Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước là một chủ thể đặc biệt có chức năng quản lý xã hội nhưng Nhà nước cũng là một chủ sở hữu trong xã hội. Ngoài việc là chủ sở hữu các tài sản lớn, Nhà nước còn nắm quyền sở hữu vốn tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Như vậy, Nhà nước cũng là một cổ đông hay thành viên góp vốn tại doanh nghiệp có vốn Nhànước. Tuy nhiên, Nhà nước là một chủ thể trừu tượng, phải hiện diện thông qua nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, thực tế đó làm cho việc thực hiện các quyền của cổ đông, của thành viên góp vốn trở nên phức tạp. Nhànước phải quyđịnhcơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và giao cho một cơ quan của Nhà nước làmđại diện chủ sở hữu vốn nhà nước.Tuy nhiên, để thực hiện quyền trực tiếp của cổ đông, thành viên góp vốn tại doanh nghiệp thìđòihỏi phải thông qua một con người cụ thể. Do vậy, Nhànước phải cử người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp để thực hiện các quyền của mình, và ở những doanh nghiệp vốn nhà nước chiếm tỷ lệ lớn thì người đại diện phần vốn nhà nước thường nắm giữ các chức vụ

quản lý doanh nghiệp như:Chủ tịch hội đồngthành viên, Chủ tịch hội đồng quản trị, Giámđốc, Tổnggiámđốc….

Thực tiễn và lý luận đang đặt ra những vấn đề về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp. Nếu không xác định rõ trách nhiệm pháp lý của họ thì người được giao đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp đang nắm quyền chi phối doanh nghiệp có thể không thực hiện công việc vì lợi ích nhànước (bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, mang lại lợi tức cho nhà nước), lợi ích của doanh nghiệp, của cổ đông, người góp vốn khác mà sẽ vì lợi ích của cá nhân người đại diện. Với tư cách đại diện vốn nhà nước, họ là người của Nhà nước và có quan hệ báo cáo, xin ý kiến với Nhà nước (cụ thể là với Ủy ban quản lý vốn nhà nước, SCIC hoặc cơ quan chủ quản). Nhưng với tư cách người quản lý công ty, họ là người của công ty, có quyền và trách nhiệm quản lý hoạt động kinh tế của công ty, thay mặt công ty trong các quan hệ kinh tế với các chủ thể kinh tếbên ngoài và với Nhà nước. Chừng nào chưa xác định rõ ràng, minh bạch trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì tình trạng lộng quyền của đại diện phần vốn nhà nước, tệ tham nhũng nảy nở và lây lan.

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay là việc làm rất cấp bách và có ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn to lớn. Đây là lý do cơbản để tácgiả lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam” làm luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội.

2. Mục tiêu nghiên cứu của Luận án

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó đưa ra cácđề xuất về việc xâydựng, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án là các quan điểm lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; các quyđịnhpháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp của Việt Nam và của một số nước trên thế giới.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu sau đây:

5

– Về phạm vi nội dung nghiên cứu: Tác giả tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đánh giá thực tiễn áp dụng áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

– Về phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Tác giả xácđịnhphạm vi nghiên cứu chủ yếu là pháp luật của về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp của Việt Nam trong khoảng thời gian kể từ khi có sự chuyển đổi, cổ phần hóa DNNN làm xuất hiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Đồng thời tác giả có sự đối chiếu, tham khảo pháp luật về trách nhiệm pháplý của người đại diện phần vốn nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới.

4. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Trên cơ sở nền tảng đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội, bao gồm:

– Phương pháp phân tíchđược sử dụngkhi đánh giá, bình luận các quy định pháp luật, thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp để làm cơsở cho những kết luận khoa học. Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.

– Phương pháp tổnghợpđược sử dụngkhi đánh giá nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những quanđiểm, các đề xuất, kiến nghị cụ thể liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.

– Phương pháp so sánh luật họcđược sử dụngkhi phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về vấn đề nghiên cứu trong mối tương quan với quyđịnhpháp luật trong lĩnh vực khác, pháp luật của nước ngoài nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự khác biệt trong các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới.

– Phương pháp lịch sửđược sử dụngđể so sánh, đối chiếu giữa các quy định của pháp luật trong từng thời kỳ nhằm làm rõ thực trạng cũng như sự thay đổi trong quyđịnhcủa pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ngoài các phương pháp nghiên cứu có tính phổ quát nêu trên, luận án còn áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê dựa trên các số liệu, báo cáo tổng kết hàng năm của Chính phủ, Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê, các bản cáo trạng, bản ánvề các vụ việc được đăngtải công khaiđể giải quyết được các nội dung thuộc yêu cầu của đề tài.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, Luận án đã hệ thống, bổ sung và làm sâu sắc nhữngvấn đề lýluận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Cụ thể: Luận án góp phần làm rõ thêm cơ sở của vốn nhànước tại doanh nghiệp, DNCVNN, khái niệm về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước. Luận án đã phân tích, làm rõ các đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước.

Thứ hai, Luận án đã phân tích khá đầy đủ, chi tiết và có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Luận án đã đánh giá thực trạng về quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước; khẳng định những ưu điểm, nhữngkết quả đạt được để pháthuy; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế.

Luận án đã đánh giá thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhànước ởViệt Nam trong thời gian qua; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của những hạn chế.

Thứ ba, Luận án đã phân tích những yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước. Trên cơ sở đó, Luận án đã đề xuất những phươnghướngvà các giải pháp mang tính khoa học nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện vốn nhà nước. Đồng thời, Luật án cũng đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu qua áp dụng trách nhiệm pháplý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có hành vi vi phạm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về lý luận, Luận án góp phần làm giàu thêm nhận thức về vốn nhà nước tại doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước và trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Những phân tích, luận giải về khái niệm, đặc điểm, các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp góp phần tạo lập luận cứ khoa học để hoàn thiện lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước. Những vấn đề luận án đề cập, giải quyết góp phần thiết thực vào việc luận giải và đềxuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Những luận giải, đánh giá về thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhànước cũng như các giải pháp mà luận ánđưara nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước nếu được áp dụng trên thực tế sẽ góp phần ngăn chặn, phát hiện kịp thời, xử lýnghiêm minh các hành vi vi phạm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, góp phần tăng cường quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tạo sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp.

Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, hoạchđịnh chính sách và giảng dạy về các vấn đề liên quan đến đại diện vốn nhà nước, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước.

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

7. Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm các phần có thứ tự sau đây:

A. Mở đầu;

B. Phần Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận án; C. Phần Các nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận án bao gồm:

+ Chương thứ nhất: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

+ Chương thứ hai: Thực trạng và thực tiễn thi hành quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

+ Chương thứ ba: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

D. Phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.

B. PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNCỨU

1. Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

.

2. Các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến trách nhiệm pháp lý củangườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích cơ sở lý luận về vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, sự cần thiết của việc đầu tư vốn nhà nước vào kinh doanh trong nền kinhtế thị trườngcơ chế quản lý vốn nhà

8

nước tại doanh nghiệp. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra một cách tươngđối đầy đủ nhữnglĩnh vực, ngành nghề, địa bàn mà nhà nước cần ưu tiên đầu tư vốn. Mục đích của việc nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp. Đây là cơ sởquan trọngđể xác định cácyêu cầu cần thiết đối với trách nhiệm của người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp trong việc thực thi vai trò của mình.

Các nghiên cứu cũng đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa nhà nước với tư cách chủ sở hữu các nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp được nhà nước đầu tư vốn, với tư cách hai vai: (i) Nhà nước quản lý các doanh nghiệp theo khuôn khổ pháp luật chung và (ii) Nhà nước quản lý với tư cách là chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp. Do vậy, một cơ chế quản lý đúng phải đáp ứngđồnghời cả hai vai trò đó. Các nghiên cứu cũngđã phần nào đềcập đến việc cần thiết phải xây dựng mô hình chủ thể thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước và kiến nghị lộtrình thực thi gắn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đây là những vấn đề luận án có thể kế thừa làm cơsở lýluận cho việc xác định trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Việc nghiên cứu các công trình trong nước và một số nước trên thế giới giúp người nghiên cứu khái quát quy định của pháp luật trong nước và một số nước trên thế giới về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Trên cơ sở này tác giả luận giải các vấn đề lý luận, thực tiễn ở Việt Nam với những đặc trưng phổ biến và đặc thù của pháp luật về trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, từ đóđề xuất cácgiải pháp hoàn thiện và tổ chức thực thi hiệu quả các quyđịnhpháp luật trong lĩnh vực này.

Nghiên cứu các công trình của các học giả nước ngoài giúp cho tác giả có thể bao quát về pháp luật quản lýphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp từ đó tiếp cận vấn đề dưới góc độ luật học so sánh. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam quy định có những điểm tương đồng, có những quy định khác nhau về vấn đề nghiên cứu, từ đó giúp cho tác giải nghiên cứu và nhìn nhận, giải quyết các vấn đề liên quan đến luận án một cách khách quan, đặt trong tính phổbiến chung của thế giới và tính đặc thù của Việt Nam.

Nhìn chung các nghiên cứu đã phần nào giải quyết các khía cạnh khác nhau của đề tài nhưđã đề cập ở trên. Song dưới góc độ pháp lý việc phân tích và xây dựng một khung pháp luật điều chỉnh trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn bỏ ngỏ chưa được giải quyết thấu đáo.

4. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở tình hình nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một cách có hệ thống các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, Nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vốn nhà nước tại doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước.

Thứ hai, Nghiên cứu các loại trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và việc áp dụng các trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Thứ ba, Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Thứ tư, Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

9

Thứ năm, Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

5. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý thuyết

Để đảm bảo tính khoa học của kết quả nghiên cứu, luận án sử dụng một số lý thuyết nghiên cứu sau:

– Lý thuyết về sở hữu, đặc biệt là sở hữu nhà nước được sử dụng trong luận án để luận giải về vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước, từ đó xác định những đặc trưng của đại diện vốn nhà nước.

– Lý thuyết về đại diện. Luận án có sử dụng học thuyết đại diện được phát triển bởi các nhà kinh tế học trong giai đoạn từ những năm 1960 đến những năm 1980 của thế kỷ 20. Cho đến nay, học thuyết này vẫn tiếp tục được ủnghộ và phát triển bởi nhiều nhà kinh tế học. Học thuyết đại diện giải quyết mối quan hệ giữa người ủy quyền và người đại diện.

– Lý thuyết về kinh tế thị trườngđược sử dụngxuyên suốt luận án làm nền tảng lý luận về sự công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh

tế. Theo đó, các doanh nghiệp có vốn nhà nước phải vận hành theo cơ chế thị trường và chủ sở hữu vốn nhà nước cũng phải áp dụng các công cụ theo quy định của pháp luật trong quản lý vốn nhà nước.

– Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý. Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý được sử dụng xuyên suốt luận án làm nền tảng cho việc xây dựng lý luận về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, xác định từng loại trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

– Với tư cách là đảng cầm quyền, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế quốc doanh, trong đó, nhấn mạnh “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọngđể Nhà nước định hướngvà điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển”; quanđiểm của Đảngvề vấn đề cơcấu lại doanh nghiệp nhànước,nâng cao hiệu quả sử dụngvốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp cũng là nền tảng lý luận quan trọng để luận án đánh giá thực trạng quy định pháp luật cũng như xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

5.2. Câu hỏi nghiên cứu

1) Thế nào là vốn nhà nước tại doanh nghiệp? Vì sao phải đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp?

2) Thế nào là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp? Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ như thế nào ? Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước như thế nào? Bao gồm các trách nhiệm pháp lý gì?

3) Pháp luật về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại daonh nghiệp có cấu trúc nhưthế nào ? Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiện nay như thế nào?

4) Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thời gian vừa qua như thế nào?

5) Cần có những phươnghướngvà giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp?

5.3. Giả thuyết nghiên cứu

Luận án dựa trên các giả thuyết nghiên cứu sau:

10

1) Cần nhận thức lại bản chất pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp và trách nhiệm pháp lý của người đại diện

2) Các quyđịnhhiện nay của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp còn thiếu và hạn chế đòi hỏi cần phải hoàn thiện.

3) Thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay còn nhiều vướng mắc.

4) Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của người đại diện là một trong những yêu cầu của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền cũng như nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhànước, phát triển doanh nghiệp.

C. PHẦN NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN

NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.1. LÝ LUẬN VỀ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.1.1. Vốn nhà nước tại doanh nghiệp

1.1.1.1. Khái niệm vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

Vốn nhà nước tại doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Thứ nhất, về chủ sở hữu của vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tính chất đặc biệt của chủ sở hữu nhà nước được thể hiện ở những điểm sau: (i) Tư cách chủ sở hữu nhànước phức tạp, khó xác định. (ii) Quyền của chủ sở hữu nhà nước phải thực hiện thông qua các chủ thể được ủy quyền. Thứ hai, về mục tiêu nhà nước đầu tư vốn doanh nghiệp. Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp khôngđơn thuần nhằm mục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận mà nhằm nhiều mục tiêu: (i) Thực hiện định hướng, điều tiết,ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng thời kỳ, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; (ii) Đổi mới, nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (iii) Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba, quy mô vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp lớn, mang tính ổn định cao, có khả năng chi phối mạnh đến sự phát triển kinh tế – xã hội

1.1.1.2. Doanh nghiệp có vốn nhà nước

Khái niệm doanh nghiệp có vốn nhà nước được sử dụng trong luận án bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ. Căn cứ vào tỷ lệ vốn nhà nước tại các Doanh nghiệp có thể phânloại các Doanh nghiệp có vốn nhà nước thành 3 nhóm:

Nhóm 1, Doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu 100% vốn:Đâylà nhóm doanh nghiệp được nhà nước đầu tư100%vốn điều lệ, nhà nước sẽlà chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp, nhà nước có toàn quyền trong việc quyếtđịnh sử dụng vốn của doanh nghiệp.

11

Nhóm 2. Doanh nghiệp mà phần vốn góp của nhà nước chiếm tỷ lệ trên 50% (doanh nghiệp mà nhà nước nắmphần vốn chi phối): Đây là nhóm doanh nghiệp được nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, có khả năng can thiệp, chi phối tới phần lớn các quyết định nhân sự cũng như quyếtđịnh sửdụng vốn, tàisản củadoanh nghiệp. Nhóm 3. Doanh nghiệp có vốn góp củanhà nước dưới mứcchi phối: Đây là nhóm doanh nghiệp không

thuộc hai trường hợp trên, số vốn nhà nước tại doanh nghiệp dưới 50% vốn điều lệ. Trong nhóm này, nhà nước làđồngchủ sởhữu. Đối với các loại hình doanh nghiệp này, Nhà nước không chi phối được các quyết định của doanh nghiệp.

Như vậy, doanh nghiệp có vốn nhà nước là những doanh nghiệp có nhà nước là một thành viên hoặc một cổđông nắm giữ một tỷ lệ phần vốn góp nhất định. Nhà nước có thể là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu với các cá nhân, tổ chức khác.

1.1.1.3. Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Vốn nhà nước tại doanh nghiệp do nhà nước đầu tư vốn và nhà nước trở thành thành viên góp vốn hoặc cổđông của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Nhà nước là chủ thể đầu tư vốn đặc biệt, có nhiều điểm khác biệt so với các chủ thể đầu tư khác như tổ chức, cá nhân trong xã hội. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ: Nhà nước là một pháp nhân đặc biệt, nhà nước có quyền đầu tư vốn tại doanh nghiệp giống như bất kỳ chủ thể đầu tư nào khác, nhưng mặt khác, Nhà nước còn là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt, có quyền đặt ra pháp luật và ban hành các thể chế, chính sách để quản lý, điều hành nền kinh tế, quản lý xã hội. Do vậy, việc thiết lập và vận hành một cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp như thế nào cho hiệu quả để giám sát nguồn vốn đầu tư tại doanh nghiệp vẫn là điều khó khăn nhất, là bài toán khó giải đối với nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đặc biệt là các quốc gia trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam.

Trên thế giới, mô hình cơ quan đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại phổ biến đó là: (1) Mô hình phân tán; (2) Mô hình tập trung; (3) Mô hình lưỡng tính (vừa tập trung, vừa phân tán).

Dù với mô hình nào thì việcđạidiện CSH vốn nhà nước đều xuất phát từ mục tiêu và các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộngchungcủa mọiNhànước:(i) Ưu tiên chính trị – nhằm bảo vệ và phát triển quyền lực chính trị và Nhànước, lợi ích của các thế lực nắm giữ quyền lực nhà nước trong xã hội. (ii) Huyđộngđược sự tham gia của đông đảo nhân dân. (iii) Tập trung dân chủ. (iv) Pháp chế xã hội. (v) Tiết kiệm, hiệu quả…

1.1.2. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Do Nhà nước là thiết chế chính trị hiện diện thông qua hệ thống nhiều cơ quan (bộ máy nhà nước) nên quá

trình thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước tất yếu phải thông qua cơ chế đại diện – giao quyền đại diện chủsở hữu cho một hoặc một số cơ quan đại diện chủ sở hữu cụ thể nào đó. Xuất phát từ góc độ này, có thể hiểu rằng cơ chế thực thi quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước là cách thức hay quá trình Nhà nước tổ chức thực hiện quyền của chủ sở hữu vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp thông qua các thiết chế đại diện.

Chính phủ là cơ quan đại diện hoặc Chính phủ phân cấp cho các cơ quan trực thuộc thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện CSH vốn nhà nước trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, Chính phủ haymộtcơ quan được Chính phủ phân cấp cũng là một thiết chế phức tạp, không thể tự mình trực tiếp quản lý vốn, điều hành tại DNCVNN. Hơn nữa, cần thiết phải tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước với việc điều hành sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, cần có nhữngngười đại diệnphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trực tiếp thaymặtthực hiện các quyền của chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

12

Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước cũng không thể tự mình trực tiếp tham gia Hộiđồngquản trị, Hộiđồngthành viên, hay trực tiếp điều hành doanh nghiệp với vai trò Tổng giám đốc, giámđốc. Việcđạidiện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trực tiếp thaymặtnhànước thựchiện các quyền của cổ đông, thành viên góp vốn,ứngcửgiữ các chức vụ quản lý điều hành trực tiếp tại doanh nghiệp được giao cho cá nhân cụ thể,gọilà ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ở Việt Nam hiện nay, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một chủ thể đặc thù mang cácđặc trưng pháp lý: Thứ nhất, người đại diện phải là công dân Việt Nam (thường là cán bộ, công chức, viên chức đang làm cho nhà nước), thỏa mãn các điều kiện để được Nhà nước cử làm người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thứ hai, thực hiện nhiệm vụ đại diện cho phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Người đại diện được nhà nước giao đại diện cho phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Việc này mang tính chất ủy quyền của Nhà nước cho người đại diện để thực hiện các quyền của thành viên góp vốn tại doanh nghiệp. Từ việc ủy quyền này phát sinh các quyền của người đại diện trong quá trình thực hiện việc đại diện phần vốn nhà nước. Thứ ba, người đại diện có các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý đối với nhà nước trong quản lý phần vốn nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp. Thứ tư, có sự phân định giữa hoạt động công vụ do nhà nước giao và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Vậy, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cá nhânđược Nhànước thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thay mặt nhànước thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn tại doanh nghiệp có các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của người đại diện và được hưởng các quyền lợi theo quy định của Nhà nước.

1.1.2.2. Nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là những việc mà pháp luật quyđịnh người đại diện phải tuân thủ, nếu vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý.

a) Nghĩa vụ trung thành với nhà nước. Nghĩa vụ này phải được hiểu dưới các khía cạnh: Thứ nhất, người đại diện phải vì lợi ích tốt nhất của nhà nước; Thứ hai, không được tư lợi; Thứ ba, tránh xung đột lợi ích.

b) Nghĩa vụ cẩn trọng, thiện chí, trung thực. Nghĩa vụ cẩn trọngđòihỏi người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp phải coi trọng nhiệm vụ được giao và có ý thức tránh sơ suất, đề phòng những bất lợi xảy ra cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Gắn liền với nghĩa vụ cẩn trọng đó là sự thiện chí, trung thực khi thực hiện quyền, nhiệm vụ được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ được giao, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải thực hiện công việc mọt cách thiện chí, trung thực vì lợi ích tốt nhất của nhà nước, của doanh nghiệp.

c) Nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, điều lệ của doanh nghiệp. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ đối với doanh nghiệp và người thứ ba theo quy định của pháp luật, đây cũng là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật.

Tronghoạt độngkinh doanh, kể cả doanh nghiệp có vốn nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm sự bình đẳng trong kinh doanh theo quy định của pháp luật. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải có nghĩa vụ bảo đảm rằng họ sẽ tuân thủ pháp luật khi thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ được giao. Cùng với nghĩa vụ tuân thủ pháp luật thì người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ điều lệcủa doanh nghiệp. Điều lệ doanh nghiệp là văn kiện pháp lý chứa đựng quan điểm của doanh nghiệp. Việc tuân theo văn kiện này chính là tuân theo đường lối, chính sách và những lợi ích mà doanh nghiệp theo đuổi.

13

1.2. LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (theo khía cạnh tiêu cực) làhậu quả bất lợi mà Nhà nước áp dụng đối với người đại diện vi phạm pháp luật tronghoạt độngđại diện phần vốn nhà nước (trong những trường hợp nhất định còn bao gồm cả việc vi phạm quytắc đạo đức làmảnh hưởngđến uy tín của nhà nước hoặc vi phạm điều lệ của tổ chức chính trị) thể hiện sự lên án, phản đối của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và người thực hiện hành vi vi phạm. Hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước là một loại quan hệ pháp luật đặc thù xuất hiện tronghoạt độngđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong quan hệ đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định đối với người đại diện vi phạm pháp luật (trong những trường hợp nhất định còn bao gồm cả việc vi phạm quytắc đạo đức làm ảnh hưởngđến uy tín của nhà nước hoặc vi phạm điều lệ của tổ chức chính trị) và người đại diện phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần tươngứng với tính chất, mức độ nguy hại cho xã hội của hành vi vi phạm do họ gây ra.

Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được trao những quyền hạn cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao phó, nên hành vi vi phạm pháp luật của họ có thể gây ra những thiệt hại đáng kể cho Nhà nước, cho doanh nghiệp. Vì vậy, pháp luật phải quy định trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện nhằm đảm bảo người đại diện thực hiện đúng quyền hạn và nhiệm vụ vì lợi ích của Nhà nước trong phạm vi mà mình được giao quyền hạn và nghĩa vụ đại diện.

1.2.2. Đặc điểm của trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiện nay có những đặc trưng

cơ bản sau đây: Thứ nhất, chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thứ hai, cơ sở phát sinh trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp hiểu theo nghĩa tiêu cực là hành vi vi phạm pháp luật của người đại diện tronghoạt độngđại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thứ ba, việc xử lý người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong hoạt độngđại diện vốn nhà nước theo nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Thứ tư, trách nhiệm pháp lý của người đại diện cũngđược áp dụngtrong trườnghợp người đại diện lợi dụngchức vụ, quyền hạn hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hoặc đề nghị một người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

1.2.3. Các hình thức trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp 1.2.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa vụ của một người đã gây ra thiệt hại. Về nguyên tắc, để buộc người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp bồi thường thiệt hại, Nhà nước hoặc cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh đủ các yếu tố sau: (1). Tồn tại nghĩa vụ đối với Nhà nước; (2) Có hành vi vi phạm nghĩa vụ; (3). Có thiệt hại xảy ra; và (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ với thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại mà Nhà nước phải gánh chịu bao gồm thiệt hại vất chất và thiệt hại về tinh thần. Trongđó,thiệt hại vất chất là các tổn thất về tài sản (bao gồm cả trường hợp giá trị vốn của Nhà nước bị giảm sút, các khoản tiền phải chiđể bồi thườngcho người thứ ba) và các thu nhập mà Nhà nước bị mất đi do hành vi vi phạm. Thiệt hại vềtinh thần cũng có thể là hậu quả của hành vi vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, thiệt hại về tinh thần không rõ ràng và

14

khó chứng minh. Đặc biệt, đối với trường hợp của Nhà nước thì rất khó xácđịnhthiệt hại về tinh thần, như sự suy giảm về uy tín của Nhà nước, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp rất khó đo lường. Vì vậy, việc đặt vất đề bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ đối với Nhà nước chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà không mang nhiều giá trị thực tiễn.

1.2.3.2. Trách nhiệm kỷ luật của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trách nhiệm kỷ luật là hình thức trách nhiệm pháp lý được áp dụng với người thực hiện hành vi vi phạm kỷ luật, tức là những người có hành vi (hành động hoặc không hành động) vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện, gây tổn hại cho Nhà nước, doanh nghiệp. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước cử đại diện cho Nhà nước trong việc thực hiện các quyền của người góp vốn tại doanh nghiệp. Nhà nước cử người của mình tham gia vào quản lý doanh nghiệp, giữ các chức danh Giámđốc, TổngGiámđốc, Chủ tịch Hội đồngquản trị… Người đại diện mang tư cách của một chủ thể được Nhà nước cử, giao thực hiện nhiệm vụ công theo các yêu cầu của Nhà nước. Do vậy, người đại diện chịu trách nhiệm kỷ luật trước Nhà nước. Nhà nước có thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật đối với người đại diện khi người đại diện có hành vi vi phạm.

Trách nhiệm kỷ luật của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thể hiểu là hình thức trừng phạt do chủ sở hữu nhà nước áp dụng đối với người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khi người đó vi phạm pháp luật, chức trách, nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm kỷ luật của người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Thứ nhất, trách nhiệm kỷ luật được đặt ra khi người đại diện phần vốn nhànước tại doanh nghiệp vi phạm pháp luật liên quan tới việc thi hành nhiệm vụ được giao hay có ảnh hưởng xấu tới nhiệm vụ. Thứ hai, trách nhiệmkỷ luậtlà trách nhiệm pháp lý gắn với nhiệmvụ người đạidiện phần vốn nhà nước

tạidoanh nghiệp được nhà nước giao thực hiện. Thứ ba, trách nhiệmkỷ luậtđốivới người đạidiện do người cóthẩm quyền thực hiện, cụ thể là: do cơ quan đạidiện chủ sởhữuáp dụng. Thứ tư, trách nhiệmkỷ luậtđối với ngườiđại diện được truy cứu theo nguyên tắc, thủ tục do pháp luật quy định.

1.2.3.3. Trách nhiệm hành chính của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, trong quá trình quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính, do đó, phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật. Đồng thời, với tư cách của một công dân, người đại diện vi phạm hành chính cũng phải chịu trách nhiệm hành chính như những công dân khác.

Khi người đại diện vốn nhà nước thực hiện hành vi vi phạm hành chính phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý hành chính trước Nhà nước. Ngoài việc phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý hành chính, họ còn có thể phải đồng thời gánh chịu trách nhiệm kỷ luật. Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính của người đại diện vốn nhànước với các chủ thể phi nhà nước. Đối với các hành vi vi phạm hành chính khác, người đại diện bị xử lý vi phạm hành chính như đối với các công dân khác. Tuy nhiên, có những trường hợp ngoài việc bị xử lý hành chính nhưnhững công dân khác thì người đại diện còn bị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật. Đây thường là những trường hợp người đại diện có hành vi vi phạm hành chính nhưng hành vi đó có ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụcủa người đại diện. Điều này cho thấy Trách nhiệm hành chính và trách nhiệm kỷ luật là hai loại trách nhiệm pháp lý liên hệ mật thiết với nhau.

1.2.3.4. Trách nhiệm hình sự của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trách nhiệm hình sự là sự phản ứngcủaNhà nước đối với người phạmtội, tức là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự và có lỗi. Do đó, tội phạm là cơsởcủa trách nhiệm hình sự; ở đâu cótội phạm thì ở đó có trách nhiệm hình sự, không có tội phạm thì không có trách nhiệm hình sự. Vì vậy, người đại

15

diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi người đại diệnđó đã thựchiện một hành vi có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được luật hình sự quy định.

Các hành vi vi phạm nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có tính nguy hiểm cho xã hội bao gồm:

(1) Các hành vi chiếm đoạt vốn, tài sản của Nhà nước, gây tổn hại đến vốn, tài sản của Nhà nước. (2) Các hành vi gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại đáng kể cho trật tự quản lý kinh tế, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, có những trật tự kinh tế cần được bảo vệ nghiêm ngặt nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và lành mạnh của toàn bộ nền kinh tế. (3) Các hành vi xâm phạm về công vụ: Như phần trên đã làm rõ, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một chủ thể đặc thù, thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao. Do vậy, người đại diện cũng có thể bị xử lý về các hành vi xâm phạmvề công vụ. Đối với ở Việt Nam, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp có thể bị áp dụng xử lý hình sự theo cáctộiquyđịnhtại phần cáctộiphạm về chức vụ. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạtđộngđúngđắn củacơquan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

1.2.3.5. Miễn trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được miễn hoặc giảm trách nhiệm trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được miễn trách nhiệm pháp lý nếu bỏ phiếu chống lại quyết định sai trái và việc bỏ phiếu chống lại được ghi lại vào biên bản họp.

Thứ hai, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đã thực hiện việc ngăn cản hành vi vi phạm của doanh nghiệp hoặc người đại diện khác.

Thứ ba, trên cơ sở nguyên tắc tự định đoạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp đối với nhà nước có thể được giới hạn theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được miễn trách nhiệm trongtrường hợp chứng minh được hành vi vi phạm do sự bất khả kháng. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp buộc phải biết hoặc phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền biết.

Thứ năm, trong trường hợp công ty bị kiểm soát hoàn toàn hoặc bị chi phối bởi cổ đông khácdẫn đến người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp mặc dù đã có ý kiến phản đối hợp lý nhưng vẫn phải thực hiện hành vi hoặc ra quyết định theo yêu cầu của cổ đông kiểm soát hoặc chi phối và vi phạm pháp luật thì được miễn trừtrách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật.

Chương 2

THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA

NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

2.1. THỰC TRẠNG CÁC QUYĐỊNHVỀTRÁCH NHIỆM PHÁP LÝCỦANGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

2.1.1. Thực trạng nguồn luật về Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Việt Nam

Giai đoạn trước Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003

Giai đoạn sau Luật DNNN 2003, Luật doanh nghiệp 2005 cho đến năm 2010 Giai đoạn từ 01/7/2010 đến nay

16

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nói chung, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nói riêng. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trongđó có những quy định về trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Để các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hoạtđộngtheo Luật Doanh nghiệp năm 2005 cùng với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác (sau khi Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2010), Chính phủ/ThủtướngChính phủ đã ban hành một số văn bản quy định riêngđốivới doanh nghiệp nhà nước. Tiếp đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành, tiếp tục kế thừa các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 về doanh nghiệp có vốn nhà nước. Đặc biệt là một văn bản luật quan trọng về quản lý vốn nhà nước, trách nhiệmcủangười đạidiện phần vốn nhà nước được ban hànhđólà: Luật quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014. Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định liên quan đến việc quản lý người đại diện, nghĩa vụ, trách nhiệm của người đại diện vốn nhànước.Thêm nữa, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chứa đựngnhiều quyđịnhđể có thể áp dụngnhằm xác định trách nhiệm dân sự của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trách nhiệm hình sự của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quy định trong Bộluật hình sự. Mặc dù Việt Nam đã thừa nhận án lệ, tuy nhiên, cho đến nay, cũng chưa có án lệ nào về Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Như vậy, nguồn luật điều chỉnh các quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm: Luật Quản lý vốn nhà nước; Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành, bộ luật hình sự, bộ luật dân sự, luật xử lý vi phạm hành chính, các văn bản dưới luật do các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ươnghướngdẫn thi hành các nội dung pháp lý liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lýcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và án lệ giải thích nội dung pháp lý về nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

2.1.2. Thực trạng quy định về nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

2.1.2.1. Nghĩa vụ cẩn trọng

Như phần trên đã nêu, hiện nay quy định của LQLSDVNN mới chỉ đáp ứng một phần của nghĩa vụ cẩn trọng của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. LDN với tư cách là luật quy định chung về doanh nghiệp nên không quy định cụ thể về nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, LDN năm 2020 đã có một số quy định cụ thể hóa một số nội dung của nghĩa vụ cẩn trọng cho người đại diện theoủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức (Điều 15). Những quy định của LDN về nghĩa vụ cẩn trọng đối với người quản lý doanh nghiệp chưa thể bao quát hết nội dung nghĩa vụ cẩn trọngcủa người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong khi đó Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp đãchưa quyđịnhđược nghĩa vụ cẩn trọng của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.Đâylà một thiết sót lớn.

Hiện nay, pháp luật của Việt Nam chưa quy định về các trường hợp không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng. Việc không quy định các trường hợp không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng rất dễ gây ra hiện tượng “chụp mũ” theo hướng có thấy có thiệt hại xảy ra cho doanh nghiệp là buộc người đại diện phần vốn nhà nước đang giữ chức vụ quản lýdoanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Như vậy, để người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp tích cực, năngđộngtrong sản xuất, kinh doanh thì việc quy định rõ nghĩa vụ cẩn trọng, đồng thời các trường hợp miễn trách nhiệm là hết sức cần thiết.

2.1.2.2. Nghĩa vụ trung thành

17

Luật Quản lý vốn nhà nước chưa quyđịnhrõ nghĩa vụ trung thành của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Trong Luật Doanh nghiệp có quy định về nghĩa vụ trung thành của người quản lý công ty. Nếu người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp giữ chức vụ quản lý thì có nghĩa vụ trung thành với công ty. Người quản lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp được hiểu là thành viên Hội đồng quản trị, Giámđốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có nghĩa vụ “Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không lạm dụngđịa vị, chức vụ và sử dụngthông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác” (điểm c, khoản 1, Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020).

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, nội dung của nghĩa vụ trung thành của người quản lý doanh nghiệp bao gồm: (1) không sử dụng tài sản của doanh nghiệp vì lợi ích riêng; (2) nghĩa vụ trong kiểm soát giao dịch cánhân có tư lợi; (3) không tiết lộ, chiếm đoạt thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp; (4) không cạnh tranh với doanh nghiệp.

Quy định này của Luật Doanh nghiệp 2020 có điểm hợp lý khi không hạn chế quyền sở hữu cổ phần hoặc vốn góp của người quản lý công ty trong đối thủ cạnh tranh của công ty. Quy định này tạo cơ hội cho những người này có thể đầu tư trên thị trường chứng khoán và sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của công ty nếu như cổphần mà người này nắm giữ trong đối thủ cạnh tranh không đáng kể. Tuy nhiên nếu quy định này áp dụng cho người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì không phù hợp. Bởi vì người đại diện phần vốn nhà nước được nhà nước giao đại diện thực hiện các quyền hạn của thành viên góp vốn nếu không tận tâm và trung thành với lợi ích của nhà nước thì sẽ thực sự nguy hiểm. Tình trạng doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, nhà nước mất vốn nhưng người đại diện vốn nhà nước đang giữ chức vụ quản lý tại doanh nghiệp lại kiếm được nhiều lợi ích. Do vậy, trong trường hợp này Luật Quản lý vốn nhà nước cần có quyđịnhrõ ràng nghĩa vụ trung thànhcủa người đại diện trong đó có nội dung cấm cạnh tranh với doanh nghiệp và quy định không cho phép người đại diện được góp vốn vào doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh giống với doanh nghiệp mà người đóđang làm đại diện vốn nhànước.

2.1.2.3. Nghĩa vụ thực hiện các quyền, nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của pháp luật, điều lệcông ty

Điều 48, Luật Quản lý vốn nhà nước quy định người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp “thực hiện quyền, trách nhiệm khác quyđịnh tại điều lệ côngty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trởlên, pháp luật về doanh nghiệp và quyđịnhkhác của pháp luật có liên quan”. Cho đến nay, chưa có một văn bản nào hướng dẫn hay giải thich cụ thể nội dung của nghĩa vụ này.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có quy định người quản lý công ty có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty. Nếu người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là người quản lý công ty thì phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp. Theo Điều 165.1(a) của Luật Doanh nghiệp năm 2020, người quản lý công ty có nghĩa vụ “thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, nghị quyết Đại hội đồng cổ đông”.

Vấn đề đặt ra là theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghĩa vụ tuân thủ Điều lệ công ty có nội dungcụthể là gì? Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định cụ thể về vấn đề này. Luật Quản lý vốn nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không đề cập nếu rõ nội hàm của nghĩa vụ tuân thủ Điều lệ công ty của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

2.1.3. Thực trạng quy định về các loại trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam Trách nhiệm pháp lý của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *