TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 21/BC-TANDCC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 01 năm 2022
BÁO CÁO THAM LUẬN
Khó khăn vướng mắc trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ
Trong thời gian qua, được sự quan tâm kịp thời của Tòa án nhân dân tối cao trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, giải đáp các khó khăn, vướng mắc tạo nhiều điều kiện thuận lợi để đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệmvụchuyên môn, thông qua hoạt động giải quyết án phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm các loại, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh còn một số các vướng mắc, chưa thống nhất về quanđiểm ápdụng pháp luật trên nhiều lĩnh vực cần được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, giải đáp. Cụ thể như sau:
1. Trong lĩnh vực hình sự
1.1.Xử lý yêu cầu rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phúc thẩm Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải ra Thông báovề
việc rút kháng cáo, kháng nghị (không phân biệt ai rút, rút một phần hay toàn bộ) tại Điều 342; riêng trường hợp rút một phần kháng cáo, một phần kháng nghị mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra Quyết định đình chỉ xétxửphúc thẩmđốivới phần kháng cáo, kháng nghị đã rút theo Điều 348. Từ hai quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể: Có quan điểm cho rằng mọi trường hợp đều phải ra Thông báo và nếu thuộc trường hợp rút một phần thì ra thêm Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm theoĐiều 348; có quan điểm cho rằng nếu là rút một phần thì không ra Thông báo theoĐiều 342 mà chỉ ra Quyết định đình chỉ theo Điều 348.
Riêngđốivớitrườnghợpvụán có nhiềungườikháng cáo, kháng nghị mà trong đó chỉ một hoặc một số người rút toàn bộ phần của mình và không liên quanđến các phần khác thì BLTTHS chưa quy định. Để xử lý trường hợp này, có quanđiểmcho rằngchỉra Thông báo theoĐiều342 mà không ra Quyếtđịnhđìnhchỉphúc thẩm; ngược lại có quan điểm cho rằng cần áp dụng tương tự Điều 348 để ra Quyết định đình chỉ mà không cần ra Thông báo. Về phía Tòa án cấp sơ thẩm và Cơ quan thi hành án hình sự phản hồi cho rằng nếu chỉ ra Thông báo thì không đủ cơ sởlàm thủ tục cho bị cáo đi chấp hành án nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ.
Đề xuất: Tòa án nhân dân tối cáo phối hợp liên ngành trung ương có văn bản thống nhất về việc xử lý các trường hợp trên để đảm bảo thực hiện đúng quy định tố
tụng cũng như quy định về thi hành án hình sự nói chung.
1.2.Về việc xét khiếu nại của phạm nhân đối với Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước hạn
Điều 368 BLTTHS quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại các Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị
tha tù trước hạn … và trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại “được thực hiện theo quy định tại Chương XXII (phúc thẩm) và Chương XXXIII” (khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự). Quy định này dẫn đến hai cách hiểu khác nhau, cụ thể có quan điểm cho rằng cần giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, còn quanđiểm khác cho rằng giải quyết theo trình tự khiếu nại tư pháp. Thời gianqua, đơn vịgiải quyết kháng nghị, kháng cáo đối với các quyết định này với Hội đồng 03 Thẩm phán, trình tự tương tự giải quyết án phúc thẩm. Tuy nhiên, thực hiện theo trình tựthủ tục phúc thẩm thì việc giải quyết bị kéo dài, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu nhanh gọn, kịp thời.
Đề xuất, kiến nghị: Để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật, rút ngắn thời gian cũng như đơn giản hóa thủ tục, đảm bảo giải quyết nhanh và đúng quy định, đềxuất Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn theo hướng trình tự, thủ tục cũng như thành phần giải quyết khiếu nại đối với Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhậnđềnghị tha tù trước hạntheothủtục giải quyết khiếunạitư pháp (Chương XXXIII BLTTHS).
2. Trong lĩnh vực hành chính
Pháp luật tố tụng và Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 hướng dẫn khoản 1 và khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính quy định, khi xem xétđối với quyết định hành chính thì Tòa án có thẩm quyền xem xét các quyết định hành chính khác có liên quan. Nhưng hiểu như thế nào là quyết định có liên quan thì còn có nhiều quan điểm khác nhau, nhất là trong các vụ án khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. Cụ thể, trong vụ án khởi kiện quyết định hành chính vềthu hồi đất thì có quan điểm cho rằng quyết định hành chính liên quan là các quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định bị khởi kiện; cũng có quan điểm cho rằng quyết định có liên quan bao gồm cả các quyết định về bồi thường, cưỡng chế…
Dosựkhác biệtvềquanđiểmnên trong thực tếthường xuyênxảyra tình huống cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết không triệt để vụ án (xác định không đầy đủ các quyết định liên quan) hoặc vượt quá thẩm
2
quyền (xác định các quyết định liên quá rộng). Vì vậy, để đảm bảo giải quyết triệt để vụ án nhưng không vượt ra ngoài phạm vi thẩm quyền, đề xuất Tòa án nhân dân
tối cao có hướng dẫn những trường hợp nào Tòa án có thẩm quyền hủy các quyết định hành chính có liên quan.
3. Trong lĩnh vực dân sự
3.1.Việc xử lý tài sản thế chấp
Hiện nay, việc kýhợpđồngthế chấpbảolãnh chohợpđồngtín dụng của ngườithứba được thực hiện theomẫudo Ngân hàng soạn sẵn, trongđócó thỏa thuận rằng “tàisảnthế chấp nàyđược đảmbảocho hợp đồng tín dụng này và các hợp đồng khác”. Trong khoảng thời gian hợp đồng tín dụng lần 1 đang có hiệu lực thì Ngân hàng tiếp tục ký hợp đồng tín dụng lần 2 cho bên được bảo lãnh. Khi phát sinh tranh chấp, phía Ngân hàng cho rằng người bảo lãnh đã ký bảo lãnh cho tất cảcác hợp đồng tín dụng mà ngườiđược bảolãnh ký kếtvớingườinhận bảo lãnh làNgân hàng nên yêucầuTòa án xử lý tài sản thế chấp để đảm cho các hợp đồng tín dụng này, nhưng người bảo lãnh thì cho rằng chỉ bảo lãnh cho hợp đồng tín dụng lần 1 nên không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ cho hợp đồng tín dụng lần 2.
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp này hiện nay có hai quan điểm: Một quanđiểmlà người bảo lãnh đã đồng ý dùng tài sản của mình để bảo đảm cho các hợpđồng tín dụng mà bên được bảo lãnh ký kếtvớiNgân hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng đã thỏa thuận thì phải chịu nghĩa vụ trong tất cả hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá phạm vi hạn mức tín dụng ở thờiđiểmký hợp đồng bảolãnh. Quanđiểmkhác thì cho rằng nghĩa vụ của người bảo lãnh đối vớihợpđồng tín dụng lần thứ 2 chỉ phát sinh khi có sự đồng ý tiếp theo của người bảo lãnh.
Theo quan điểm của chúng tôi, trường hợp hợp đồng có điều khoản không rõràng thì cần áp dụng khoản 6 Điều 404 BLDS năm 2015 để giải thích theo ý chí của bên tham gia bảo lãnh. Cụ thể đối với trường hợp này, ý chí của các bên bảo lãnh làsử dụng tàisản để đảm bảocho hợp đồng tín dụng thứ nhất, việc ngườiđược bảo lãnh ký kết hợp đồng tín dụng thứ hai nhưng không có sự đồng ý của người bảo lãnh thì phải xem là hợp đồng tín dụng không có tài sảnđảm bảo mới phù hợp.
3.2.Về Quyết định hủy hoặc không hủy Phán quyết trọng tài theo Luật trọng tài Việt Nam
Trong trường hợp Tòa án ra quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài nhưng sau đó phát hiện ra có sai lầm nghiêm trọng trong việc ban hành Quyết định của Tòa án và đương sự cóđơnđề nghị kháng nghị, thì Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm không thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm để khắc phục những sai lầm của Tòa áncấp dưới(Khoản 1Điều 71 Luật Trọng tài quy định Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng vàcó hiệu lực thi hành; Ngoài ra, tại Công văn số 07/TANDTC-KHXX ngày 13/01/2015 của Tòa án nhân dân cũng hướng dẫn về trường hợp trên như sau:“Thực
hiện quy địnhtại khoản 10Điều71 Luật Trọng tài thương mại và Công vănsố810/UBTVQH13-TP ngày 26-12-2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đối với các yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đã được Tòa án thụ lý, giải quyết theo quy định tại các điều 68, 69, 70 và 71 Luật Trọng tài thương mại thì Tòa án có quyền ra quyếtđịnhhủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài. QuyếtđịnhcủaTòa án hủy hoặc khônghủyphán quyết trọng tài là quyếtđịnhcuối cùng, có hiệu lực thi hành vàkhông bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”).
Kiến nghị: Cần sửa đổi quy định này là đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm để khắc phục sailầmkhi Tòa áncấpsơ thẩm ra Quyết định không đúng pháp luật.
3.3.Theo nội dung Án lệ số 02/2016/AL ngày 06/4/2016 đã được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-TA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp người Việt Namđịnh cưở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người trong nước đứng tên giùm, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất cho người đứng tên hộ. Vậy, trường hợp người bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyềnsửdụngđấtlà ngườinước ngoài hoặc là ngườiViệt Nam trongnước mà không phải là ngườiViệt Namđịnhcưở nướcngoài thì cóxửlýtương tự án lệ trên hay không? Về vấnđề nàycầncó sự hướng dẫn thống nhất, cụthể của Tòa án nhân dân tối cao.
3.4.Về hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Điều 503 BLDS năm 2015 quy định việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký; Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định hợp đồng mua bán, tặng cho nhà có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng.
Vướng mắc: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trênđất (có nhà trên một phần diện tích đất) thì thời điểm cóhiệu lực của hợp đồng được tính từ khi nào? Từ thời điểm công chứng hợp đồng hay từ thời điểm đăng ký? Theo quan điểm của tôi, trường hợp mua bán, chuyển nhượng nhà đất mà nhà được xây trên đúng diện tíchđất đó thì thời điểm cóhiệu lực của hợp đồng được xác định theo Luật Nhà ở. Còn đối với trường hợp nhà được xây dựng trên một phần đất thì thời điểm cóhiệu lực của hợp đồng được xác định theo Điều 503 BLDS năm 2015. Vềvấn đề này cũng cần có hướng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao.
3.5.Về việc xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu
Giải quyết hậu quả của hợpđồngvô hiệuđược thực hiện theo quyđịnh tạiĐiều131 Bộ luật dân sự năm 2015. Khi giải quyếtvụ ándân sự có yêucầutuyênbốhợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêucầugiải quyếthậu quả hợp đồng vôhiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơvụ án. Trường hợp Tòa ánđã giảithích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyếthậuquả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyênbố hợpđồng vô hiệu mà không
phải giải quyếthậuquả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyếthậu quả hợpđồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba (Giải đáp số 01 ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao).
Tuy nhiên, thực tiễn xétxử hiệnnay, có nhiều trường hợpkể cảđương sự vàThẩm phán khi giải quyết vụ án nhận thức không đúng “yêucầugiải quyếthậu quảcủa hợp đồng vô hiệu”, cụthể là: Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhàhoặc chuyển nhượng quyềnsử dụng đấtvô hiệu, một bên yêucầuTòa án tuyênbốhợp đồng vô hiệu, một bên không đồng ý và có yêucầutiếp tục thực hiện hợp đồng. Tòa án không giải thích rõ cho các bên đương sự (như hướng dẫn) để làm cơ sở xem xét quyềntự định đoạtcủa đương sự hoặcchỉ hỏi ý kiến của một bên đương sự vàchỉ tuyênhợpđồng vô hiệu mà không giải quyết hậu quả nêndẫn đến trường hợp không thi hành án được vì còn nhiều quyền lợi liên quan chưa được giải quyết triệtđể, từ đó phát sinh yêucầugiámđốc thẩmlạivụ án, kéo dài thời gian tố tụng, gây khó khăn, thiệt hại cho các bên liên quan.
Kiến nghị:
Trường hợp các bên đương sự đều hiểu rõ và không yêucầugiải quyết hậu quả khi hợp đồng vô hiệu trừ trường hợp không yêu cầu giải quyếthậu quả hợpđồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba thì Tòa án không giải quyết. Nếu phát sinh tranh chấp liên quan thì giải quyết bằng vụ án khác. Còn lại Tòa án phải giải quyết trong một vụ án về hậuquả hợp đồng vôhiệu.
Tòa án các cấp khi giải quyết phải thực hiện đúng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải thích rõ cho các bên đương sự như đã nêu. Nếu không thực hiện đầy đủ được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
4. Các khó khăn, vướng mắc khác
Đối với yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm bản án sơ thẩm trong trường hợp bản án sơ thẩm đó có kháng cáo, kháng nghị nhưng đã bị đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có kháng cáo, sauđó Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết đình chỉ xét xửphúc thẩm nên bản án sơ thẩm phát sinh hiệu lực pháp luật. Đương sự không có ý kiến đối với Quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao nhưng có yêu cầu giám đốc thẩm đối với bản án sơ thẩm. Trường hợp này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền giải quyết, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bản án có hiệu lực là bản án sơ thẩm. Tòa án nhân dân cấp cao tuy có ra quyết định phúc thẩm trong vụ án nhưng đây là quyết địnhđìnhchỉxétxửphúc thẩm, lý do đìnhchỉmang tínhtốtụng và cũng không không xem xét về nội dung vụ án. Do đó, về bản chất Tòa án nhân dân cấp cao (cấp phúc thẩm) chưa giải quyết đối với nội dung vụ án nên Tòa án nhân dân cấp cao cóthẩm quyền giám đốc thẩm trong trường hợp này.
Quan điểm thứ hai cho rằng tuy đương sự không yêu cầu giải quyết đối với Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm nhưng đây là cơ sở làm phát sinh hiệu lực của bảnán sơ thẩm nênnếukhông xem xét Quyếtđịnhnày là không giải quyết toàn diện, triệt để vụ án; đặc biệt trong trường hợp nếu hủy bản án sơ thẩm có hiệu lực mà không giải quyết đối với Quyết định phúc thẩm là không phù hợp, do vậy cần phải xem xét cả hai bản án sơ thẩm và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm nên Tòa án nhân dân cấp cao không có thẩm quyền mà phải do Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.
Đâylà khó khăn thường gặp trong thực tiễn của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đến nay vẫn chưa thống nhất được quan điểm, do vậy đề xuất Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất.
Trênđâylà tham luận của Tòa án nhân dâncấpcaotạiThànhphốHồChíMinh, báo cáo Hội nghị triển khai công tác Tòa án năm 2022./.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BÁO CÁO THAM LUẬN KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CỦA TÒA ÁN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO THAM LUẬN KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CỦA TÒA ÁN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO THAM LUẬN KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CỦA TÒA ÁN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH




