TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận án

Mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữvà trẻ em là một vấn nạn mang tính toàn cầu và đang có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại trên phạm vi toàn thếgiới, bất chấp nhữngnỗ lực mà cộngđồng quốc tếquốctế và các quốc giađãvàđang thực hiện. Do tính chất “xuyên quốc gia” củahoạtđộngbuôn bán người màviệc đấu tranh phòng, chống buôn bán người hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay giới hạn ở một khu vực nào mà đang được toàn thế giới tích cực phối hợp thực hiện và cần phải có sự hợp tác song phương và đa phương giữa các cơ quan chức năng của các quốc gia.

Suốt nhiều thập kỷqua, chính phủ Việt Namđã có những nỗ lực đáng kể nhằm phòng ngừa và ngăn chặn nạn mua bán người. Trong khuôn khổ quốc gia,điều này thể hiệnở việc sửa đổi, bổsung hoặc ban hànhmớimột số đạo luật quan trọng, nhưBộluật hình sự(BLHS) năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS 2015(đượcsửa đổi,bổ sung năm 2017), Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 và một số văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống mua bán người. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường đấu tranh phòng, chống mua bán người. Bên cạnh đó, nhiều văn bảnchỉ đạo, điều hành củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã được ban hành như: Quyết định số130/2004/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụnữ, trẻem từ năm 2004đếnnăm 2010; Quyếtđịnhsố1427/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội mua bán người giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 2546/QĐ-TTg ngày 31/12/2015 phê duyệt Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016-2020; Quyếtđịnh số 193/QĐ-TTg ngày 9/02/2021 phê duyệt Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030.

Ở phạm vi quốc tế, Việt Nam đã là thành viên của nhiều Công ước quốc tế liên quan đến phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là Nghị định thư (NĐT) không bắt buộc về mua bán trẻem, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâmtrẻem, bổ

2

sung cho Công ước về quyền trẻ em; NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị, tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ vàtrẻem, bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc (LHQ) về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người, đặc biệtlà phụ nữvà trẻ em (ACTIP). Việt Nam cũng đãkýkếtcác hiệp địnhsong phương và đa phương với các nước trong khu vực về phòng, chống mua bán người như: Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Căm- Pu-chiavềhợptác song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và giúpđỡ nạnnhân bị buôn bán năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Biên bản ghinhớvề hợp tác chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Căm-Pu-chia năm 2007; Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác song phương nhằm loạitrừbuôn bán người, đặc biệt đối với phụ nữvà trẻ em và giúp đỡ nạn nhânbị buôn bán (năm 2008); Hiệpđịnhgiữa ChínhphủnướcCHXHCN Việt Nam và ChínhphủnướcCộng hòa dânchủnhân dân (CHDCND) Lào vềhợptác phòng, chống buôn bánngườivàbảovệnạnnhân bịbuôn bán; Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nướcCộng hòa nhân dân (CHND) Trung Hoa về tăng cường hợp tác phòng, chống mua bán người; Biên bản ghinhớvềHợptác đa phương giữa cácnước tiểu vùng sông Mekong năm 2005 về chống mua bán người (COMMIT MOU); Tuyên bốASEANvề bảo vệ vàthúc đẩy quyền của lao động di cư năm 2007. Việt Nam cũng hợp tác với Úc trong dự án phòng chống buôn bán người khu vực Châu Á (ARTIP).Đồng thời, Việt Nam cũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữuquan của LHQ (UNICEF, UNODC, IOM, UNIAP, UNIDO…) nhằm triển khai nhiều dựán bao gồm “Dựán đánh giá và đề xuất điều chỉnh chính sách, chiến lược về Phòng, chống lạmdụng trẻ em giai đoạn 2001-2010”; “Dựán Phòng, chống mua bán phụ nữvà trẻ em trong khu vực các quốc gia tiểu vùng sông Mêkong”;…

Cùng với sựnỗlựccủa Đảng và Nhà nước ta, công tác phòng, chống mua bán ngườicũngđãthựcsựnhậnđượcsựquan tâmcủacác cấp, các ngànhtạicác tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Bộ Công an1 thì trong giai đoạn 2012-2017, cả nước đã phát hiện và khởi tố 1.021 vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 3.090 nạn nhân, liên quan đến 2.035 đối tượng; năm 2018 là 211vụán mua bán người, mua bán trẻ em với 386 nạn nhân2 và năm 2019 là 192 vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 309 nạn nhân3.Tình trạng mua bán người, mua bán trẻ em diễn biến rất phức tạp và xảy ra trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố. Nạn nhân gồm cả phụ nữ, trẻ em, nam giới, trẻ sơ sinh với những mục đích khác nhau như bóc lột lao động, lạm dụng tình dục, mua bán nội tạng, đẻ thuê… Trong số các vụ mua bán người đã phát hiện thì cótớigần85% là mua bánngườiranướcngoài,tậptrungchủyếuqua các tuyến biên giới giữa Việt NamvớiCampuchia, Lào và Trung Quốc, trongđó,sang Trung Quốc chiếm 75%, chỉ khoảng 15% là mua bán người trong nước.

Như vậy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống mua bán người, mua bán trẻ em nhưng tình hình tội mua bán người, tội mua bán trẻ em vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Thực tiễnđấutranh với loại tội phạm này khi áp dụng quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để xửlý tội phạm đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắcdo các quy định của BLHS chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn tới có cách hiểu chưa thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, đặc biệt là vấn đềđịnh tộidanh khi phân biệttộimua bán người, tội mua bán trẻ emvới một số tội phạmkhác được quy định trong BLHS hoặc với các hành vi vi phạm pháp luật khác có sự tương đồng về hành vi khách quan.

Để khắc phục những hạn chế, bấtcậpcủaBLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung rất cơ bản và toàn diện đốivới 02tộidanh này. Theo đó,quyđịnhvềtộimua bánngườivàtộimua bán người dưới 16 tuổi trong BLHS năm 2015đã tiệm cận rấtgầntới nội dung của NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt làphụ nữ vàtrẻ em, theo đó, hành vi mua bán người phải bao gồmđầy đủ 03yếutố cơ bản: thủ đoạn; hành vi và mục đích. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào vềtộimua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 150 và Điều 151 BLHS năm 2015 để phân tích, đánh giá xem những quy định này đã khắc phục đượchếtnhững hạn chế, bất cập trong các quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổsung năm 2009)vềtộimua bán người và tội mua bán trẻ em cũng như khắc phục được những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật hay chưa và quy định tại Điều 150 và Điều 151 BLHS năm 2015 có tồn tại những bất cập, hạn chế nào vàcác quyđịnhtại hai điều luật này có phát huy hiệu quả trong đấu tranh với tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi hay không.

Do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ với mục đích nghiên cứu, đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của BLHS năm 2015 về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi dưới góc độ lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán người, tội mua bán trẻ em. Kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ góp phần tích cực vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự nói riêng cũng như vào công cuộc đấu tranh chống tội mua bán người, tội mua bán trẻ em nói chung một cách thiết thực và hiệu quả hơn.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của Luận án là đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán người và tội mua bán trẻ em.

Với mục đích nên trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:

Một là, nghiên cứu những vấn đề về lý luận chung nhằm xây dựng định nghĩa về tội mua bán người. Đồng thời, phân tích pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia, vùng lãnh thổ và pháp luật Việt Nam nhằm làm sángtỏ về mặt lý luậntội mua bán người, tội mua bán trẻ em.

Hai là, đánh giá quy định về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và BLHS năm 2015, đồng thời, phân tích, làm rõ thực tiễn xét xử các tội phạm này thông qua hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt với những số liệu cụ thể. Từ đó, nêu ra những tồn tại, hạn chế trong các quy định của BLHS năm 2015 cũng như những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và những khó khăn, vướng mắc đó.

Ba là, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS năm 2015, góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng, chống tội mua bán người và tội mua bán trẻ em.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứucủa luận án là những vấn đề lý luận về tộimua bán người, tội mua bán trẻem; thực trạng quyđịnh của pháp luật hình sựViệt Nam, pháp luật quốc tế, pháp luậtmộtsố quốc gia và vùng lãnhthổkhácvề tộimua bán người, tội mua bán trẻ em cũng như thực tiễn xét xử tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong 10 năm qua.

Về phạm vi nghiên cứu, Luận ánđượcnghiên cứu dưới góc độ luật hình sựvềtội mua bán người,tộimua bán trẻ em. Luận án sẽ nghiên cứu các quyđịnhcủa BLHS về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em cũng như việc áp dụng các quyđịnh này trong thực tiễn xétxửtộimua bán người, tội mua bántrẻem trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2011 đến năm 2020.

Với sựthayđổi tên tộidanh là “tội mua bán người dưới 16 tuổi” của BLHS năm 2015 thay vì “tội mua bán trẻ em” của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì mua bán trẻ em hay tội mua bántrẻem được nêu trong Luận án này cũngđược hiểu chính là mua bán người dưới 16 tuổi hay tội mua bán người dưới 16 tuổi.

4. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

4.1. Câu hỏi nghiên cứu

1. Về mặt lý luận và thực tiễn thì tội mua bán người, tội mua bán trẻ em cần có những yếu tố nàođểđảm bảo nhận thức rõ ràng về loại tội phạm này?

2. BLHS hiện hành quyđịnhvề tộimua bán người, tôi phạm mua bántrẻem như thế nào? Các quy định này đã tương thích, hài hoà với pháp luậtquốc tếvà pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ hay chưa? Đã đáp ứngđược yêucầuđấu tranh phòng, chống loại tội phạm này hay chưa?

3. Việc áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻem trong thực tiễn xétxửcácvụ án mua bán người, mua bán trẻem được thực hiện như thế nào và có những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc gì?

4. Các giải pháp nào cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả thực thi các quyđịnh của BLHS trong đấu tranh với tội mua bán người, tội mua bán trẻ em?

4.2. Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu là những luận điểm cần chứng minh và làm sáng tỏ, tác giả luận án xác định giả thuyết nghiên cứu của luận án như sau:

Tạithời điểm hiện nay, mặc dù pháp luật hình sự Việt Namđãngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng tốthơn yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội mua bán người, tội mua bántrẻem, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bấtcập, hạn chếnhấtđịnh cảvề mặt lý luận và thực tiễn. Điều này có thể giải quyết được thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giánhững vấn đềlý luận, thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vềtộimua bán người, tội mua bán trẻ em, đồngthời,đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS trong đấu tranh với loại tội phạm này.

4.3. Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Luận án tiếpcậnvà nghiên cứutộimua bán người,tộimua bán trẻ em theo quy định của BLHS Việt Nam, mà trọng tâm là quy định của BLHS năm 2015. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật hình sựViệt Nam cũng như pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về loại tội phạm này, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xửtội phạm đểđề xuấtmột số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS hiện hành về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 5.1. Phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đócó tội mua bán người, tội mua bán trẻ em.

5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu sau đây:

– Phương pháp lịch sửđược sửdụng đểnghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, pháp luật quốc tế về tội mua bán người, mua bán trẻ em.

– Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạpđược sửdụng nhằm trình bày, làm sáng tỏ các quan điểm, quan niệm về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em trong pháp luật Việt Nam, pháp luật của một số quốc gia khác và pháp luật quốc tế, vềthực tiễn xétxửtội mua bán người, tội mua bán trẻ em ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơsởđó,xác địnhbảnchất,đặcđiểm củahành vi mua bán người, mua bán trẻ em, sựphù hợp và bất cậpcủa các quyđịnh củaBLHSvề tội mua bán người, tội mua bántrẻem; từđórút ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định có liên quan của BLHS Việt Nam.

– Phương pháp thống kê, tổng hợp được sử dụng trong việc làm rõ thực tiễn xét xửtội mua bán người, tội mua bán trẻ emở Việt Nam trong thời gian qua; những mặttích cực, tiến bộvà nhữnghạnchế, bấtcậptrong các quyđịnh có liên quan của BLHS Việt Nam.

– Phương pháp hệ thống hóa được sửdụng nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong Luận án theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấnđề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho Luận án.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án sẽ phân tích, đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập của BLHS hiện hành về tội mua bán người và tội mua bán trẻ emdướigóc độ lýluận và thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự, góp phần hiệu quả trong việc áp dụng các quy định của BLHS vào công tác đấu tranh với tội mua bán người, tội mua bán trẻ em. Do vậy, kết quả mà luậnán cần đạt được là:

– Làm sáng tỏ về mặt lý luận của tội mua bán người, tội mua bán trẻ em, làm cơsở khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng luật thực định liên quan đến tội mua bán người, tội mua bán trẻ em.

– Quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ, pháp luật của Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em và khái niệm, bản chất, dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này; sự tương đồng và khác biệt về cách thức quyđịnh, vềchính sáchxử lý tộimua bán người, tội mua bán trẻ emcủaViệt Nam so với cộng đồng quốc tế và một số quốc gia, vùng lãnh thổ.

– Làm sáng tỏưu điểmcũng như nhữnghạnchế, bấtcậptrong các quy định của BLHS hiện hành về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em.

– Phân tích, làm rõ thực tiễn xét xửtội mua bán người, tội mua bán trẻ em thông qua việc đánh giá hoạt độngđịnhtội danh, quyết định hình phạt đốivớicác tội phạm này.

– Các giải pháp hoàn thiện quy định về các tội phạm này trong BLHS Việt Nam của Luận án là nguồn tham khảo có giá trị đối với nhà làm luật nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong tình hình mới.

PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1.1. Các nghiên cứu trong nước

Nếu như vào những năm 90 của thế kỷ XX,tộimua bán người, tội mua bán trẻ em chỉ xuất hiệnlẻtẻ tại một số tỉnh, thành phố biên giới thì trong hơn hai thập kỷqua, đặc biệt là những năm đầu của thế kỷ XXI, loại tội phạm này đã lan rộng ra tất cảcác tỉnh, thànhphốtrên cảnước.4 Thực trạng gia tăng của loại tội phạm này với hình thức, phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt trong thời gian qua đãthúcđẩynhững công trình nghiêncứuvềcácvấnđềliên quanđếntộimua bán người và tội mua bán trẻ em ở trong nước và ngoài nước cũng ngàycàng đượcchú trọng hơn. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiêncứu chỉ mớichủ yếu tậptrung vào công tác phòng ngừa tội mua bán người, tội mua bán trẻ em. Chính vìthế, sốlượng các công trình nghiên cứu về pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này còn rất hạn chế.

Việc hệ thống tình hình nghiên cứu trong nước về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em sẽđược thực hiệndướihai góc độ: (1) các nghiên cứu về lý luậncủatội mua bán người, tội mua bán trẻ em; (2) các nghiên cứu về thực trạng quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em.

TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.1. Các nghiên cứu về lý luận của tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1. Các nghiên cứu về lý luận của tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

1.2.2. Nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốcgia và vùng lãnh thổvề tộibuôn bán người, tội buôn bán trẻ em và thực tiễn áp dụng những quy định đó

2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

2.1. Những kết quả nghiên cứu luận án kế thừa, tiếp tục phát triển

2.2. Những vấn đềchưa đượcnghiên cứu

– Về mặt lý luận, các nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận cơ bản vềtộimua bán người,tộimua bántrẻem. Các quanđiểmkhá thống nhấtvềnhững nhận thức chung về bản chất của mua bán người. Tuy nhiên, hiện chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệmvề“hànhvi mua bánngười”và khái niệmvề“tộimua bán người”. Điều nàyđòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu về lý luận để có nhận thức cụ thể, chi tiết và toàn diện về tội phạm này.

– Về khía cạnh pháp luật quốc tế, các nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật một sốquốc gia và vùng lãnhthổvềtộibuôn bán người,tộibuôn bántrẻemvớinhững mục đích khác nhau, chưa có nghiên cứu nào so sánh, đánh giá các quy định của pháp luật quốc tế về tội buôn bán người, tội buôn bán trẻ em với quy định của BLHS năm 2015. Đây là lĩnh vực nghiên cứu có nhiều tiềm năng và còn đang bỏ ngỏ.

– Về thực trạng quy định của pháp luật, có thể thấy rõ, việc nghiên cứu các quyđịnh của BLHS Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em đều tập trung phân tích những dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội phạm của từng tội danh. Tuy

39

nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi BLHS năm 2015 có nhữngsửa đổi, bổsung khá cơ bản và toàn diện đối với hai tội phạm này, đồng thời, có bổ sung thêm một số tội phạm mới có liên quan, nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể về tộimua bánngườivà tội mua bán trẻ em để thấy được mối liên hệ giữa cácđiều luật trong BLHS năm 2015. Đây là vấn đề cần được phân tích, đánh giá cụ thể.

– Về thực tiễn áp dụng pháp luật, một số nghiên cứu về thực tiễn áp dụng quyđịnh củaBLHS Việt Namđối với loại tội phạmnày cũngđã được nhiều tác giảquan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, tínhđếnthời điểmhiện nay, chưa có công trình nghiên cứu một cách toàndiện và đầy đủ về tội muabán người, tội mua bán trẻ em dưới gócđộ Luật hình sự và tố tụng hình sự. Với những nghiên cứu mà tác giả khảo sátđược đã khá lâu, nhiều nội dung không còn cập nhật, nhiều giải pháp kiến nghị đã phần nào được đưa vào thành quy định của BLHS năm 2015. Trong khi đó, sự phát triển nhanh chóng và diễn biến phức tạp của loại tội phạm này làm nảy sinh nhiều vấn đề trong thực tiễncần được xác định và giảiquyết. Điềuđó đặtra yêucầucần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đồng thời đề ra những giải pháp căncơ, kịp thời đểnâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng quy định của BLHS về loại tội phạm này.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, khi BLHS năm 2015 mới có hiệu lực từngày 01/01/2018 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản và toàn diệnđối vớitội mua bán người, tội mua bán trẻ em của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do vậy, ở thời điểm hiện tại, mặc dù những quy định về tội mua bán người, tội mua bán ngườidưới16 tuổi của BLHS năm 2015 mới được áp dụng hơn ba năm nhưng cũng cầnđượcnghiên cứu, phân tích và đánh giá cụ thể giá trịcủacác quy định này về tính hiệu quả khả thi trong áp dụng pháp luật, sự phù hợp, đáp ứng với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều này sẽ góp phần tích cực trong công tác đấu tranh với tội mua bán người, tội mua bán trẻ em hiệu quả hơn và thực chất hơn.

2.3. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của tác giảvề những vấnđề lý luận và thực tiễn về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em tại các công trình nghiên cứu ở trong nước và nướcngoài, trong luận án của mình, tác giả sẽ tập trung giải quyết những

40

vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc nội dung luận án như sau:

Thứ nhất, về lý luận

Xác định rõ phạm vi của tội mua bán người, tội mua bán trẻ em thông qua việc xây dựng khái niệmvề “hành vi mua bánngười” và khái niệmvề “tội mua bán người” đảm bảo có sựphân biệt giữa tội mua bán người, tội mua bán trẻ em với một số tội phạm khác có liên quan.

Thứ hai, về thực trạng pháp luật

– Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻemtừkhi có BLHS đầu tiên (năm 1985) đến nayđể thấyđược sự tiến triển của pháp luật đối với tội phạm này; mối liên hệ giữa loại tội phạm nàyvớimột số tộipháp khác có tính chất tương đồngtrong BLHS. Đâylà cơsởpháp lý quan trọng để phân tích, đánh giá được hiệu quả của công tác đấu tranh với loại tội phạm này. Trên cơ sở đó, xácđịnhđược một sốtồntại, hạn chế trong các quy định hiện hành của BLHS về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em, làm căn cứ đề xuất sửa đổi, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.

– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá tính tương thích giữa pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế cũng như so sánh với pháp luật hình sự của một số quốc gia và vùng lãnh thổtrên thế giớiđể làm nổi bậtđặc điểm,sựkhác biệt và tươngđồngtrong cách quyđịnh đối với loại tội phạm này, làmđịnh hướng cho đề xuất sửa đổi, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam

Thứ ba, về thực tiễn xét xử tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

Đánh giá thực trạng công tác xét xửtội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong giai đoạn 10 năm,từnăm 2011 đến 2020, đặcbiệt là thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa BLHS năm 2015 trongviệc định tộidanh và quyết định hình phạt để thấyđược sựkhác biệt trong thực tiễn thực thi pháp luật khi pháp luật có sự thay đổi về chính sáchxửlý, đặc biệt là thấy đượctính hiệu quả, khả thi của các quy định của BLHS năm 2015 về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em khi được vận dụng vào thực tiễn xét xử.

Thứ tư, về giải pháp, kiến nghi

41

Trên cơ sở phân tích, đánh giá về mặt lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật cũng như yêu cầu của thực tiễn đấu tranh vớitộimua bán người,

tội mua bán trẻ em đặt ra hiện nay, yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủnghĩa, tácgiảsẽ đưa ramộtsốkiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sựvà các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quyđịnh của BLHS năm 2015 về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em, góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn đối với loại tội phạm này.

42

PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

TỘI MUA BÁN NGƯỜI, TỘI MUA BÁN TRẺ EM

1.1. Khái niệm tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

1.1.1.Khái niệm tội mua bán người, tội mua bán trẻ em theopháp luật quốc tế

Liên quan đến khái niệm buôn bán người của cộng đồng quốc tế, trước khi cóCông ước quốc tế về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mạidâm người khác năm 1949 thì cóthể kểtới bốn văn kiện pháp lý quốc tế,đólà Thoả thuận quốctế năm 1904 về ngăn chặn buôn bán nôlệda trắng54 (Thoả thuận 1904), Công ước quốc tế năm 1910 về ngăn chặn buôn bán nô lệ da trắng55 (Công ước 1910), Côngước quốc tế năm 1921 về trấn áp buôn bán phụ nữ và trẻ em56 (Công ước 1921) và Công ước quốc tế năm 1933 về trấn áp buôn bán phụ nữ trong mọi lứa tuổi57 (Công ước 1933). Có thể nhận thấy, ở bốn văn kiện quốc tế này đã có sự thay đổi khi khái niệm “buôn bán nô lệ da trắng” được đổi thành khái niệm “buôn bán phụ nữ/buôn bán trẻ em”. Thoả thuận 1904 chỉ đề cập tới các tình huống phụnữbị lừa dối hoặcép buộc tham gia vào hoạt động mại dâm ở nước ngoài, Công ước 1910 đã mở rộng sang các tình huống mua bán và dụ dỗ phụnữvà trẻ em gái đồng ý tham gia vào hoạt động mạidâm. Khái niệm “buôn bán nô lệ datrắng”được đềcập tại Điều 1 vàĐiều 2 của Công ước 1910, gồmsựmua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo và đưa trẻ em gái

(chưa đủ tuổi trưởng thành) đi ngay cả khicó sựđồngý củangườiđó của vì mục đích vô nhân đạo;hoặc đã lừa gạt, dùng vũ lực, đe doạ, lạmdụng quyền lực hoặc

54 Thoả thuận quốc tế về ngăn chặn buôn bán nô lệ da trắng (1904), mở ký ngày 18/5/1904, có hiệu lực ngày 18/7/1905.

55 Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán nô lệ da trắng (1910), mở ký ngày 04/5/1910, có hiệu lực ngày 8/8/1912.

56 Công ước quốc tế về ngăn chặn buôn bánphụnữ và trẻ em (1921), mở ký ngày 30/9/1921, có hiệu lực ngày 15/6/1922.

57 Công ướcquốc tếvề ngăn chặn buôn bán phụ nữ ở mọi lứa tuổi (1933), mở ký ngày 11/10/1933, có hiệu lực ngày 24 /8/1934.

43

bằng bất kỳ một phương thức cưỡng chế nào khác đối với phụnữđã trưởng thành và đưa họ đi vì mục đích vô nhân đạo.

Công ước 1921 và Công ước 1933 đãsửdụng khái niệm “buôn bán phụ nữ vàtrẻ em” và Điều 2 Công ước 1921 đã mở rộng phạm vi buôn bán trẻ em, bao gồm cả trẻ em trai và trẻ em gái. Công ước 1933 đã tiến xa hơn khi Điều 1 Công ước quyđịnh sẽ trừng trị cả việc mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo và đưa phụ nữở bất kỳ độ tuổi nào đi ngay cả khi có sự đồng thuận của họ. Như vậy, có thể thấy rằng, ở giai đoạn này khái niệm buôn bán phụ nữ, trẻ em (buôn bán người) chỉ tập trung vào vấn đề di cư quốc tế bất hợp pháp mà chưa chú trọng tới yếu tố bị ép buộc và bóc lột.

Công ước về trấn áp việc buôn bánngườivà bóc lột mại dâm người khác năm 194958 (Công ước1949)đượcLHQ thông qua ngay sau khi tổchức này đượcthành

lập vào năm 1945 đã mở rộng phạm vi áp dụng khi dùng khái niệm“buôn bán người” để baogồmcảbuôn bánphụ nữ vàbuôn bán nam giới. Mặc dù tên gọi của Côngước 1949 là “trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác”, nhưng Công ước lạikhông đưa ra định nghĩathếnào là buôn bán người. Theo Điều 1củaCông ước thìcác quốc gia thành viên cần trừng phạt hai nhóm hành vi, đó là (i) môi giới, dụ dỗhoặc dẫn dắt người khác nhằmmụcđíchmạidâm, ngaycảkhi có sự đồng ý của người đó; và (ii) bóc lột mại dâm người khác, ngay cả khi có sự đồng ý của người đó. Như vậy, cũng giống như Công ước 1933, Công ước 1949 coi buôn bán người là tội phạm và cần trừng trị ngaycảkhi có sự đồng thuận của nạn nhân, hay nói cách khác, sự đồng ý hoặc không đồng ý của nạn nhân bị mua bán không có ý nghĩa trong việc xác định hành vi buôn bán người theo Công ước này. Theo Gallagher, Công ước 1949 được xem là công cụ pháp lý quốc tế đầu tiên về buôn bán người và giải quyết cả vấnđềvề quá trình buôn bán người vàkếtquả củaviệc buôn bánngười59.

Như vậy, tớitrướcnăm 2000, mặc dù cộngđồng quốc tếđãthông qua mộtsốvăn kiện quốc tế để điều chỉnh vấn đề buôn bán người ở từng khía cạnh khác nhau,

58 Côngướcquốc tế về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mạidâm người khác (1949),mở ký ngày 01/12/1949, có hiệu lực ngày 25/6/1951.

59 Anne T Gallagher, (2010), The International Law of Huaman Trafficking, Cambridge University Press 2010 (13), page.57.

44

tuy nhiên, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về buôn bán người được thừa nhận. Ở giai đoạn này, buôn bán người đượchiểu là việc đưa một người vào tình huống bị bóc lột và thực tế bóc lột người đó – đây là quá trình và kết quả của việc buôn bán người. Đến năm 2000, sau gần nửa thế kỷnghiên cứu, xem xét vấn đề buôn bán người ở nhiều khía cạnh khác nhau, cộng đồng quốc tế đã đưa ra một định nghĩa thống nhất về buôn bán người tại Điều 3 NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trịviệc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữvà trẻ em60 (bổ sung Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia), theo đó, “buônbánngười được hiểulàviệc tuyểnmộ,vậnchuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe doạ dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồngý của một người có quyền kiểm soátđối với những người khác”.

Với khái niệm này của NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em thì buôn bán người gồm đầy đủ ba yếu tố cơ bản, gắn kết mật thiết với nhau, đó là: (i) hành vi gồm một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận một người; (ii) thủ đoạn gồm một trong các thủ đoạn đe doạ dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạmdụng quyền lực hoặcvị thếdễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sựđồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác và (iii) mục đích bóc lột, vàở mức tối thiểulà bóc

lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụcưỡngbức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phậncơ thể. Theo NĐT thì cả ba yếu tố này là cần thiết để hình thành nênđịnh nghĩa buôn bán người đã trưởng thành (ngườitừđủ 18 tuổi trở lên), và nếu thiếu đi một trong ba yếu tốnày thì sẽ không phải là buôn bán người. Tuy nhiên, với khái niệm vềbuôn bán trẻ em (người dưới 18 tuổi) thì NĐT lại không đòihỏi yếu tốthủ

60 Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người,đặcbiệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho Công ước LHQ về chống tội phạm cótổchức xuyên quốc gia (2000), mở ký ngày 15/11/2000.

45

đoạn61, theo đóviệc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc nàyđược thực hiện không cần dùng đếnbấtkỳ một cách thức, thủ đoạn nào được. Nhưvậy, buôn bán trẻ emđược hiểu là việc tuyển mộ, vậnchuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột.

1.1.2. Khái niệm tội mua bán người, tội mua bán trẻ em theo pháp luật một số quốc gia và vùng lãnh thổ

– Cộng hòa Liên bang Đức: Theo BLHS của Cộng hòa Liên bang Đức thì buôn người là việc lợi dụng tình trạng khó khăn cấp bách hoặc tình trạng không có sự giúp đỡ liên quan đến việc lưu trú ở nước ngoài của nạn nhân đểđẩyhọ vào tình trạng bị bóc lột, có thể là bóc lột tình dục hoặc bóc lột sức lao động62.

– Canada: Theo BLHS Canada thì buôn bán người là việc tuyển mộ, vận chuyển, tiếp nhận, giam giữ, che giấu hoặc chứa chấp một người hoặc thực hiện việc kiểm soát, chỉ đạo, tạoảnh hưởng đối với hành vi của một ngườinhằmmụcđích bóc lột hoặc tạo thuận lợi cho việc bóc lột nạn nhân63.

– Cộng hoà Azerbaijan: Luật phòng, chống buôn bánngườicủaCộng hoà Azerbaijanđưarađịnh nghĩavềbuôn bán người, theođó,buôn bán ngườilà việc tuyểnmộ,vậnchuyển, chứa chấp, cho hoặc nhậnmộtngườibằng cáchsửdụng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, đe doạ hoặc các cách thức ép buộc khác, thông qua việc lừa gạt, dối trá, lạm dụng hoàn cảnh có thểbịảnh hưởng hoặc dễ bị tổn thương của nạn nhân, hoặc thông qua việc cung cấp hoặc nhận lợi ích vật chất, mốilợi hoặc đặc quyềnđểđạt đượcsựđồng thuận củangườicó quyền kiểm soát ngườikhác, nhằm mục đích bóc lột. Việc tuyển mộ, chứa chấp, thu nhận, vận chuyển, cho hoặc nhận trẻ vị thành niên cho mục đích bóc lột được coi là buôn bán người ngay cả khi khôngsửdụng các phương thức nêu trên64.

61Điều3 Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người,đặcbiệt là phụ nữ vàtrẻ em, bổ sung cho Công ước LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia quy định trẻ em là bất kỳngười nào dưới 18 tuổi.

62 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức năm 1871, (sửa đổi lầngầnđâynhất vào năm 2020), Điều 232 và Điều233.

63 Bộ luật hình sự Canada năm 1985 (sửa đổi lần gần đây nhất vào năm 2020), Điều 279.01. 64 Luật phòng, chống buôn bán người của Cộng hoà Azerbaijan năm 2005, Điều 1.

46

– Malaysia: Luật phòng, chống mua bán người và chống đưa người di cư trái phép năm 2007 (được sửa đổi, bổ sung năm 2016) của Malaysia đã định nghĩa buôn bán người là việc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận người bằng việc cưỡng bức người đó nhằm mục đích bóc lột, gồm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động hoặc nô lệ, các hình thức tương tự nô lệ, bấtcứ hoạt động bất hợp pháp nào hoặc lấy bộ phận cơ thể nạn nhân65.

– Philippines: khái niệm buôn bánngườicủaPhilippinesđượcđịnhnghĩa trong Luật phòng, chống buôn bán người năm 2003 (sửađổi,bổsung năm 2012), theo đó, buôn bán người là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao hoặc chứa chấp, cung cấp hoặc tiếp nhậnngườicó hoặc không cósựđồngthuậncủangườiđó,trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc qua biên giới bằng việc dùng thủ đoạn đe doạ hoặc sử dụng vũ

lực hoặc những thủ đoạn khác như lừa đảo, bắt cóc, lợi dụng quyền lực hoặc vị thế dễbị tổn thương của nạn nhân hoặc bằng cách đưa ra tiền hoặc lợi ích vật chất để đạt được sựđồng ýcủangười có quyền kiểm soát đốivớingườikhác nhằmmụcđích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, các hình thức nô lệ, hoặc lấy bộ phận cơ thể.

Buôn bán trẻ em là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, bắt giữ, nhận nuôi hoặc tiếp nhận một đứa trẻ với mục đích bóclộtngay cả khi không có bất kỳthủ đoạn nào nêu trên được sử dụng66.

– Vương quốc Thái Lan: Theo Luật chống buôn bán người thì buôn bán người làviệc tuyểnmộ,mua, bán, buôn bán, mang từ hoặc chuyển giao, giam hoặc giữ, chứa chấp hoặc tiếp nhận bất kỳ người nào bằng cách đe doạ hoặc sử dụng vũ lực, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm quyền hoặc cho tiền hoặc lợi ích để có được sự đồng ý của ngườiđang kiểm soát người khác cho phép kẻ phạm tội khai thác người đang bị kiểm soát.

Buôn bán trẻ em là việc tuyển mộ, mua, bán, buôn bán, chuyển giao, giam hoặc giữ, chứa chấp hoặc tiếp nhận trẻ em (người dưới 18 tuổi)67.

– Cộng hoà Sierra Leone: địnhnghĩa buôn bán ngườiđược nêu trong Luật phòng, chống buôn bán người, theo đó “buôn bán người là việc tuyển mộ, vận

65 Luật phòng, chống buôn bán người Malaysia năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2016), Điều 2. 66 Luật chống buôn bán người Philippines năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Điều 3.

67 Luật chống buôn bán người Vương quốc Thai Lan 2008, Điều 6.

47

chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận những người bị buôn bán, bằng cáchđe doạ hoặc sử dụng bạo lực hoặc các hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, gian dối, lạm dụng quyền lực hoặc hoàn cảnhdễ bịtổn thương hoặc bằng cách cho hoặc nhận tiền hoặc lợi ích để có được sựchấp thuận của người có quyền kiểm soát đối với người khác nhằm mục đích bóc lột nhằm mục đích bóc lột. Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhận trẻ em (người dưới 18 tuổi) nhằm mục đích bóc lột đượccoi là mua bán ngườingaycả khi việc đó được thực hiện không sử dụng bất cứ thủ đoạn nào68.

Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm về buôn bán người mà các quốc gia đưa ra chủyếudựatrên cácyếu tốđược nêu tạikhái niệmvềbuôn bánngười củaNĐTvề ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy cũng có một số sự khác biệt nhất định do tình hình thực tiễn hoặc quan niệm của từng quốc gia, nhưng nhìn chung, các quốc gia đều cho rằng, buôn bán người được hình thành từ ba yếu tố, đó là thủ đoạn, hành vi và mục đích. Theo đó, buôn bán người là việc sử dụng thủ đoạn để thực hiện một trong các hành vi như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận người nhằm kiểm soát người đó và đưa họ vào nguy cơ bị bóc lột, trong đó mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động hoặc lấy nội tạng cơ thể là những mục đích phổ biến nhất.

1.1.3. Khái niệm tội mua bán người, tội mua bán trẻ em theo pháp luật Việt Nam và đề xuất khái niệm mới về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

1.1.3.1. Sử dụng thuật ngữ “mua bán người” hay “buôn bán người”

Trong các văn kiện quốc tế và các công trình nghiên cứu quốctế thì hầu hết đều sửdụng thuậtngữ“human trafficking”69, khi dịch sang tiếng Việt là “buôn bán người”, chỉ duy nhất NĐT khôngbắt buộc vềmua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung Công ước về quyền trẻ em đã sử dụng thuật ngữ“sale of children”, khi dịch sang tiếng Việt là “mua bántrẻem”. Cùngvớiviệcsử

68 Luật phòng, chống buôn bán người Sierra Leone 2005, Điều 2.

69 Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặcbiệt là phụ nữ và trẻ em, bổcung Công ước của LHQ về chống tội phạm cótổchức xuyên quốc gia (2000), mở ký ngày 15/11/2000; CôngướcAseanvề phòng, chống buôn bán người,đặcbiệt là phụnữ và trẻ em (2015),mở ký ngày 21/12/2015.

48

dụng thuật ngữ “sale of children”, NĐT không bắt buộc về mua bántrẻem, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em đã đưa ra khái niệm về “mua bán trẻ em” hẹp hơn rất nhiều so với khái niệm mà NĐTvềngăn ngừa, phòng chống và trừngtrịviệc buôn bán người, đặc biệt làphụ nữ vàtrẻ em và Công ước ASEAN đã đưa ra. Theo NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ vàtrẻ em và Công ước ASEAN thì “buôn bán trẻ em” là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc tiếp nhậnmộtđưa trẻ (dưới 18 tuổi) nhằmmụcđích bóc lột. Trong khi đó, NĐT khôngbắtbuộc về mua bán trẻ em, mại dâmtrẻem và văn hoá phẩm khiêu dâmtrẻem,bổsung cho Côngướcvềquyềntrẻemđịnh nghĩa “mua bán trẻem là bất kỳ hành độnggiao dịch nào mà quađó trẻ embịchuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người nào cho một người hoặc một nhómngườikhácđểlấytiền hay giátrịtraođổinào khác”.Như vậy, theo NĐT không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung cho Công ước về quyềntrẻem thì mua bán trẻ em cũng được xác định căncứvào hai dấu hiệu là hành vi và mụcđích. Tuy nhiên, sovớiNĐTvề ngăn ngừa, phòng chống và trừng trịviệc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữvà trẻ em hoặc Công ước ASEAN, hai dấu hiệu của tội mua bán trẻ emđượcNĐT này xácđịnhđơn giản hơn và có phạm vi hẹp hơn rất nhiều. Với NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trịviệc buôn bán người,đặc biệt làphụnữvà trẻ em hoặc Côngước ASEAN thì hành vi buôn bán trẻ em gồm chuỗi các hành vi cụ thể, từ tuyểnmộ,chứa chấp, vận chuyểnđếnchuyển giao và tiếp nhận người với nhiềumụcđích khác nhau,

từ bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụcưỡng bức,nô lệ tớicác hình thức tươngtựnôlệ, khổsai hoặc lấy các bộ phận cơ thể. Trong khi đó, theo NĐT khôngbắtbuộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em vàvăn hoá phẩm khiêu dâmtrẻem, bổ sung cho Công ướcvềquyền trẻ em thì hành vi mua bán trẻ em chỉ là hoạt động giao dịch mà qua đó trẻ em bị cho, bị chuyển giaotừmột ngườihoặc một nhóm người này sangmộtngười hoặc một nhómngườikhác để lấy tiền hoặc giá trị trao đổi khác. Như vậy, có thể thấy, với việc khẳng định buôn bán người, buôn bán trẻem là tội phạm cótổ chức xuyên quốc gia tại Công ướcTOC,

49

cộng đồng quốctếđãsửdụng thuậtngữ “buônbánngười”đểđưa ra một khái niệm rộng,gồmcả quy trình buôn bán người, từ khâu tuyển mộ người, chứa chấp người, vận chuyển người đến khâu chuyển giaongườihoặc tiếp nhập người.

Với Việt Nam, từ năm 2004, thuật ngữ “buôn bán phụ nữ, trẻ em”, “buôn bán người”,“mua bánngười”,“mua bántrẻem” đãđượcsửdụng tươngđốiphổbiến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trong giai đoạn này, việc sử dụng thuậtngữchưa cósựthống nhất tronghệ thống pháp luật Việt Nam, có mộtsốvăn bảnquy phạm pháp luậtsửdụng thuật ngữ“buôn bán người”70, cũng có nhiều văn bảnquy phạm pháp luật khácsửdụng thuậtngữ“mua bánngười”,đặcbiệt là các văn bản trong lĩnh vực pháp luật hìnhsự71 và kể từ khi ban hành Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 thì thuật ngữ “mua bán người”đã đượcthống nhất sử dụng tronghệthống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ nàocầnxuất phát vàbảo đảmnguyêntắclà thuật ngữ đó sẽ phản ánh đầy đủ, bao quát, toàn diện và đúng với bản chất việc coi con người như một món hàng hóa để mang ra traođổi.

Tronghệthống pháp luật hìnhsựViệt Nam, ngaytừBLHS năm 1985đến BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã sử dụng thuật ngữ “mua bán” để quyđịnh tội mua bán người và tội mua bán trẻ em. Để hướng dẫn quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em, Thông tưliên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP đã giải thích “mua bánngườilà hành vi dùng tiền, tàisảnhoặc cáclợiíchvậtchất khácđểtraođổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hoá”và “mua bán trẻ em là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi)

70 Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày 14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hànhđộng phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2014; Quyết định số17/2007/QĐ-TTg. Ngày 29/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế tiếp nhận và hỗ trợ. Tái hoànhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài về; Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BCA- BQP-BNG-BLĐTBXH ngày 8/5/2008 hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn

bántừ nướcngoài về; Nghị định số 89/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về hoạt động đối ngoại biên phòng… 71 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC- VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người cóhành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

50

như một loại hàng hoá”72. Đến BLHS năm 2015 thì thuật ngữ “mua bán” vẫn tiếp tụcđược sử dụng trong nội dung quy định về tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi và khái niệm “mua bánngười”,“mua bánngườidưới16tuổi”đãđượcquyđịnh khác rất nhiều, không chỉ đơn thuần là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi lấy người như một thứ hàng hóa, mà gồm các hành vi từ tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp đến chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất hoặc nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấybộphận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác. Có thể thấy rằng, từ năm 1985 và qua nhiều lần sửa đổi vào các năm 1999, 2009 và 2015, BHLS vẫn duy trì việc sử dụng thuật ngữ “mua bán” trong nội dung quy định về tội mua bán người, tội mua bán trẻem, nhưng nội hàm giải thích về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em đã thayđổi rõrệt, từ việc chỉ tập trung vào hành vi trao đổi người lấy tiền, lợi ích vật chất đến việc mở rộng ra các hành vi liên quan đến quy trình thực hiện tội phạm này, gồm tuyển mộ, vậnchuyển, chứa chấp, chuyển giao và tiếp nhậnngườiđểlấytiền,lợiíchvậtchất hoặc nhằm bóc lột. Điều này thể hiện rằng, mặc dù có sự khác nhau trong cách giải thích thuật ngữ “mua bán người” qua từng thời kỳ, nhưng dù với cách giải thích rộng hay hẹp khác nhau về thuật ngữ này thì hành vi trung tâm hay bản chất của “mua bán người” vẫn là việc coi con người như món hàng hóa để mang ra trao đổi lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, kể cả hành vi đó được thực hiện một cách đơn lẻ, độc

lập (được thực hiện bởi một người) hay hành vi đó được thực hiện theo một quy trình, có quy mô, tổ chức chặt chẽ (được thực hiện bởi một nhóm tội phạm có tổ chức).

Theo cuốn Từ điển Việt Nam thì “mua bán” gồm mua và bán, trong đó “mua” làđổitiềnlấyvật(thường là hàng hóa),“bán”làđổivật(thường là hàng hóa) lấy tiền; “buôn bán”gồmbuôn và bán, trong đó “buôn”là việc mua về đểbánlấylãi, “bán” là đổi vật (thườnglà hàng hóa) lấy tiền73. Như vậy, có thể hiểu“mua bán”làviệc đổi vật (thường là hàng hóa) lấy tiền và ngược lại, còn “buôn bán” là việc mua đi

72 Thông tư liên tịchsố01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013hướngdẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, Điều1 và Điều 4.

73 Viện ngôn ngữ học, (2003),TừđiểnViệt Nam, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 31, 90, 645.

51

bán lại nhằm lấy lãi. Với cách giải thích này của Viện ngôn ngữ họctại cuốn Từ điển Việt Nam năm 2003, có thể thấy rằng, nếu sử dụng thuật ngữ “buôn bán người” thì sẽ khó bao quát được các trường hợp mua bán người đơn lẻ,độc lập,chủ yếu được thực hiện trong nội địa (chiếm 15% tổng số vụ mua bán người xảy ra trên toàn quốc74) màchỉ phản ánh được các trường hợp mua bán người có quy mô, tổ chức, được thực hiện theo một quy trình và là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Mặc dù, đặc trưng nổi bật của loại tội phạm này là loại tội phạmcó tổchức xuyên quốc gia, tuy vậy, không phải tất cả các trường hợp mua bánngười đượcbị phát hiện đều là có đặc trưng này, mà có những trườnghợpchỉ là những vụ mua bán người đơn lẻ, độc lập.

Qua phân tích quy định của pháp luật quốc tế khi sử dụng thuật ngữ “buôn bán người”và pháp luật Việt Nam khi sử dụng thuật ngữ “mua bánngười”có thể thấy rằng, về bản chất thì “buôn bánngười” hay “mua bán người” đều là việc coi con người nhưmộtmón hàng mang ra trao đổi, giao dịch với mục đích lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từviệc sửdụng người đó vào các ngành “công nghiệp

tình dục”, mua bán nội tạng hay bóc lột lao động… Tuy nhiên, phápluật quốc tế sửdụng thuật ngữ “buôn bán người” tạiNĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trịviệc buôn bán người,đặcbiệt làphụnữvàtrẻem khi muốn khẳng địnhbuôn bán người là tội phạm có tổ chức với quy trình chặt chẽ, nối tiếp nhau từ khâu tuyểnmộ người, chứa chấp người, vận chuyểnngườiđếnkhâu chuyển giao người hoặc tiếp nhập người. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “mua bán người” thì không chỉ khẳng định mua bán người là tội phạm có tổ chức mà còn là những tội phạm có tính chất đơn lẻ, không trong một quy trình khép kín từ giai đoạn tuyểnmộ người, chứa chấp người, vận chuyểnngườiđếnchuyển giao người hoặc tiếp nhập người như quy định của pháp luật quốc tế. Do vậy, việc sử dụng thuật ngữ “mua bán người”của pháp luật Việt Namsẽ vừa bao quát và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, vừa phản ánh được hết bản chất của loại tội phạm này.

1.1.3.2. Khái niệm tội mua bán người, tội mua bán trẻ em theo pháp luật Việt Nam BLHS năm 1985 quy định hai tội danh liên quan đến mua bán người, mua bán

74 Bộ Công an, (2018), Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 về tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệulực đếnhết năm 2017, tr.13.

52

trẻ em, đó là Tội mua bán phụnữquy định tại Điều 115 vàTộibắttrộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em quyđịnh tại Điều149. Mặc dù có hai tộidanh quyđịnh vềvấn đề này nhưng không có định nghĩa thế nào là mua bán phụ nữ hoặc mua bán trẻemđược đưa ra ở thờiđiểm này. Để hướng dẫn áp dụng một sốquy định của BLHS năm 1985, trong đó có tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em, Nghị quyết số04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 19/11/198675 hướng dẫn hành vi mua bán trẻ emđãgiải thích “mua bán trẻ em là mua hoặc bán trẻ em vì tư lợi, dù là mua của kẻ đãbắt trộm hoặc mua của chính người có con đem bán. Hành vi mua trẻ em khi biết rõ đứa trẻ bị bắt trộm để về làm con nuôi cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em”. Nhưvậy, Nghị quyết không hướng dẫn cách hiểu thế nào là “mua bánngười” mà chỉhướng dẫn cách hiểu về “mua bán trẻ em”. Với hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hành vi mua bán trẻ em thì mục đích của hành vi mua mua bán trẻ em là vì tư lợi. Tư lợi ở đây có thể hiểu là vì lợi ích vật chất hoặc lợiích tinh thần của bản thân người thực hiện hành vi phạm tội. Lợi ích vật chất có thểlà tiền, tài sản hoặc phương tiện thanh toán để trao đổi lấy trẻ em, còn lợi ích tinh thần có thể là để nhằm thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, như gia đình không có con nên đã mua con của người khác về làm con mình. Đến BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) vẫn tiếp tục quyđịnh hai tội danh liên quan đến mua bán người và có những sửa đổi, bổ sung tương đối cơ bản, tuy nhiên, vẫn chưa cóđịnh nghĩa chính thức về “mua bán người”.

Năm 2011, Luật phòng, chống mua bán người được Quốc hội thông qua76, trongđó quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi mua bán người vàcác hành vi vi phạm pháp luậtvềphòng, chống mua bánngườicũng như các biện pháp nhằm tiếp nhận, xác minh, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán và trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương trong phòng, chống mua bán người. Đây được xem làđạoluậtđầutiêncủaViệt Namvềphòng, chống mua bán người. Tuy nhiên,đạo

75 Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫnápdụng một sốquy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, Mục 3 Chương 4.

76 Luật số 66/2011/QH12 đượcQuốc hội nướcCHXHCN Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/3/2011.

53

luật này cũng chưa đưa ra được định nghĩa chính thức, thống nhất về “mua bán người” mà chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống mua bán người.

Để hướng dẫn áp dụngquy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội mua bán người và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, năm 2013, liên ngành Toà án, Kiểm sát, Công an, Tư pháp, Quốc phòng ban hành Thông tư liên tịch đãhướngdẫn “mua bán người là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổingười (từ đủ16 tuổi trở lên) như một loại hànghoá” và “mua bántrẻem là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để traođổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hoá”77. Như vậy, với cách giải thích này của liên ngành Toà án, Kiểm sát, Công an, Tư pháp, Quốc phòng thì mua bán người hoặc mua bán trẻ em là việc coi con người như một loại hàng hoá để traođổi bằng tiền, tài sản, hoặc các lợi ích vật chất khác.

BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản và toàn diện tội mua bán người vàtội mua bán, đánh tráo hoặc chiếmđoạt trẻ em của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổsung năm 2009). Theo quy định của BLHS năm 2015 thì tội mua bán người là việc “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạt khác đểthực hiện một trong các hành vi: (a) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vậtchất khác; (b) chuyển giao hoặc tiếp nhận ngườiđể bóc lột tình dục, cưỡngbứclao động, lấybộphận cơ thể củanạnnhân hoặc vì mụcđích vô

nhân đạo khác; (c) tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”và mua bán người dưới 16 tuổi là việc “thực hiện một trong các hành vi: (a) chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; (b) chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡngbứclao động, lấybộphận cơ thể củanạnnhân hoặc vì mụcđích vônhân đạo khác; (c) tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”.

77 Thông tư liên tịchsố01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013hướngdẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, Điều1 và Điều 4.

54

1.1.3.3. Khái niệm mới về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

Ngay cả với cộng đồng quốc tế, khái niệm về buôn bán người, buôn bán trẻ em cũng thay đổi theo từng thời kỳ phù hợpvớixu hướng phát triểncủaxã hội về tình trạng xâmhạiđến phẩmgiácủacon người, đưa con người vào tình trạng bị bóc lột hoặc cókhảnăngbịbóc lột. Căncứvào khái niệm“buônbánngười”đượcnêu tại NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bánngười, đặc biệt là phụ nữvà trẻ em mà cộng đồng quốc tế đưa ra, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Namđãnộiluật hoá trong pháp luậtcủaquốc gia mìnhđịnhnghĩavềhành vi mua bán người, mua bán trẻ em với nhiềuyếu tốtương đồng vàtừ địnhnghĩa này, cộng đồng quốc tếcũng như nhiều quốc gia trênthếgiới coi đây chính là nội hàm của tội mua bán người, tội mua bántrẻem.Điềunày thể hiệnở việcĐiều5 NĐTvề ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ emđã yêucầucác quốc gia thành viên hìnhsựhoá các hành viđượcnêu tạikhái niệm “buônbán người”. Với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Nam thì khái niệm “buôn bán người/muabán người”hay “buôn bán trẻ em/mua bán trẻem”đềugắnliềnvớikhung hình phạtcụthểvớihành vi phạmtộiđượcnêu tại khái niệm này. Như vậy, có thể hiểu, khái niệmcủaNĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em cũng như khái niệm mànhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đưa ra là khái niệmcó đầy đủ cácdấu hiệu cấuthành nên tội mua bán người, tộimua bán trẻ em, hay nói cách khác đây chính là khái niệm về “tội mua bán người”, “tội mua bán trẻ em”.

Có thể thấy, đến tận năm 2000 cộng đồng quốc tế mới đưa ra mộtkhái niệm thống nhất trên phạm vi toàn cầu về buôn bán người và trên cơ sởđịnh nghĩa đó, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đưa ra khái niệm về buôn bán người/mua bán người áp dụng cho quốc gia mình, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, ở phạm vi quốc tế,từnhững năm đầu của thếkỷ20 đãnhận thức rõ việc coi con ngườinhưmột thứ công cụ, một loại hàng hoá để trao đổi, bóc lột là vi phạm nghiêm trọng đến quyền con người. VớiViệt Nam, mặc dù đếntận năm 2015mớiđưa ra được một khái niệm thống nhất về tộimua bán người và tộimua bán trẻ em, nhưng ngaytừ

55

những năm 80củathếkỷ 20, pháp luật Việt Nam đã nhìn nhận mua bánngườihay mua bán trẻ em là việc coi con người như một thứ hàng hoá để trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất. Như vậy, ở phạm vi quốc tế hay ở mỗi quốc gia và ngay cả với Việt

Nam, cùng với sự phát triển của xã hội cũng nhưsựthay đổi về các hình thức, thủ đoạn, phương thức thực hiệntộiphạm, trong đó cótộimua bán người, tội mua bán trẻ em thì nhận thức về hành vi mua bán người cũng có những thay đổi nhất định, phù hợp với xu hướngphát triển chung của thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, dù nhận thức hoặc khái niệm về mua bán người, mua bán trẻ em có sự thay đổi về cách thức thực hiện hoặc mục đích thực hiện tội phạm thì xét về bản chất, mua bán người hay mua bán trẻ em đều là việc coi con người là một loại công cụ, một thứ hàng hoávà đưa họ vào vị thế là một món hàng để mang ra trao đổi, đánh đổi lấy tiền hoặc

lợi ích. Điều này thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận người là qúa trình để thực hiện việc đưa một người đang có tự do trở thành một người không có tự do, họ bị kiểm soát, bị lệ thuộc và bịđặt vàovị thế như bất kỳ một thứhàng hoá nào khác, số phận của họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào sự quyếtđịnhcủa người khácvềviệc dùng họ vào mục đích gì và cách thức sử dụng họ như thế nào.

Thứ hai, việc dùng thủđoạnđểthực hiện hành vi mua bánngườinhư lừa gạt,đe doạ, man trá, dùng vũ lực hoặc bấtcứthủ đoạn nào khác chỉ là phương thức nhằm thúc đẩy, tạo thuận lợi cho việc đưa người đó trở thành một món hàng được nhanh gọn hơn, bí mật hơn, khó bị phát hiện hơn mà thôi. Điều này thể hiện khá rõkhi định nghĩa mua bán trẻ em thì khôngcầnyếu tốthủđoạn,bởiviệc biếnđứa trẻchưa phát triển đầy đủ về thể lực và trí lực thành một thứ hàng hoá là dễ dàng, thuận

lợi hơn rất nhiều so với đưa một người đã trưởng thành thành một món hàng hoá.

Thứ ba, khi con ngườiđã bị coi là mộtthứhàng hoá để trao đổi thì việc sửdụng người đó như thế nào phụthuộc hoàn toàn vào người đang chiếmgiữngườiđó. Người đang chiếm giữngười bịbán sẽsửdụng người bị bán vào bất cứmục đích nào nếu việc đó mang lại lợi ích, lợi nhuận cho họ. Cũng giống như hàng hoá, việc sửdụng món hàng mua được hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người đang

56

sở hữu món hàng đó. Khi đã mua được món hàng, họ phải sử dụng vào những việc, những mục đích mà mang lại lợi ích, lợi nhuận cho họ. Đặc tính thương mại, sinh

lời trong mua bán hàng hoá thể hiện rất rõ ở hành vi mua bán người, mua bán trẻ em khi mục đích của hành vi mua bán người, mua bán trẻ em làđổinạnnhân lấy tiền, tàn sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc bóc lột nạn nhân để qua các hình thức bóc lột đó sẽ sinh ra tiền, tài sản, lợi nhuận, như ép buộc nạn nhân bị mua bán vào hoạtđộng trong ngành “công nghiệp tình dục”, “mua bán nội tạng”, “cưỡng bức lao động” hay bất kỳ mục đích vô nhân đạo nào khác mà từ đó người thực hiện hành vi mua bán sẽ tìm kiếm được lợi ích, lợi nhuận.

Từnhững phân tích và lập luận trên, có thể khẳng định rằng, khi đưa ra khái niệmvề “tội mua bánngười” thì khái niệm này phụ thuộc vào từng thời kỳphát triển xã hội, bởi nó sẽ thay đổi cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, sự hội nhập quốc tế khi hình thái, biểu hiện về loại tội phạm này cósựbiến đổi. Nhưng nếu là khái niệm về hành vi “mua bán người” thì khái niệm này sẽ mãi không thay đổi, cho dù xã hội có phát triển như thế nào với sự biến đổi của các hình thái, phương thức, biểu hiện củatộiphạm, bởi khái niệm này chỉ phản ánhbảnchất của hành vi mua bán người. Trên cơ sởđó, nghiên cứu sinh đưa ra khái niệmvề hành vi “mua bán người” và “tộimua bán người”, “tội mua bán trẻ em” như sau:

– “Mua bán người là đưa người khác vào vị thế như một thứ hàng hoá mang ra trao đổi, giao dịch”.

– “Tội mua bán người là bất cứ hành vi nào được thực hiện thông qua việc sửdụng thủ đoạn (dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừagạthoặcbấtcứ thủđoạnnào khác) đưa người khác vào vị thế như một thứ hàng hoá mang ra trao đổi, giao dịch nhằm thu được tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc khai thác thu lợi từ họthông qua việc bóclột”.

– “Tội mua bán trẻ em là bất cứ hành vi nào đưa đứa trẻ vào vị thế như một thứhàng hoá mang ra trao đổi, giao dịch nhằm thu được tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc khai thác thu lợi từ các em thông qua việc bóc lột”.

1.2. Cơ sở quyđịnh tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong pháp

57

luật hình sự

1.2.1. Cơ sở lý luận

Ở thời kỳ phong kiến, nhà nước phong kiến đã ban hành pháp luật để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình và bóc lột người lao động. Người lao động hay còn gọi là nô lệ không được pháp luật bảo vệ quyền lợi, danh dự, nhân phẩm, họ không được phép rời bỏ ruộng đất của chủ phong kiến và có thể bị bắt, bị giết, giam cầm cho đến chết hoặc bị đemđến cácchợ bán nô lệ để bày bán như một thứ hàng hoá. Pháp luật nhà nước phong kiến quy định, nếu chúa phong kiến chuyển nhượngruộng đấtthì cũng chuyển nhượng luôn những nông nô sống trên đất đó78. Chính những quyđịnhnàyđãtạo điều kiện thuậnlợiđể nuôi dưỡng và làm gia tăng mạnh mẽ nạn mua bán nô lệ – tiền thân của tình trạng mua bán người hiện nay.

Tới chế độtư bản chủ nghĩa, để tạo ra khối lượng của cải khổng lồ, giai cấp tưsản đã ra sức bóc lột sức laođộngtừ giai cấp công nhân. Tuy nhiên, ở giaiđoạnnày, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội,ngườidân ngày càng nhận ra rằng việc bị giai cấp tư sản bóc lột sức lao động để tạo ra của cải không phải cho bản thân họ mà cho giai cấp tư sản là điều hết sức phi lý và họ nhận thấy quyềnlợicủa giai cấp mình bị xâm phạm nghiêm trọng. Từ đó, các cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Tình hình này buộc giai cấp tư sản phải đàmphán và hoà giảivớigiaicấpcông nhân bằng việc ban hành nhiều chính sách, thể chế mới về dân chủ như bình đẳng, quyền con người. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã nêu trong Tuyên ngôn độc lập ngày 04/7/1776 của mình rằng “tất cảmọi người sinh ra đều có quyền bìnhđẳng. Tạohoá đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ, trongđócó quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Đây được xemlà văn kiện pháp lý quan trọng ghi nhận các quyền cơ bản của con người79. Tuy vậy, để tìm kiến lợi nhuận từ ngành công nghiệp tình dục, bóc lột sức lao động thì tình trạng buôn bán nô lệ đã được chuyển hoá sang hình thái khác là buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ vàtrẻem mà xét về bản chất thì không thay đổi.

78 Trần Minh Hưởng (2006), Phát hiện, điều tra các tội mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, tr.40.

79 Như trên, tr.38.

58

Tớiđầu thế kỷXX, sự ra đời của hệ thống cácnướcxã hộichủnghĩađòihỏi chấm dứt hoàn toàn tình trạng buôn bán nô lệ, bảo vệ quyền con người, tạo sự bình đẳngthực chất trong xã hội của người dân trên toàn thế giới. Đây chính là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời của một loạt văn kiệnquốc tế để bảo đảmquyền con người. Đầu tiêncó thể kểtới bảnTuyên ngôn Quốctế vềNhân quyềncủaLHQđãkhẳng định “ai cũng có quyền được sống, tự do và an toàn thânthể”và “không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch, chế độ nô lệ và sự mua bán nôlệ dưới mọi hình thức đềubị cấm chỉ”80. Tiếp đến,Công ước quốc tế về quyền dân sựvà chínhtrịyêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện các cam kết nêu ra trong Công ước, trong đó có cam kết “không ai bị bắtlàm nô lệ; mọihình thức nô lệ và buôn bán nôlệđều bị cấm”;“không aibịbắtlàm nôdịch”hoặc“không aibịyêucầuphải laođộngbắt buộc hoặc cưỡng bức”81. Với những văn kiện quốc tế này, các quốc gia thành viên đãnỗlựcban hành những giải phápđểkiềm chế, ngăn chặn và hướngtớiloại bỏtình trạng mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, thực tế thì tội mua bán người, mua bántrẻem vẫn diễn ra vàvớinhững cách thức,thủđoạnthayđổingày càng tinh vi hơn theo từng giai đoạn, từng thời kỳ.

Có thểthấy, thế giới văn minh, công bằng, bình đẳng nhằm đảm bảo các quyền cơ bảncủacon người luôn làmụctiêuhướng tới của tấtcả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã đặt con người vào trung tâm của các chính sách phát triển kinh tế, xã hộivà quyền con người là nhân tố cơ bản tạo nênđộng lực của sựphát triển đất nước. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 1946 – đã ghi nhận người dân Việt Nam có nhiều quyền tự do, gồm các quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội hop, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đilạitrong và ra

nước ngoài, quyền tài sản… Qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013,vấnđề quyền con người, quyền công dân ngày càngđược đề caovà coi trọng. Bằng những quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn về quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 coi đây là vấn đề quan trọng thứ

80 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Đại Hội đồng LHQ (1948), Điều 3 và Điều 4.

81 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), có hiệu lực ngày 23/3/1976, Điều 8.

59

hai chỉsau nội dung về chế độ chính trị khi nội dung vềquyền con người, quyền công dân được đưa lên vị trí Chương II sau Chương về chế độ chính trị thay vì ở Chương V như Hiến pháp năm 1992. Việc thay đổi về vị trí của Chương về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sựthayđổinhận thức về quyền con người, quyền công dân với quan niệm rằng, quyền con người, quyền công dân phải được xác định ở vị trí quan trọng hàng đầu trong một bản Hiến pháp. Ngay tại điều đầu tiên của Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”82 và tiếp tục khẳng định tại các điều tiếp theo rằng, người dân không chỉ có quyền bấtkhả xâm phạm về thân thểmà cònđược pháp luật bảo vệtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm83. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại thì nhiều hình thức xâm phạm đến quyền con người cũng thay đổi với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng cao, gây ra nỗi lo lắng, sợ hãi và hoang mang trong toàn xã hội, mà mua bán người, mua bán trẻ em là một trong các hình thức xâm phạm nghiêm trọng nhất đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, gây bất an cho mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội.

Rõ ràng, mua bán người, mua bán trẻ em là một hiện tượng xã hội tiêu cực, cóquá trình hình thành, phát triển và tồn tại trong xã hội cần phải được kiềm chế, kiểm soát và loạitrừra khỏiđờisống xã hội. Đây chính lànhiệm vụ của tất cảcác quốc gia và của cảcộngđồng quốctế nhằm bảo vệ quyền conngườivềtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm – những giá trị nhân văn của xã hội loài người.

Như vậy, việc quy định mua bán người, mua bán trẻ em là tội phạm hình sự vàcó chế tài xửlý nghiêm khắc là yêu cầu tấtyếu mà thực tiễn đặt ra không chỉ với một hoặc một vài quốc gia mà với tất cả các các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy nhiên, quy định như thế nào cho phù hợp về mặt lý luận khi trẻ em cũng làcon người và mua bán trẻ em cũng chính là mua bán người. Vậy quy định mua bán

82 Hiến phápnướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Điều 14. 83 Như trên, Điều 19 và Điều 20.

60

người và mua bántrẻem trong cùng một tội danh hay quy định tại hai tội danhđộc lập sẽ là phù hợp hơn?

Phân tíchdưới góc độngữnghĩa của câu từthì “người”được hiểu là bất cứngười nào, không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo, địa vị xã hội và như vậy “mua bánngười” là hành vi mua bán bất cứngười nào, bao gồmcả mua bán phụnữ, nam giới, người chuyển đổi giới tính, người đã trưởng thành, người già, trẻ em. Với cách hiểu và cách giải thích này thì BLHS chỉ cần quyđịnhmột tội danh về mua bán người, đó là tội mua bán người, trong đó bao gồmcả hành vi mua bán người từ đủ 16 tuổi trở lên và mua bán người dưới 16 tuổi (mua bántrẻem), và mua bán người dưới 16 tuổi sẽ bị coi là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội mua bán người với chính sách xử lý nghiêm khắc hơn.

Thực tế, pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, trongđó có Việt Namđều quyđịnh chính sách riêng, đặc thù đối vớicác em trong lứa tuổi này, từ các chính sách trong lĩnh vực an sinh xã hội như y tế, giáo dục, thể thao,

văn hóa… đếncác chính sách trong lĩnh vực tư pháp như hìnhsự, tốtụng hình sự… Điều này xuất phát từ những nghiên cứu về mức độ phát triển trí tuệ, thể chất, nhân cách và xã hội trong từng giai đoạn trưởng thành của con người. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, con người ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có mức độ và tốc độ phát triển của não bộ khác nhau và phải đến một độ tuổi nhất định thì sự phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cáchở mỗi con người được coi là đầyđủvà toàn diện84. Ở lứatuổi chưa trưởng thành hay chưa phát triểnđầy đủvà toàn diệnvềthểchất và trí tuệ, các em đang trong quá trình trải qua những thayđổiliên tục về nhận thức, ýthức vàcảmxúc. Các yếu tố xã hội, cộng đồng như môi trường gia đình, bạn bè, trường

học, các mối quan hệ xã hội… có những tác động, ảnh hưởng lớn đến tâm lý, hành vi, cảm xúc của các em ở lứatuổi này85. Chính vì đang trong quá trình phát triển này mà các em chưa thể đủ nhận thức, đủ kinh nghiệm, đủ bản lĩnh để đưa ra những quyết định hoặc thực hiện hành vi đúng đắn trong cuộc sống. Vì thế, pháp luật quốc

84 P. Saw, D.Greenstein, J,Lerch, L.Clasen, R.lenroot, N.Gogtay, A. Evan, J.Rapoport & J.Gieddl, (2006), “Intellectual ability and cortical development in children and adolescents”, Nature, (440), 676-679.

85 Micheal Shader, (2003), Rick factors for delinquency: An overview, U.S Department of Justice, page. 6, 7, 8.

61

tế và pháp luật các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều quy định những chính sách riêng, đặc thù đối với các em trong lứa tuổi chưa trưởng thành và pháp luật hình sựcũng không là ngoại lệ. Việc BLHS Việt Nam quyđịnh tội mua bán người, tội mua bán trẻ em ở hai tội danh độc lập cũng xuất phát từ quan điểm, nhận thức về sựphát triển của các em trong lứa tuổi này. Để một người đã trưởng thành trở thành nạn nhân của tội mua bán người, người phạm tội phải dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để lừa gạt, dụ dỗ, cưỡng bức họ, nhưng đối với người chưa trưởng thành, các em chưa phát triểnđầyđủ về thể chất, trí tuệ, nhận thức thì việc biến các em thành nạn nhân của tộimua bán người dễ dàng hơn rất nhiều mà không cần dùngđến bất cứthủ đoạn nào, bởi các em chưa được trang bị, tích lũy những kiến thức, kinh nghiệm sống cũng như chưa được trải nghiệm nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Quy định mua bán trẻ em là một tội danh độc lập với tội mua bán người củaBLHS không chỉthểhiệnsựkhác biệtvềchính sách hình sựđốivới người thực hiện hành vi phạm tội, mà còn làsựkhác biệt từ cấu thành cơ bản của

tội phạm đến chính sách hình sựđối vớitừng tình tiếtđịnh khung tăng nặng trách nhiệm hình sựtrong trường hợp mua bántrẻem. Đâycũng là cách thức mà pháp luật củanhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đang quyđịnh về loại tội phạm này, như Cộng hòa liên bangĐức,Malaysia, Philippine, Vương quốc Thái

Lan, Cộng hòa Sierra Leone hay Trung Quốc…

1.2.2. Cơ sở thực tiễn

Mua bán người, mua bán trẻ emlà vấn đềkhông chỉ của một hoặc một số quốc gia màđâylà vấn đề mang tính toàn cầu. Theo báo cáo củaTổchức lao độngthếgiới, nếu năm 2005 trên toàn cầu có 12,3 triệu người trở thành nạn nhân của nạn buôn bán người thì đến năm 2016 con số này đã là 40,3 triệungười86. Thực tế này cho thấy cộng đồngquốc tế cũng như tất cả các quốc gia trênthếgiới đều đangđối mặt với tệ nạn này, đã và đang nỗ lực đưa ra các giải pháp nhằm kiềm chế, ngăn chặn và tiến tới xoá bỏ nạn mua bán người, mua bán trẻ em – trình trạng buôn bán nô lệ thời hiện đại.

Ở phạmvilớnnhất làcộng đồngquốc tế, nhiều vănkiện quốc tế đã đề cậptới

86 International Labour Organization (ILO), (2017), Forced Labour and Forced marriage, Alliance, page.15, 49.

62

vấn nạnnày. Như đã đềcập ở phầntrên, từ rất sớm, cộng đồng quốc tế đã coi buôn bán người làmột tộiác xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người và sớmphải đượcloại bỏkhỏi xã hội loài người. Chính vìthế, từ đầu thế kỷ XX, một loạt các văn kiệnquốc tếvề trấn áp và trừng trịnạnbuôn bán người đãđược cộng đồngquốctếthống nhất ban hành, như Thoả thuận quốctế năm 1904 về ngăn chặn buôn bán nô lệ da trắng, Côngước quốctếnăm 1910 về ngăn chặn buôn bán nô lệ da trắng, Công ước quốc tế năm 1921 về trấn áp buôn bán phụ nữ và trẻem, Công ước về nô lệ năm 192687, Công ước quốc tế năm 1933 về trấn áp buôn bán phụ nữ trong mọi lứa tuổi, Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949, Công ước quốc tế về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 200088 và NĐTvềngăn ngừa, phòng chống và trừngtrịviệc buôn bán người,đặcbiệt là phụnữvàtrẻem89, CôngướcAseanvề phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em90. Chính vì thế, các văn kiện quốc tế này đềucó chung một mục tiêu, đó là lên án mạnh mẽ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em mà tiền thân chính là nạn buôn bán nô lệ,đồngthời kêu gọitất cả các quốc gia thành viên cần đưa ra những giải pháp phùhợp để kiềmchế, ngăn chặn và xoá bỏ nạnbuôn bán người, đặcbiệt là các giải phápvề pháp luậtđểquyđịnh hành vi buôn bán người là tội phạm hình sự và phải bị trừng trị nghiêm minh.

Có thể thấy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều bị ảnh hưởng bởi nạn buôn bán người. Điều này thể hiện ở thực tế là nạn nhân từ ít nhất 127 quốc gia bị bóc lột tại 137 quốc gia91. Tội mua bán người có thể xảy ra ngay trong nội địa quốc gia đó, cũng có thể xảy ra ở những quốc gia láng giềng hoặc giữa các lục địa. Như nạn nhân đếntừcác nước từ Đông NamÁ đượcghi nhận tại hơn 20 quốc gia trên toàn thế giới, gồm

87 Công ước của LHQ về nô lệ (1926), mở ký ngày 25/9/1926, có hiệu lực ngày 9/3/1927.

88 Côngướccủa LHQ về chống tội phạm cótổchức xuyên quốc gia (2000), mở ký ngày 12/12/2000.

89 Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặcbiệt là phụ nữ và trẻ em, bổcung Công ước của LHQvề chống tội phạm cótổchức xuyên quốc gia (2000), mở ký ngày 15/11/2000. 90 CôngướcAseanvề phòng, chống buôn bán người,đặcbiệt là phụnữ và trẻ em (2015),mở ký ngày 21/12/2015.

91 The Globalization of Crime: A Transnational Organized Crime Threat Assessment (United Nation publication, Sales No E.10.IV.6). Available from www.unodc.org/documents/data-and- analysis/tocta/TOCTA Report 2010 low res.pdf.

63

Châu Âu, Châu Mỹ, Trung Đông, Trung Á và Châu Phi92. Theo Báo cáo toàncầuvềbuôn bán người của Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của LHQ (UNODC), tínhđếnhếtnăm 2018, trênthếgiới có 142 quốc gia và vùng lãnhthổđãquyđịnh mua bán người và mua bán trẻem là tội phạm hình sựphảibịtrừng phạt93 vàđến tháng 8/2020, trên toàn thế giới đã có 169 quốc gia và vùng lãnhthổquy định buôn bán người là tội phạm hình sự vàcần bịtrừng trị bởi chế tài hình sự nghiêm khắc94. Tuỳ thuộc vào thể chế chínhtrịvà đặcđiểmcủa từng quốc gia và vùng lãnh thổ đểquy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi mua bán người, mua bán trẻ em trong Bộ luật hình sự hay quy định tại một đạo luật riêng về mua bán người.

Việt Nam được xác định là một trong những địa bàn trọng điểm không chỉ vềmua bán người, mà còn là địa bàn trung chuyển nạn nhân bị mua bán người từ một số quốcgia và vùng lãnh thổ trong khu vực sang nướcthứba. Theo Báo cáocủaBộCông an thì trong giai đoạn 2012-2017, cảnước đãphát hiện và khởi tố 1.021vụán mua bán người, mua bán trẻem với 3.090 nạn nhân, liên quan đến 2.035 đối tượng95. Năm 2018,cả nước phát hiện 211 vụán mua bán người, mua bán trẻ em với 386nạnnhân96 và năm 2019 toàn quốc phát hiện 192vụ án mua bán người, mua bán trẻ em với 309 nạn nhân, liên quan đến 256 đối tượng97. Tội mua bán người, mua bán trẻ em đã phát hiện xảyraởcả 63 tỉnh, thànhphốtrong cảnước dưới hai dạng là mua bán người trong nước (chiếm khoảng 15% số vụ việc) và mua bán người ra nước ngoài (chiếm khoảng 85% số vụ việc, trong đó trên 75% là mua bán sang Trung Quốc, 11% mua bán sang Lào và Campuchia, còn lại là mua bán

92 United Nations Office on Drugs and Crime, (2009), Global Report on Trafficking in Persons, United

Nations, Page 11.

93 United Nation Office on Drugs and Crime, (2018), Global Report on Trafficking in Person, United Nations, Page 16.

94 United Nations Offcie on Drugs and Crime, (2020), Global Report on Trafficking in Person, United Nations, Page 62.

95 Bộ Công an, (2018), Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 về tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệulực đếnhết năm 2017, tr.12.

96 Ban Chỉ đạo138/CP, (2019), Báo cáosố06/BC-BCĐ vềtình hình và kết quảthực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2018, tr.1.

97 Ban Chỉ đạo138/CP, (2020), Báo cáosố20/BC-BCĐ vềtình hình và kết quảthực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2019, tr.1.

64

sang một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Thái Lan, Nga, Malaysia…)98.

Các Báo cáo toàn cầu về buôn bán người của Cơ quan LHQ về chống ma tuý và tội phạm các năm 2009, 2014, 2016, 2018 và 202099 cũng như các Báo cáo về kết quảđiều tra, khảo sát tình hình tội mua bán người của Bộ Công an100 thì mua bán người, mua bán trẻ emđể lại những hậu quảvô cùngnặng nềkhông chỉvềdanh dự, nhân phẩm mà còn cả những hậu quả về tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân, những hậu quả này không chỉ xảy ra đối với bản thân các nạn nhân – những người bị lạm dụng về thể chất, tinh thần, bịcưỡnghiếp, đe doạ đến tính mạng, đến sự an toàn của bản thânhọ và người thân trong gia đình họ – mà cònđểlạinhiều hậu quả nghiêm trọng cho toàn thể xã hội, khi nạn mua bán người, mua bán trẻ em gây ra những bất ổn về an ninh, an toàn cũng như nhữngbấtổnvề chính trị, gây hoang mang, lo sợ trong dân chúng, cản trởsự ổn định và phát triển của nhân loại. Theo thống kêcủaCơ quan LHQvề chống ma tuý vàtộiphạm thì trong năm 2018, trongsốcácvụán buôn bán người, buôn bán trẻ emđượcphát hiện, có tới 50% nạn nhân bị bóc lột tình dục, 38% nạn nhân bị cưỡng bức lao động và 12% nạn nhân bị các hình thức bóc lột khác101. Có thểnhận thấy khá rõ ràng là hành vi mua bán người, mua bán trẻ em sẽ kéo theo và làm gia tăng một loạt các hành vi phạmtộikhác, như hành vibắtcóc hoặc chiếmđoạttrẻem; xâm hại tình dục, cưỡng bức lao động; sửa chữa hoặc làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức (hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các giấy chứng nhận khác củacơ quan,tổchức có thẩm quyền) vàsửdụng các giấytờ,tài liệuđãđượcsửa chữa hoặc đã làmgiảđểđưa nạn nhân bị mua bán sang quốc gia khác… Hơn nữa, với đặc thùcủatội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và mang tính quốc tế, hoạt động mua bán người, mua bán trẻ em luôn gắn liền với các vấn đề kinh tế và là một trong những

98 Bộ Công an, (2018), Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 về tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệulực đếnhết năm 2017, tr.13.

99 https://www.unodc.org/documents/data-and-analysis/glotip, truy cập ngày 14/5/2021.

100 Bộ Công an, Báo cáo số 2297/C41-C42 ngày 08/7/2016 về kết quả điều tra, khảo sát tình hình tội mua bán người giai đoạn2011-2015; Báo cáosố3143/BCKS-C42 ngày 26/10/2017về kết quả khảo sát công tác phòng, chống tội mua bán người năm 2017 tại các tỉnh, thànhphốtrực thuộc Trung ương; Báo cáosố106/BC-C41-C42 ngày 12/01/2018 về kết quả thực hiện Đề án“Hợptác quốc tế về phòng, chống mua bán ngươi thuộc Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2017; Báo cáo số 282/BC-BCĐ ngày 03/7/2018

về Sơ kết thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016-2018…

101 United Nation Office on Drugs and Crime, (2020), Global Report on Trafficking in Persson, United nations, page.34.

65

nguyên nhân ảnh hưởngnghiêm trọngtớisựtăng trưởng kinhtếcủa mỗiquốc gia. Tại Báo cáo toàn cầuvềbuôn bán người năm 2020, Cơ quan LHQ về chống ma tuý vàtộiphạmđã lấyVenezuelađểminh chứng cho vấn đề này. Theo đó, kểtừnăm 2014, GDP của Venezuela đã giảmđáng kể vớicác ước tính cho thấy nhiều bộ phận dân cưđã ở dưới mức nghèo khổ. Cùng với chỉ số kinh tế này thìsốnạn nhân làngười Venezuela bị buôn bán ra nước ngoài tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, với Liên bang Nga thìngượclại khi mức tăng bình quân GDP đầu người của Liên bang Nga ghi nhận từ năm 1999 đến năm 2015 phù hợp với việc giảmsốngườiNgatrởthành nạnnhânbịbuôn bán tạiĐứcvà Hà Lan cùng trong khoảng thời gian này102.Từnhững minh chứng này thì cộng đồng quốc tế đã coi mua bán người, mua bán trẻ em là hiểm hoạ của toàn cầu và đưa vào chương trình hành động toàn cầu của LHQ trong chống buôn bán người toàn cầu103.

Với thực trạng tình hình mua bán người, mua bán trẻ em trên phạm vi toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng như đã phân tích ở trên thì việc có chính sách hình sựđủ nghiêm, đủmạnh, đủ quyết liệt đốivớihành vi mua bán người, mua bán trẻ em trong hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, trongđócó Việt Nam là vấn đề hết sức quan trọng và cấpthiết. Điều này không chỉ có ýnghĩa đặc biệt trong nỗ lực việc bảo vệ quyền con người mà còn mang lại những lợi ích to lớn và góp phần thúcđẩysựphát triển bền vững của mỗi quốc gia và sựổn định về an ninh, kinh tế, chính trị trên toàn thế giới.

1.3. Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnhthổquy định về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em

1.3.1. Chuẩn mực quốc tế

Để đấu tranh phòng, chống bất cứ một tội phạm nào thì trước hết cần phải hiểu rõ bản chất của tội phạm cũng như cần có cách hiểu thống nhất về các dấu hiệu pháp lý cấu thành nên tội phạm đó.Đâylà vấn đề quan trọng trong công tác đấu tranh với các loại tội phạm này, đặc biệt là trong hoạt động hợp tác quốc tế. Chính

102 Như trên, tr. 77.

103 vnmission-newyork.mofa.gov.vn, phái đoàn thường trực nướcCHXHCNVN tại LHQ, truycậpngày 30/8/2020.

66

vì thế, các dấu hiệu pháp lý cấu thành nên tội phạm buôn bán người, tội phạm buôn bán trẻ em được thể hiện tại các văn kiện quốc tế, mà cụ thể là tại Công ước TOC, NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụnữvà trẻ em, Công ước ASEAN hay NĐT không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em, bổ sung Côngước về quyềntrẻ emđưa ra dưới dạng khái niệmvề tội mua bán người, tội mua bán trẻ em và yêu cầu hình sự hoá hành vi mua bán người.Cụ thể:

(i) Về khách thể của tội phạm

Ngay tại Lời nói đầucủa NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, Công ước ASEAN hay NĐT không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em đều khẳng định, buôn bán người, buôn bán trẻ em là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến các quyền cơ bản và nhân phẩm của con người thông qua các hành vi bóc

lột mại dâm, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động hay các hình thức nô lệ, khổ sai. Chính vì nhận thức rõ vấn đề này, cộngđồngquốc tế thống nhất rằng, để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản mọi người thì cần có những văn kiện quốc tế để ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị loại tội phạm này.

(ii) Về mặt khách quan của tội phạm

Xuất phát từ quan điểm cho rằng, buôn bán người là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Điều3 của NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặcbiệt làphụnữvà trẻemđưara khái niệmvề buôn bán người, theo đó, “buônbán người được hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe doạ dùng bạo lực hay các hình thứcép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá,lạmdụng quyềnlựchoặc vị thế dễbị tổn thương hay bằng việcđưahoặc nhận tiền hay lợinhuậnđểđạtđượcsựđồngýcủamột người có quyền kiểm soát đối với những người khác. Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức laođộng hay dịchvụcưỡngbức, nôlệhay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơthể”.

67

Từkhái niệm trên, Điều 5 NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em đã yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp lập pháp hoặc biện pháp khác khi cần thiết để quy định các hành vi nêu tại khái niệm này là những tội phạm hình sự khi thực hiện có chủ ý.

Như vậy, mặt khách quan của tộiphạmđược thể hiện dưới 05 hành vi chủđạo, đó là: (i) tuyển mộ, (ii) vận chuyển, (iii) chuyển giao, (iv) chứa chấp, hoặc (v) tiếp nhận người. Đểhỗ trợcho việc thực hiện mộttrong 05 hành vi này, người phạm tội đã sửdụng một hoặc một số phương thức, thủ đoạn, đó là dùng bạo lực hay đe dọa dùng bạo lực; các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá; các hình thức lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân; đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sựđồngý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác.

Điều đáng lưu ý mà các chuẩnmực quốc tế đã nhấnmạnh, đólà sựđồng thuận của nạnnhân bị buôn bán đã trưởng thành là không có ý nghĩa khi người đó bị đe doạ dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạmdụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sựđồng ý của một người có quyền kiểm soátđối với những người đó. Điều này có nghĩa rằng, nếu một người sửdụng một trong các phương thức, thủ đoạn nàyđểthực hiện một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người với mục đích bóc lột thì mặc dù có sựđồng ý của nạn nhân vẫn bị coi là buôn bán người. Vì thế, nếu mộttrong các dấu hiệu pháp lý của tội phạm buôn bán người, gồm các các phương thức, thủ đoạn nêu trên, nếu được chứng minh thì bất cứsựbiện minh nào đưa ra rằng nạn nhân bị buôn bánđã “đồng ý”đều là vô nghĩa, không được chấp nhận và không thể được coi như bào chữa, biện hộ cho thủ phạm khi xét xử104.

Đối với tội phạm buôn bán trẻ em, NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trịviệc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em đưa ra một khái niệm khác. Theođó, Điều 3(c) NĐT quyđịnh,“việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay

104 Hướng dẫn chính sách về hình sự hoá Buôn bán người, (2014) Tiến trình Bali, http://www.baliprocess.net/regional-support-office.

68

nhận trẻ em nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là buôn bán người ngay cả khi việc này đượcthực hiện khôngcầndùngđếnbấtkỳmộtcách thức nàođượcnóiđếntrong khoản a Điều này”. Định nghĩa này cũng được cộng đồng các nước ASEAN sử dụng trong Công ước ASEAN.

Như vậy, yếu tốphương thức, thủ đoạnkhông phải là dấuhiệu pháp lý bắt buộcvềmặt khách quan để cấu thành nên tội danh này. Hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay tiếp nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột bịcoi là “buôn bán trẻ em” ngay cả khi hành vi này được thực hiện khi mà đứa trẻ đókhông bị đe doạ dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạmdụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sựđồng ý của mộtngười có quyền kiểm soát đối với đứa trẻ đó. Hay nói cách khác, tội buôn bán trẻ em được hình thành ngay cả khi đứa trẻđó đưa ra sựđồng ý đầyđủ và hoàn toàn tự nguyện về việc mình trở thành nạn nhân của buôn bán người,nếu ngườiphạm tội thực hiện một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận mộtđứa trẻ nhằm mục đíchbóc lột.Để lý giải vấn đề này, cộng đồng quốc tế đã căn cứvào đặc điểm phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ em, các em chưa thể có nhận thức đầy đủ, toàn diện như ngườiđã trưởng thành, vì thế các em không thể đưa ra những quyết định đúng đắn105. Chính vì vậy, mặc dù việc thực hiện một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận trẻ em có sự đồng thuận hoàn toàn từđứa trẻđó cũng không có ý nghĩa và khôngđược coi là lý lẽ,lập luận để bỏ qua trách nhiệm pháp lý của người phạm tội.

Một trong những dấu hiệu pháp lý quan trọng của tội buôn bán trẻ em mà các văn kiện pháp lý đưa ra đó chính là việc xác định độ tuổi của nạn nhân là trẻ em. Việc xác định đối tượng là trẻ em cũng được khẳng định rõ trong nhiều văn kiện quốc tế. Trước hết, Công ước của LHQ về quyền trẻ em khẳng định ngay tại Điều 1 trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi. Tiếp theo đó, một loạt các văn kiện quốc tếkhác có liên quan, đặcbiệt là NĐT về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc

105 Như trên.

69

buôn bánngười, đặc biệt là phụ nữvà trẻ em và Công ước ASEANđều khẳng định “trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”.

Nhưvậy, điểmkhác biệt cơ bản để phân biệt tội buôn bán người và tội buôn bán trẻ em theo các chuẩn mực quốc tế đó là dấuhiệu về nạnnhân bị buôn bán vàdấu hiệu về phương thức, thủ đoạn.Vớitội buôn bán trẻ em thì đối tượng bị buôn bán là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trong khi với tội buôn bán người thì nạn nhân là bất kỳ ai từ đủ 18 tuổi trở lên. Đồng thời, với tội buôn bán trẻ em thì chỉ cần cóhai dấu hiệu pháp lý bắt buộc, đó là: (i) hành vi (là một trong các hành vi như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người) và (ii) mục đích bóc lột (làmột trong các mục đích như bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệhay nhưng hình thức tương tựnô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể). Trong khi đó, với tội buôn bán người thì cần có tới ba dấu hiệu pháp lý bắt buộc, đó là: (i) hành vi (là một trong các hành vi nhưtuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người), (ii) thủ đoạn (là một trong ác thủ đoạn như dùng bạo lực hay đe dọa dùng bạo lực; các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá; các hình thức lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễbị tổn thương của nạn nhân; đưa hoặc nhận tiền hay lợinhuận đểđạtđược sựđồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác) và (iii) mục đích bóc lột (là một trong các mục đích như bóc lột mại dâm hay những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay nhưng hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể).

(iii)Về chủ thể của tội phạm

Nhóm tội phạm có tổ chức được Công ước TOC giải thích là một nhóm có cơ cấu gồmtừ ba người trở lên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợpđểthực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạmtộiđượcquyđịnh trong Công ước này, nhằm đạt được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác. Trong đó, tội phạm nghiêm trọng được đề cập tới trong Công ước nàyđược cho là hành vi vi phạm có tính chất xuyên quốc gia và có liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức, có thể bị trừng phạt theo khung hình phạt tù ít nhất là 04

70

năm hoặc nặng hơn. Như vậy, với các đặc trưng này mà Công ước đềcậptới thì mua bán người và mua bán trẻ em bản chất chính làtộiphạm nghiêm trọng liên quanđến nhómtộiphạm có tổ chức xuyên quốc gia. Chính vì thế, đểbổsung cho Công ước này, LHQđồngthời ban hành ba NĐT kèm theo, trongđócó NĐTvềngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ vàtrẻem.

Cùng với trách nhiệm hình sự của các cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, Điều 10 CôngướcTOC yêucầucác quốc gia thành viên nghiên cứu để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân, có thể là trách nhiệm hình sự, dân sự hay hành chính. Theo đó, mỗi quốc gia thành viên sẽ ban hành những biện phápcầnthiết phù hợp với nguyên tắc pháp lý của họ, để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia thực hiện các tội phạm nghiêm trọng liên quanđến nhómtộiphạm cótổ chức. Việc quy định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân phải bảo đảm rằng các pháp nhân đó phải chịu các hình phạt hình sự hay phi hình sự có tính hiệu quả, tương xứng và có tác dụng ngăn ngừa. Việc xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân không ảnh hưởng đếntrách nhiệm hình sự của các cá nhân thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, với yêucầunàycủaCôngướcTOC thì pháp nhân khi thực hiện tội mua bán người, mua bán trẻ em cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý, trách nhiệmđó cóthể làtrách nhiệm hình sự, dân sự hoặc hành chính, nhưngcần đảmbảonhững pháp nhân thực hiện hành vi buôn bánngườiphải bị trừng phạt tương xứng với vi phạm mà mình gây ra và việc trừng phạt này sẽ có tác dụng ngăn ngừa tội phạm tiếp tục xảy ra.

(iv) Về mặt chủ quan của tội phạm

Mặtchủquancủatộibuôn bán người,tộibuôn bántrẻem mà NĐTvềngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữvà trẻ em hoặc Công ước ASEAN đưa ra thể hiện ởđịnhnghĩa về buôn bán người, buôn bán trẻem khi đềcập tớimục đích củangườithực hiện hành vi phạm tội. Đối với tội buôn bán người, tội buôn bán trẻ em thì mục đích bóc lột là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của tội phạm, ít nhất phải bao gồm một trong các mục đích bóc lột như bóc lộtmạidâm hay những hình thức bóclộttình dục khác, các hình thức bóc lột lao động hay dịchvụcưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ

71

thể. Ngoài ra, tùy thuộc vào mỗi quốc gia thành viên mà có thể mở rộng phạm vi của các hình thức bóc lột khác. Như vậy, với mục đích nàycủa ngườiphạmtộithì mặt chủ quan củatộiphạm làlỗi cố ý.

Bên cạnh những văn kiện quốctếquy định trực tiếp khuônkhổpháp lý về tội buôn bán người, tội buôn bán trẻ em nêu trên, cộng đồng quốc tế cũng có một sốcác văn kiện pháp lý có liên quan khác.

Công ước LHQ về quyền dân sự và chính trịđã khẳng định tạiĐiều8 và Điều 9 rằng, “không ai bịbắt làm nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm; không ai bị bắt là nô dịch; không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân, không ai bịbắt hoặc bị giam giữ vô cớ”.

Đối với các đối tượng dễ bị tổnthương là phụ nữ và trẻ em, cộngđồng quốctế có những chuẩn mực quốc tế riêng. Đối với phụ nữ, Điều 6 Công ướcvề xoá bỏmọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 đã yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp, kểcả về lậppháp, để xoá bỏtất cả các hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột mại dâmphụnữ. Đốivớiđối tượng là trẻ em, CôngướccủaLHQvềquyềntrẻem yêu cầucác quốc gia thành viêncầnphải thực hiện tất cả các biện phápđể bảo vệtrẻ emvà đảmbảo rằng, lợi ích tốt nhất của trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Đồng thời, Công ước cũng kêu gọicác quốc gia thành viên thực hiện tất cả các biện phápởcáccấpquốc gia, song phương và đa phương để ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán trẻ em vì bất cứ mục đích gì hay dưới bất cứ hình thức nào (Điều 35). Các quốc gia thành viên cũng phải camkếtbảovệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột như bóc lột tình dục,lạmdụng tình dục và các hình thức bóc lột khác làm phương hại đến trẻ (Các Điều 20, 34, 39).

Liên quan đến lao động hoặc dịchvụ cưỡngbức, Công ước số 29 về lao động cưỡng bức năm 1930 đã yêu cầu các thành viêncủa Tổchức lao động quốc tế (ILO) khi phê chuẩn Côngướcnày phải camkếthuỷ bỏ việc sử dụng lao động vào những công việc hoặc dịchvụ mà ngườiđóbịép buộc phải thực hiệndưới sựđedoạcủa một hình phạt và bản thân người đó không tự nguyện làm, trừ một số trường hợp nhất

72

định,đólà nếu công việc hoặc dịchvụđó buộcphải làm theo luật về nghĩa vụ quân sự; công việc hoặc dịchvụđóthuộc nghĩavụ củatất cảcác công dân bình thường; công việc hoặc dịch vụ buộc phải làm do quyết định của toà án và đặt dưới sự giám sát và kiểm tracủacơ quan công quyền; công việc hoặc dịchvụđóbuộc phải làm trong những trườnghợpkhẩn cấp (chiến tranh, tạihoạnhưđộngđất, cháy, lụt, đói,

dịch bệnh…) hoặc công việc đó của thôn xã vì lợi ích trực tiếp của tập thể106.

Nô lệ hay buôn bán nô lệ đượccoi là xuất phát điểm của tội phạm buôn bán người và là một hình thức của buôn bán người.Từnăm 1926, Cộng đồng quốc tế đãban hành Công ước quốc tế về nô lệ để kêu gọi các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp cần thiết và cam kết ngăn chặn và trấn áp việc buôn bán nô lệ, bao gồmmọihành vi liên quanđếnviệc buôn bán và vận chuyển nô lệ, điển hình như các hành vi liên quan đến việc đoạt được, giành được hay chuyển nhượng một người với mục đích bắt họ làm nô lệ; mọi hành vi liên quan đến việckiếm đượcmột nô lệ để bán hay trao đổi họ; mọi hành vi chuyển nhượng thông qua việc bán hay trao đổi một nô lệ có được với mục đích đem bán hoặc trao đổi họ107.

1.3.2. Pháp luật của một số quốc gia và vùng lãnh thổ

Nhận thức rõ tính chất, mức độ và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mà nạn buôn bán người để lại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã quy định buôn bánngườilà

tội phạm hình sựtrong hệ thống pháp luật của quốc gia mình. Theo Báo cáo về buôn bán người năm 2019 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì tính đến ngày 31/3/2019đã có 168 quốc gia đã quy định mua bán người là tội phạm hình sự trong hệ thống pháp luật quốc gia108. Từ tháng 3/2019 đến tháng 8/2020 đã có thêm một quốc gia nữa tội phạm hóa buôn bán người trong hệ thống pháp luật. Như vậy, tính đến thờiđiểm tháng 8/2020, trên toàn thế giới đã có 169 quốc gia quy định buôn bán người là tội phạm hình sựvà cần bịtrừng trịbởichế tài hình sựnghiêm khắc109. Có thể

106 Công ước của Tổ chức lao động quốc tế ILO về lao động cưỡng bức (1930), Điều 1 và Điều 2.

107 Công ước của LHQvề nô lệ,(1926), mở ký ngày 25/9/1926, có hiệu lực ngày 9/3/1927, Điều 1 và Điều 2 108 https://www.state.gov/wp-content/uploads/2019/06/2019-Trafficking-in-Persons-Report.pdf, truy cập ngày 1010/5/2021.

109 United Nations Offcie on Drugs and Crime, (2020), Global Report on Trafficking in Person, United Nations, tr.62.

73

nghiên cứu pháp luật một số quốc gia sau:

– Liên bang Nga: BLHS Liên bang Nga110chỉquy định một điều duy nhất về tội buôn bán người tại Điều 127-1 thuộc Chương 17 – các tội xâm phạm tự do, danh dựvà nhân phẩm của con người. Theo quy định tạiđiềuluật này, được coi là phạm tội buôn người nếu thực hiện một trong ba hành vi: (i) mua, bán người; (ii) các giao dịch có liên quan đến mua, bán người và (iii) bóc lột nhữngngười được tuyển mộ, vận chuyển, giao nhận hoặc cất giấu. Người phạm tội buôn bán trẻem hoặc buôn bán ngườilớnđềubịtruy cứu trách nhiệm hình sựvềtộibuônngườivà có thể bị áp dụng hình phạt tù đến 06 năm.

Phạm tội thuộc trường hợp có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự gồm: (i) đốivới02ngườitrởlên; (ii)đốivớingườichưa thành niên; (iii)lợidụng côngvụ;

(iv) để đưa nạn nhân qua biên giới quốc gia hoặcgiữ họtrái phép bên ngoài biên giới; (v) sử dụng các giấy tờ giả mạo cũng như thu giữ, cất giấy hay tiêu huỷ các loại giấy

tờ,chứng minh nhân dâncủanạn nhân; (vi) dùng vũ lực hoặc đedoạdùng vũ lực; nhằmmụcđích lấy các bộ phận cơ thể hay mô của nạn nhân; đối với phụ nữ mà biết là đang mang thai; (vii) đối với người mà người phạm tội biết là đang trong tình trạng không thể bảo vệ hay là ngườilệthuộc vào người phạm tội; (viii) vô ý làm chết người hoặc gây tổnhạinghiêm trọng đến sức khoẻ hay những hậu qủa khác đối với người bị hại; (ix) việc thực hiện tội phạm bằng biện pháp gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của nhiều người; (x) tội phạm này domộtnhómngườicó tổ chức gây ra. Trong trường hợp này, khung hình phạt áp dụngđốivới ngườiphạm tội là phạt tù từ03 năm đến 15 năm, có thể kèm theohạnchế tự do đến 05 năm.

Liên bang Nga chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

Như vậy, pháp luật của Liên bang Nga chưa đưa ra được một định nghĩa thống về buôn bán người mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là buôn bán người. Tuy nhiên, BLHS Liên bang Nga cũng không môtả cụthểcấu thành cơ bảncủa các hành vi phạm tội buôn bán người, đồng thời, hành vi buôn bán trẻ em cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán người và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm

110Bộluật hình sự liên bang Nga năm 2008.

74

hình sự với chính sách xử lý nghiêm khắc hơn.

– Cộng hoà Liên bangĐức:Liên quan đến loại tội phạm này, BLHS Cộng hoà Liên bang Đức111 quy định 04 tội danh với từng mục đích cụ thể ở từng tội danh riêng biệt, gồm: (1) tội buôn người nhằm mục đích bóc lột tình dục (Điều 232); (2) tội buôn ngườinhằmmụcđích bóclộtsức lao động(Điều233); (3)tộihỗtrợbuôn người (Điều233a); (4) tội buôn trẻ em (Điều 236). Theo quy định tại Điều 232 về tội buôn bán người nhằm mục đích bóc lột tình dục và Điều 233 về tội buôn người nhằm mụcđích bóc lột sức lao động thì buônngười được hiểulà hành vi lợi dụng tình trạng khó khăn cấp bách hoặc tình trạng không có sự giúp đỡ liên quanđếnviệc lưu trú ở nước ngoài của nạn nhân đã đẩy họ vào tình trạng bị bóc lột, có thể là bóc lột tình dục hoặc bóc lộtsứclao động.Người phạm tội buôn người nhằm mục đích bóc lộttình dục hoặc tội buôn người nhằm mục đích bóc lột sức lao động đều bị áp dụng khung hình phạt như nhau,đó là phạt tùtừ06 thángđến 10 năm. Trường hợp phạm tội buôn người nhằm mục đích bóc lột tình dục hoặc buôn người nhằm mục đích bóc lột sức laođộng nếu thuộcmộttrong các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sựthìbị phạt tù từ 01 năm đến 10 năm, gồm: (i)nạnnhân là trẻ em dưới 14 tuổi; (ii) hànhhạnghiêm trọng thân thể nạn nhân hoặc làm nạn nhân có nguy cơ thiệt hại tính mạng; (iii) người thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc là thành viên của băng nhóm thực hiện tội phạm này.

Đốivớitộihỗtrợbuôn người,Điều233a BLHS quyđịnhngườinào tuyển mộ,vậnchuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhậnmộtngười đểhỗtrợthực hiện hành vi quy định tại tội buônngườivì mục đích bóc lột tìnhdục(Điều 232) và tại tội buôn người vì mục đích bóc lột sức lao động (Điều 233) thì bị trưy cứu trách nhiệm hìnhsựvềtội hỗtrợ buôn người vớikhung hình phạt tùtừ03 thángđến05 năm. Trườnghợpphạmtộithuộcmộttrong các trườnghợptăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị phạt tùtừ06 tháng đến 05 năm, gồm: (i) nạn nhân là trẻ em dưới 14 tuổi; (ii) hànhhạnghiêm trọng thân thể nạn nhân hoặc làm nạn nhân có nguy cơ thiệt hại tính mạng; (iii) người thực hiện hành vi phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc

111 BLHS Cộng hoà Liên bang Đức năm 1871 (sửa đổi lần gầnđâynhất vào năm 2020).

75

là thành viên của băng nhóm thực hiện tội phạm này.

Đối với tội buôn trẻ em, Điều 236 BLHS quy định người nào mà trong thời gian dài chongườikhác con của mình chưa đủ 18 tuổi hoặcđứa trẻdo mình bảo trợhoặc nuôi dưỡng chưađủ 18 tuổi vì thù lao hoặc với mục đích thu lợi cho mình hoặc chomộtngườithứ ba thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôntrẻem với hình phạt tù đến 05 năm và phạt tiền. Cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sựvề

tội này với khung hình phạt tương tựđối vớingười tiếp nhận đứa trẻ đó về ở với mình và trả thù lao cho việc tiếp nhận đó.

Cũng giống với Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Như vậy, theo quy địnhcủaBLHS Liên bang Đức thì cấu thành cơ bản của tội buôn người cũng bao gồm 03 yếutố cơ bản, đólà thủ đoạn, hành vi và mục đích, cụ thể là lợi dụng tình trạng khó khăn,cấpbách hoặc tình trạng không có sự giúp đỡ của nạn nhânvềviệc lưu trú ở nước ngoài đã đẩy họ vào tình trạng bị bóc lột, gồm bóc lột tìnhdụchoặc bóclộtsứclaođộng.Việc thực hiện hành vi tuyểnmộ,vậnchuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhậnmột người đểthực hiện hành vi nêu trên chỉ cấu thành tội hỗ trợ buônngườimà không phải tội buôn người. Trường hợp nạn nhân làtrẻemdưới14 tuổiđượcxem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hìnhsựcủatội buôn người. Đốivới tộibuôn trẻ em, BHLS Cộng hoà liên bang Đức không yêu cầu dấuhiệuvềthủđoạnvàmụcđích và coi việc vi phạm nghĩavụchăm sóc, dậydỗ, nuôi dưỡng đứa trẻ dưới18 tuổi qua hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận trẻ emdưới 18 tuổi là con hoặc là người được bảo trợ,đượcnuôidưỡng để nhậnthù lao hoặc cótrả thù lao là phạm tội buôn trẻ em. Có thể thấy, cách quy định về tội buôn người vàbuôn trẻ em của Cộng hoà liên bang Đức tương đối hẹp và khác biệt so với pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia trênthếgiới.

– Canada: BLHS Canada112 quy định một tội danh về buôn bán người tại Điều 279.01. Người phạm tội buôn bán trẻ em hoặc buôn bán người lớnđều bịtruy cứu trách nhiệm hình sựvềtội buôn bán người. Theo quy định tạiđiềuluật này thìmột

112 Bộ luật hình sự Canada năm 1985 (sửa đổi lần gần đây nhất vào năm 2020).

76

người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sựvề tộibuôn bán người nếu vì mục đích bóc lột hoặc tạo thuận lợi cho việc bóc lột nạn nhân mà thực hiện mộttrong hai loại

hành vi: (i) tuyển mộ,vận chuyển, tiếp nhận, giam giữ, che giấu hoặc chứa chấp một người, hoặc (ii) thực hiện việc kiểm soát, chỉ đạo hoặc tạo ảnh hưởng đối với hành vi của một người. Người phạm tội này sẽ bị phạt tù tới 14 năm.

Trường hợp người phạm tội cómộttrong các tình tiết tăng nặng là: (i) bắt cóc; (ii) thực hiện việc hành hung; (iii) cưỡng dâm hoặc gây ra cái chết cho nạn nhân trong khi thực hiện tộiphạm thì bị phạt tù chung thân. Sựđồng ýđối với hành vi buôn bán người nêu trên đều không có ý nghĩa trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Theo quy định của BLHS Canada (được sửa đổi năm 2004) thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự, trong đó có tội mua bán người.

– Australia: Liên quan đến tội buôn bán người và buôn bán trẻ em, BLHS năm 1995 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) 113 của Australia quy định 06 tội danh liên quan, gồm tội buôn bán người tại Điều 271.2; tội buôn bánngườicó tình tiết tăng nặng tạiĐiều 271.3; tội buôn bán trẻ em tại Điều 271.4; tội buôn bán người trong nước tại Điều 271.5; tội buôn bán người trong nước có tình tiết tăng nặng tại Điều 271.6 và

tội buôn bán trẻ em trong nước tại Điều 271.7. Theo quy định của BLHS Australia thì buôn bán người gồm một trong các hành vi: (i) dùng thủ đoạn đe dọa, lừa dối, ép buộc, cưỡng bức người khác hoặc tổ chức đểngười khác nhập cảnh vào Australia hoặc xuất cảnh khỏi Australia hoặc đưa người đó từ nơi này đến nơi khác trongđất nước Australia; (ii)tổchức hoặc tạo điều kiện cho người khác nhập cảnh vào Australia hoặc xuất cảnh khỏi Australia hoặcđưa người đó từnơi này đến nơi khác trong đất nước Australia mà không quan tâm tới việc người đó có bị bóc lột, lạm dụng sau khi nhập cảnh hoặc xuất cảnh hay không; (iii) tổ chức hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho ngườikhác nhập cảnh vào Australia hoặc xuất cảnh khỏi Australia hoặc đưa ngườiđó từnơi này đến nơi khác trong đất nước Australia và lừa dốihọđể họ tham gia vào dịch vụ tình dục hoặc bóclộthọ hoặctịch thugiấy tờtùy thân

113 Bộ luật hình sự Australia 1995.

77

của họ sau khi nhập cảnh vào hoặc xuất cảnh khỏi Australia; (iv) tổ chức hoặc tạođiều kiện thuận lợi cho người khác nhập cảnh vào Australia hoặc xuất cảnh khỏi Australia hoặc đưangười đó từnơi nàyđếnnơi khác trong đất nước Australia và sắp xếp, bố trí cho người đó tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tình dục với thủđoạn lừa dối về bản chất thật của việc cung cấp dịch vụ tình dục,về việc họ được tựdo trong hoạt động cung cấp dịch vụ tình dục hoặc họ được tựdo lựa chọn không tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ tình dục. Người thực hiện hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù đến 12 năm.

Trường hợp phạm tội thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng gồm: (i) có mục đích bóc lột nạn nhân ngay từ ban đầu; (ii) nạn nhânbị đốixử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; (iii) nạn nhân bị gây tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe hoặc có nguy cơ tử vong thì bị áp dụng hình phạt đến 20 năm tù.

Đối với tội buôn bán trẻ em, BLHS Australia quy định các hành vi phạm tội tương tự như với tội mua bán người và có hai điểm khác biệt, đó là hành vi phạm tội thực hiệnđối với nạn nhân là ngườidưới 18 tuổi và người thực hiện hành vi phạm tội không cần dùng các thủđoạn như đe dọa, lừa gạt, cưỡngbức, ép buộc. Hình phạt đối với ngườiphạm tội buôn bán trẻ em là 25 năm tù. BLHS Australia không quy định chính sách xử lý đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng đối với tội buôn bán trẻ em114.

Như vậy, có thể thấy, mặcdù vềcơ bản pháp luật hình sự Australia quy định cấu thành cơ bảncủatội buôn bánngườicó những điểm tương đồng với pháp luật quốc tế và một số quốc gia khác, gồm 03 yếu tố là hành vi, thủ đoạn và mục đích, tuy nhiên, phạm vi của tội buôn bán người theo quyđịnh của BLHS Australia cóphần rộng so với pháp luật quốctế khi quyđịnh tội buôn bán người bao gồm cảnhững hành vi có tính chất đưa người di cư trái phép.

– Malaysia: Tội buôn bán người, buôn bán trẻ em và hình phạt đối với các tội phạm này được Malaysia quy định tại Luật phòng, chống mua bán người và chốngđưa người di cư trái phép được sửa đổi, bổ sung năm 2016. Theo đó, Malaysia quy

114 Bộ luật hình sự Australia 1995, từ Điều 271.2 đếnĐiều271.7.

78

định một số tội danh liên quan đến buôn bán người, buôn bán trẻ em, gồm: (i) tội buôn bán người (Điều12); tộibuôn bán người bằng những thủđoạn đe doạ hoặc dùng vũ lực (Điều 13); tội buôn bán trẻ em (Điều 14); tội thu lợi từviệc bóc lột ngườibịbuôn bán (Điều 15). Theo quy địnhtại Điều12 về tội buôn bán người thì bất kỳ người nào buôn bán một người không phải là trẻ em nhằm mục đích bóc lột thì sẽ bị phạt tùtới15 năm và còncó thể bịphạt tiền. Trườnghợpbuôn bán người có một trong các tình tiết tăng nặng như: (i) dùng thủđoạnnhư đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc hình thức cưỡng bức khác; (ii) bắt cóc, lừa gạt, man trá; (iii)lạmdụng quyền lực; (iv) lạm dụngvịthếdễ bị tổn thương của một người để thực hiện hành vi buôn người; (v) đưa hoặc nhận tiền hoặclợiích để đạt đượcsự đồng ý củamột người có quyền kiểm soát đối với người bị buôn bán thì sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 20 năm vàcòn có thể bị phạt tiền (Điều 13).

Trường hợp buôn bán trẻ em (người dưới 18 tuổi) nhằm mục đích bóc lột thì sẽ bị phạt tù từ03 năm đến 20 năm và còn có thể bị phạt tiền (Điều 14). Người thu

lợi từviệc bóc lột người bị buôn bán bịphạt tù đến15 năm và còn có thể bị phạt tiền từ 50.000 ringgit đến 500.000 ringgit.

Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, Luật phòng, chống mua bán người và chống đưa người di cư trái phép năm 2007 được sửa đổi năm 2016 còn quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội này (Điều 64).

– Philippines: Luật phòng, chống buôn bán người của Philippines năm 2003 (sửa đổi, bổsung năm 2012) 115 quy định tội buôn bán người và hìnhphạt đốivớitội phạm này tại Điều 4. Theo đó, người thực hiệnmộttrong các hành vi sau sẽ bị xử lývề tội buôn bán người, gồm: (i) tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao hoặc chứa chấp, cung cấp hoặc nhận người bằng bất cứ thủ đoạn nào,kể cả với lýdo tìm kiếm việc làm hoặc đào tạo nghề trong hoặc ngoài nước nhằm mục đíchmạidâm, khiêu dâm, khai thác tình dục, cưỡng bức lao động, nô lệ, trừ nợ; (ii) giới thiệu hoặc tác thành để kết hôn vì tiền, lợi nhuận hoặc lợi ích vật chất, kinh tế đối vớibất kỳ mộtngườinào cho một người nước ngoài với mục đích mua, bán hoặc buộc người đó tham gia hoạt

115 Luật Phòng, chống buôn bán người Philippine năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), từ Điều 3 đến Điều 12.

79

động mại dâm, khiêu dâm, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, nô lệ hoặc trừ nợ; (iii) mời hoặc ký hợp đồng kết hôn thật hoặc giả nhằm mục đích mua, bán hoặc buộc họtham gia vào hoạtđộng mạidâm, khiêu dâm, bóclộttình dục, cưỡngbức lao động,nô lệ hoặc trừ nợ; (iv) nhận làm con nuôihoặc tạo điềukiện cho việc nhận làm con nuôi bằng bất cứ hình thức nào với mục đích bóclột hoặc để tạođiều kiệncho hoạt động mại dâm, khiêu dâm, bóc lột tình dục, cưỡng bức laođộng,nô lệ hoặc trừnợ; (v)đảmnhận hoặc tổ chức các chuyến du lịch và kế hoạch du lịch nhằm các mục đích sử dụng và cung cấp người cho hoạt động mại dâm, khiêu dâm hoặc bóc lột tình dục; (vi) giữ hoặc thuê một người để thực hiện mại dâm hoặc khiêu dâm; (vii) tuyển mộ, thuê, nhận làm con nuôi,vậnchuyển hoặc bắt cóc một người, bằng cách đe doạ hoặc dùng vũ lực, gian lận, lừa dối, bạo lực, áp bức hoặc đe doạ nhằmmụcđích lấyđi hoặc bán các bộ phận cơ thể của người đó; (viii) tuyểnmộ, vậnchuyển hoặc nhận làm con nuôimộtđứa trẻđểđứatrẻđótham gia vào các hoạtđộngvũ trang tại Philippines hoặc nước ngoài; (ix) tuyển mộ, vậnchuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận mộtđứa trẻ (dưới18 tuổi hoặc trên 18 tuổi nhưng không có khả năng chăm sóc hoặc bảo vệ bản thân do bị khuyết tật hoặc tâm thần) nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, nô lệ khổ sai, sản xuất, buôn bán ma túy, thực hiện các hoạt động phạm pháp hoặc bán họ mà không cần bất cứ thủ đoạn nào.

Hình phạt áp dụng đối với người thực hiện một trong các hành vi nêu trên là phạt tù 20 năm và phạt tiền từ 01 triệu Peso đến 02 triệu Peso. Trường hợp thực hiện một trong các hành vi nêu trên đối với trẻ em (người dưới 18 tuổi hoặcngườidù trên 18 tuổi nhưng không thể tự bảo vệ bản thân do bị khuyết tật hoặc tâm thần) thì bị phạt tù chung thân và phạt tiềntừ2 triệu Pesođến5 triệu Peso. Hình phạt này cũng áp dụng đốivới mộtsốtrườnghợpphạmtộibuôn bán có tình tiết tăng nặng, như tội phạm được thực hiện bởi một tổ chức hoặc có quy mô lớn hoặc khi người phạm tội là ông bà, chamẹ,anh chịem ruột, người giámhộhoặc mộtngười có quyền lực với người bị buôn bán, thành viên của quân đội hoặc cơ quan thi hành pháp luật116.

Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, Luật Phòng, chống buôn bán người

116 Luật Phòng, chống buôn bán người Philippine năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), từ Điều 3 đến Điều 12.

80

của Philippines còn quyđịnh trách nhiệm hình sựvà hình phạt đối với pháp nhân khi phạm tội buôn bán người.

Như vậy, Luật phòng, chống buôn bán người của Philippines đã liệt kê một loạt các hành vi đượccoi là phạm tội buôn bán ngườitại một điều luật (Điều 4) tương đối cụ thể,rõ ràng và bao quát, bao gồm cả các trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và quy định hình phạt áp dụng cho từng hành vi phạm tội tại một điều luật khác. Theo quy định tạiĐiều4 Luật phòng, chống buôn bán người của Philippines thì cấu thành cơ bản của tộibuôn bán người được quyđịnh xuất phát từ định nghĩa về buôn bán người tại Điều 3 của Luật này, gồm ba dấu hiệu pháp lý, đó là hành vi, thủ đoạn và mục đích, riêng đối với hành vi buôn bán trẻ em thì không cần dấu hiệu thủ đoạn.

– Trung Quốc: BLHS Trung Quốc117 quy định 02 tội danh liên quan đến mua bán người, gồm tội mua bán phụ nữ và trẻ em tại Điều 240 và tội mua phụ nữ và trẻ em bịđem bán tại Điều 241. Theo quy định tại Điều 240 BLHS thì mua bán phụ nữ, trẻ em làviệc thực hiện một trong các hành vi lừa gạt, bắt cóc, mua, bán, chuyển giao phụ nữ, trẻem để đem bán.

Phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự gồm: (i) người cầmđầu tổ chức mua bán phụ nữ, trẻ em; (ii) mua bán phụ nữ, trẻ em từ 03 người trở lên; (iii) hiếp dâm phụ nữ bị đem bán; (iv) lừa gạt, cưỡng bức phụ nữ bị đem bán phải bán dâm hoặc bán nhữngphụ nữđócho người khác để cưỡng bứchọphải bán dâm; (v) dùng bạo lực, ép buộc hoặc dùng thuốc mê để bắt cóc phụ nữ, trẻ em đem đi bán; (vi) bắttrộmtrẻsơ sinhđểđem bán; (vii) gây ra chophụnữvàtrẻembịđem bán hoặc nhữngngườithân trong gia đình họ bị chết hoặc nhữnghậu quảkhác; (viii)đưaphụnữ, trẻ em đem bán ra nước ngoài.

Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em là phạt tù tối thiểu là 05 năm và tối đa là tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

Cùng với tội mua bán phụ nữ, trẻ em tại Điều 240, BLHS Trung Quốc còn quy

117Bộluật hình sự Trung Quốc năm 1997, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2001, 2002 và 2005.

81

định tội mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán tại Điều 241. Trường hợp mua phụ nữ, trẻembị lừa bán nhưng sau đókhông ngăn cảnhọ trở về nơi cư trú cũ theo nguyện vọng của họ, không có hành vi lạm dụng trẻ em bị bán, không ngăn cản nỗ lực giải thoát cho họ thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

BLHS Trung Quốc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và không loại trừviệc truy cứu trách nhiệm hình sựcủa pháp nhân khi phạm tội này. Theo quyđịnh tại Điều 30 và Điều 31 thì pháp nhân phạm tội này sẽ bị phạt tiền.

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Như vậy, qua nghiên cứu pháp luật quốc tếcũng như pháp luật của một sốquốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi quy định tội mua bán người, tội mua bán trẻ em như sau:

Một là, với những hậu quả mà mua bán người, mua bán trẻ em gây ra cho nạn nhân, cho xã hội thì việc quyđịnh chính sách xửlý nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả gây ra là hết sức cần thiết. Chính vì thế, cần thiết phải quy định mua bán người, mua bán trẻ em là tội phạm với cấu thành tội phạm rõ ràng, gồm 03 yếu tố cơ bản là thủ đoạn, hành vi và mục đích.

Hai là, tội mua bán người, mua bán trẻ em và chế tàixửlý có thể được quyđịnh trong BLHS hay ngay trong đạo luật chuyên ngành là Luật Phòng, chống mua bán người. Điều này tùy thuộc vào hệ thống pháp luật, thể chế của từng quốc gia.

Ba là, pháp luật quốc gia cầnđảm bảosựhài hòa, tương thíchvớipháp luật quốc tế để đáp ứng yêu cầu về hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp trong đấu tranh với loại tội phạm này.

Bốn là, cần quy địnhchếtài hình sự nghiêm khắc, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độnghiêm trọng của hành vi phạm tội, tương xứng với những tổn hại, hậu quả mà nạn nhân phải gánh chịu và có sự phânbiệt vềchính sách xử lý giữa trường hợpphạmtộitạicấuthành cơbảnvà phạmtộicó tình tiết tăng nặng; giữatộimua bán người và tội mua bán trẻ em theo hướng hình phạt áp dụng đối với tội mua bán trẻ em hoặc đối với trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng nghiêm khắc hơn so với tội mua bán người hoặc so với trườnghợpphạmtội tạicấuthành cơ bản. Hình

82

phạt chính quyđịnhđốivới ngườiphạmtộimua bán người, mua bán trẻ em nên làhình phạt tù có thời hạn và khung hình phạt cao nhất có thể là phạt tù 20 năm hoặc tùchung thân. Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, nên quyđịnhhình phạtbổsung đối với người phạt tội làhình phạt tiền hoặc hình phạt hạn chế tự do.

Năm là, nên quy định tội mua bán người và tội mua bán trẻ em là 02 tội danh độc lập, mà không nên quy định một tội danh là tội mua bán người với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “mua bán trẻ em” .

83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1. Trải qua nhiều thập kỷkhông có một khái niệm thống nhất về buôn bán ngườithìđếnnăm 2000, lần đầutiên cộngđồngquốctếđãđưara khái niệm hoàn chỉnh, thống nhất và được thừa nhận trên toàn thế giới về buôn bán người. Trêncơ sởđó, nhiều quốc gia và vùng lãnhthổ đã nội luậthoá khái niệm buôn bán người, buôn bán trẻ em vào pháp luật quốc gia mình. Có thể thấy, ở phạm vi cộngđồng quốctế hayởmỗiquốc gia, khái niệm buôn bán người, buôn bántrẻem cũngđãthayđổi theo từng thời kỳ, từng giaiđoạnphát triểncủaxã hội vềhình thái, cách thức nhận diện hành vi này. Tuy nhiên, xét về bản chất thì hành vi buôn bán người, buôn bán trẻ em vẫn không hề thay đổi khiở bất kỳ thờiđại nào, với bấtcứ xã hộithì buôn bán người, buôn bán trẻ emđềulà việc coi con người như một thứ hàng hoá mang ra trao đổi, mua bánđể đổilấy tiền, lợi ích vật chất hoặc bất cứ lợi ích nào khác.

2. Với quanđiểmcoi tội mua bán người, tội mua bán trẻ em là tội ác chống lại con người,bởinó xâm phạm nghiêm trọng đếnquyền con người, trongđónhững quyền cơ bản nhất như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyềnđược bảo vệ an

toàn vềtính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm…,cộngđồng quốctế có chính sách rất rõ ràng và nghiêm khắcđối vớitội loại tội phạm này. Đến nay, nhiều văn kiện quốctếvề phòng, chống buôn bánngườiđãđược ban hành nhằm ngăn chặn, kiềm chế, trấn áp và tiến tới xoá bỏ loại tội phạm này và yêu cầu các quốc gia trên thế giới cùng chung tay nỗ lực trong công cuộc phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm này thông qua hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.

3. Hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Namđã quyđịnhmua bán người, mua bántrẻem là tộiphạm hìnhsựtrong pháp luật của quốc gia mình với hình phạt nghiêm khắc. Theo đó, dấuhiệu cấu thành tộiphạm buôn bán ngườiđược quy định gồm03yếutố: thủ đoạn, hành vi và mục đích. Riêng đối với tội mua bán trẻ em thì chỉ cần hai yếu tố hành vi và mục đích. Dù quy định tội mua bán người,tộimua bán trẻ emởBLHS hay tại một đạoluật riêngvề phòng, chống mua bán người thì hình phạt mà các quốc gia và vùng lãnhthổquyđịnh đối với ngườiphạm tội này đều là hình phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân.

84

Chương 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI,

TỘI MUA BÁN TRẺ EM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

2.1. Khái quát lịch sử lập pháp về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em 2.1.1. Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.Ởthờiđiểmnày, những tàn dư,hủtụclạchậucủaxãhộiphong kiếndầndần được thay đổivà xoá bỏ. Các quyền cơbản củacông dân lần đầu tiên được ghi nhận bởi Hiến pháp và pháp luật, cùng với đó,địa vị,vị trí của người phụnữtrong gia đình, trong xã hội được đề cao như nam giới trên tinh thần là mọi công dân bình đẳng trước pháp luật mà Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận“quyềnbính trong nước là của toàn dân, không phân biệt nòi giống, trai, gái, giàu nghèo” và “đàn bàngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”118. Tinh thần này của Hiến pháp năm 1946 tiếp

tụcđược các bản Hiến pháp năm 1959 và 1980kếthừa và phát triển hơn nữa về quyền bất khả xâm phạmvềthân thể của công dân “công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể”; “công dân được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự,

nhânphẩm…”và “phụnữ vànam giới có quyền ngang nhau vềmọi mặtchính trị, kinhtế,văn hoá, xãhộivà giađình”119. Tuy vậy,ởgiaiđoạnnày, pháp luật Việt Nam chưa có quyđịnhliên quanđến tội mua bán người, mà đến năm 1985, khi BLHSđầutiêncủanướcCộng hoà xãhộichủnghĩa Việt Namđượcban hành thì cũng làthời điểmpháp luật Việt Nam ghi nhận mua bán phụ nữ và mua bán trẻ em là

tội phạm hình sự cầnđược xử lý bằng chếtài nghiêm khắc nhất – chế tài hình sự.

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999

Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđược ban hành với 280 điều luật quy định 95 tội danh. Trongsố95 tội danh được quy định tại95điềuluật của BLHS năm 1985 thì có 2điềuluật liên quanđếntộimua bán người và mua bán trẻ em, đó là Điều 115 – Tội mua bán phụ nữ và Điều 149 – Tội bắt

118 Hiến pháp năm 1946, Điều 1 và Điều 9.

119 Hiến pháp năm 1992, Điều 63, Điều 69 và Điều 70.

85

trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em. Trong BLHS năm 1985, hai tội danh này được sắp xếp tại02 chương khác nhau, trong khi tộimua bán phụ nữ được đặt tạiChương 2 – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người thì tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ emđượcquy định tại Chương 5 – Các tội xâm phạmchế độ hônnhân, gia đình và các tội phạmđốivới người chưa thành niên.

a) Tội mua bán phụ nữ (Điều 115)

Theo quy địnhtạiĐiều 115 BLHS năm 1985, người nào mua bán phụ nữ thìbị phạt tùtừ02 năm đến 07 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự thì sẽ bị áp dụng hình phạt tù từ 05 năm đến 20 năm, đó là: (i) Phạm tội có tổ chức; (ii) để đưa ra nước ngoài; (iii) mua bán nhiều người và (iv) tái phạm nguy hiểm.

Nhưvậy, từnăm 1985, BLHSđãcoi hành vi coi người phụ nữ như một món hàng cóthểmua bán là tội phạm và cần bị trừng phạt. Hành vi khách quancủatội phạm này được điều luật mô tả là hành vi mua bán phụ nữ. Với quan niệm cho rằng, mua bán phụ nữ là xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, phẩm giá của người phụ nữ, vì thế, BLHS năm 1985 đã đặt tội danh này tại chương Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Người thực hiện hành vi mua bán phụnữý thức được việcmua bánphụnữlà xâm phạm đến nhân phẩm, phẩm giá của người phụ nữ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi này để trục lợi.

b) Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em (Điều 149)

Điều 149 BLHS năm 1985 quy định về tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em. Theo đó, người nào bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự thì sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 20 năm, gồm: (i) có tổchức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; (ii) để đưa ra nước ngoài; (iii) bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác và (iv) tái phạm nguy hiểm.

Tại thời điểm này, các nhà làm luật cho rằng,tội bắttrộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em xâm phạn đến quanhệtình cảm giữa cha mẹ và con cái,tới sựphát triển

86

lành mạnh của trẻ em về các mặt tư tưởng, tình cảm, thể chất120, vì thế tội phạm nàyđã tập hợp ba loại hành vi phạm tội đối với trẻ em gồm bắt trộm, mua bán và đánh tráo (tội phạm ghép) và đặt tại chương Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình và Các tội phạm đối với người chưa thành niên.

Để áp dụng thống nhất quy định của điều luật này, Nghị quyết số04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫnáp dụng các quyđịnhtrong phần cáctộiphạmcủaBLHS năm 1985đãhướng dẫncụ thể các hành vi khách quan của tội phạm này, theo đó:“Mua bán trẻ em là mua hoặc bántrẻem vì tư lợi, dù là muacủakẻđãbắttrộm hoặc mua của chínhngườicó con đem bán. Hành vi muatrẻem khi biết rõ làđứatrẻbịbắt trộmđểvềlàm con nuôi, cũngbịxửlývềtộimua bántrẻem. Tuy nhiên cần phân biệt với trường hợpbốmẹvì đông con hoặc vì khó khănđặcbiệt mà phải bán con mình(dướihình thức cho làm con nuôi và nhậnmộtsốtiền giúpđỡ) cũng như trường hợp vì hiếm con mà mua của chính người có con đem bán để vềnuôi thì không coi là phạm tội”.

Trên cơ sở hướng dẫncủa Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vềhành vi mua bán trẻ em, có thể thấy rằng, mục đích của hành vi mua bán phụ nữhoặc mua bán trẻ em là vì tư lợi. Tư lợi ở đây có thể hiểu là vì lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của bản thân người thực hiện hành vi phạm tội. Lợi ích vật chất cóthể là tiền, tài sản hoặc phương tiện thanh toán để trao đổi lấy phụ nữ, trẻ em, còn lợi ích tinh thần có thể là để nhằm thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, như gia đình không có con nên đã bắt trộm hoặc mua con của người khác về làm con mình121.

2.1.3. Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2015 2.1.3.1. Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật Hình sự năm 1999 có 02 điều luật quy định về hai tội phạm trực tiếp liên quan đến việc buôn bán phụ nữ, trẻ em, đó là: Tội mua bán phụ nữ (Điều 119) và Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120).

120 Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC-NQ ngày 29/11/1986 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định trong phần các tội phạm của BLHS.

121 Như trên.

87

a) Tội mua bán phụ nữ (Điều 119)

Theo quy định tại BLHS năm 1999, người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tùtừ02 nămđến 07 năm. Phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiếtđịnh

khung tăng nặng trách nhiệm hình sự thì hình phạt có thể lên đến 20 năm tù, gồm: (i) mua bánphụnữ vìmục đích mại dâm; (ii)có tổchức; (iii) có tính chất chuyên nghiệp; (iv) để đưa ra nước ngoài; (v) mua bán nhiều người; (vi) mua bán nhiều lần.

Điều luật không mô tả hành vi khách quancủatội mua bán phụ nữ mà chỉ quyđịnh “người nào mua bán phụnữ…”.Trong giai đoạn này, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 vềtộimua bánphụnữ,tuy nhiên, theo Bình luận khoa học BLHS năm 1999củaViện Khoahọcpháp lý, Bộ Tư pháp do TS Uông Chu Lưu chủbiên thì mua bán phụ nữđượchiểu là hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác để trao đổiphụnữ như một thứ hàng hóa122.

Tương tựnhư BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 coi khách thể xâm hại của tội phạm này là tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm củangười phụnữ, do vậy, tội danh này vẫn được đặt ở chương Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

nhân phẩm, danh dự của con người. Về cơ bản, tội mua bán phụ nữ của BLHS năm 1999 kế thừa cơ bản quy định về tội mua bán phụ nữ của BLHS năm 1985về cấu thành tội phạm, khung hình phạt. Tuy nhiên, BLHS năm 1999 đã bỏ tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” của BLHS năm 1985 và bổ sung thêm một số tình tiết định khung tăng nặng mới, đó là tình tiết “mua bán phụ nữ vì mục đích mạidâm”, “có tính chất chuyên nghiệp” và “mua bán nhiều lần”. Đồng thời, Điều 119 của BLHS năm 1999 cũng đã bổ sung một số hình phạt bổ sung mà người phạm tội cóthểbị ápdụng, đó là phạt tiền từ 5 triệuđồngđến50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

b) Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120)

Điều 120 BLHS năm 1999 quyđịnh về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻem, theođiềuluật này, người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạttrẻem dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Phạm tội trong

122 Uông Chu Lưu chủ biên, (2003), Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999, tập II phần các tội phạm cụthể, NXB chính trị quốc gia, tr.111.

88

trường hợp có một trong các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sựnhư: (i) có tổ chức; (ii) có tính chất chuyên nghiệp; (iii) vì động cơ đê hèn; (iv) mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em; (v) để đưa ra nước ngoài; (vi)đểsửdụng vào mục đích vô nhân đạo; (vii) để sử dụng vào mục đích mại dâm; (viii) tái phạm nguy hiểm và (ix) gây hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị áp dụng hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Giống như tội mua bán phụ nữ, tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quyđịnhtại Điều 120 BHLS năm 1999 cũng không mô tả cụ thể hành vi khách quan của tội phạm này, mà chỉ sửdụng lại tên điều luật để diễn tả hành vi khách quan, đó là “mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt”.

Có thể thấy rằng, vào thời điểm này, chính sách hình sự liên quan đến tội mua bán trẻ em đã có sự thay đổi đáng kể, thể hiện ở một số điểm sau:

– Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã xác định lại khách thể xâm hại của tội mua bán trẻ em:NếuBLHS năm 1985 quy định tội mua bán phụ nữ và tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻemởhai chương khác nhau với những khách thể xâm hại khác nhau, thì đến BLHS năm 1999, tội mua bán phụ nữ (Điều 119) và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếmđoạttrẻem (Điều 120)đãcùngđược đặttạichương Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Như vậy, ở thời điểm này, nhậnthức vềkhách thể bị xâmhạicủa tộimua bántrẻemđãcó sự thay đổi và các nhà làm luật cho rằng, khách thể bị xâmhại củatội danh này không chỉ là mối quanhệtình cảmgiữa chamẹvà con cái hoặcsựphát triển lành mạnhcủatrẻ, màquan trọng hơn đó chính là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, đặc biệt khi đốitượng bịxâmhạilà trẻ em- đối tượngcầnđược bảo vệ đặt biệt.

– Thứ hai, chính sáchxửlý của BLHS năm 1999 nghiêm khắc hơn so với BLHS năm 1985: BLHS năm 1999 đã tăng mức hình phạt đối với người thực hiện hành vi mua bán trẻ em so với BLHS năm 1985. Theo đó, khung hình phạt cơ bản

từ01 năm đến 07 năm của BLHS năm 1985 đã được nâng lên làtừ03 năm đến 10 năm của BLHS năm 1999, đồng thời, vớitrường hợp phạm tội có tình tiếtđịnh khung tăng nặng trách nhiệm hình sự thì hình phạt của BLHS năm 1999 là phạt tù

89

từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thay vì khung hình phạt từ 05 năm đến 20 năm của BLHS năm 1985. Đồng thời, BLHS năm 1999 đã bổ sung một số hình phạt bổ sung cóthểápdụng đốivớingườiphạm tội này, gồm phạt tiền từ 05 triệu đồngđến 50 triệu đòng, cấmđảm nhiệm chức vụ, cấmhành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm.

– Thứ ba, BLHS năm 1999 đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hìnhsự: sovớiBLHS năm 1985, BLHS năm 1999đãbổsung tình tiếtđịnh khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “vì động cơ đê hèn”, “để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo” và“để sử dụng vào mục đích mại dâm”.

2.1.3.2. Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Để sửa đổi, bổ sung một số vấn đề mang tính cấp bách trước mắt nhất nhằm góp phần tháogỡnhững khó khăn,vướngmắctrong thực tiễnđấutranh phòng, chống tội phạm tại thời điểm này, vào năm 2009, BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó có Điều 119 về tội mua bán người và Điều 120 về

tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.

a) Tội mua bán người (Điều 119)

Theo quy định tại Điều 119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thìngườinào mua bánngườisẽbịphạt tùtừ02 năm đến07 năm. Phạm tộitrong trườnghợpcómộttrong các tình tiếtđịnhkhung tăng nặng trách nhiệm hìnhsựnhư: (i) vì mục đích mại dâm; (ii) có tổ chức; (iii) có tính chất chuyên nghiệp; (iv)để lấy bộ phậncơ thể nạn nhân; (v)đểđưa ra nước ngoài; (vi) đối với nhiều người; (vii) phạm tội nhiều lần, thì bị phạt tù từ05 nămđến 20 năm. Đồng thời, người phạm tội còn cóthểbị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiềntừ5 triệu đồngđến50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Để áp dụng thống nhất quy định tại Điều 119 về tội mua bán người, liên nghành Tòa án, Kiểm sát, Công an, Tư pháp, Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013 hướngdẫn việc truy cứu trách nhiệm hìnhsự đối với ngườicó hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Theo đó, hành vi mua bán người quy định tạiĐiều

90

119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi íchvậtchất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa, bao gồm một trong các hành vi: (i) Bán người cho người khác, không phụthuộc vàomụcđíchcủangườimua; (ii) Muangườiđểbánlạichongườikhác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; (iii) Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán; (iv) Mua người để bóc lột, cưỡng bức laođộng hoặcvì các mục đích trái pháp luật khác.

Như vậy, với quy định tại Điều 119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Thông tư liên tịchsố 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP- BTP ngày 23/7/2013 thì dấu hiệu pháp lý của tội phạm này là hành vi dùng tiền, tài

sản hoặclợiích vật chất khác như vàng, bạc, ngoạitệ,…trao đổi, mua, bán người nhưmột thứhàng hóa. Khi thực hiện hành vi mua bán người thì người bị mua bán có thể biết hoặc là không biết là mình bị mua, bán. Người bị mua bán có thể là đồng ý hoặc không đồngý với việc mua, bán bảnthân mình. Người phạm tội có thểlà người mua, có thể là người bán hoặc có thể họ vừa là người mua, vừa là người bán.

b) Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120)

Theo quy định tại Điều 120 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếmđoạttrẻ emdưới bấtkỳ hình thức nào thìsẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Phạm tội thuộc trường hợp có một trong các tình tiếtđịnhkhung tăng nặng trách nhiệm hìnhsựnhư: (i) cótổchức; (ii) có tính chất chuyên nghiệp; (iii) vì động cơ đê hèn; (iv) đối với nhiều trẻ em; (v) để lấy bộ phận cơ thểnạnnhân; (vi)đểđưa ra nước ngoài; (vii)để sửdụng vào mục đích vô nhân đạo; (viii)để sử dụng vào mục đích mạidâm; (ix) tái phạm nguy hiểm; (x) gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn cóthể bị ápdụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5 triệuđồng đến 50 triệu đồng, cấmđảmnhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm.

Tương tự như với tội mua bán người, Thông tư liên tịch số01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP BTP ngày 23/7/2013 hướng dẫn

91

việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán,đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em đã hướng dẫn cụ thể về hành vi mua bán trẻ em, theo đó,mua bántrẻem quyđịnhtạiĐiều120 BLHS năm 1999 (sửađổi,bổsung năm 2009) được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa, bao gồm một trong các hành vi:(i) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuốc vào mục đích của người mua; (ii) Mua trẻem để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào; (iii) Dùng trẻ em như là tài sản để trao đổi, thanh toán; (iv) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác.

Như vậy, có thể thấy rõ rằng, quy địnhvề tộimua bán người và tội mua bán,đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em tại BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sug năm 2009)đã có những thay đổi nhất định so với quy định của BLHS năm 1999. Điều này thểhiện ở một số điểm lớn sau:

Một là, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã mở rộng hơn phạm viđối tượng cần được bảo vệ khỏi hành vi mua bán ngườiso với BLHS năm 1999. Theo đó, nếu Điều 119 BLHS năm 1999 quyđịnh tộimua bán phụ nữ, tức là đối tượng cần bảo vệ của tội phạm này chỉ là phụnữtừđủ 16 tuổi trở lên thì Điều 119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã mở rộng đối tượng cần được bảo vệ của tội phạm này là cả nam giớitừđủ 16 tuổi trở lên với tên tội danh là tội mua bán người. Nhưvậy, đối tượng bịmua bán được BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định không chỉ là phụ nữ mà là con người nói chung.

Hai là, BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)đã bổ sung một số tình tiết địnhkhung tăng nặng trách nhiệm hìnhsự:bên cạnh những tình tiếtđịnhkhung tăng nặng trách nhiệm hình sự mà BLHS năm 1999 đã quy định đối với hai tội danh này thì BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” vào tội mua bán người (điểm d khoản 2 Điều 119 BLHS) và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻem (điểm đ khoản 2 Điều 120 BLHS) cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

92

2.2. Quyđịnh của Bộ luật hình sựnăm 2015 về tội mua bán người, tội mua bán ngườidưới16 tuổi

BLHS năm 2015 quy định 02 tội danh liên quan đến mua bán người,đó làtội mua bán người tại Điều 150 và tội mua bán người dưới 16 tuổi tại Điều 151.

2.2.1. Dấu hiệu định tộicủatội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TỘI MUA BÁN NGƯỜI VÀ TỘI MUA BÁN TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *