Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là vấn đềluôn thu hút sựquan tâm của cảnhân loại, đặc biệt là bảo vệ QCN của nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người bị tình nghi phạm tội, người bị buộc tội, thì việc quan tâm và tạo ra những điều kiện cần thiết để bảo đảm thực hiện QCN của họcàngđược đềcao hơncả.Vớisựtácđộng bởi những yếu tố của hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực hiện nay, nếu ở quốc gia nào mà việc bảo đảm QCN càngbị hạn chế, ởđó sựđấu tranh của chính công dân nước đó vàcác tổ chức nhân quyền quốc tế càng được thể hiện rõ ràng. Hơn nữa, đối với những quốc gia đã tham gia, ký kết các Công ước quốc tế về QCN, trong đó có Việt Nam, thì việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện QCN nói chung và QCN trong TTHS nói riêng là nghĩa vụ bắt buộc để đảm hiệu quả thực thi Công ước.
Xuất pháttừlẽđó, tại Nghị quyết số48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của BộChính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, một trong những định hướng mà Đảng ta xác định là: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm QCN, quyền tự do, dân chủcủa công dân. Thực hiện định hướng đó, tại Hiến pháp năm 2013, QCNđãđược quan tâm, tôn trọng và ưu tiên bảo đảm thực hiện hơn bao giờ hết. Hiến pháp năm 2013 đã đưa chế định QCN, quyền công dân lên vị trí thứ hai, sau chế định về Chếđộchính trị; đã tách rời QCN ra khỏi quyền công dân; đồng thời chính thức thừa nhận suy đoán vô tội và tranh tụng trong xét xửlà những quyền cơ bản của con người trong TTHS. Bên cạnh quyền được suy đoán vô tội và quyền tranh tụng lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp, những quyền khác của con người trong TTHS như quyền bào chữa, quyền được xét xửcông bằng, quyền không bịkết án hai lần vì một tội phạm, quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần do bị
bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật… đã được BLTTHS năm 2015 khẳng định lại.
Bên cạnhđó,BLTTHS năm 2015đãquyđịnhvề các biện pháp điều tra, ngăn chặn,cưỡngchếlà những biện pháp có nguy cơ vàdễxâmhạiđếnQCN, dovậy
trong toàn bộ quá trìnhtố tụngphải luôn bảo đảm QCN. Bảo đảm QCN trong TTHS cóthểhiểu làmộtnguyêntắckhi thực hiện các nhiệmvụcủaTTHS,đồngthời khôngđể cácQCN bị xâm hại với sự tôn trọng phù hợp với thực tế về biên chế, cơsở vật chất, trang thiết bị của các CQTHTT. Để bảo đảm QCN trong TTHSđòihỏi cácchủthểkhi tiến hành và tham giatốtụng luônđềcao trách nhiệm,đòihỏisựchủ động,nỗ lực, không gây áp lực quá căng thẳng nhằm tránh việc đối phó trongáp dụng.
Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề bảo đảm QCN trong TTHS, đặc biệt là QCN của bị can, bị cáo và mong muốn tìm ra được những tiêu chí, giải pháp có cơ sở khoa học, có ý nghĩavề lýluận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, từ đó góp phần đưa pháp luật hình sự, pháp luật TTHS vào cuộc sống, phát huy tác dụng vào trong công cuộc bảo vệ QCN của bị can, bị cáo trong TTHS ở Việt Nam. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về bảo đảm QCN của bị can, bịcáo trong TTHS;đồng thời trên cơsởlý luận nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS nước ta.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Một là, làm rõ khái niệm, phân tích các đặc điểm, cơ chế, nội dung, chủ thể, biện pháp bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS. Bên cạnh đó, nghiên cứu, đánh giá một số quy định của luật pháp quốc tế về bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật TTHS về bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS; kết quả thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình tiến hành TTHS.
Ba là, nghiên cứu phân tích các quanđiểm vàđề xuất cácgiải phápcụ thể cótính khảthi nhằm nâng cao chấtlượngbảođảm QCNcủabịcan, bịcáo trong TTHS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấnđềlý luận và thực tiễn của việc bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm những nhóm QCNđặc thù dễ bị xâm hại của bị can, bị cáo là thể nhân trong TTHS theo quy định của BLTTHS năm 2015.
Luận văn nghiên cứu vềbảo đảm QCNcủabịcan, bịcáo trong TTHStừnăm 2018 đến năm 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tàiđược thực hiện bởi các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm, đường lối,chủtrươngcủaĐảngCộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học, trong đó chú trọng các phương pháp
tổng hợp, phân tích nghiên cứunhững quyđịnh của BLTTHS 2015 và thực tiễn việc áp dụng pháp luật. Từ đó, rút ra những kết luận cần thiết, đưa ra những đánh giá và những luận chứng làm cơ sở cho việc đề xuất các quan điểm và giải phápđảm bảo hiệu quả hoạt động bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
Trong quá trình nghiên cứu, đềtài kết hợp một cách tổng thểcác phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp
tổng hợp, phương pháp nghiên cứu thực tiễn… nhằm làm rõ các nội dung được nghiên cứu trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 6.1. Về phương diện lý luận
Luận văn là một công trình khoa học trình bày có hệ thống và góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trongviệc bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
6.2. Về phương diện thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp một phần cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong việc bảo đảm QCN của bị can,bịcáo trong TTHS. Ngoài ra luận văn còn được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và học tập về bảo đảm QCN trong TTHS.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Một sốvấnđềchung vềbảo đảm QCN của bịcan, bịcáo trong TTHS.
Chương 2: Thực trạng các quy định của BLTTHS năm 2015 vềbảo đảm QCN của bị can, bị cáo và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Quan điểmvà một sốgiải pháp tiếp tục hoàn thiện những quy định của BLTTHS năm 2015 đối với việc bảo đảm QCN của bị can, bị cáo và nâng cao hiệu quả áp dụng.

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệmvà đặcđiểmquyền con người của bị can, bị cáo trong tốtụng hình sự
1.1.1. Khái niệm quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
QCNlà sựkết tinh những giá trị văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới thông qua một tiến trình phát triển lâu dài củalịch sửnhân loại. Mặc dù được Liên hiệp quốc chính thức thừa nhận từ năm 1948 với sự ra đời của Tuyên ngôn của toàn thế giới vềQCN, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm toàn diện, thống nhất bao hàm được tất cả các thuộc tính về QCN.
Trên phương diện nghiên cứu khoa học pháp lý, thì QCNlà “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảovệtrong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.”[19] Văn phòng cao ủy Liên hiệp quốc về QCN thì định nghĩa về QCN như sau:“QCN là những bảođảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những
hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của conngười”[13]. Tại buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng ủy TA nhân dân tối cao ngày 26/02/2014 khi nói về nhữngđiểm mới về QCN, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Phógiáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Độ – Phó Chánh án TA nhân dân tối cao, Chánh án TA Quân sự Trung ương khái quát: “QCN là quyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩlà đã có, còn quyền công dân là quyền được quy định cụ thể trong Hiến pháp vàpháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc tịch của mỗi công dân.” Đây là cách
khái quát dễ hiểu và cơ bản nhất về QCN. Nó phù hợp với học thuyếtvề “quyền tự nhiên”(natural rights) cho rằng QCN là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Từmột sốkhái niệm về QCNđiểnhình trên, cho thấy rằng dù nhìn dưới góc độ nào và
ở cấp độnào thì QCN cũng được xác địnhnhư là những chuẩn mực được cộngđồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị văn hóa của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờcó những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệnhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tưcách là một con người.
Khó có thể đưa ra một khái niệm chung, thống nhất về QCN, tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa có thể nêu ra một số thuộc tính cơ bản của khái niệm QCN sauđây:
Thứ nhất, QCN là những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cánhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Vì vậy, QCN vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng.
Thứ hai, QCN là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân
biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính…
Thứ ba, QCN vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trịsản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụthể. Ghi nhận QCN, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ
chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí cụ thể… Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trịcủa con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyềnđược xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn. Với ba yếu tố trên đây, quan niệm nhân quyền vừa khẳng định cơ sở tựnhiên và giá trị nhân loại của quyền,đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội – chính trị và lịch sửcụ thể của QCN thuộc một quốc gia, một dân tộc[3].
Cũng giống như xu thế phát triển chung trên thếgiới,vấnđềQCNởViệt Nam cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau vậy nên cũng đã có nhiềuđịnh nghĩa được đưa ra. Những định nghĩa này tuy không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, theo tôi, QCNđược hiểu là “những quyền được pháp luật quốc gia thừa nhận hoặc quy định, phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩn của pháp luật
quốc tế và có cơ chế bảo đảm thực hiện”.
1.1.1.2. Quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sựKhái niệm bị can
Bị canđược hiểu là “người phạmtộihay tình nghi phạm tội,đã bị khởi tốvề hình sự”[33]. Tuy nhiên, theo quan điểm của PGS, TS. Nguyễn Thái Phúc [15] thìthuật ngữ“khởi tốvềhình sự” là thuật ngữ chưa chuẩn, chưa rõ ràng, cần phảiđịnh nghĩa bị can là người đã bị khởi tố về trách nhiệm hình sự hoặc bị can là người đã bị CQTHTT quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự. Truy cứu TNHS một cá nhân làquá trình chứng minh các điều kiện TNHS của cá nhân đó. Quyết định khởi tố bịcan không đồng nghĩa với việc kết luận bị can là người có tội. Bị can – đó mới chỉ là người bị cáo buộc về việc thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm, vấn đề ngườiđó có tội hay không có tội chưa được giải quyết ở thời điểm này, bởi vì khởi tố bịcan chỉ là thời điểm bắt đầu của quá trình chứng minh điều kiện trách nhiệm hình sựcủa người đó.
Như vậy, qua phân tích trên, theo quanđiểmcủa chúng tôi: Khái niệm bị canđược hiểu là “người thực hiện hành vi phạm tội được quyđịnhtrong BLHS đãbịkhởi tố về trách nhiệm hình sự hoặc bị can là người đã bị CQTHTT quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Khái niệm bị cáo
Bị cáo được hiểu là “người đã bị toà án quyếtđịnh đưa ra xét xử”[33]. Định nghĩa này cũng chưa phản ánhđầyđủdấuhiệu củabịcáo. TA chỉ cóthểquyếtđịnhđưa ra xét xử đối với những bị cáo đã bị VKS truy tố ra trước TA. Quyết định này làsựkhẳng định chính thức của TA về việc đã có đủ điều kiện cần thiết để tiến hành mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo bị VKS truy tố, còn bị cáo có tội hay không có
tội sẽ lànộidung của chức năng xét xử thực hiện ở phiên tòa và thể hiện trong bản án của TA.
Có thể hiểu, bị cáo là “thể nhânhoặc pháp nhân đã bị VKS truy tố ra trước TA và bị TA quyết định đưa ra xét xử”.
Khái niệm quyền con người của bị can, bị cáo trong TTHS
Khái niệm QCN trong TTHS đã được đề cập nhiều và sử dụng rộng rãi trong lịch sửpháp lý. Trong văn bản pháp lý của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là
Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, đều có các quy định quyền cơ bản của ngườitham gia TTHS. QCN trong TTHS là một khái niệm hẹp hơn sovớikhái niệm QCN, được mang tính xác định rõ hơn, gắn liền với đặc điểm từng quốc gia vàđược phápluậtcủamỗi quốc gia quyđịnh.QCN trong TTHS là nội dung cơ bản vàlà sựthể hiện cụthểcủa QCN nói chung, không tách biệt ra khỏi QCN. Tứclàkhông thể nói một người vừa có QCN, vừa có QCN trong TTHS.
Tùy theo cách tìm hiểu của mỗi người mà chúng ta xây dựng khái niệm theo quan điểm của mình. Theo ý kiến của tác giả thì dưới góc độ khoa học, QCNcủa bịcan, bịcáo trong TTHS là “QCN,đồngthời là quyền công dânđược pháp luật TTHS quốc gia thừa nhận hoặc quy định cho bị can, bị cáo khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩncủapháp luật quốc tếvà có cơ chế bảo đảm thực hiện”.
1.1.2. Đặc điểm quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sựQuyền con người của bị can, bị cáo trong TTHS có một số đặc điểm sau:
– Tínhphổquát,thểhiện ở chỗQCN nói chung và QCNcủabịcan, bị cáo trong TTHS nói riêng là quyền bẩm sinh, gắn với bản chất con người, là di sản chung của loài người. QCN mang tính phổ quát vì con người ở đâu trên trái đất này cũng đều là thành viên của cộng đồng nhân loại.
– Tính đặc thù, thể hiện ở việc QCN mang những đặc trưng, bản sắc riêng tuỳthuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, truyền thống văn hoá,lịch sửở từng khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ. Sự thừa nhận tính đặc thù của QCN của bị can, bịcáo trong TTHS cho phép các quốc gia có quyền đưa ra những quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tế ghi trong các điều ước quốc tế về nhân quyền, như quy định hạn chế đối với một số quyền dân sự, chính trị hoặc mức độ bảo đảm cácquyền kinh tế, văn hoá, xã hội.
– Tính giai cấp, tuy không phải nằm trong nội dung các quyền mà được thểhiện trong việc thực thi QCN. Với tư cách là chế định pháp lí, QCN nói chung và
QCNcủabị can, bị cáo trong TTHS nói riêng gắn liền với nhà nước và pháp luật – là những hiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc. QCN có thể được phân loại dựa theo chủ thể quyền và nội dung quyền. Theo chủ thểquyền:gồmquyền của cánhân, quyền của nhóm (như phụ nữ, trẻ em) và quyền quốc gia (quyền của quốc gia, dân tộc thiểu số, quyền phát triển). Quyền của nhóm là quyền cá nhân được quy định cho một nhóm xã hội dựa trên một số đặc điểm chung nào đó, ví dụ nhưdễ bị
tổn thương hoặc bị thiệt thòi như phụ nữ, trẻ em, người tị nạn, người lao động nhập cư, người bị giam giữ theo thủ tục TTHS… Quyền phát triển là quyền của các quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng là quyền của cá nhân. Theo nội dung quyền gồm nhóm quyền dân sự, chính trị (quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lí nhà nước, xã hội; quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo…) và nhóm quyền kinh tế, văn hoá, xãhội(quyền sở hữu, quyền làm việc,quyền đượcbảovệsức khỏe; quyền học tập, quyền hưởng thụ văn hoá…).
QCN của bị can, bị cáo trong TTHS cũng như QCN có các đặc trưng cơ bản là tínhphổbiến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
1.1.3. Cơ sở việc bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo
– Yếu tố chính trị: Khi nói đếnmột thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể khôngnói đến thểchế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảođảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trịxã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chếđộ của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủxã hội chủnghĩađếnnay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổimụctiêu không ngừng thúc đẩy,bảovệ vàbảo đảm QCN cho mọi người dân. Trong bản Tuyên ngôn Độc
lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyênbố: “Tất cả các dân tộc trênthế giới đềusinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tựdo”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bìnhđẳng,quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh QCN chỉ thực sựđược
bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.
Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữmột vấn đề căn cốt là hiến định các QCN và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiếtkếmột chươngvềQCN, quyền và nghĩavụcơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân,đó là: “Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịchsửvà sựnghiệp xây dựng,bảovệTổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nướcViệt Namđã ban hành hơn 100 văn bảnluật vàpháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm QCN, quyền công dân, trong đó có việc bảođảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
– Về mặt pháp lý, hệ thống quy định được xây dựngđầyđủ, minh bạch các quyền và nghĩavụcông dân cũng như trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc quản lý xã hội, tôn trọng và bảo vệ các QCN; đặc biệt, trong các quy định của pháp luật tố tụng, lĩnh vực mà các QCN có nguy cơ bị vi phạm nhiều nhất, thì việc quy định quyền tố tụng đi đôi với nghĩa vụ tố tụng của công dân và trách nhiệm củacơ quan nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng.
Cụ thể trong tiến hànhtố tụng, pháp luật TTHS đãnêu rõ trách nhiệm của CQTHTT, người tiến hành tố tụng để bịcan, bị cáo nắm được, từđó yêu cầu CQTHTT, người tiến hành tố tụng thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
– Yếu tố kinh tế – xã hội: Do trải qua hai cuộc chiến tranh chốngthực dân đếquốc kéo dài suốt ba thập niên (1945-1975) và chịuảnhhưởng, tácđộngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội khoảng chục năm sau khi đất nước thống nhất, dù rất quan tâm, song Việt Nam chưa có nhiều điều kiện thuận lợi đểbảođảm thực sựđầy
đủ các QCN. Từkhi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn QCN trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Thành tựu về QCN ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiếnvượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986-2020).Từmột nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì đượctăng trưởng dương ởmức khá. Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúcđẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.
Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tựnguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiệntạora những tiền đềcơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các QCN của bị can, bị cáo trong TTHS.
– Yếu tốbộ máy – con người cũng là một yếu tố cóchiếm vị trí quan trọngđối vớibảo đảm QCN của ngườibị can, bị cáo. Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã có nhiềunỗlực trong việcđổimới, kiện toàntổchức vàhoạt độngcủacác cơ quan nhà nước và đã thuđược nhiềuthành tựu quan trọng, nhất là các CQTHTT. Hầu hếtcác cơ quan nhà nước đã đượctổchức, sắp xếp lạitheo hướng gọnnhẹ, chuyên môn hóa, hoạt động hiệu quả theo cơ chế phân công và phối hợp nhằm hạn chế sựlạm dụng quyền, xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dântừphía các cơquan nhà nước.
Không chỉ hoàn thiện các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước, Nhà nước
ta còn đặc biệt chú trọng tới việc xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên trách về QCN như: Ban chỉ đạo Nhân quyền Chính phủ và các địa phương; xây dựng vàhoàn thiệntổ chức củacác cơ quan chuẩn bịvà thực hiện Báo cáo tình hình thực hiện các Công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Đảng vàNhà nước ta còn tập trung đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho lực lượng cán bộ, công chức của các cơ quan thực thi pháp luật, nhất là các CQTHTT nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao trìnhđộ chuyên môn, góp phần làm tốt công tác bảo đảm QCN của người bị can, bị cáo trong suốt quá trình tiến hành tố tụng.
1.2. Khái niệm và cơ chế bảo đảmquyền con người của bịcan, bị cáo trong tố tụng hình sự
1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Trong ngôn ngữtiếng Việt, hai từ“bảo đảm” và “đảm bảo” là haitừđồng nghĩa. Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm “bảo đảm” được hiểu như sau: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”[33]. Tuy nhiên, bảo đảm lại không hoàn toàn đồng nghĩa với “bảo vệ”. Bảo vệ là “chống
lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” [33], Có thể nói khái niệm “bảo đảm”rộng hơn khái niệm“bảo vệ”,vì trong khái niệm bảo đảm đã bao hàm bảo vệ và bảo vệ là một hình thức của đảm bảo không xảy ra sự xâm phạm.
Theo Từ điển tiếng Việt [33], quyền là “điềumà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng,được làm, được đòi hỏi”.Trong lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khái niệm quyền được hiểu là khả năng về một việc gì đó do luật thừa nhận chochủthể nhưng thực hiện quyền đó như thế nào thì lại tùy thuộc vàosựlựa chọn của chủ thể. Quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Còn quyền của những người tham gia TTHS, trong đó có cả bị can, bịcáo được quy định trong pháp luật TTHScủamỗi quốc gia.
Chúng tôi cho rằng khái niệm bảo đảm QCN của bị can, bị cáo xuất phát từkhái niệm bảo đảm quyền. Trong luận án Tiến sĩ của Trần Thanh Hương, khi bàn về khái niệm “bảo đảm quyền tựdo công dân” tác giả đã phân tích khái niệm bảo đảm
quyền. Cụ thể:
– Quyền tự do công dân do Hiến pháp ghi nhận mới chỉ thừa nhận giá trị xãhội của các quyền đó và tạo tiền đề quan trọng để thực hiện chúng, song những quyền này nếu thiếu bảo đảm thìmớichỉ tồn tại ở dạngtiềm năng.Bảo đảmlà yếu tố để quyền trở thành hiện thực, không chỉ là tiềm năng hay hình thức.
– Các quyền tự do của công dân chỉ trở thành hiện thực khi có các yếu tố xãhội khách quan thuận lợi và những phương tiện, công cụ, phương thức quan trọng do nhà nước và xã hội tạo ra. Đó là nhữngđiều kiện vềkinh tế, chính trị và cácđiều kiện về xã hội khác hình thành môi trường để mỗi công dân có khả năng sáng tạo vàphát huy năng lực vốn có của mình [18].
Khái niệm bảo đảm quyền trong khoa học pháp lý được hiểu là các điều kiện khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không chỉ lànhằm mục đích công bố, ghi nhậnvềmặt pháp lý các quyền và tựdo cơbảncủa công dân mà còn nhằm mục đích bảo vệ các quyền, tự do cơ bản đó một cách toàn diện và thực thi chúng trong cuộc sống.
Bảo đảm quyền là một hiện tượng xã hội, chính trị và pháp lý quan trọng. Phạm trùnày được thểhiện qua các yếu tố lý luận, thực tiễn và tư tưởng. Như vậy, chúng ta cóthểhiểu bảo đảmQCNcủabịcan, bịcáo là những hoạt động,những công việc tạo ra những điều kiện, tiền đề cần thiết làm cho quyền của bị can, bị cáođược đầy đủ, để quyềnđó có tính hiện thực và không mang tính hình thức.
Từ khái niệm bảo đảm QCN của bị can, bị cáo thể hiện hai đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Chủ thể bảo đảm
Bảo đảm QCN của bịcan, bị cáo xuất pháttừyêu cầu bảo đảmQCN nói chung, vấn đề bảo đảm QCN của bị can, bị cáo thực chất là vấn đề các yếu tố bảođảm tính hiện thực của quyền đã được pháp luật thừa nhận.
Nhà nước ghi nhận QCN của bị can, bị cáo trong BLTTHS thì Nhà nướcđồng thời phải có nghĩa vụ phải bảo đảm cho quyền đó thực hiện không chỉbằng biện pháp pháp lý mà còn bằng những bảo đảm kinh tế, chính trịvà xã hội. Nếu không có sự bảo đảm thực thi thì các quyền đó chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng.
Quan điểm bảo đảm QCNcủabị can, bị cáo trong TTHS là quan điểm nhất quán của nhà nước ta. Nhà nước thực hiện bảo đảm QCN của bị can, bị cáo thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật TTHS để ghi nhận quyền vàbảo đảm QCN của bị can, bị cáo, đồng thời thông qua những người thamgia tố tụng để bảo đảm những quyền đó. Việc áp dụng luật nội dung và luật hìnhthức đồngthời bảo đảm quyền đó thông qua hệ thống tư pháp hình sự. Các CQĐT, VKS, TA có trách nhiệm bảo đảmQCN của bị can, bị cáo. CQTHTT, người tiến hànhtố tụng bảo đảmQCN cho bị can, bị cáo trong suốt quá trình tố tụng, quá trình giải quyếtvụ án kể từkhi họ bị khởi tố bị can hoặc bị tạm giữ cho đến khi kết thúc vụ án hình sự. Đồng thời, bảo đảm cho bị can, bị cáo được hưởng những quyền cụ thể mà luật TTHS quy định cho họ được hưởng. Như vậy, chủ thể bảo đảm QCNcủa bịcan, bị cáo trước tiên thuộc về các cơ quan xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS. Tuy nhiên, người bào chữa (luật sư, người đại diệnhợppháp, bào chữa viên nhân dân), Ủy banMặttrận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viêncủamặt trận có vai trò quan trọng trong việc bảo đảmQCN trong TTHS. Ngoài ra, gia đình – nhà trường cũng đóng gópmột
phần quan trọng để thực hiện chức năngbổ trợ tưpháp – hỗ trợ cho các CQTHTT thực hiện nhiệm vụ làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Thứ hai,Đối tượng bảo đảm
Bị can, bị cáo làđối tượng đượcbảo đảm QCN để cóthể bảo vệ mộtcách tốt nhất lợi ích chính đáng của mình.
Như vậy, bảo đảm QCN của bị can, bị cáo làviệc bảo đảm các điềukiện, yếu tố cần và đủcho quá trình thực hiện quyền của bị can, bị cáo nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Bao gồm các yếu tố cơ bản như: Hệ thống các quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đầy đủ, không ngừng hoàn thiện; hệ thống cơ quantố tụng có chất lượng, hoạt độngcó hiệu quả; có cơsởvật chất, kỹthuậtđáp ứng với yêu cầu hoạt động tố tụng; có cơ chế giám sát chặt chẽ, thông suốt, cósựtham gia đông đảo của các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp và công dân.
Tóm lại, qua phân tích, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm bảo đảm quyền của
bị canbịcáo trong TTHS Việt Nam như sau: Bảođảm QCN của bịcan,bị cáo trong TTHS là hoạt động của nhà nước, CQTHTT, các tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật và thực hiện pháp luật trên cơsở những bảo đảm chung cho QCN nhằm mục đích bảo vệcác quyền của bịcan,bị cáo và thực thi chúng trong cuộc sống.
1.2.2. Cơ chế bảo đảmquyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Bảo đảm QCN trong TTHS nói chung và bảo đảm QCN của bịcan, bịcáo trong TTHS nói riêng là một quá trình và nó phụ thuộc vào tổng thể nhiều biện pháp
khác nhau (kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá,…) trongđó pháp luật cũng nhưcác cơ quan trong bộ máy nhà nước có vị trí, vai trò và tầm quan trọng hàng đầu của các biện pháp bảo đảm QCN trong TTHS.
1.2.2.1. Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự bằng thể chế
Thể chế bảo đảm QCN trong TTHS bao gồm chính sách và pháp luật. Chính sách là hệ thống những hành động có chủ đích, mang tính quyền lực nhà nước, được ban hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đềphát sinh trong thực tiễn, hay thúc đẩy các giá trịưu tiên. Pháp luật là phương tiện chính thức hoá các giá trịxã hội của QCN, các QCNđược pháp luật đưa vào trong các điều luật mang tính chất bắt buộc và được xã hội thừa nhận bảo vệ. Khi QCN được quyđịnhtrong Hiến pháp và pháp luật thì sẽ trở thành tối thượng, có giátrị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả đối với cơ quan cao nhất của Nhà nước.
– Chính sách và pháp luật là công cụsắcbén của nhà nướctrong việc thực hiện bảo đảm QCN. Vì vậy, những quy định về QCN trong TTHS cùng với những thiết chếnhằm thực hiện bảo vệnó trong Hiến pháp và pháp luật có tính chất bắt buộc mọithành viên trong xã hội phải tuyệt đối chấp hành,kểcảcác cơ quan,tổchức nhà nước. Mặt khác tính sắc bén của pháp luật trong việc thực hiện bảo đảm QCN trong TTHS còn được thể hiện ở các quy định về QCN trong TTHSđược đảm bảo bằng bộ máy, cách thức tác động quyền lực của nhà nước, khi cần thiết thì nhànước có thểsửdụng các biện pháp cưỡng chếtrên cơ sởtiến hành các biện pháp
giáo dục, thuyết phục, bảo đảm cho nội dung QCN trong TTHSđược thực hiện vàbảo vệ.Bên cạnh đó,nhờhệthống cơ quan bảo vệpháp luật mà mỗi hành vi vi phạm QCN trong TTHS đều có khả năng bị phát hiện xử lý kịp thời.
– Chính sách và pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dânđấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ở đây pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của nhà nước mà còn là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện bảo đảm QCN trong TTHS. Bởi vìpháp luật là đại lượng mang tính giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng. Do đó có thể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ quan, tổ chức nhànước.Đó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía nhà nước và các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. QCN trong TTHS có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã hội, nhưng đáng chú ý nhất là nguy cơ xâm hại đến từphía cơ quan, tổchức, công chức nhà nước. Bởi vì, trong quan hệ với nhà nước, công dân vừa là người chủnhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ bị xâm hại rất cao.
Từ các điều kiện của thể chế như đã phân tích, chúng ta thấy thể chế có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc bảo đảm QCN trong TTHS,đặc biệt đối với bịcan, bịcáo vốn là những người đứng ởphía yếu thếtrong quá trình tiến hành tố
tụng. Để phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của các chính sách, pháp luật trong việc bảo đảmQCN trong TTHS thì phảithểchếhoá QCN trong TTHS thành các quyđịnh cụ thể trong hệ thống pháp luật và bên cạnh đó phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế. Thể chế hoá QCN của bị can, bị cáo trong TTHS không chỉ là cụ thể hoá QCN thành các quyền cụ thể, nó còn bao hàm cả việc quy định các hình thức, biện pháp xử lý những hành vi vi phạm QCN của bị can, bịcáo trong TTHS; quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổchức và công chức nhà nước; xây dựng hệthống cácthủtục TTHS; cụthểhoá các côngước quốctếvề
QCN mà quốc giađã tham gia ký kết hay phê chuẩn nhằm bảo đảmQCN của bịcan, bị cáo trong TTHS.
1.2.2.2. Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự bằng các thiết chế
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, bảo đảm QCN là mục tiêu của chế độxã hội chủnghĩa, là bản chất của xã hội ta. Vì thế, suốt 25 năm đổi mới, nhất lànhững năm gần đây, công tác nhân quyền được đặc biệt quan tâm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhận thức về nhân quyền trong xã hội, đặc biệt là trong cán bộ công chức, ngày càng được nâng cao. Các cấp, các ngành đã ngày càng quan tâm hơn đến công tác này.
Quyền con người trong TTHS được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống là thước đo của xã hội dân chủ, văn minh, tự do và tiến bộ. Qua đó thể hiện rõbản chất phát triển tốt đẹp của một nhà nước. QCN trong TTHS ở nước ta được quyđịnh trong Hiến pháp và pháp luật, việcbảovệthực hiện các quyền hiến định vàluật định trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong thiết kế tổ chức bộ máy áp dụng nguyên tắc tập quán xã hội chủ nghĩa, nhưng có sự tiếp thu những nhân tố hợp lý của học thuyết phân quyền. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Như vậy xây dựng cơ chếbảo vệQCN trong TTHS ởnước ta không thểkhông làm rõsựphốihợpchặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ của cả ba nhánh quyền lực nhà nước này, cùng với các cơ quan khác kiến tạo thành bộ máy Nhà nước ta đó là Quốc hội, Chính phủ, VKS và TA. Hiến pháp năm 2013 đã quy định cơ chế đó như sau:
– QCN trong TTHS được bảo vệ thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhànước. Quốc hội ở nước ta được các định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, hoạt động của Quốc hội là đại biểu cho ý chívà nguyện vọng của nhân dân cả nước, do đó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, thúcđẩy và phát triển QCN trong TTHS. Quốc hội bảo vệviệc thực hiện các QCN trong TTHS bằng các phương thức sau:
+ Với chức năng lậphiến, lập pháp, Quốc hội làm hiến pháp, sửa đổi, bổsung hiến pháp, làm luật và sửa đổi, bổ sung luật. Đây chính là hoạt động xác lập các mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân công dân. QCN, quyền công dân trong TTHS là một trong những nội dung rất quan trọng để cấu thành hiến pháp và pháp luật, pháp luật TTHS có vai trò trong việcbảovệQCN, quyền công dân, QCN trong TTHS vì “không có pháp luật thì không có QCN”từđócho chúng ta thấy rằng hoạt động lập hiến, lập pháp là cơ sở ban đầu, tiền đề cho các hoạt động bảo vệcác QCN tiếp theo củacác cơ quan khác trongbộmáy nhànướcvàcủacảchính cá nhân công dân.
+ Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toànbộ hoạtđộng của các cơ quan nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội có liên quan đến QCN trong TTHS.
+ Bằnghoạt độngquyết định nhữngvấn đềcơ bản quan trọng nhất của đất nước, nhữngvấnđềhệtrọng có liên quan trực tiếpđếncác QCN, QCN trong TTHS. Tăng cường cơchếhoạt động của Quốc hộitrong việcbảovệQCN trong TTHS hiện nay đặt ra nhu cầu cần nghiên cứu kinh nghiệm mô hình Quốc hội của các nướctrênthếgiới,đểlàm sao phát huy hơn vịtrí, vai tròcủaQuốc hội đúng nghĩa là cơ quan quyền lực cao nhất, đại diện cho nhân dân.
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dânở địa phương. Với địa vịpháp lý đó, HĐND các cấp là khâu quan trọng trong cơ chếbảo vệQCN trong TTHS trên phạm vi đơn vịhành chínhcủađịa phương mình. HĐND cáccấpcónhiệm vụ căn cứ hiến pháp, luật và các văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan nhànước các cấp đểban hành nghị quyết vềcác biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp và pháp luật ở địa phương, về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, đảm bảo dân chủ ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ các QCN trong TTHS.
– QCN trong TTHS được bảo vệthông quahệthống cơ quan hành pháp.
Chính phủ và UBND các cấp là hệ thống cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao và địa phương,đồngthời là cơ quan hành chính nhà nước. Đây làhệ thống các cơ quan hành pháp trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tức là hệ thống trực tiếp tổ chức thực hiện và điều hành xã hội. Với địa vị pháp lý nhưvậy, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong hoạt động của mình thường xuyên liên quan, tác động đến các QCN, quyền công dân, QCN trong TTHS, cụ thể là các CQĐT và cơ quan thi hành án hình sự. Do vậy, bộ máy hoạt động của cơ quan hành pháp phải trong sạch, minh bạch, chống được quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch và sách nhiễu nhân dân.Hệthống thểchếpháp quy của cơ quan hành pháp phải được xây dựng hoàn chỉnh, rành mạch, chính xác các quyền và nghĩa vụcủa cơ quan hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức và của công dân. Vấn đềkhông thể không đề cập, ảnhhưởngđến toàn bộ hiệu lực và hiệu quả hoạt động của cơ quan công quyền, CQTHTTđó là độingũ cán bộ, công chức,đội ngũ những người tiến hành tốtụng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, những người tiến hành tố tụng tận tâm phục vụ nhân dân là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với vấn đề bảo vệ QCNtrong TTHS. Một đội ngũ cán bộ, công chức, người tiến hành TTHS có năng lực, phẩm chất đạo đức, thực hiện nhiệm vụ vì dân, là yêu cầu thực sựcần thiết trong việc xây dựng bộmáy nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân. Theo đó, cán bộ, công chức “chỉ được làm những gì pháp luật quy định” còn công dân “có quyền làm tất cảnhững gì pháp luật không cấm”.
– QCN trong TTHS được bảo vệthông qua hệthống các cơ quan tư pháp. VKS và TA cótổchức và phương thức hoạtđộng khác nhau, nhưng đều là khâu trọng yếu cơ bản thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp, là nhánh quyền lực đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ QCN trong TTHS.
Theo đó, “TAnhân dân có nhiệm vụbảo vệcông lý, bảo vệQCN, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân” (Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013)[23]; “VKS nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ QCN, quyền công dân, bảo vệ
chếđộxã hội chủnghĩa, bảo vệlợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013)[23]. Như vậy, VKS và TA đều có nhiệm vụ “Bảo vệ QCN, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”
VKS là cơ quan được phân công trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối vớicác cơ quan tư pháp và thực hành quyền công tốbảođảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Toà án là cơ quan được phân công thực hiện nhiệm vụ xét xử, thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tuyên bốmột người là có tội hay không có tội, vì thếhoạt động xét xửcủa toà án có liên quan trực tiếp tới sinh mệnh, quyền tự do của con người, quyền và lợi ích hợp pháp khác và đây cũng là ngưỡng của sự có hay không có QCN. Như vậy, VKS và TA là những cơ quan quan trọng thực hành quyền tư pháp. So với các cơquan khác, thì cơ quan VKS và TA có quan hệtrực tiếpđến các quyền của con người trong TTHS, vì vậy đòi hỏi hai cơ quan này phải là biểu tượng điển hình của việc tuân thủhiến pháp và pháp luật, phải thểhiện trực tiếp tính dân chủvà công khai trong hoạt động TTHS, trong tất cảcác khâu của quá trình bảo vệpháp luật, bảo vệQCN trong TTHS. Trong quá trình hoạt động, VKS và TA không chịu bất kỳ ảnh hưởng, tác động nào từ phía cơ quan lập pháp, hành pháp mà chỉ tuân theo pháp luật. Đảm bảo cho phán quyết của TA không chỉnhân danh quyền lực nhànước mà còn phải là nhân danh công lý, xét xửphải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không đểlọt tội phạm và không đểlàm oan ngườivô tội. Đểthực hiện được nhiệm vụ này, cần sớm nghiên cứu nhằm xây dựng cơ chế trách nhiệm nghềnghiệp, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ, cá thểhóa trách nhiệm cánhân trong hoạt động kiểm sát và xét xử.
Như vậy, cơ chế bảo vệ QCN trong TTHS ở nước ta phải có một cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Bởi mỗi cơ quan đều có vịtrí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng thống nhất ở chỗ đều thực hiện quyền lực nhà nướcđểbảo vệcác QCN trong TTHS. Do đó, Quốc hội là cơ quan chịu
trách nhiệm cao nhất đối với nhân dân, so với các cơ quan khác trong bộ máy nhànước, bởi vì Quốc hội có ưu thế vượt trội hơn cả. Chính vì vậy mà trong tuyên bố“tầm nhìn nghị viện vềhợp tác quốctếtrước thềm thiên niên kỷthứba”của Hội nghị những người đứng đầu cơ quan lập pháp các nước họp tại trụ sở Liên hợp quốc
từ ngày 30/8 đến ngày 01/9/2000 đã khẳng định “Nghị viện – cơquan dân cử – đại diện cho mọi tầng lớp xã hội, có đầy đủ quyền lực và biện phápđể tỏ rõ ý chí của nhân dân bằng việc thông qua các đạo luật và giám sát liên tụchoạtđộngcủa Chính phủlà không thểthiếu được, nhằm đảm bảo các quyền tựdo, dân chủcủa nhân dân, duy trì hòa bình và phát triển hài hòa”. [34]
Xét cho cùng, cơ chế bảo vệ QCN trong TTHS trách nhiệm trước tiên thuộc về nhà nước, cụ thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước các cơ quan THTT, các cán bộ, công chức nhà nước, những người tiến hành TTHS. Tuy vậy, nhà nước chỉlà một bộ phận trong hệ thống chính trị, dó đó đòi hỏi phải xác định rõ và cụ thể sựlãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực bảo vệQCN trong TTHS, nhất là trong việc hoạch định đườnglối, chủ trương chính sách về QCN và những vấn đề có liên quanđến QCN trong TTHS, làm cơ sở vững chắc về quan điểm chính trị để nhà nước thểchế hóa thành pháp luật. Đồng thời tăng cường và phát huy vai trò của các tổ chức
chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, những tổ chức đại diện cho quyền lợi của một số bộ phận cá nhân con người cùng cảnh ngộ, cùng lợi ích, tiến tới xây dựng xã hội dân sựphải là một trong những hướng ưu tiên vào những năm tiếp theo. Xu hướng nhà nước thu hẹp, không nên ôm đồm tất cả các công việc mà dần dần chuyển giao cho các tổchức xãhộinghề nghiệp theo mô hình“dịch vụhành chính công” các tổ chức phi nhà nước có thể làm và đảm nhiệm công việc trước kia thuộc quản lý của nhà nước. Đó chính là cơ chế tốt trongvấn đề bảo vệ QCNtrong TTHS hiện nay cũng như trong tương lai của nước ta.
1.2.3. Ý nghĩa của bảo đảm quyền con người của bịcan, bị cáo trong tốtụng hình sự
Bảo đảm QCN của bị can, bị cáo trong TTHS là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, thượng tôn pháp luật, góp
phần hiện thực hoá về một Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Bảo đảm quá trình tiến hành tố tụng của CQĐT đúng quy trình, quy định của pháp luật; buộc tội đúng người, đúng pháp luật theo đúng tinh thần “vi phạm đến đâu xử lý đến đó”, không vì ý chí chủquan mà xâm hạiđến các QCN – quyền tựnhiên của bịcan, bịcáo trong quá trình tiến hành TTHS.
Đối với xã hội, trong bối cảnh tội phạm xảyra ngày càng nhiều, bảo đảm QCN của bịcan, bịcáo trong TTHS vừa bảođảm tính phòng ngừa chung là giảm
thiểu tội phạm xảy ra trên thực tế, vừa thực hiện chức năng phòng ngừa riêng – giáo dục bị can, bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng để họ có thể sớm nhận ra sai lầm của mình, từ đó khắc phục hậu quả và có thể tái hòa nhập cộng đồng
1.3. Các tiêu chuẩn (chuẩn mực quốc tế) về bảo đảmquyền con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hìnhsự
QCN và bảo đảm QCN là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của mỗi quốc gia. Bảo đảm QCN nói chung, QCN của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng trong TTHS là xu thế tất yếu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay trên thếgiới. Vấn đề bảo đảm QCNcủa người bị buộc tội được quy địnhtrong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như trong luật TTHS quốc gia.
Từ góc độ các văn bản pháp luật quốc tế, QCN và bảo đảm QCN nói chungđã được quy định tương đối sớm trong các văn bản pháp lý khi Nhà nước Tư sản mới hình thành. Nhưng có lẽ tập trung nhất, cụ thể nhất về bảo đảm QCN của người bịbuộc tội được quy định rõ ràng, cụthểtrong các văn bản như: Tuyên ngôn thếgiới vềnhân quyền (Universal Decleration of Human Rights), Côngước Châu Âu vềQCN (European Convention on Human Rights – ECHR), Công ước Liên hợp quốc vềquyền trẻem, Quy chếRome vềthành lập TA hình sựthường trực quốc tế… Các văn bản quốc tế nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc giacụ thểhóa trong nội luật về TTHS của mình.
Theo pháp luật TTHS quốc tế, QCNcủa người bị buộc tội được bảo đảm trên cơ sở: 1/ Các nguyên tắc TTHS; 2/ Các quyđịnh về cácquyền tố tụng cơ bản của người bị buộc tội; và 3/ Quy định các bảo đảm pháp lý để thực hiện các nguyên tắc
tố tụng và quyền tố tụng của người bị buộc tội.
1.3.1. Pháp luật quốc tế về các nguyên tắc tố tụng hình sự
Từgóc độbảo đảm QCN của bịcan, bịcáo, pháp luật TTHS quốctếluôn luôn khẳng định các nguyên tắc TTHS cơ bản như: nguyên tắc xét xử công bằng; vụán phải được xét xử công khai; thẩm phán không được thiên vị khi ra phán quyết; người bị buộc tội có quyền được xét xử bằng Toà án; nguyên tắc các bên bình đẳng trước Toà án; nguyên tắc xét xửnhanh chóng, công khai; nguyên tắc suy đoán không có tội; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội…
Công ước Châu Âu về QCN quy định rất rõ quyền tự do và an toàn cá nhân, một sốnguyên tắc của TTHSđểbảo đảm QCN của người bịbuộc tội. Điều 5.1 Công ước quy định mỗi người có quyền tự do và an toàn cá nhân; không ai bị xâm phạm quyềntựdo ngoài trường hợp vàthủtục do pháp luật quyđịnh.Điều6.1 Công ướcquyđịnh người bịbuộc tội có quyền đượcxét xửbởiToà án; các bênđược đối xử công bằngtrong xét xử và có quyền tham gia phiên toà và xét xử công khai. Điều 6.2 Công ước quy định người bị buộc tội được suy đoán là không có tội cho đến khi tội phạm được chứng minh theo quy định của pháp luật. Theo Côngước thì đây là bảo đảm tốtụngđầutiên (first procedural guarantee) củaviệc bảo đảm QCN trong TTHS. Đồng thời nguyên tắc này cũng đòi hỏi mọi nghi ngờ trong chứng minh vụ án phải được giải thích có lợi cho người bị buộc tội. [39].
Điều 10 Tuyên ngôn thếgiới vềnhân quyền quy định bất kỳai bịbuộc tội đều có quyền được đưa ra xét xửtrướcmột Toà án độclập và không thiên vị, cóquyền bảo vệ mình, chống lại mọi sự buộc tội. Điều 11 Tuyên ngôn quy định bất kỳai bị cáo buộc trong thực hiện hành vi phạm tội được coi là không có tội cho đến khi
lỗi của họđược chứng minh bằng phiên toà công khai theo thủtụcpháp luật quyđịnh và tại phiên toà họ được bảo đảm quyền bào chữa. Không ai có thể bị buộc tội và phải chịu hình phạt bởi hành vi mà luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế không coi là tội phạm tại thời điểm hành vi đó được thực hiện [12].
Điều 6 Quy chếRomevềToà án hình sựquốc tếquyđịnhnguyên tắc suyđoán không có tội như sau: 1/ Một người được coi là không có tội cho đến khi
chứng minhđược trước Toà án là có tộitheo quyđịnh của pháp luật; 2/ Trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội thuộc về Trưởng Công tố; 3/Để kết tội bị cáo,Toàán phải tin chắc về tội của bị cáo mà không còn sự nghi ngờ hợp lý nào” [28].
Theo pháp luật TTHS Saudi Arabia, các nguyên tắc chung liên quan đến xét xửcủa Toà án là: nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc xét xửcông khai, nguyên tắc xét xửbằng lời, nguyên tắcđược trợgiúp và bào chữa độc lập, nguyên tắc xét xửnhanh chóng và nguyên tắc xét xửcó mặt các bên đương sự…
[49].
Điều 6 Tuyên ngôn vềnhân quyền nước Mỹquy định nguyên tắc xét xửcông bằng: trong mọi trường hợp bịtruy tốhình sự, bịcáo có quyền được xét xửnhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng, bị cáo được thông báo tính chất, lý do buộc tội, được đối chất với nhân chứng chống lại mình và được sựgiúp đỡ của luật sư bào chữa v.v. [12].
1.3.2. Quyền của người bị buộc tội trong pháp luật quốc tế
Một nội dung quan trọng nữa trong luật TTHS quốc tế về bảo đảm QCN của người bị buộc tội được biểu hiện ở chỗ pháp luật quy định rất đầy đủ và cụ thể các quyền tố tụng cơ bản của họ. Đó là: Quyền tự do và an toàn cá nhân, không bị bắt, giam, giữ trái pháp luật, không bị tra tấn, dùng nhục hình trong TTHS; Quyền được thông báo kịp thời lý do bị buộc tội và chứng cứ chống lại họ bằng ngôn ngữ mà họbiết; Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Quyền thu thập chứng cứ, quyền kiểm tra chứng cứ và đối chất với nhân chứng chống lại mình; Quyền được có người phiên dịch miễn phí v.v…
Điều 4 Tuyên ngôn về nhân quyền nước Mỹ quy định quyền tự do cá nhân, quyền về tài sản và quyền không bị khám xét, bắt giữ không có lý do chính đáng.Điều 5 quy định không ai bị bắt giữ, bị xử lý hoặc xử phạt trái pháp luật, vô nhânđạo [12].
Công ước Châu Âu vềQCN cũng có những quy định cụthểvềQCN của người bị buộc tội. Điều 5.1 Công ước quy định quyền tự do cá nhân của mỗi người. Điều 6.3 quy định các quyền tối thiểu của người bịbuộc tội nhưđược thông báo
tính chất và lý do buộc tội; được đảm bảo thời gian, phương tiện cần thiết để chuẩn bịcho bào chữa;đượctựbào chữa hoặc nhờngười khác bào chữa, nếu người đókhông có khả năng tài chính hoặc do yêu cầu của công lýthì người bị buộc tội được bảo đảm người bào chữa miễn phí; được thu thập chứng cứvà đốichất với nhân chứng và phiên dịch miễn phí [39].
Điều 55 Quy chế Rome về TA hình sự quốc tế quy định quyền của người có liên quan trongđiềutra. Đó là các quyền không bịbắt buộc tựnhận tội, quyền không chịu hình thức ép buộc, câu thúc hoặc đe doạnào, sựtra tấn hay hình thức đối xửđộc ác, vô nhân đạo hoặc hạthấp nhân phẩm, quyền bảo đảm phiên dịch miễn phí, quyền không bị bắt, giam, giữ tùy tiện, quyền được thông báo về căn cứbuộc tội, quyền được im lặng, quyền được giúp đỡ về mặt pháp lý. Điều 67 Quy chếquy địnhquyền của bịcáo, bao gồm: quyền được xét xửcông khai, công bằng; quyền đượcthông báo kịp thời và chi tiếtvềtính chất, nguyên nhân và nộidung buộc tội bằng ngôn ngữmà bịcáo hiểu và nói được; quyền có đủthời gian vàphương tiện để chuẩn bị cho việc bào chữa; quyền được xét xử không bị trì hoãn vôlý; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu cần thiết hoặc không có khảnăng tài chính; quyền đốichất với người làm chứng,đưa ra chứng cứ; được đảm bảo phiên dịch miễn phí. [28].
Pháp luật TTHS Hoa Kỳquy định người bịbuộc tội có quyền được xét xửnhanh chóng, công khai, khôngđểhọbịkiệtquệtrong tù một thời gian dài trước khi xét xử hay phán quyết về số phận của họ bị trì hoãn không có lý do chính đáng; quyền được xét xử bằng Bồi thẩm đoàn không thiên vị; quyền được thông báo kịp thời về lời buộc tội; được đối chất với nhân chứng chống lại họ, được bảo đảm một thủtục pháp lý thoả đáng và quyền không “bịép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình” trong bất kỳ vụ án hình sự nào [12].
Ngoài ra, pháp luật TTHS nhiều nước quy định các quyền khác của người bịbuộc tội như có quyền lựa chọn thủ tục xét xử rút gọn; lựa chọn xét xử bằng đoàn Bồi thẩm hay Thẩm phán; quyền im lặng khi bịhỏicung, quyền mặc cảthú tội (nhận tội) để được phán quyết nhanh chóng và hưởng sự giảm nhẹ đặc biệt… [49].
1.3.3. Thủ tục tố tụng bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội
Đồng thời vớiviệc quy định các nguyên tắctốtụng, các quyền TTHS của người bịbuộc tội, pháp luật TTHS quốc tếcũng quy định rất đầyđủ, cụthểcác trình tự, thủtụctốtụng như những bảo đảmpháp lý khác cho việc thực hiện các nguyên tắc tố tụng và thực hiện các quyền tố tụng của người bị buộc tội.
Căn cứvà thẩm quyền bắt, tạm giam, trảtựdo được quy định chặt chẽ. Thông thường Thẩm phán quyết định bắt tạm giam hoặc từ chối trả tự do cho người bị buộc bất kỳ tội gì (căn cứ thống nhất cho các loại tội) trong các trường hợp Toàán có cơ sở tin rằng họ: a/ Sẽ trốn; b/ Tiếp tục phạm tội hay phạm tội khác; 3/Sẽthông cung với nhân chứng hoặc gây khó khăn cho hoạt động tố tụng do mối quan hệ của họ với người khác. Còn những trường hợp họ có thể vắng mặt khi được triệu tập thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng các biện pháp khác như bảo lĩnh, cam đoan, cấm đi khỏi nơi cư trú.
Nghiên cứu pháp luật TTHS nhiều nước, đặc biệt là các nước thuộc hệ thống án lệ và tố tụng tranh tụng, cũng cho thấy thủ tục rút gọn và thủ tục mặc cả nhận tội được áp dụngrấtphổbiến. Hơn 90% các vụán hìnhsựởAnh, Hoa kỳđược giải quyết theo các thủ tục này. Việc áp dụng thủ tục rút gọn, thủ tục mặc cả nhận tội rút ngắn rất đáng kể thời gian giải quyết vụ án, tiết kiệm chi phí tố tụng gấp nhiều lần nhưng vẫn không vi phạm QCN của bịcan, bịcáo. Bởi vì, một trong những điều kiện tiên quyết để Toà án có thể áp dụng thủ tục tố tụng này làsự đồng ý của người bị buộc tội.
Một đặc điểm nữa đáng lưu ý trong TTHS nhiều nước là thực hiện nguyên
tắc tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Những tinh thần chính của nguyên tắc này là:
– Xét xử với sự có mặt đầy đủ người tham gia tố tụng, trừ những trường hợp đặc biệt pháp luật quy định, các bên tham gia tố tụng đều bình đẳng trước pháp luật; đặc biệt là có mặt người làm chứng để bị cáo có thể đối chất ngay tại phiên toà; đảm bảo để bị cáo luôn luôn có người bào chữa, nhất là trong các trường hợp bị cáo làngười già, người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần,
trong trường hợp cần thiết vì công lý thì bắt buộc phải có người bào chữa, người nghèo được trợ giúp pháp lý miễn phí.
– Người bịbuộc tội có quyền thu thập chứng cứ, có quyền chất vấn người làm chứng chống lại mình; có quyền phản bác các chứng cứ khác;
– Việc xét hỏi,luận tội để buộc tội tại phiên toà là trách nhiệm của công tốviên; vai trò của Toà án khi xét hỏi và tranh luận là thụ động. Phán quyết của Toàán được đưa ra trên cơsởchứng minh tạiphiên toà và đánh giá ý kiến tranh luận của các bên v.v…
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nói tóm lại, từ góc độ bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo, nghiên cứu so sánh pháp luật TTHS quốc tế cho thấy rằng pháp luật TTHS nước ta đã từng bước hội nhập với pháp luật quốctếvềlĩnh vực này. Các quy địnhcủa BLTTHS nước ta đã thể hiện tương đối đầy đủ cácvăn bản pháp luật quốc tế liên quanđến bảo đảm QCN trong TTHS, nhất là trong quy định các nguyên tắc tố tụng, quy định các quyền tốtụng của bịcan, bịcáo và các trình tự, thủtục khác. Tuy nhiên, BLTTHS vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế nhất định như thể hiện chưa chính xác, đầy đủtinh thần chung của pháp luật TTHS quốc tế(nguyên tắc suy đoán không có tội, trách nhiệm chứng minh, nguyên tắc tranh tụng và mộtsốquyền tố
tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.).
CHƯƠNG 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vềbảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo
Để bảo đảm quyền công dân nói chung, quyền của người tham gia TTHS nói riêng, trong những năm qua, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn bộc lộnhiều hạn chế, bất cập; tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng. Để thực hiện nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng nhànước pháp quyền Việt Nam xã hộichủnghĩa, Nghị quyết số49-NQ-TW ngày 2/6/2005 của BộChính trịvềChiến lược cảicách tư pháp đến 2020 đã có những quy định cụ thể. Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thực hiện QCN, quyền công dân trên thực tế. Khoản 1 – Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ởnước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[23]. Có thể nói, những điểm mới vềQCN trong Hiến pháp năm 2013 là cơ sởpháp lý cực kỳquan trọng, định hướng cho những thayđổi của luật pháp nước ta tới đây vềQCN, góp phần làm giảm bớt những sai sót của quá trình thực thi pháp luật, đặc biệt là do những cánhân cụ thể trong quá trình thực thi pháp luật gây ra. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xửcho thấy, có lúc, có nơi việc tôn trọng và bảo vệcác QCN, nhất là đối với các đối tượngyếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cáchđầy đủ, toàndiện. Đối với những lĩnh vực đặc thù, liên quan đến sinh mạng chính trị của con người, nếu để xảy ra oan sai, hậu quả rất lớn, nhiều trường hợp không thể khắc phục, bồi thường được.
Dưới góc độ bảo vệ QCN trong TTHS, căn cứ vào địa vị pháp lý đặc thù của
bị can, bị cáo là người tham gia TTHS “yếu thế”hơn cả, bị mất đi một số quyền màpháp luật quy định, lại phải đối trọng với CQTHTT thực hiện chức năng buộc tội làCQĐT, VKS. Họ phải đối mặt với cả bộ máy cơ quan nhà nước hoạt động có tính chuyên nghiệp, với đội ngũ ĐTV, KSV được đào tạobài bản, được nhà nướctrảlương và cung cấp trang thiết bịlàm việc cần thiết. Họcó thểbịáp dụng một sốbiện pháp ngăn chặn và ít có khảnăng bìnhđẳng vớicác bên buộc tội trong hoạt động chứng minhởgiai đoạnđiều tra (thu thập, đềxuất chứng cứ). Vớitư tưởng truyền thống thì chúng ta thường bảo vệ“người yếu”nên tác giả thấy rằng những người bị buộc tội là những người có khả năng bị tổn thương các QCN khi tham gia TTHS. Do vậy, bảo vệ các QCN trong TTHS của những người bị buộc tội là “đối tượng trọng tâm” của việc bảo vệ QCN trong TTHS. Trong phạm vi luận văn này, tác giả xin làm rõ một số QCN của bị can, bị cáo trong một số khía cạnh như sau:
2.1.1. Bảo đảm quyền con người khi áp dụng biện pháp tạm giam
Mọi người đều có quyền được tôn trọng, tự do và an toàn cá nhân. Rõ ràng, nếu quyền tự do và an toàn cá nhân của con người không được bảo đảm một cách hiệu quảthì việc bảo vệcác quyền cá nhân khác ngày càng dễbịtổn thương vàkhông thực tế. Tuy nhiên, nhưđã được chứng minh bởi các hoạt động của các tổchức giám sát quốc tế, việc bắt và giam giữ không có căn cứ hợp lý và không có các biện pháp pháp lý bảo vệ hiệu quả các nạn nhân có liên quan xảy ra phổ biến. Trong thời gian bị tước quyền tự do một cách trái pháp luật và tùy tiện như vậy, người bịtạm giam cũng thường xuyên bị tước quyền được tiếp cận luật sư và gia đình. Đồng thời chịu sự tra tấn và các hình thức đối xử dã man khác.
Trong hoạt động hỏi cung, theo quy định của BLTTHS năm 2015 (BLTTHS), bị can, bị cáo “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (Điều 60, Điều 61). Quy định này bảo đảm cho
bị can, bị cáo bị tạm giam thực hiện quyền được im lặng. Ngoài ra, quy định về việc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung và trước khi hỏi cung, CQĐT phải thông báo thời gian, địa điểm hỏi cung cho người bào chữa, KSV biết để tham gia (Điều 183, BLTTHS), đã bảo đảm sự khách quan, công khai trong
hoạt động tố tụng. Điều này giúp người bị tạm giam tự tin hơn trong việc cung cấp thông tin và đề xuất các biện pháp để bảo vệ mình.
Trong hoạt động giám định, định giá tài sản, BLTTHS năm 2015 quy định đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giámđịnhnhữngvấn đề liênquan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đượcxem kếtquả,đượcbảođảm thời hạn (các Điều 207đếnĐiều 222). Quyđịnh này bảo đảm cho người bịtạm giam có quyền yêu cầu trưng cầu giám định, định giá lại để không bị thiệt hại, vì điều này liên quan đến hậu quả của tội phạm và trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường dân sựmà người bịtạm giam phải gánh chịu. Thực tế thường thấy, người bị tạm giam thực hiện quyền yêu cầu giám định lại, định giá lại tài sản ở giai đoạn xét xử khi có hướng dẫn, tư vấn của người bào chữa là luật sư. Bị can, bị cáo thường không thực hiện quyền yêu cầu giám định lại, định giá lại vì họ không biết mình có quyền đó và cũng không có điều kiện để thực hiện các quyền này.
Theo quyđịnhtừĐiều 201 đến Điều 204 BLTTHS năm 2015, hoạt động khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra phải có sựtham gia của KSV; CQĐT phải lập biên bản, chụp bản ảnh, lập biên bản lưu giữ đầy đủ dấu vết, mô tảdấu vết, để bảo đảm quyền cho người bị tạm giam khi xem xét lại các tình tiết mình bịbuộc tội. Trong mộtsốtrường hợp, người bịtạm giam có thểđược chứng kiến cuộc khám nghiệm hiện trường và đóng vai trong hoạt động thực nghiệm điều tra, nhằm kiểm tra, đối chiếu tính xác thực của tình tiết vụ án.
Các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói quy định tại các Điều 189, 190, 191 của BLTTHS năm 2015 bắt buộc KSV phải tham gia giám sát để đảm bảo ĐTV thực hiện đúng thủ tục, trình tự tố tụng.
Biện pháp điều tra đặc biệt được thiết lập mới tại Chương 16 BLTTHS. Theo đó, cácđiều kiện để được ápdụng các thủ tục đặc biệt như: ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật, thu thập bímậtdữliệu điệntử, chỉđược áp dụngđốivới những loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia,
tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền và việc áp
dụng phải do cơ quan cấp tỉnh áp dụng, có sự phê chuẩn của Viện trưởng VKS cấp
tỉnh… đã tránh được tình trạng lạm dụng, vi phạm các quyền được bảo mật về thưtín, điện tín, bí mật đời tư của con người.
Các hoạt động điều tra khác như: tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, bắtbuộc chữa bệnh,kếtthúcđiềutrađượcquyđịnhcụthể, rõ ràng,đãkhắc phục tình trạnglạmdụng kéo dài thờihạngiải quyết, gâybấtlợi, thiệthạicho người bị tạm giam.
2.1.2. Quyền được xét xử công bằng
Quyền được xét xửcông bằng của bịcáo trong hoạt động TTHS nói chung và trong phiên tòa xét xử vụ án hình sự nói riêng là sự cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người, quyền công dân khi một người thực hiện hành vi phạm tội được quyđịnh trong BLHS, đã bị VKS ra quyết định truy tố và TA ra quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử. Trong số các quyền của bị cáo được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thì quyền được xét xử công bằng là một trong những quyền quan trọng, là phương tiện thực hiện các quyền khác của bị cáo tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Xét xử công bằng là một nguyên tắc mới trong pháp luật hình sự Việt Nam nhưng nội dung của nguyên tắc được thểhiện bởi nhiều nguyên tắc khác nhau. BLTTHS năm 2015 quy định nhiều nguyên tắc trong hoạt động tốtụng đềuchứa đựng tinh thần xét xử công bằng, bảo đảm QCN. Như vậy, có thể khẳng định quyền được xét xửcông bằng là một tập hợp các quyền vềmặt tốtụng, bao gồm: quyền được bào chữa, được suy đoán vô tội, quyền được xét xử bởi một TA độc lập, công khai, quyền kháng cáo, quyền được bồithường trong trường hợp xét xửoan sai, quyền không bị áp dụng các quy định pháp luật có hiệu lực hồi tố, quyền không bị
xét xử hai lần về cùng một tội phạm…
Trước năm 2013, quyền được xét xử công bằng của bị cáo tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự chưa được pháp luật trực tiếp ghi nhận. Đến Hiến pháp năm 2013 quyền này mới được quy định tại khoản 2 Điều 31: “Người bị buộc tội phải được TA xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét
xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai”. Ngoài ra các khoản khác của Điều 31 vàmộtsốđiềukhác củaHiến pháp nhưĐiều 102, Điều 103 quy định một số quyền tố tụng của người bị buộc tội chứa đựng nội dung quyền được xét xử công bằng. Cụ thể hóa quy định trên đây của Hiến pháp, Luật Tổ chức TA nhân dân năm 2014 quy định: “TAnhân dân xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng”(Điều 11). BLTTHS năm 2015:‘‘TAxét xửkịp thời
trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng…” (Điều 25). So với Điều 50 BLTTHS năm 2003, Điều 61 BLTTHS năm 2015 quyđịnhbị cáo có một số quyền mới nhưquyền được “trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Quy định này có ýnghĩa giúp bị cáo cung cấp thêm những chứng cứ gỡ tội, chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có
quyền được “trình bày lời khai,…, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Bịcáo có quyền “đềnghịchủtọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòanếu được chủ tọa đồngý; tranh luận tạiphiên tòa”.Bịcáo có quyềnđược“xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổsung vào biên bản phiên tòa”. Pháp luật vềquyền được xét xửcông bằng của bị cáo tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự được thể hiện thông qua các nguyên tắc trong TTHS, đượcquyđịnhtrong BLTTHS năm 2015 (tại Điều4đến điều 12,Điều18, Điều 19, Điều 29 đếnĐiều 31, Điều 58, Điều 74). Quyđịnhvềquyền được xét xử công bằng còn được thể hiện qua các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, về chứng cứ và quá trình đánh giá chứng cứ, chứng minh trong TTHS, về các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, về các quy định vềtrình tự, thủtục tiến hành phiên tòa, vềkhiếu nại tốcáo trong TTHSđược ghi nhận tại BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức TA nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017…
2.1.3. Quyền của trẻ em
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền con người của bị can bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam

