Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Lý do của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay ởViệt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân – một Nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Phổ biến, giáo dụcpháp luật (PBGDPL) được xácđịnh làkhâuđầutiên của quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, là một trong những điều kiện căn bản để xây dựng xã hội pháp quyền dân chủ và tăng cường pháp chế XHCN. PBGDPL cho nhân dân, trong đó cócác đốitượng đặc thù là người dân tộc thiểu số(DTTS) ởvùng núi, biên giới, vùng kinh tế đặc

biệt khó khăn… là chủ trương lớn của Đảng, đã được các cấp chính quyềnđặc biệt quan tâm tổ chức thực hiện trên thực tiễn.

Đồng bào dân tộc (ĐBDT) Thái là dân tộc đứng thứba về số lượng trong cộng đồng 54 dân tộc anh emở ViệtNam với trên 1,8 triệu người, có mặt trên khắp 63 tỉnh, thành phốtrên cảnước,nhưng cư trú tập trung hầu hếtởvùng Tây Bắc. Người Thái có lịchsửcư trú lâu dàiở TâyBắc trên một ngàn năm, có tiếng nói và chữviết riêng, cónhững đặc điểmrất riêng về văn hóa, tín ngưỡng, tập quán có ảnh hưởng lớn đếnvăn hóacủacác nhóm cư dân trong khu vực…Đặcbiệt,trướcnăm 1945, ở Tây Bắc, với chính sách “nhu viễn” của triều đình phong kiến, người Tháiđã cóhệthống luật tục riêng được thể hiện bằng văn bản, và có hệ thống chức dịch địa phương tổ chức thực hiện. Luậttục với lịch sửtồn tại và duy trì hàng mấy trăm năm đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của đồng bào dân tộc Thái,rất cầncó những nghiên cứu khoa họctừgócđộ Luậthọc đểphát triển những giátrịtốt đẹp,phù hợp pháp luật của luật tục, góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục, phong tục, tập quán và bài trừ, xóa bỏ những hủ tục, quy định trái pháp luật.

Tây Bắc Việt Nam là địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, là vị trí chiến lược, phên dậu quốc gia; vùng Tây Bắc có sự hiện diện của 42 dân tộc anh em, trong đó có 20 dân tộc có trên 500 người. Xét ở góc độ ngôn ngữ, 20 dân tộc này thuộc 7 nhóm ngôn ngữ khác nhau. Mỗi dân tộc ở Tây Bắc có nguồn

2

gốc, lịch sử khác nhau, có bản sắc văn hóa, các đặc điểm tâm lý riêng. Sự đa dạng này của các dân tộc đã tạo nên một Tây Bắc với những sắc thái văn hóa độc đáo, đa dạng, song nổi trội là không gian văn hóa Thái. Công tác PBGDPL ở Tây Bắc thời gian quađã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết pháp luật,sốlượng người mắc tệnạn xã hội và tộiphạm vềma túy còn cao… đòi hỏi việc PBGDPL ở Tây Bắc cần có những mục tiêu, giải phápcụthểphù hợpvới đặctrưng riêng có củaTây Bắc và đối tượnglà ĐBDT TháiđểPBGDPL, góp phần tích cực vào việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Phổ biến, GDPL là đề tàiđược rất nhiềuhọc giả quan tâm trên các diễn đàn khoa học trong và ngoài nước. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay.

Xuất phát từthực trạng nêu trên, nghiên cứusinh chọn đề tài “Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở TâyBắcViệt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sửnhà nước và pháp luật với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận án

Mục đích củaluận án là nghiên cứutoàn diện, cóhệthống các vấnđềlý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay, đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam.

Để đạt được mục đích trên, luận áncó các nhiệm vụ:

– Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài PBGDPL nói chung vàcho ĐBDT Thái ở Tây Bắc nói riêng; chỉ ra những kết quả đã đạtđược vàdựkiến những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

– Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơsởlýluận vềPBGDPL cho ĐBDT Thái, bao gồm: Khái niệm,đặc điểm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến PBGDPL choĐBDT Thái ở Tây Bắc.

– Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơsởthực tiễn PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc bám sát các đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ở Tây Bắc, nhất là sựtác động của các yếutốkhách quan, chủ quan đến thực trạng PBGDPL ở Tây Bắc.

3

– Dựa trên các vấn đềlý luận và thực tiễn, luận án xác định mục tiêu, xây dựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp PBGDPL cho ĐBDT thái ở Tây Bắc thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam dưới góc độ Lý luận và lịch sử nhànước và pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu của luận án: PBGDPL cho người dân nói chung là vấn đề rất rộng.Do vậy, luận án chỉ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam (gồm 06 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái).

Về thời gian, luận án nghiên cứu về hoạt động PBGDPL từ năm 2012 (thời điểm triển khai thực hiện Luật PBGDPL) đến nay.

4.Cơ sởlý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng HồChí Minh và đường lối, quanđiểmcủa Đảng về Nhà nước và pháp luật, về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) ở nước ta.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp logic – lịch sử đểnghiên cứu chương 1, 2 và 3 để nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, cơsởlý luận, thực trạng PBGDPL ở Tây Bắc thời gian qua; phương pháp hệ thống – cấu trúc, quy nạp, diễn dịch để nghiên cứu chương 2, 3 và 4; phương pháp phân tích tổng hợptạitất cảcác chương; khái quát hóa, trừu tượnghóatạichương 2, 3; luật

học so sánhtạichương 1 và 2, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích thực tiễn và các phương pháp của xãhộihọc phápluật được sửdụng tại chương 1, 2 và 3 của luận án.

5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là tài liệu chuyên khảo đầu tiên ở nước ta nghiên cứu về PBGDPL cho ĐBDT TháiởTây BắcViệt Nam một cách toàn diện, cóhệthống và có cácđiểm mới sau:

4

Một là, đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu đề tài, chỉ ra những kết quảđã được nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

Hai là, xây dựng cơsởlý luận về PBGDPL cho ĐBDT Thái như: Khái niệm,đặc điểm,vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến PBGDPL cho ĐBDT Thái.

Ba là,lầnđầu tiên thực trạng PBGDPL cho ĐBDT Thái ởTâyBắcViệt Nam hiện nay được phân tích, đánh giá một cách khoa học dưới tác động của nhân

tố khách quan, chủ quan (kết quả đã đạt được,tồn tại, hạn chế, nguyên nhân) làm tiền đề thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp khắc phục.

Bốn là, luận án đưa ra quanđiểm vàđề xuấtgiải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Luận án là công trình khoa học đầutiên ởnước ta nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thốngvề cơ sở lýluận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ởTây Bắc Việt Nam hiện nay. Vì vậy, luận án góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận về GDPL nói chung, cho nhóm đối tượng,địabàn đặc thù nói riêng.Đâylà tài liệu có ý nghĩa tham khảo về phương diện lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như cơ chế tổ chức, triển khai thực hiện công tác PBGDPL cho người dân ởTây Bắcvà các địa phương có đốitượng,điềukiện kinh tế – xã hội tương đồng.

– Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu các vấnđề lý luận và thực tiễnvề PBGDPL; PBGDPL đối vớicácđịa bàn,đốitượng đặc thù. Luận án có thể là tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy môn học Nghiệp vụ PBGDPL, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, GDPL trong các cơsởgiáo dục, đào tạo, cơsởnghiên cứu; trong các lớp tập huấn,bồi dưỡng kỹnăng, nghiệp vụ PBGDPL.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mởđầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết.

 

Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay
Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án

Vấn đề PBGDPL nói chung, PBGDPL cho những đối tượng xã hội cụ thểtrong những năm qua đã được nhiều nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài, tác giả của những cuốn sách chuyên khảo, bài báo khoa học,đề tàinghiên cứu khoa học đề cập,luận giải, phân tích ở những cấp độ, phương diện khác nhau vàđã đạtđược nhiều kết quảquan trọng. Liên quanđếnđềtài luận án, có ba nhóm công trình nghiên cứu sau đây: a) Nhóm 1: các công trình nghiên cứu về PBGDPL nói chung và PBGDPL cho các nhóm đối tượng xã hội nói riêng; b) Nhóm 2: các công trình nghiên cứu về dân tộc Thái nói chung, ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói riêng; c) Nhóm 3: các công trình nghiêncứu vềTây Bắc, PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam.

1.1.1. Nhóm các công trình về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

1.1.2. Nhóm các công trình về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các nhómđối tượngxã hội cụ thể,địa bàncụthể

12

1.1.3. Nhóm nghiên cứu về dân tộc Thái, Tây Bắc và phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài vềnhững vấn đề có liên quanđến đề tài

21

1.3. Đánh giá chung vềtình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài

Từkết quả của các công trình nghiên cứu đã khảo sát trên đây, có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá có giá trị tham khảo cho đề tài luận án như sau:

Các luận án, bài viết trên nghiên cứu về GDPL, PBGDPL ở các góc độ luật học, xã hội học, tâm lý học, dân tộc học trong quan hệ với xây dựng vàbảo vệpháp luật, nâng cao ý thức pháp luật, gắn với tăng cường pháp chế hoặc đặt trong quan hệgiữa xây dựngvớitổchức thực hiện pháp luật… Quađóđãlàm rõ nhiều luận cứkhoa học và thực tiễnvềPBGDPL, vận dụng sáng tạo lý luậnđể xửlý, đánh giá thực tiễn gắn với tổ chức thực hiện pháp luật trên từng lĩnh vực, địa bàn,đối tượng cụ thể và đề ra một số giải pháp bảo đảm; khẳng định vị trí, vai trò cũng như hiệu quả của PBGDPL, cụ thể là:

Thứnhất,vềmặt lý luận, đóng góp quan trọng nhất củacác nghiên cứu làgóp phần hình thành cấu trúc lý luận cho việc tiếp cận, phân tích và đánh giá hiệu quả của PBGDPL. Cấu trúc đó bao gồm các vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp và các yếu tố bảo đảm.

Thứ hai, về mặt thực tiễn, các nghiên cứu đã gắn với công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong mối liên hệ với công tác tổ chức thực hiện pháp luật,đưa pháp luật vào cuộc sống. Phân tích, đánh giá thực trạng nhu cầu vềPBGDPL của nhân dân; thực trạng thực thi chính sách, pháp luật về PBGDPL và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như cácĐề án, Chương trình về PBGDPL tại các Bộ, ngành, địa phương.

Thứba, các công trình nghiên cứu đã vận dụng khá nhuần nhuyễn các vấnđềlý luận chung về PBGDPL vào nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cụ thể, gắn với đặc điểm của từng địa bàn, khu vực (trong cả nước hoặc từng khu vực, từng

tỉnh, địa bàn cấp huyện,cấp xã…),nhóm đối tượng (đồng bào DTTS, học sinh, sinh viên, người chưa thành niên, người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ, phạm nhân,

công chức, viên chức…),lĩnh vực hoạtđộng cụ thể vớinhững phạm vi thang bậc, cấp độ khác nhau,cảvề lýluận và thực tiễn.

22

Nghiên cứu tổng quan về PBGDPL tác giả nhận thấy,mặcdù mô hình lý luận về GDPLđã được cácnhà khoahọcxây dựng gần như hoàn thiện vàđãđược kiểm nghiệm trong thực tiễn với những kết quả đáng trân trọng. Tuy nhiên,từtrướcđến nay chưa có công trình nào nghiên cứu và xây dựng mô hình lý luận vềPBGDPL cho ĐBDT Thái. Thực tiễn PBGDPL cho thấy đốivới đốitượng đặcthù như dân tộc Thái,ở địabàn đặcthù như khu vực Tây Bắc, việc áp dụng mô hình lýluận chung vềPBGDPL trong cảnướclà chưa đáp ứngđược nhucầucủangười dân, nên cần có một mô hình lý luậnđặc thù về PBGDPL cho ĐBDT Thái như làmột bộ phậncủa hệthống lýluận vềPBGDPL chung trong cả nước, làm phong phúthêm hệ thống lý luận về PBGDPL nói chung và lý luận PBGDPL cho đối tượng cụ thể và địa bàn cụthể.

1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu trên đây, luận án nghiên cứu PBGDPL cho ĐBDT Thái ởTây Bắc một cách sâu sắc,đầy đủ và toàn diện bảo đảm tính khoa học và tính hệ thống, với những vấn đề sau:

Một là, về lý luận, luận án phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ:

Khái niệm,đặcđiểm,vai trò và cácyếutố ảnhhưởng,cảyếutố khách quan và chủ quan,từđó rút ra bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả PBGDPL choĐBDT Thái ởTây Bắc…Đâylà những vấnđề hoàn toàn mới, chưa có công trình nào trong nước và ngoài nước ngoài nghiên cứu.

Hai là, về thực tiễn, luận án cần tập trung phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện và cóhệthống vềthực trạng PBGDPL cho ĐBDT TháiởTây Bắc, bám sát các vấn đề lý luận được làm rõ trong luận án và rút ra bài học kinh nghiệm.

Ba là, từ lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc, xác định các quan điểm và đề xuất giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam.

1.3.3. Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu 1.3.1.1. Giả thuyết khoahọc

Đồng bào dântộcThái là nhóm cư dân chiếm đasố ởTây BắcViệt Nam hiện nay, việc PBGDPL cho ĐBDT Thái để họ hiểu, thực hiện và vậndụng vào

23

cuộc sống giữvai trò rấtquan trọng trong việc phát huy sức mạnh đạiđoàn kết trong xây dựng và pháttriển đấtnước.Tuy nhiên, hiện nayhoạt độngPBGDPL choĐBDTTS nói chung, ĐBDT TháiởTây Bắcnói riêng vẫncòn tồntại, hạn chế, chưa đáp ứng được vớimục tiêu, yêu cầu doĐảng và Nhà nước đãđặt ra. Do đó, cần phải nhận thức rõ tầm quan trọng của PBGDPL trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay,từđócó những giải pháp toàn diện về nhận thức, tổ chức thực hiện và điều kiện bảo đảm, phù hợp, chuẩn hóa nội dung,đổi mới hình thức, phương pháp PBGDPL cho phù hợp với đặc thù củađối tượng làĐBDT Thái,với tổchức, hoạt động của cáccấpchính quyền, đoàn thể ở địa phương.Giải quyết tốt các vấn đề đó thì việc PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc sẽ có sựchuyển biến tích cực trong thời gian tới.

1.3.1.2. Câu hỏi nghiên cứu

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Việt Nam và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đếnđềtài, tác giả xác định một số câu hỏi như sau:

– Vì sao phải PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay?

– Phổ biến, GDPL cho ĐBDT Thái là gì? có những đặc thù gì so với PBGDPL cho các đối tượng khác?

– Thực trạng PBGDPL cho ĐBDT TháiởTây Bắc Việt Nam hiện nay đòi hỏi cần phải thực hiện như thế nào là phù hợp?

– Những giải pháp PBGDPL nào cho ĐBDT Thái ởTây Bắc Việt Nam trong thời gian tới?

Kết luận Chương 1

1. Phổ biến, GDPL nói chung và GDPL trên một số lĩnh vực,địa bàn,đối tượng nói riêng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu từrấtsớm.Đếnnay đã có nhiều công trình nghiên cứu,cảtừgóc độ lý luận và thực tiễn,cả ởtrong nước và nước ngoài với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nội dung, hình thức nghiên cứu khá đa dạng. Những điểm đặc thù về cơ cấu xã hội, dân tộc, chính trị, xã hội – văn hóa của khu vực Tây Bắc cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà

24

khoa học.Đếnnay,hầuhết cácvấn đềlý luận như khái niệm,đặc điểm,vai trò, chủ thể,đối tượng, nội dung, hình thức…củaPBGDPLđã được làm rõ trên nhiều phương diện; một số nghiên cứu đã đề xuất được các giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động PBGDPL.

Qua nghiên cứu tổng quan, đánh giá kết quả nghiên cứu lý luận vềPBGDPL trong và ngoài nước cho thấyở ViệtNam cũng như ở nước ngoài chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống,cả vềlý luận và thực tiễn vềPBGDPL cho ĐBDT Tháiở TâyBắc, đặc biệt là lý luậnvềGDPLđược đặt trong mối quan hệ hài hòa với giáo dục tri thức tiến bộ của luật tục Thái. Vì thế, việc nghiên cứu, làm sáng tỏcơsởlý luận, đánh giá thực trạngđể kếthừa những thành tựu,kết quả đã đạt được; khắcphục tồn tại, hạn chế, làm rõ nguyên nhân; đềxuất quan điểm và giải pháp PBGDPL cho ĐBDT Thái ởTâyBắclà thực sựcần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực.

2.Kếthừa chọn lọc cáckếtquả nghiên cứu, tác giả xác định những vấnđề cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ về lý luận gồm: Các luận cứ khoa học vàthực tiễn nhằm hoàn thiện thêm hệ thống lý luận vềPBGDPL nói chung và vềPBGDPL cho ĐBDT Thái nói riêng. Về thực tiễn,kết quả của luận án được sửdụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học pháp lý và trong giảng dạy tại các cơsởđàotạoLuật; đóng góp cho quá trình hoàn thiện chính sách pháp luậtvềPBGDPL và góp phần tích cực vào hoạt PBGDPL cho ĐBDTTS, nhất là ĐBDT Thái. Kết quả nghiên cứu luận án có thể áp dụng cho các địabàn đặc thù tương tựnhư Tây Bắc, đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân.

3. Giả thuyết khoa học và câu hỏi nghiên cứu là: cần phải nhận thức rõ tầm quan trọng của PBGDPL trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện Nhà nước XHCN Việt Nam hiện nay, cần có những giải pháp toàn diện về nhận thức,tổ chức thực hiện và điềukiện bảođảm,phù hợp, chuẩn hóa nộidung,đổi mới hình thức, phương pháp PBGDPL cho phù hợp với đặc thù của đối tượng là ĐBDT Thái ở Tây

25

Bắc, phù hợp vớitổchức, hoạt động của các cấp chính quyền, đoàn thể ởđịa phương. Giải quyết tốt các vấn đề đó thì hoạt động PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc sẽ có chuyển biến tíchcựctrong thời gian tới. Tácgiảxácđịnh 04 câu hỏi nghiên cứu gồm: Tại sao phải PBGDPL cho ĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay?; PBGDPL cho ĐBDT Thái ởTây Bắc có những đặc thù gì so với PBGDPL cho cácđối tượngkhác?; Thực trạng PBGDPL cho ĐBDT TháiởTâyBắcViệt Nam hiện nay được thực hiện như thế nào? Những giải pháp PBGDPL nào choĐBDT Thái ở Tây Bắc Việt Nam trong thời gian tới?

26

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI

2.1. Khái niệm,đặcđiểmvà vai trò củaphổ biến, giáo dụcpháp luật cho đồng bào dân tộc Thái

2.1.1. Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc TháiĐể làm rõ khái niệm PBGDPL cho đồng bào dân tộc Thái, trước hết cần

làm rõ một số vấn đềlý luận có liên quan đến vấn đề này.

* Khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến, GDPL là một từghép giữa “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật”.Phổbiến pháp luật: Theo từđiểnTiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm 1997) hay Từvà ngữHán – Việt (NXB Từđiển Bách Khoa – 2002) thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọingười biết đếnmột vấnđề,một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông quan hình thức nào đó” hoặc làm cho mọi người đều biếtđến”.

Phổ biến pháp luậtcó đốitượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng khôngđược phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhànước dùng đểtrị dân. Bên cạnhđó phổbiến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyềnđạt nộidung pháp luật cho cácđối tượngcụthể.Ở nhữngmức độ khácnhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượngcụthể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế.Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn…

Giáo dục pháp luật: Từgóc độ thuật ngữ,Từđiển Bách khoa Việt Namđịnh nghĩa: “Giáo dục pháp luật là sựtác động định hướng của tổ hợp các quátrình xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, tuyên truyền, giải thích pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật” [60, tr. 124]. Theo Giáo trình lý luận về Nhànước và pháp luật của một số cơsởđào tạo pháp luật, “giáo dục pháp luật” đượcđịnh nghĩa là: “Quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường

27

xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từđó có ý thức đúng đắn vềpháp luật, tôn trọng và tựgiác xửsự theo yêu cầu củapháp luật” [113, tr. 177], hoặc “là hoạt động có định hướng, có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ởđối tượngđược giáo dục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật” [84, tr. 452].

Trong tiếng Anh,từ”giáo dục” được biết đến với từ”education” – một từgốc Latin được ghép bởi haitừlà “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere”. Thuật ngữ này có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượtra khỏi (“Ex”) hiện tại của họđể vươn tới những gì hoàn thiện,tốtlành hơn và hạnh phúc hơn. Theo TừđiểnBách khoa, giáo dục là “quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất,được thực hiện bằng cách tổchức việc truyền thụ và lĩnh hộinhững kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài người” [60, tr. 120].Từđiển Tiếng Việt thì định nghĩa: Giáo dục là tácđộng có hệthốngđến sựphát triển tinh thần, thể chất của con người,đểhọ dầndần có đượcnhững phẩm chất và năng lực như yêu cầuđề ra [141, tr. 734]. Như vậy, giáo dục là một “quá trình”, thể hiện ởtính mục đích, tính thường xuyên và có hệ thống để “dần dần” cóđượcnhững phẩm chất và năng lựccần thiết. Quá trình đóđược diễn đạttrong hai phạm trù cơbảnlà “tổ chức truyền thụ” và “lĩnh hội”; hoạt động “tổ chức truyền thụ” là quá trình không chỉ đơn thuần chuyển tảicác kiến thức, các thông tin cần thiết cho ai đó mà là cả một quy trình tác động có chủ đích, có phương phápđể những thông tin đó,kiến thức đóđến đượcvớingười được truyền thụ vàđiều quan trọng nhất làđểnhững kiến thức và thông tinđó tácđộng đến hiểu biết và nhận thức của đối tượng, làm thay đổi,từchỗ chưa biếtđến biết,từchỗ biết ít hơn đến chỗ biết nhiều hơn và khác hơn so với hiểu biết trước đây trong kiến thức và nhận thức, trong lối sống văn hóa pháp lý của người được truyền thụ. Do vậy, giáo dục làhoạt độngkiên trì,bềnbỉ,có hệthống. Nó khác với hoạtđộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức ởmứcđộcủa những tính chất này, mặc dù các hoạt động đó có mối quan hệ gần gũi với nhau về mục đích.

28

Theo kết quả nghiên cứu trong mộtsốchuyên khảo ở Liên bang Nga, GDPLđược hiểu là hoạt động có mục đích, có hệ thống của Nhà nước, của các cơ quan và công chức nhànước,củacáctổchức xã hội, các tậpthể laođộngnhằm xây dựng, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật của người dân. Theo hướng tiếp cận này, xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật là mục tiêu của GDPL, còn chủ thể của GDPL là Nhà nước, xã hội và những người cótrách nhiệm trong các tập thể, cộng đồng [68], [143], [146], [148].

Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tácgiả đãkháthống nhất với khái niệm GDPL: “giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọngvà tựgiác xửsựtheo yêu cầu của pháp luật” [113, tr. 177].

So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn,đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể [59].

Lý thuyết về thực hiện pháp luật cho thấy, PBGDPL là cầu nối quan trọng giữa hoạt động xây dựng pháp luật và cuộc sống, là phương thức đưa pháp luật vào cuộc sống. PBGDPL với quan niệm chung nhất là mộtquá trình tácđộngcó định hướng của chủ PBGDPL đến ý thức của con người. Quá trình này chịu ảnh hưởng của những điều kiện khách quan nhưchế độxã hội, trìnhđộ pháttriển của kinhtế- xã hội, môi trường sống… và của những nhân tố chủ quan nhưsựtácđộng tựgiác,định hướng của nhân tố con người…Sựhình thành ý thức của con người là quátrình ảnh hưởng, tác động thống nhất của các điều kiện khách quan lẫn các nhân tốchủ quan. Quá trình nhận thức của con người không tách rời những điều kiện tồn tại của xã hội.Sựthay đổicác điều kiện chính trị, kinhtế,xã hội sẽtạo ra khảnăng phát triển đời sống tinh thần của con người và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nói chung và PBGDPL nói riêng. PBGDPL không chỉ đơn thuần là đưa các thôngđiệp pháp luật đến với mọi người, mà còn là một “nghệ thuật” chuyển tải thông điệp

29

đó,cần thực hiện trên cơsởcách tiếp cận đa ngành, hệ thống, toàn diện và hiệu quả. Cùng với việc thừa nhận ảnhhưởngcủacác điều kiện khách quan là tolớn đốivới việc hình thành ý thức củacá nhân con người (trong đó có ý thức pháp luật), cần nhấn mạnh tácđộng cực kỳquan trọng của nhân tốchủ quan mà hoạt động PBGDPL hướng tới.Sựhình thành ý thức pháp luật của con người là sản phẩm của một quá trình phức tạp, trong đó có nhiều yếu tố cùng ảnh hưởng và tác động biện chứng với nhau, quyđịnhvà chi phối lẫn nhau. Trongsốcác công trình nghiên cứu chuyên sâu về PBGDPL phải kể đến cuốn sách “Bàn về giáo dục pháp luật” của các tác giả Trần NgọcĐường và Dương Thị Thanh Mai. Trong cuốn sách nàyđãnêu một số nguyên lý cơ bản về GDPL. Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu khác dưới dạng các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ đã bổ sung, làm phong phú thêm lý thuyết về PBGDPL.

Hiện nay, trong giới nghiên cứu và trong thực tiễn, vẫn chưa có sự thống nhất cao về các khái niệm: tuyên truyền, PBGDPL. Qua thực tiễn PBGDPL, chúng tôi cho rằng trước hết cần thống nhất nội hàm của khái niệm PBGDPL theo hướng sau đây:

Thứnhất: PBGDPL là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho con người,từđónâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Thứhai: PBGDPLlà lĩnh vực hoạt động baogồm tất cảcác công đoạn nhưđịnh hướng công tác PBGDPL, lập chương trình,kế hoạch PBGDPL, áp dụng các hình thức PBGDPL; triển khai chương trình PBGDPL; kiểm tra, sơ kết, tổng kết,đúc rút kinh nghiệm… về PBGDPL [133, tr. 9].

Tuy nhiên, đối với khái niệm PBGDPL, hiện nay, trong khoa học pháp lý có nhiều ý kiến đồng nhất hai khái niệm “phổ biến pháp luật” và “giáo dục pháp luật” vì cho rằng chúng có mục đích chung là giáo dục ý thức pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho mọi người. Hai khái niệm này có khi được dùng tách rời nhau nhưhai khái niệm riêng biệt, nhưng có khilạiđượcsửdụng liền nhau.Mụctiêu của PBGDPL bao gồm: mục tiêu về nhận thức (trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật), mục tiêu về thái độ, tình cảm (làm hình thành tình cảm, xúc cảm pháp luật và niềm tinđối

30

với pháp luật); mục tiêu về kỹ năng (hình thành, củng cố thói quen, nếp sống, hành vi xử sự tích cực theo các chuẩn mực pháp luật). Mục đích của PBGDPL là cái cuối cùng phải đạt được của hoạt độngGDPL. Nó chính là những thông tin, kiến thức, hiểu biết vềpháp luật; tháiđộ,tình cảm, niềm tinđốivới pháp luật; và thói quen,lốisống, hành vi xửsựtích cực theo pháp luật. Như vậy, suy cho cùng, mục đích của PBGDPL là làm hình thành, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng tiếp nhận PBGDPL.

Quan niệm PBGDPL còn được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo nghĩa rộng, PBGDPL là lĩnh vực công tác bao gồm tất cảnhững gì phục vụ cho việc đưa pháp luậtđến với các đối tượng nhằm mụcđích hiện thực hóa các quy định củapháp luật trongđời sống,đó là: Quanđiểm,chủ trương về PBGDPL; Chính sách, pháp luật về PBGDPL; Tổ chức, nhân lực PBGDPL; Cơchếvận hành PBGDPL; Điều kiệnbảođảm PBGDPL; Định hướng công tác PBGDPL; Lập chương trình,kếhoạch PBGDPL; Lựa chọn nội dung pháp luật cầnphổ biến, giáo dục; Áp dụng các hình thức PBGDPL; Triển khai chương trình,kếhoạch PBGDPL; Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết công tác PBGDPL, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ lý luận… về PBGDPL…

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay Phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *