can đã thực hiện tội phạm” (điểm 55 Điều 5); Tòa án không phải là cơ quan truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 15). Nhóm quan

37

điểmthứhai cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sựlà “hoạt độngcủa Nhà nước thông qua các cơ quancủamìnhđểbuộcngườiphạm tộiphải chịu trách nhiệm hìnhsựvềhành vi phạm tộimàhọđãthực hiện” [29, tr.287] và “thuộcvềtruy cứu trách nhiệm hình sự là những hoạt động khởi tố của Cơ quan điều tra, truy tốcủa VKS, xét xử của cơ quan Tòa án và có thể cả cưỡng chế thi hành biện pháp củatrách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạm tộicủacơ quan thi hành án” [106, tr.819-820].Đâylà những hoạtđộng củacác cơ quan nhànướccó thẩm quyền buộc cá nhân, pháp nhânđãthực hiện hành vi phạm tộiđượcluật hìnhsựquy địnhphải chịu TNHS vềhành vi phạm tộiđãthực hiện.ĐểtruycứuTNHS, CQĐT phải khởi tố, điều tra, VKS phải truy tố ra trước Tòa án để xét xử và Tòaán phải tiến hành việc xétxử.Như vậy, hoạtđộng truy cứu TNHS thểhiện nội dung của cả CNBT, chức năng xét xử đồng thời bao gồm cả các hoạt động chứng minhsựviệc phạm tộitrướckhi phát hiện cá nhân, pháp nhân liên quanđếnsựviệc phạm tội đó. NCS đồng tình với nhóm quan điểm thứ hai bởi lẽ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chỉ có thể được xác định trên cơ sở bản án kết tội của Tòa án nên việc truy cứu TNHS không chỉ là các hoạt động buộc tội mà còn làkếtquảhoạtđộng xétxửcủaTòa án. Sovớikhái niệm buộc tội, khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự rộng hơn và được nhìn từ khía cạnh xử lý của Nhànướcđốivớitộiphạm vàngườiphạm tộitrong đóbuộctộilàmộtcông đoạn quan trọng trong quá trình này.

Côngtố,quyền công tố, thực hành quyền công tố là nhữngvấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, được nhìn nhận ở nhiều góc độ với rất nhiều quan điểm khác nhau [56, tr.34-36]. Các khái niệm liên quan tới “côngtố” thường được đề cập trong khoa học luật TTHS là quyền côngtố,thực hành quyền côngtố,nguyên tắc công tố và chức năng công tố. Quyền công tố là khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của nhà nước,là một bộphận cấuthành của quyền lực nhànước.Trong lĩnh vựchình sự,quyền lựcnhà nước gắnliền với việc buộc tộinhân danh quyền lực công,chỉphát sinh khi có hành vi phạmtộixảy ra.Sựbuộc tội nhân danh công quyền này được gọi là quyền côngtố[25, tr.11]. Quyền côngtố hình thành một cách khách quan khi có Nhà nước, thuộc về Nhà nước và chỉ có trong lĩnh vực hình sự.Quyền côngtố mang tính cụ thể, tức chỉxuất hiện trong trường hợp một tội phạmcụ thể đã được thực hiện và đối với nhữngngười phạmtội cụ thể,”không tồn

38

tại quyền công tố chung chung” [22, tr.31]. Quyền công tốđối với vụ án cụthể xuất hiện từkhi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật.Đểbuộc tội, cơ quan được giao nhiệmvụthực hành quyền công tố phải điều tra, xácđịnh tội phạmvà người phạm tội (vì vậy, điều tra tội phạm là “một công đoạn của chức năng công tố nhà nước” [25, tr.49]), trên cơsởđó truy tố bị can ra trước tòa và bảo vệ sựbuộc tội đó trước phiên tòa.Từkhái niệm quyền công tố nêu trên, có thể xác định khái niệm và phạm vi thực hành quyền công tố là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu trách nhiệm hình

sựngười phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảovệ sựbuộctộiđó.Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định thực hành quyền côngtố làhoạt độngcủa VKSND trong TTHSđể thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội,được thực hiện ngay từkhi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truytố,xét xử vụán hình sự.Từgóc độ nguyên tắc, côngtốđược xác định là một trong những nguyêntắc đặcthù của hoạt động TTHS. Theo đó,mọi hoạt động tố tụng được tiến hành trước hết và chủ yếu vì lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội.Điểm mấuchốt nhất của nguyên tắc này là hoạtđộngcủa các cơ quan THTT nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội. Một số công dân cũng tham gia vào hoạt động tố tụng, nhưng họ chỉ được lôi cuốn vào hoạtđộng tốtụng khi hoạt động này đãxuất hiện trên cơsởcác quyết địnhcủa các cơ quan THTT. Chức năng côngtốlà chức năng của cơ quan nhà nước,thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội. Như vậy, các khái niệm liên quan như quyền công tố, thực hành quyền côngtố,nguyên tắc công tố, chức năng công tố đều liên quan tới quyền buộc

tội của Nhà nước đối với người phạm tội và việc phân công,tổ chức thực hiện quyền này. Trong xu thế buộc tội côngtố là hình thức buộc tội phổ biến trong TTHS, nhiều trường hợp, chức năng công tố được hiểu là cách gọi khác của CNBT

[37]. Mặc dù vậy, theo NCS, chức năng công tố của cơ quan nhà nước không hoàn toàn trùng lắp với CNBT trong TTHS. Trong mối quan hệ này, xét ở khía cạnh chủthể, CNBT rộng hơn, bên cạnh công tố làsựbuộc tội nhân danh quyền lực công, vì

lợi ích chung của xã hội, do cơ quan nhà nước thực hiện thì CNBT còn có sự tham gia của chủ thể khác thực hiện việc buộc tội vì lợi ích riêng như người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

39

Trên cơsởnghiên cứu các quan điểm khác nhau về buộc tội, phân định buộc tội với truy cứu trách nhiệm hình sự và công tố, NCSxác định một số vấn đề cơbản liên quan tới buộc tội với tư cách là một chức năng cơ bản trong TTHS như sau:

Thứnhất, nội dung của CNBT là tổng hợp các hoạt động buộc tội của chủ thểcó quyền buộc tội theo quy định pháp luật. Như vậy, tất cả nhữnghoạt độngcủachủ thế có CNBT nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo đều là nội dung của CNBT. Khi thực hiện CNBT, CTBT thu thập chứngcứ,thông tin, tài liệuđểkhẳngđịnhcó hành vi phạmtộixảyra, thời gian,địa điểmcủa hành vi phạm tội; cá nhân, pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội; lỗi của người đó khi thực hiện hành vi phạm

tội và các tình tiết khác có liên quan và “trên cơ sở tất cả các chứngcứmà mình đã thu thập được, bên buộc tội sẽ độclập đánh giá pháplý đối với tất cả vấn đề đó để trảlời xemngườithực hiệntộiphạmđãphạm vào tội nàocủaBLHS và áp dụng pháp luật hình sự về đườnglối xử lý đối với người cóhành vi phạm tội” [12, tr.54].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHỦ THỂ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam Chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *