Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước
MỞĐẦU
1. Tính cấp thiết củađề tài
DNNNnắmgiữ những ngành kinhtế trọng yếu, then chốtcủa đấtnước, do đó, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh những thành quả mà các DNNN mang lại cho nền kinh tế, DNNN cũng đã bộc lộnhiềuhạnchế,yếukém trong nhiều lĩnhvựchoạtđộngcủa mình. Mộtlượng không nhỏ DNNN sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả thấp, chưa phát huy hết vai trò chủ lực trong nền kinh tế, chưa tương xứng với lợi thế và sự đầu tư của nhànước.Một số DNNN làm ăn thua lỗ kéo dài, không bảo toàn được vốn nhà nước, thậm chí đã và đang trong tình trạng phá sản. Không ít DNNN có tình trạng đầu tư dàn trải, khôngtậptrung vào ngành nghề kinh doanh chínhđược nhà nước xácđịnh mà lạiđầu tư vào những lĩnh vực có tính rủi ro cao và không thuộc thếmạnh như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng… Ngoài ra, cơ chế, chính sách của nhà nước đối với DNNN còn bất cập; các quy định về DNNN chưađầy đủ, thiếu hệ thống và có nhiều khoảng trống pháp luật, nhất là sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 thaythếLuật DNNN 2003 và chuyển toànbộDNNN sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005. Tình trạng này đã gây ra không ít khó khăn cho hoạt động của DNNN cũng như công tác quản lý, kiểm soátvốn của chủ sởhữunhà nước, làm giảm thiểu độnglựcvà trách nhiệm của các DNNN trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tàisảncủa nhà nước. Thực tế này đặt ra một yêucầurấtcấpthiếtđốivớinhànướcta là phải tăngcườnghoạtđộngkiểm soát vốn mà nhà nước đã đầu tư tại các doanh nghiệp, đặc biệt là tại những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đảm bảo việc sử dụng, quản lí vốn nhà nước được thực hiệnđúng mục đích, có hiệu quả kinh tế cao.
Nhận thức rõ yêu cầu này, nghiên cứu sinh đã lựachọn vấn đề “Pháp luật vềkiểm soát vốn tạicác doanh nghiệp có 100%vốnnhànước”làmđề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ. Sự thành công của việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần khắcphục đượccác hạn chế, yếu kém của pháp luật hiện hành, giúp Nhànước nâng cao hiệu quả hoạtđộngquản lí, sử dụngvốntạicác doanh nghiệp 100% vốnnhà nước,qua đónâng caovịthế của các DNNN trongnềnkinhtếquốc dân.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc làmrõ những vấn đề
lý luận cơ bản liên quan đến hoạt động kiểm soátvốn nhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp 100% vốnnhànước;phân tích rõ thực trạng các quyđịnhpháp luậtvềvấnđề này; quán triệt những yêu cầumới trong chính sách củaĐảngvà Nhànước ta về phát triển DNNN, luận án đề xuất một số giải pháp pháp lý nhằm tăng cườnghiệu quả của công tác kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nhà nước
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạtđược mục đích trên, luận án tập trung giải quyết một số nhiệmvụcơ bản sau đây:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát vốn nhà nước tạicác doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư 100% vốn ( khái niệm vốn nhà nước? cơ sở của việc kiểm soát vốn nhà nước…)
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và việc thực hiện pháp luậtvề kiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốnnhà nước.Từ đólàm rõnhững hạn chế, yếu kém của pháp luật hiện hành của nhà nước ta về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Ba là, đề xuấtcác nhóm giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nêu trên, luận án tập trung nghiên cứu các vấn đềchủ yếu sau đây:
Mộtlà, các quan điểm, lý thuyếtvề kiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước ở Việt Nam và trên thế giới;
Hai là, hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Namvà của một sốquốc gia có điều kiện kinh tế – xã hội gần giống với Việt Nam liên quan đến kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước;
Ba là, thực tiễn áp dụng pháp luậtvề kiểmsoátvốn tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở nước ta trong thời gian qua.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Hiện nay, Nhà nước ta đầu tư vào nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau và với các mứcđộkhác nhau. Vốncủa nhà nước khôngchỉđược đầutưvào công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làmchủsở hữu mà còn có thểđược đầu tư vào các doanh nghiệp khác như công tycổphần, công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Như vậy, xét về nhu cầu quản lý vốn thì ởđâucó tàisảndo nhànước đầu tư thìở đóphải cósự kiểm soát của nhà nước. Tuy nhiên,để phù hợp vớitênđề tàiluận án thì luận ánkhông đề cập đếnviệc kiểm soátvốncủa nhà nước đầutư vàomọiloại hình doanh nghiệp mà chỉtập trung nghiêncứuviệc kiểm soátvốnnhànước đầutư vàomộtloại hình doanh nghiệp, đó là doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn. Đây thực chất là các công ty TNHH 100% vốn của nhà nước.
– DNNN (doanh nghiệp có 100% vốn của nhà nước) đã được hình thành và tồn tại từ lâu ở nước ta, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây. Tuy nhiên, do sự hạn chế về quy mô (số trang) của một luận án tiến sĩ luật học,đồng thời để đảmbảo tính hiệu quả cũng như ý nghĩa thực tiễn của các kếtluận mà luận ánđưara, luận án nàychỉtậptrung nghiêncứupháp luậtvềkiểm soátvốncủa nhà nướcđầutư vào doanh nghiệp trong những năm gần đây, nhất là sau khi có Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014.
4. Những điểm mới của luận án
Đâylà công trình nghiên cứuđầutiên mang tínhhệ thốngvề pháp luật kiểm soátvốn tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam. Các nghiên cứu trướcđây về nội dung này hoặc là thiên về khía cạnh kinh tế, hoặc là chưađảmbảotính đồng bộ, tính hệ thống. Với tư cách là công trình như vậy, luận án đã có một số điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, luận ántậptrung vào việc tìm hiểu, nghiên cứu, hệ thống hoánhững quan điểm khoa học pháp lý và kinh tế có liên quan đến về việc kiểm soát vốn tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đặc biệt là, luận án đã xây dựngđượccơ chế kiểm soát này thông qua việc làm rõ ba yếu tố cấu thành của nó là:
(1)chủthể kiểm soát, (2)nộidung kiểm soát, (3) phương tiện kiểm soát. Khi một trong ba yếu tố này có khiếm khuyết hoặc có sự trục trặc trong quá trình vận hành thì việc kiểm soát của nhà nước đối với vốn mà mình đã đầu tư vào doanh nghiệp chắc chắn sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn.
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá một cách khách quan, trung thực thực trạng pháp luậtvề kiểmsoátvốn tạicác doanh ngiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh việc khẳngđịnhmộtsốthành công, luận án cũngđãlàm rõ nhiều hạn chế của lĩnh vực pháp luật này thông qua việc phân tích các bất cập, yếukém trong quyđịnhcủa pháp luật liên quanđến 6 côngcụ(phương
thức) mà Nhà nước ta đang sử dụng để kiểm soát vốn Nhà nướcđầu tư tạidoanh nghiệp, cụ thể là:
– Kiểm soát vốn nhà nước thông qua đại diện của chủ sở hữu nhà nước;
– Kiểm soátvốnthông qua hoạtđộngcủa Tổng Công tyđầutư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC);
– Kiểm soát vốn thông qua hoạt động kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; – Kiểm soát vốn thông qua hoạt động kiểm toán;
– Kiểm soát vốn thông qua việc giám sát đầu tư, giám sát tài chính.
Thứ ba, qua việc nghiên cứu pháp luật của Việt Namvà một sốnước trên thế giới về kiểm soátvốn tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, luận án đãđề xuấtmộtsốquanđiểmvà giải phápđể góp phần hoàn thiện pháp luật, bảođảmpháp luậtvề kiểmsoátvốn tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được thực thi một cách nghiêm túc và có hiệu quả trong thực tiễn.
Trong số các kiến nghị có giá trị mà luận án đã đề xuất, có thể kể đến một sốkiến nghị sau đây:
Một là, kiến nghị về việc cần phải thay đổi địa vị pháp lý của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) từ là một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước như hiện nay thành công ty cổ phần.
Hai là, kiến nghịvề việccầnphải chấmdứttình trạng manh mún, phân tán, không cómộtđầumốiduy nhất và thống nhất trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụcủachủsở hữulà nhà nước đốivới doanh nghiệp nói chung và kiểm soátvốndo nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nói riêng bằng việcsớmxây dựng một cơ quan chuyên trách với tên gọi là Ủy ban Giám sát tàisảnnhà nước
tạidoanh nghiệp, trực thuộc chính phủ với đầy đủ quyền hạn và năng lực chuyên môn để thựchiện tốt các nhiệm vụ được giao.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
– Về mặt lý luận: luận ántậptrung làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm soát vốn như: khái niệm về DNNN và vốn nhà nước; cơ sở của việc kiểm soát vốnnhànước;côngcụ (phương tiện) kiểm soát vốn; pháp luậtvề kiểm soát
vốn…
-Về mặtthực tiễn: luận án không nhữngđã chỉ ra những thành tựu màcòn tập trung làm rõ những nhược điểm, hạn chế của cơ chế kiểm soát vốn nhànước tạicác doanh nghiệp 100% vốnnhànước,đồngthời đã vạch ra những
nguyên nhânchủ yếu dẫn đếncác hạn chế đó. Đây là cơ sở thực tiễn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể căn cứ vàođể đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ởnước ta trong thời gian tới.
Như luận án đã khẳng định, kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không chỉ là công việc của Nhà nước Việt Nam mà đã từng và đang là công việc của rất nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, nghiên cứu để tìm hiểu và vận dụng một cách khoa học, sáng tạo kinh nghiệm của các nước đi trước trong lĩnh vực này làvấn đề mà nhà nước ta đang rất quan tâm hiện nay. Để góp phần giải quyết các vấnđề dothực tiễn Việt Namđặtra, luận án đã dành thời gian và công sứcđể tìm hiểu, phân tích, đánh giá kinh nghiệmcủa một sốnước có điềukiện kinh tế – xã hộitươngđồngvới Việt Nam như Trung Quốc, Hungary, Singapore. Kinh nghiệm của các nước này, ví dụ như,ởTrung Quốc thành lập Ủy ban giám sát và quản lý tàisảnnhà nước (SASAC), ở Hungary thành lập Công ty tư nhân hóa và quản lý tàisảnnhà nước (APVRT), ở Singapore thành lập Temasek (Công tyĐầutư và kinh doanhvốnnhà nước)là rấtcó ýnghĩa đốivớithực tiễn hoàn thiện pháp luật và xây dựng các thiếtchế để kiểmsoát vốn nhà nước một cách cóhiệu quả ở nước ta.
6. Bố cục của luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, trang bìa và bìa phụ, danh
mục viết tắt, tài liệu tham khảo… bố cục của luận án gồm 4 chương.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiêncứuvà các vấn đề liên quan đến luận án
Chương 2. Nhữngvấnđề lý luậnvềkiểm soátvốnvà pháp luậtvềkiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Chương 3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát vốn và thực tiễn hoạt động kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Chương 4. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Dotầmquan trọng của DNNN nên vấn đề quản lý doanh nghiệp DNNN nói chung và quản lý tài chính trong các DNNN nói riêng là vấnđề luônđược giới nghiên cứu khoa học kinh tế và pháp lý quan tâm. Chính vì vậy, trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về DNNN ở những góc độkhác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung các công trình nàyđều có mục đíchlà nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN thông qua việc hoàn thiện năng lực quản trị doanh nghiệp, quản lý tài chính, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, và đánh giá về sự phù hợp, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứukhoa họcnàyrấtđa dạng, bao gồm:
sách chuyên khảo, đề tài khoa học, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học hoặc được trình bày ở các hội thảo khoa học, v.v…
1.1.1.1. Sách tham khảo
1.1.1.2. Đề tài khoa học
1.1.1.3. Luận án
1.1.1.4. Bài viết đăng trên tạp chí
1.1.1.5. Báo cáo, hội thảo khoa học
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1.2.1. Sách nước ngoài
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu
1.1.2.3. Tạp chí
1.1.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Từquá trình nghiên cứucác công trình trong và ngoàinước đã côngbố
như trình bày trên, tác giả luận án đưa ra một số nhận định về tình hình nghiên cứu đề tàinhư sau:
Thứnhất, kiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốnNhà nước đãđượcnhiều công trình nghiêncứuđềcậpđến. Tuy nhiên, vấnđềnàyđược nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ kinh tế, theo chuyên ngành quản trị kinh doanh, quản lý công, quản lý tài chính doanh nghiệp, đổimớiquản lývốntrong các DNNN mà đang có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ pháp lý.
Thứhai, các công trình nghiêncứutừkhía cạnh pháp luật nhằm hoàn thiện khung pháp luật cho kiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốnnhànước ở Việt Nam không những còn ít về số lượng mà còn thiếu chiều sâu và đặc biệt là chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đềliên quan đến kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn. Vì vậy, có thể khẳng định đề tài “Pháp luật kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt nam” mà tác giả lựa chọn làmđề tàiluận án tiến sỹluật học là đề tài độc lập và không trùng lặp với các công trình đã công bố.
Thứ ba, về thựctrạng kiểm soátvốn tạicác DNNN, các công trình nghiên cứu đều có chung nhận định là ở Việt Nam, vấn đề kiểm soátvốn tạicác DNNN là rất yếu kém vì tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các DNNN thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp dân doanh, mặc dù các DNNN được ưu đãivề tín dụng, về đất
đai, về tiếp cận thị trường, về lợi thế cạnh tranh… Nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ, làm thất thoát vốn, tình trạng các DNNNđầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính là phổbiến. Sự kiện tập đoàn Vinashin là vídụđiển hình cho thấy việc kiểm soátvốntạicác DNNNở Việt namyếukếmđếnmức nào?
Thứ tư, các công trìnhđã bước đầucó nhiều nhậnđịnhđúngvềnguyên nhân của việc kém hiệu quả trong việc quản lý tàisảnnhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nói riêng. Trong số đó cóhai nguyên nhân chủ yếu là:
Một là, việc kiểm soátvốn tạicác DNNN trên thựctế là rấtkhó thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả vì tài sản mà Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp là tàisảnchung, của toàn dân, của mọi người nên người được giao trách nhiệm thay mặtNhà nước quản lí tàisảnđóchắc chắnsẽ không bao giờ tận tụyvới công việc như ngườichủđối với tàisảnriêng của mình. Tóm lại căn nguyên của vấn đề là lợi ích, đúng như người Việt Nam có câu “Cha chung không ai khóc”.
Hai là, ở nước ta,vấn đề kiểmsoátvốn tạicác DNNN được thực hiện bởi nhiều cơ quan, nhiềucấpkhác nhau nên bề ngoài có vẻ là chặt chẽ song trên thựctế lạirấtlỏng lẻo bởi không có ai phải chịu trách nhiệm khi doanh nghiệp làm thất thoát vốn. Các tác giả cho rằng, hình như ở Việt Namvấnđề quản lývốn tại các DNNN chưa có một người chủ cụ thể đích thực.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.2.1. Cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết khi nghiên cứu pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100%vốnnhànước là quanđiểmcủa Đảngvà Nhà nướcvềcơ cấulại DNNN, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Từ cơsở lý thuyết chung như vậy, luận án xây dựng các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
1. Pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có gìkhác biệt so với pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp thuộc khối tưnhân?
2. Pháp luậtvềkiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốnnhànước đãđáp ứng được các yêu cầu đặt ra chưa?
3. Cầncó những giải pháp nàođểhoàn thiện pháp luật và tăng cường thực hiện pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hiện nay?
Giả thiết nghiên cứu: Pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốnnhà nước phải làm rõđược các vấnđềnhư khái niệm vốnnhà nước,kiểm soát vốn nhà nước, những đặc thù của kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Xác định rõ phạm vi, nội dung kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.
Cơ sở khoa học giải quyết giả thiết nghiên cứu:
Nêu lên những quanđiểmkhác nhauvềvốnnhà nướctạicác Luật khác nhauđãban hành, từđóđưara quanđiểmvềvốnnhà nước tạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Làm rõ những đặc trưng của việc điều chỉnh pháp luật đối với kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Những xuhướngmà pháp luật quyđịnhvềkiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các chế tài áp dụng đối với những hành vi vi phạm trong kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước của các quốc gia trên thế giới. Từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng cho Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan.
Thứ nhất, về khía cạnh lý luận Câu hỏi nghiên cứu:
Vốnnhà nước là gì? Kiểm soátvốnnhà nước là gì? Cácđặc điểmkhác biệtcủakiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốnnhà nước vớikhối doanh nghiệp tư nhân?
Giả thuyết nghiên cứu:
Về phương diện luật học hiện nay, chưa có quan điểm thống nhất về kiểm soátvốnnhànước.Vốnnhànướccũng như kiểm soátvốnnhànướccó những đặc thù riêng cần được làm rõ để phân biệt với kiểm soát vốn của khối tư nhân. Làm rõ sự khác biệt để từ đó xây dựng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Hạn chế hành vi vi phạm trong kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Dự định kết quả nghiên cứu:
Phân tích các khái niệm, làm rõ các đặc điểm của vốn nhà nước, kiểm soát vốn nhà nước để đưara khái niệm chung nhất về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Câu hỏi nghiên cứu:
Vì sao phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ? Các yêu cầu của việc kiểm soát và các nhân
tố tác động đến việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Giả thuyết nghiên cứu:
Việc điềuchỉnh bằng pháp luậtđốivớihoạtđộngkiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước xuất phát từ vị trí, vai trò của chủ sở hữu nhànước đối với phần vốn đầu tư được lấy từ ngân sách – thuế của người dân. Kiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốnnhà nước hiệuquảsẽtạođược độnglực thúc đẩy phát triển nền kinh tế cả nước, do đó, điều chỉnh pháp luật đối với hoạt độngkiểm soát này có tácđộngrấtlớnđếnsựphát triển của nềnkinhtếViệt Nam.
Thứ hai, về phương diện luật thực định Câu hỏi nghiên cứu:
Các quy định của pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốnnhànướcđược nhà nước quy định nhưthếnào, trong bối cảnh nào, những thay đổi về quan điểm, chỉnh sửa về nội dung các quy định diễn ra như thế nào, nhữngưu điểmvà hạnchếtrong các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh trong lĩnh vực này?
Giả thuyết nghiên cứu:
Kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ra đời và phát triển trải qua những thời kỳ khác nhau của cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơchếthịtrườngđịnhhướngxã hộichủnghĩa và hộinhập kinh tế quốc tế.
Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Phân tích và làm rõ quá trình hình thành, phát triển của DNNN, vốn nhànước,kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước gắn liền với quá trình xây dựng, ban hành và hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp này.
Câu hỏi nghiên cứu:
Nội dung các quy định pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có đáp ứng được nhu cầu thực tiễn về đầu tư kinh doanh vốn nhànước,điềukiện phải thoáivốnnhà nước tạinhững lĩnh vực không quan trọng theo yêu cầu của hội nhập thế giới? Các quy định có đầy đủ, chặt chẽ và có tính khả thi hay không? Có cần phải ban hành, xây dựng thêm các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước?
Giả thuyết nghiên cứu:
ỞViệt Nam hiện nayđã có hệthống các quyđịnhvềkiểm soátvốntại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, như LDN 2014, Luật Đầu tư công 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014… và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, mỗi luật lại có phạm viđiều chỉnh, đối tượng áp dụng khác nhau, nên khó tránh khỏi sự thiếu thống nhất trong việc giải quyết các vấnđềliên quanđếnkiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Kết quả nghiên cứu dự kiến:
Các quy định về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước còn chồng chéo, gây khó khăn áp dụng trong thực tế. Cácchếtàixửphạt còn quánhẹ, ngoài ra chưa xây dựngđượccơ quan chuyên tráchvềkiểm soátvốntại DNNN. Do đó, những quy định này cần phải được phân tích, nghiên cứu chỉnh sửa,bổsung cho phùhợpvớiđiềukiện hiện nayvềkiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Thứ ba, về phương diện lập pháp Câu hỏi nghiên cứu:
Với những tồn tại, bất cập trong các quy định về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nêu trên thì cần những giải pháp gì để khắc phục?
Giả thuyết nghiên cứu:
Hiện nay, nhữnghạnchế, bấtcậptrong các quyđịnhcủa pháp luậtvềkiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chưa có các giải pháp đểkhắc phục một cách triệt để. Cần sửa đổi, bổ sung và ban hành mới một số quy định vềcơ quan đại diệnchủsởhữu, Tổng công tyĐầutư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)…, đặc biệt là phải xây dựng cơ chế kiểm soát, liên kết chặt chẽgiữa các chủ thể kiểm soát cũng như đưa ra các phương thức kiểm soát tiên tiến hiện đại.
Kết quả nghiên cứu dự kiến:
Trên cơ sở quan điểm, định hướng, đề án tái cấu trúc DNNN của Đảng vàNhà nước,đưara các giải pháp đúng và đầyđủvềnhiềumặtnhằm hoàn thiện mộtcách cơ bản pháp luậtvềkiểm soátvốntạidoanh nghiệp 100% vốnnhànước tại nước ta trong thời gian tới.
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học xã hộibaogồmphương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tiếpcậnhệthống. Tuy nhiên, các phương pháp này khôngđược sửdụng như nhau ởtấtcảcác chương của luận án. Xuất pháttừsựkhác nhau vềyêu cầu, nộidung, tính chất của các vấnđềcầnđược nêu ra và giải quyết ởtừng chương mà luận ánsẽsửdụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau,đảmbảotính phùhợpgiữa nộidung nghiêncứuvà phương pháp nghiên cứu. Cụ thể là:
Chương 1: Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê để phát hiện mộtcách đầyđủcác công trình nghiên cứucó liên quan đếnluận án; phương pháp phân tích và tổnghợpđểđưara đánh giá vềtình hình nghiên cứunhững vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án.
Chương 2: Luận ánsửdụng phương pháp lịch sửcụthể, phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xã hội như kinh tế học, luật học khi giải quyết các vấn đề liên quan đến các khái niệm khoa học mà luận án cần phải làm sáng tỏ. Luận án cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp đểnêu rõ quá trình phát triển của quanđiểmvềDNNN,vốnnhà nước,kiểm soát
vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước… Phương pháp so sánh luật học cũngđã được sử dụng trong quá trình nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thếgiới có liên quan đến mô hình cơ quan kiểm soát vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước, để đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân tích các vănbảnquy phạm pháp luật. Luận án đã sửdụng phương pháp thống kê, suy luận logic để đánh giá thực trạng các quy định hiện hành, để phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp tổng hợp, suy luận logic trong việc đưa ra các định hướng cũng như các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
1.3. Hướng tiếp cận của Luận án
Tác giả không chỉ hệ thống một cách đầy đủ nhất các công trình đã được côngbốnghiêncứuliên quanđếnpháp luậtvềkiểm soátvốntạicác doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước mà còn phân tích và kế thừa có chọn lọc các kết quảnghiên cứu của các công trình này.
Tácgiảđi sâu vào nghiên cứu các quyđịnhcủapháp luậtvềkiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các yêu cầu mới trong quá trình kiểm soát, các phương thức kiểm soát của các chủthể kiểm soát, qua đóchỉra những ưu điểm và nêu lên những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật cũng như trong quá trình áp dụng pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở Việt Nam.
Trên quan điểm, định hướng, đường lối phát triển và kế hoạch tái cấu trúc DNNN của Đảng và Nhà nước, luận án phải tập trung nghiên cứu, đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvềkiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong thời gian tới.
Kết luận chương 1
Từ việc nghiêncứucác công trình khoa học trong và ngoàinướccó liên quanđếnluận án:“Phápluật vềkiểm soátvốntạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước” có thể rút ra một số kết luận sau đây:
1. Doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư 100% vốnĐiều lệ) không chỉ được thành lập và hoạt động ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Như vậy, sự tồntạicủa các doanh nghiệp này không do tính chất chínhtrịcủaNhànước quyếtđịnh(xãhộichủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa) mà do tình hình phát triển kinh tế – xã hội của các nước. Về cơ bản, phải có doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vì có những việc (hàng hóa, dịch vụ) tuy rất cần cho xã hội nhưng các doanh nghiệp tư nhân lại không làm vì vây, Nhà nước phải làm thay thông qua các doanh nghiệp do mình đầu tư 100% vốn.
2. Để bảo toàn, phát triển vốn của mình đã đầu tư vào doanh nghiệp, Nhànước nào cũng phải có biện pháp để kiểm soát quá trình quản lý, sử dụng vốn, tài sảnnày. Vì vậy, việc kiểm soátvốnnhà nước tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nướcluôn là vấnđềđược các nhà quản lý kinhtế quan tâmở các góc độ
khác nhau như quản lý kinh tế, tài chính, quản trị doanh nghiệp, cổ phần hoá…
3.Ở ViệtNam pháp luậtvề kiểmsoátvốn tạicác DNNN hiện còn nhiều bấtcập, hạn chế, do đó rất cần có một công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và có hệ thống, nhằm đánh giá khách quan, khoa học về thực trạng pháp luật kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà nhà nướcđầutư vốn 100%, từ đóxây dựng cơ sở lý luận, thựctiễn để đề xuấtnhững giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, góp phần nâng cao hiệuquả sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nói riêng.
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT VỐN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC
2.1. Khái quát về vốn nhà nước và kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
2.1.1. Khái niệm về vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp 100% vốn nhànước
2.1.1.1. Khái niệm vốn nhà nước
Lịch sửphát triểncủanhiều quốc gia cho thấy, không ít quốc gia đã đầu tư vào những ngành mà ngày nay người ta gọilà công nghiệp nặng, như khai khoáng, đóng tàu, luyện kim, giao thông và xây dựng các cơ sởhạtầng khác. Cácmỏkhai khoáng và công nghiệp luyện kim, công nghiệpđường sắtvà chế tạo máy ở Nhật Bản trong thế kỷ XIX khởi đầu cũng thường do Chính phủ Minh Trị đầu tư,dần dà mới được chuyển sang cho tư nhân. Quá trình này diễn ra theo xu hướng nhà nước sau khi đã can thiệp để nền công nghiệp phát triển đủ mạnh, sẽ từngbước rút lui dần. Tương tự như vậy, luyện kim, đóng tàu ở Hàn Quốc vàĐàiLoan thường cũngđược bắtđầu bằng sở hữu nhà nước. Kinh tế công cộng cũng đã là động cơ chủ đạo của nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng. Đườngdâyđiệnthoạiđầu tiên của thế giớinốiBaltimore với Washington năm 1842 là do chính phủ liên bang đầu tư. Tòa án cho phép chính phủ liên bang can thiệp mạnh mẽ vào quan hệ thương mại giữa các bang, khuyến khích những nền công nghiệp hạ tầng (đường sắt, tàu điện ngầm), giám sát nền tài chính. Nói tóm lại, nhà nước có một vai trò trung tâm trong việctạora tăng tưởng kinh tế ở những quốc gia phát triển này [15].
Chỉcó điều, vượt trước các nước nghèo hàng trăm năm trong xây dựng công nghiệp, các quốc gia giàu có ngày nay đã bước vào một giaiđoạn mới để có thể địnhnghĩa lạivai trò của nhà nước trongmộttrậttự kinhtế mang tính cạnh tranh cao. Điều trớ trêu là, sau khi đã trở nên giàu có, Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển khác thúc ép tư nhân hóa,hạnchếsựcan thiệpcủanhànước vào các lĩnh vực kể trên như bưu điện, đường sắt, đường bộ, hàng không,
chođếncác cơsởcungcấpđiện, nước,viễn thông… Khôngchỉthúcđẩytư nhân hóa trong phạm vi quốc gia, những nước giàu có này còn thúc đẩy tư nhân hóa trên quy mô toànthếgiới,mở đườngcho các công ty đa quốc gia củahọ
từngbước mua cổphần trong các ngànhhạ tầngở nhữngnước nghèo, từ viễn
thông, ngân hàng, tài chính chođếngiao thông… Nghịch lý này đang là một nguyên nhândẫnđếnlàn sóng phảnđốitoàn cầuhóa, phảnđốiviệc biếnnước nghèo thành “thuộc địa kiểu hiện đại của tài phiệtquốc tế”.
Do đó, có thể thấy, để thúc đẩy nền kinh tế, nhà nước đóng vai trò là một nhà đầu tư lớn, đầu tư vào những lĩnh vực không chỉ cần sốlượngvốn lớnmà tưnhân không thể đảm đương mà còn là những ngành thiết yếu, quan trọng tới xây dựng cơ sở hạ tầng, nền tảng của công nghiệp hiện đại. Vai trò này của nhà nướcở những quốc gia đang phát triển như Việt Namlạicàng được thấy rõ. Để đầu tư được,nhà nước sử dụng vốn nhànước.Như vậy, có thể hiểu chung nhất, vốn nhà nước là nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước.
Trong hệ thống pháp luật nước ta, sau khi khảo cứu, có thể thấy khái niệm vốn nhà nước nói chung và vốn nhà nước đầu tư vào DNNN nói riêng được quyđịnh tạinhiều văn bản khác nhau. Để phục vụ nghiên cứu, tác giả luận án khảo cứu cảnhững văn bản vừamới hếthiệu lực tới những văn bản vừa có hiệu lực, cụ thể là Luật Đầu tư 2005, Luật Đấu thầu 2013, Luật Đầu tư công 2014 và Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014. LuậtĐầutư 2014 không quyđịnhvềkiểm soátvốnnhà nước đầutư tại doanh nghiệp vì đã có sự phân biệt đầu tư kinh doanh và đầu tư công theo LuậtĐầu tư công 2014.
(i) Theo Luật Đầu tư 2005,tạiKhoản 10 Điều 3 đưa ra định nghĩa:“Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhànước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước”.
Địnhnghĩa và cách diễn giải này giới hạn trong phạm viđiều chỉnh của Luật Đầu tư 2005, liên quan đến các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước, trongđó bao gồm cả việc đầu tư vào các DNNN.
Cả LuậtĐầu tư 2005 và LDN 2005 đều quy định các nguồn vốn rất rộng, đa dạng mà một nhà đầu tư có thể góp vào để đầu tư một dự án, thành lập hoặc sở hữuDoanh nghiệp, tựu trung baogồmtiền, tàisảnvà các quyền tài sản. Nhưng khitrởthànhvốncủa doanh nghiệp thì phảiđược địnhgiá thành tiền,được xácđịnh tạithời điểmgóp vốn và ghi nhận vào sổ sách tài chính của doanh nghiệp. Cần phải làm rõ như vậy trong trường hợp nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sửdụng đấthay quyền khai thác tài nguyên. Giá trị quyền tài sảnđó khi góp vốn được quy ra bằng tiền để xácđịnh tỷ lệ sở hữu của nhà nước
theo vốn điều lệ của doanh nghiệp.Ở một thời điểmsau đó, khi giá trị các quyền tàisảnnày tăng lên theo giá trị thị trường thì đương nhiên tỷ lệ sởhữu vốn điều lệ hay cổphần của nhà nước không vìthếmà tăng lên. Ngoài ra, khi quy mọi khoản“vốnnhà nước góp vào doanh nghiệp ra giá trịbằng tiền, trong mỗi DNNNsẽ không còn các hiệnvậtđượccoi là “tàisảnnhànước”mà là tài sản của doanh nghiệp. Xác địnhnhư vậysẽ làm tăng tínhtự chủcủa DNNN trong việc sử dụng và định đoạt tài sản trong quá trình kinh doanh.
Ngoài ra, cần thấy rằng, theo quy định tại Khoản 10 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 thìvốnnhà nước còn baogồmcảvốntín dụng do nhà nước bảolãnh vàvốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nướctạimột dự án đầutư. Theo “logic”, có thể quan niệm như vậy, nhưng từ góc độ doanh nghiệp,vốn đầu tư phảiđược phân biệt rõ giữa“góp vốn điều lệ”(để hình thành quyền sở hữu) và đầu tư vốn dưới các hình thức khác.
(ii) Theo Luật Đấu thầu 2013 (Khoản 44, Điều 4) thì Vốn nhà nước bao gồm:vốnngân sách nhànước;công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức,vốnvay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảođảmbằng tàisảncủanhà nước; vốnđầutư phát triển củaDNNN; giátrịquyền sử dụng đất.
Quá trình thực hiện quản lý hoạtđộngmuasắmsử dụng nguồnlựccủa nhà nước cho thấy, vấn đề quản lývốnnhà nước chặtchẽvà hiệu quả là một trong những nhiệmvụquan trọngđốivới mỗiquốc gia, không phải riêng của một Bộ, ngành, địa phương hay một doanh nghiệp nào. Xuất pháttừ thựctế nêu trên, LuậtĐấuthầu năm 2013 đã được xây dựng với tư cách là luật chung, phápđiển hóa các nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về hoạtđộng đấu thầu, khắcphục những mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một lĩnh vực và bảo đảm tính thống nhất, minh bạchcủa hệ thống luật phápvề đấu thầu. Điều này phùhợpvới yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn vốn của nhà nước.
Như vậy, việc định nghĩa khái niệm“vốn nhà nước”trong LuậtĐấu thầu năm 2013 nhằm phân biệt với các khái niệm liên quan đến sử dụng nguồnvốn
của nhà nước như “vốnngân sách nhà nước”,“vốnđầutư công” …Theođó,
khái niệm“vốn nhà nước”trong Luật Đấu thầu năm 2013 có tính chất bao trùm toànbộviệc mua sắm,sửdụng nguồnvốnnhànước,có phạm vi rộng và bao quát hơnrấtnhiều. Ngoài ra, khái niệmvốnnhà nước trong LuậtĐầu tư công
hay Luật Ngân sách nhà nước… chỉ là khái niệm được sử dụng riêng biệt trong một phạm vi, một lĩnh vực nhất định, do đó nội hàm của nó hẹp hơn so với LuậtĐấu thầu cũng là chuyện đương nhiên. Các khái niệmvề vốn nhà nướcnêu trên chỉ được tácgiả luận án tham khảo khái niệm trên chứ không đi sâu phân tích vìnằm ngoài phạm vi nghiên cứu của Luận án này.
(iii) Theo LuậtĐầu tư công 2014 (Khoản 21, Điều4) thìVốnđầutưcông gồm:vốnngân sách nhànước,vốncông trái quốc gia, vốntrái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cânđốingân sách nhànước,các khoảnvốnvay khác củangân sáchđịa phương để đầu tư.
Với khái niệm này, vốn đầu tư công bao quát được hầu hết các nguồn vốnđầu tư của nhà nước, không chỉ liên quan đến các hoạtđộng đầu tư trựctiếp từnguồn vốn ngân sách nhà nước mà còn liên quan đến các hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn khác có tính chất nhà nước như vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA cho vay lại, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh… Quy định như trêncó sựphối hợpchặt chẽ với các luật khác và cụthể không trùnglặpvới các quyđịnhtại Luật Đầu tư 2014 (đầu tư kinh doanh), nhưng không bao quátphần vốn đầu tưcủa khuvựcDNNN. Luật quản lý, sử dụngvốnnhà nước đầutư vào sảnxuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 quy định các dự án sử dụng nguồn vốn này.
Tóm lại, với những phân tích trên, có thể thấy khái niệmvốnnhà nướcđược quyđịnhtạinhiều vănbảnnhưngđềucónộidung thống nhất bao gồm nguồn vốn từ ngân sách, và các nguồn vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh.
LuậtĐầutư 2005 trước đây quy định cả đầu tư kinh doanh vốn nhà nước. Cụthể, chương VII của Luật nàyđãcó quy địnhvềviệcđầutư vốn nhà nước vào tổ chức kinh tế thông qua SCIC (Điều 68). Tuy nhiên, thực tế trong 10 năm qua, theo phân công, phân cấp của Chính phủ thì cơ quan thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụcủa chủsở hữu vốnnhà nước đầutư tạidoanh nghiệp là:Thủtướng Chính phủ; Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh; Hội đồng quản trị (nay làHội đồng thành viên), Chủ tịch công ty theo quy định tại Nghị định số
132/2005/NĐ-CP; Nghị định số 86/2006/NĐ-CP; Nghị định số 25/2010/NĐ-CP và Nghị định số99/2012/NĐ-CP của Chính phủ. Do đó, quy định này không cótính khả thi. Và thựctế,LuậtĐầutư 2014 và LuậtĐầutư công 2014đã phânđịnh rõ phạm vi này.
Đối với LuậtĐầu tư công 2014, có quy định về khái niệm vốn nhà nước như đã phân tích ở trên nhưng phạm vi điều chỉnh của luật này là quản lý việcsửdụng vốn nhà nước đối với toàn bộ quá trình đầu tư sử dụng vốn nhà nướctừ lập kế hoạch đến thẩmđịnh, phê duyệt và giao kế hoặc đầu tư từ trung hạn và hàng năm theo các nguyên tắc, điều kiện lựachọn đốivới từng nguồnvốncụthểnhằm thực hiện các mục tiêu là các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hộicủa đấtnước, chống thất thoát, lãng phí; bảo đảmhiệu quả quản lýđầu tư
công… ngắngọnlà “chi tiêu, muasắm” củanhànước. Vì vậy, phạm viđiều chỉnh của Luật Đầu tư công 2014 không bao gồm việcđầu tư vốn nhà nướcvào Doanh nghiệp.
Do đó, đốivới phạm vi nghiên cứucủa Luận án, hiện nay, vănbảnchủyếu điều chỉnh trựctiếp vấn đề kiểmsoát vốn là Luật quản lý, sử dụng vốn nhànướcđầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014. Tại luật này,đã đưara những khái niệmvề vốnnhànướctạidoanh nghiệp, vốncủadoanh nghiệp do nhànước nắmgiữ100%vốnđiều lệ vàđầutưvốnnhànước vào doanh nghiệp. Những nội dung này được phân tích ở mục tiếp theo.
2.1.1.2. Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nhànước
Quan niệm về DNNN và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Ở hầu hếtcác nước trên thế giới, hiện nay đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước và do đó, đều có các cơ sở kinh tế của nhà nước hay còn gọi là DNNN. Sựtồn tạicủa DNNN bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu kinh tế – xã hội
và yêu cầu điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, hoạt động của các DNNN thường kém hiệu quả kinh tế hơn hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong điều kiện kinh doanh như nhau.
DNNN là những cơ sở sản xuất kinh doanh do nhà nước sở hữutoànbộhay phầnlớnvốntrong doanh nghiệp [14, tr.182]. Những doanh nghiệp này thuộc quyềnsở hữu của nhà nướchay cơbảnthuộc quyền sở hữu của nhà nước. Đâylà đặcđiểmquan trọng nhấtđể phân biệt DNNN với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường.
Tuy vậy, sự xác định giới hạn của DNNN ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau. Uỷ ban cộng đồng châu Âu xác định: DNNN là tấtcảcác doanh nghiệp mà nhà cầm quyền có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chếcổ phần hoặc các điều lệ quản lý đối với doanh nghiệp để gây ảnh hưởng có tính chất chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng [14, tr.183].
Năm 1956, khi nước Anh thành lập Uỷ banđặc biệtvề quốc hữu hoá công nghiệpđã quyđịnhcác DNNN phải cóđủ3điềukiện: (1)Hộiđồngquảntrịdoanh nghiệp do Chínhphủbổnhiệm; (2)Uỷban quốc hữuhoá công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp; (3) Thu nhập của doanh nghiệp phần lớnkhôngdựavàosự cungcấpcủa Quốc hộihoặc của các cơ quan tài chính nhà nước.Với quyđịnhtrên thìCụcđiện lựctrung ương, Cục thanđátrung ương, Cục bưu điện, Công tysắtthép, Ngân hàng Anh, Công ty hàng không Anh… đềulà các DNNN. Có thể nói, quan niệmvề DNNN (state own enterprise)ở đây được hiểuđồngnghĩa với doanh nghiệp công cộng (public enterprise) [14, tr.183].
Ở Pháp, DNNN được xác định là những doanh nghiệp thoả mãn đủ 3 điều kiện: (1) Tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ đó Chính phủ xác lập đượcđịa vị lãnh đạo của nhà nước đối với doanh nghiệp; (2) có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống như các doanh nghiệp pháp nhân khác; (3) thực hiện các hoạtđộngcông thươngđộc lập, cóhạch toánlỗlãi chứ không phải là đơn vị hành chínhsự nghiệp của Chínhphủ[14, tr.185].
Các nước như: Thụy Điển, Phần Lan, Braxin, Mêhicô…đều xácđịnh các doanh nghiệp, trong đó nhà nước chiếm trên 50% vốn là DNNN. Còn Ấn Độ, tất cảcác doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trong các ngành công nông nghiệp và các ngành dịchvụtính thành giá được, do Chính phủ là ngườisở hữu chủyếu đều thuộc DNNN, hay còngọilà xí nghiệp công doanh. Chínhphủở đâycóthểlàChính phủ trung ương, cũng có thể là chính phủ địa phương [14, tr.186].
Hiện nay, trong bộ Hướng dẫn của OECD về quản trị công ty, thuậtngữ“DNNN” được dùng để chỉ các doanh nghiệp mà nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hay thiểu số quan trọng [55].
Qua tham khảo những quan điểm trên, theo tác giả, góc nhìn của OECD về DNNN là chính xác và bao quát nhất, bởi quan trọng không phảisốlượng vốn mà nhà nước nắm giữ là bao nhiêu, mà là ở quyền kiểm soát của nhà nước
đối với doanh nghiệp đấy, để từ đó có thể điều tiết được nền kinh tế thông qua hoạt động của những doanh nghiệp này.
Hệ thống DNNN ở Việt Nam đã có một quá trình xây dựng và phát triển lâu dài. Trong thờikỳkháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhà nướcta với mục tiêu tìm kiếm nền tảng kinh tế để phục vụ kháng chiến và dân sinh đã thành
lập các doanh nghiệp để hoạt động sản xuất, kinh doanh trong hầu hết các ngành nghề và lĩnh vực. Những doanh nghiệp này sản xuất theo kế hoạch nhà nước đặt ra,được nhà nướccấpvốn, lãi haylỗđềudo nhà nướcchịu. Hệthống doanh nghiệp này do nhà nướcđầutư 100% vốnvà vìvậyNhà nước có toàn quyền quản lý, điều hành. Như vậy, doanh nghiệp 100% vốn nhà nướcđã xuất hiện từthờikỳđầuxây dựng nhà nướcViệt Nam DânchủCộng hoà vàđược gọi với những tên gọi khác nhau qua từng thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước.Điều đó được thể hiện qua các quy định của pháp luật.
Năm 1948, Chủtịch HồChí Minh ban hành Sắc lệnhsố104, theo đó, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia.
Sau khi dành được độc lập, các doanh nghiệp quốc gia (sau này được đổi thành xí nghiệp quốc doanh)được hình thànhtừba nguồn chính: (i)từcác xínghiệp tư bản ngoại quốc đã quốc hữu hóa, (ii) từ nguồn vốn viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và cácnước XHCN khác và (iii)từnguồnvốntích lũy trong
nước, trong đó có việc sáp nhập tài sản của các công ty công – tư hợp doanh. Trừcác doanh nghiệp được tiếp quản từ chế độ thực dân, những DNNN lớn của Việt nam, về cơ bản, được thành lập trong những năm 50 của thế kỷ XX.
Không thể nghi ngờ về vai trò to lớn của các xí nghiệp quốc doanh và cơ chếkinhtếkếhoạch hóa tậptrung trong việc phân phối các nguồn lực kinhtếtrong thời chiến tranh, song trong thời hòa bình, cách quản lý này đã mau chóng trởnênlỗithời [19]. Đểphùhợp vớitình hình kinhtế- xã hội trong giaiđoạn
mới, đến năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 388 – HĐBT về Quy chế thành lập và giải thể DNNN và đặc biệt là đến năm 1995, Quốc hội đã ban hành Luật DNNN.
Điều1 Luật DNNN 1995địnhnghĩa DNNN như sau: DNNN làmộttổchức kinh tế do nhà nướcđầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạtđộngcông ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xãhội do nhà nước giao.
DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụdânsự,tựchịu trách nhiệmvềtoàn bộhoạtđộngkinh doanh trong phạm visốvốndo doanh nghiệp quản lý.
Như vậy, kể từ khi có DNNN đến trước thời điểm Luật DNNN 2003 được ban hành, DNNNđược hiểu là doanh nghiệp do nhànước sởhữu toàn bộ100% vốn điều lệ.
Sau khi Luật DNNN 2003được ban hành và có hiệulựcthìlạicó cách hiểu khác về DNNN. Đó là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộvốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhànước, công tycổphần, công ty trách nhiệmhữuhạn. Ngoài ra, trong thờikỳnày, DNNN không chỉ là những doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điềulệmà còn là những doanh nghiệp cócổphần, vốngóp chi phối của nhà nước, có nghĩa là nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ.
Với mục tiêu tạo lập khung khổ pháp lý áp dụng thống nhất theo loại hình doanh nghiệp không phân biệt hình thức sởhữuvà đổimớicơchếquảntrịDNNN theo nguyên tắc thịtrường và thônglệquốc tế, LDN 2005đã thểhiện tinh thần khái niệm DNNN không để chỉ một hình thức pháp lý về tổ chức kinh doanh mà chỉ thể hiện vấn đề sở hữu của nhà nước trong vốn điều lệ của doanh nghiệp và điềuđósẽchi phối việc kiểm soát của nhà nước trong những doanh nghiệp này. Theo LDN 2005, DNNN là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Điều 4).
Như vậy, đã xuất hiện tình trạngtồntạisong hành Luật DNNN 2003 vàLDN 2005. Trongđiềukiện Việt Nam thực sựmuốn hòa mình vào tiến trình
toàn cầu hóa (gia nhập WTO, chủ trì hàng loạt hội nghị quốc tế…) thu hút đầu tưnước ngoài mạnh mẽ thì không thể tồn tại 2 đạo luật để điều chỉnh các chủ thểkinh doanh trên thị trường. Vì vậy, để thống nhất “sân chơi” – một trong nhữngđòi hỏi của WTO trong tiến trình đàm phán gia nhập tổ chức này, ngay tại LDN 2005đã có quyđịnhvềlộtrình chuyểnđổicông ty nhà nước.Theo đó, sau 4 nămkểtừ1/7/2006 (LDN 2005 có hiệu lực), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc CTCP theo quy định của LDN 2005. Tiến trình chuyển đổi này, đặc biệt là việc cổ phần hóa DNNN đã được Nhà nước ta tiến hành một cách nghiêm túc nhưng do thiếu quyết tâm cũng như do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan
khác nên công việc quan trọng này tínhđếnnayvẫnbịgiới chuyên gia cho làđược triển khai quá chậm, không đạt mục tiêu và kế hoạch đã đặt ra [44].
Dựliệuđược tình hìnhđó,tháng 3 năm 2010 (chínhphủđã ban hành Nghịđịnh25/2010/NĐ-CP thaythếcho nghịđịnh95/2006/NĐ-CP vềchuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Theođó, các công ty nhà nước sau khi chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải tiếp tục chuyển thành công tycổphần theolộtrìnhđược ThủtướngChính phủ phê duyệt (Khoản 3 Điều 4 Nghị định 25/2010/NĐ-CP). Tiến trình cổ phần hóa vẫn đang tiếp tục triển khai với nhiều khó khăn trên thực tế.
Trong quá trình xây dựng LDN 2014, Cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Kếhoạch và Đầu tư đã nêu rõ những bất cập của LDN 2005 về DNNN, và để khắc phục các hạn chế này, LDN 2014 dành hẳn một chương để quy định về DNNN với nhiều sự thay đổi đáng kể so với LDN 2005. Khoản 8 Điều 4 LDN 2014 quyđịnh:DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo quyđịnh tại chương 2, LDN 2014 thì DNNN chỉ tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. DNNN có thể bao gồm: công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty nhà nước theo cơ cấu công ty mẹ – công ty con; công ty độc lập không thuộc cơ cấu công ty mẹ- công ty con.
Như vậy, qua gần 20 năm, quan niệm về DNNN theo LDN 2014 lại tươngđồng với khái niệm DNNN trong Luật DNNN 1995 và trong Quy chế thành lập
và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 388 – HĐBT ngày 20/11/1991. Tuy nhiên, với quan niệm như vậy, cách hiểu về DNNN hiện hành của nước ta lại khác với cách hiểu về DNNN ở nhiều nước trên thế giới. Đa sốcác nước quan niệm rằng, DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước nắmgiữtrên 50% vốn điều lệ như đã phân tích ở phần đầu của tác giả.
Đặc điểm của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có những đặc điểm sau:
Thứnhất, đặc điểmvềsởhữu: Doanh nghiệp này, như đã thểhiện ngay trong têngọicủanó là doanh nghiệp do nhà nước sởhữutoànbộvốnđiềulệ. Nói cách khác, những doanh nghiệp này do nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệđểthành lập. Như vậy, đặc điểmquan trọng của doanh nghiệp 100% vốnnhànước là vốncủa doanh nghiệp thuộc sởhữu củamộtchủ(Nhà nước)và nósẽmang những đặc điểm của công ty một chủ.
Thứhai, đặc điểmvềquyền quyếtđịnhđốivớidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước: Vì doanh nghiệp này do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ nên với tư cách chủ sở hữu, nhà nước có toàn quyền quyết định các vấn đề về tổ chức vàhoạt động của doanh nghiệp như phạm vi hoạt động, đối tượng, ngành nghề kinh doanh, kế hoạch hóa sản xuất, kinh doanh, vấn đề nhânsự và đặc biệt là vấn đềchuyển đổi chủ sở hữu theo hình thức bán DNNN.
Thứ ba, đặc điểm về hình thức tồn tại: Hiện nay, theo LDN 2014, DNNN sở hữu 100% vốn điều lệ tồn tại dưới các hình thức như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công tymẹ- công ty con; Công ty trách nhiệmhữuhạnmộtthành viênđộc lập do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Thứ tư, đặc điểm về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có đủ lãi để tồn tại và phát triển. Với tư cách là một pháp nhân thương mại (kinh doanh), doanh nghiệp này có tài sản riêng và phải và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nói cách khác, mặc dù do Nhà nước thành lập bằng tàisảncủa mình nhưng Nhà nước và doanh nghiệp 100% vốnnhà nước là các chủthểpháp lýđộc lậpvớinhau. Nhà nước không có trách nhiệmtrảnợthay cho doanh nghiệp do mình sở hữu 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp này cũng không chịu trách nhiệm thay cho Nhà nước đối với các nghĩa vụ tài sản mà Nhànước có với các chủ thể khác.
2.1.1.3. Vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Hiện nay, theo LDN 2014, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tồn tại duới mô hình công ty TNHH 1 thành viên là nhà nước.Trước khi phân tích về quátrình đầu tư và nguồn tàisảnhình thành nên vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 100% vốn nhà nước,cầnphảithấy rõ đượcbản chất của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp nói chung.
Trong doanh nghiệp, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tàisảnmà doanh nghiệpsử dụng trong kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Dựavào các tiêu chí khác nhau mà vốnkinh doanhcủadoanh nghiệpđược phân chia thành các loại khác nhau.
– Căn cứ theo hình thái biểu hiện, vốn kinh doanh có thể được phân chia thành vốn hữu hình và vốn vô hình. Vốn hữu hình được biểu hiện thành các hình tháicụthể, như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiệnvậntải, nguyênvật
liệu… Vốn vô hình không có hình thái biểu hiện cụ thể, như giá trị thương hiệu, bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết kinh doanh.
– Căn cứ vào đặc điểm tuần hoàn vốn, vốn có thể được chia thành hai loại:
vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định là bộ phận vốn đầutư ứng trước về tài sảncố định. Vốn lưu động là sốtiền ứng ra để hình thành tàisảnlưu động của doanh nghiệp.
Để các hoạtđộng kinh doanh được diễn ra bình thường, doanh nghiệp cần phải có đủ vốn. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được khai thác, huy động từcác nguồn khác nhau. Với mộtdoanh nghiệp thì nguồn vốn kinh doanh là toàn bộ nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định.
– Căn cứ theo hình thức sở hữu về vốn, vốn của doanh nghiệp có thể được hình thành từ nguồn sau:
+ Nguồnvốnchủsởhữu là nguồnvốnthuộc quyền sở hữucủa doanh nghiệp, bao gồm khoản vốn do chủ sở hữu của doanh nghiệp trực tiếp đầu tư vàlợi nhuận để lại. Tùy theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn do chủ sởhữuđầutư có nộidung khác nhau:vốntừ ngân sách nhà nước (một dạng vốn nhà nước)trong DNNN, vốnđầutư từ tàisảnriêng của các chủdoanh nghiệp dân doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công tycổphần. Lợi nhuận để lạilà phần lợi nhuận do doanh nghiệptạora không phân chia cho các chủ sở hữu, được để lại để tái đầu tư vào doanh nghiệp.
+ Nguồnvốnnợ: các khoảnvốnđược hình thànhtừ việc đi vaynợ bên ngoài như vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, vayngườithân, bạn bè, và các khoảnvốnchiếm dụng (nợ ngân sách, nợ khách hàng, nợ bảo hiểm xã hội, nợcánbộnhân viên). Các khoảnnợ là các khoản vốnkhông thuộc sở hữucủa doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng, định đoạtđối với tàisảnmàkhông có quyền chiếm hữuvề vốn.
– Căn cứvào phạm vi huyđộng,vốncó thể phân chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.
+ Nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn điều lệ vànguồn vốn tự bổ sung.
Nguồnvốnđiềulệ:đây là sốvốndo các chủsở hữu doanh nghiệp đóng góp và ghi vào điều lệ của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tự bổ sung: chủ yếu là doanh nghiệplấymột phần từ lợi nhuận sau thuế, tiền khấu hao tàisảncốđịnh, từquỹđầutư phát triển, dự phòng tài chính.
+ Nguồnvốnbên ngoài baogồmnguồnvốnliên doanh, liên kết, nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn huy động từ thị trường vốn.
Cách phân loại nàychủyếucho thấy việc xem xét huyđộngnguồnvốnđối với các doanh nghiệp đang hoạtđộng. Đặcđiểmcủa nguồn vốn bên trong làđược huy động từ chính bản thân doanh nghiệp nên nó có ý nghĩa hếtsứcquan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời nó phát huy được tínhchủđộngtrongsử dụngvốnmà không bị ràng buộc bởi thời gian đáo hạn. Đối với nguồn vốn huy động bên ngoài, ưu điểm là tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tài chính linh hoạt hơn, nếu như hoạtđộng sảnxuất, kinh doanh có hiệu quả thì việc huy động vốn bên ngoài sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhanh hơn.
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể thấy, đối với doanh nghiệp 100% vốnnhà nước thìvốnnhànước tạidoanh nghiệp chính là phầnvốnnhànướcđemđầutư vào doanh nghiệp có nguồn gốc banđầutư ngân sách nhànước.Đây là một bộphận quan trọng cấu thành vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Nhà nước đầutư vốnnhà nước vào doanh nghiệp 100% vốnnhà nước bằng các hoạt động cụ thể sau:
– Sử dụng một phần vốn ngân sách để cấp vốn điều lệ cho doanh nghiệp thông qua việc thành lập mới hoặcbổsungđểtăngvốnđiềulệ của doanh nghiệp;
– Giao tàisảnvà/hoặc các quyền tài sản, vídụnhư giao quyềnsử dụng
đất, quyền khai thác tài nguyên, cơ sở hạtầng… cho doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, đượctính vào vốn điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc thông qua dự án do doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện;
– Cho vay hay tài trợ chính sách, ví dụ như yêu cầu ngân hàng thương mại cho vaybắtbuộc đốivới doanh nghiệp 100% vốnnhà nước,cho vay từ Ngân hàng, Quỹđầutư phát triển, hỗtrợ doanh nghiệp với lãi xuất ưu đãi, bảolãnh nhà nước đối với các khoản vay thương mại, yêu cầu các ngân hàng thương mại
khoanh nợ, giãn nợ hoặc xóa nợ bắt buộc, giảm thuế và miễn thuế hay các khoản
phải nộp ngân sách, trả nợ thay…
Hiện nay, theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vàosảnxuất, kinh doanhtạidoanh nghiệp, (Khoản 3Điều3) thì“Đầutư vốn nhànước vào doanh nghiệp là việc nhànước sửdụngvốntừngân sách nhànước hoặc vốn từ các quỹ do nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp.”
Theo quy định tại Khoản 8, Điều 3 thì: “Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhànước;vốntừquỹđầutư phát triển tạidoanh nghiệp, quỹ hỗtrợ sắpxếp doanh nghiệp;vốntín dụng do Chínhphủbảolãnh, vốntín dụngđầutư phát triển của nhà nước và vốn khác được nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.”
Như vậy, theo quyđịnhhiện hành này,vốnnhà nước đầutư vào doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có một số điểm đáng lưu ý, đó là:Vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp góp phần hình thành doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạtđộng; Là nguồn vốn công, có thể đầu tư vì mục tiêu lợi nhuận hoặc công ích; Tỷlệ vốn nhà nướcđầutư tương ứng với quyền của nhà nước trong DNNN. Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì quyền của nhà nước đối với doanh nghiệp là tuyệtđối, trọn vẹn, không phân chia, nghĩa là nhànước có toàn quyền quyếtđịnh đối với mọi vấnđề quan trọng, phát sinh trong quá trình thiết lập hoạtđộng của doanh nghiệp nhànước;Vốnluôngắnvới chủsởhữu, nguồnvốndo nhànước đầu tư sẽ được nhà nước giao quyền sử dụng vốn cho người sử dụng, người sử dụng có trách nhiệm tiếp nhận, sử dụng hiệu quả và bị giám sát bởi nhà nước.
Khái niệm trên cũng đã làm rõ thêm được quy định tại Khoản 2 Điều 2, đólà: Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạnmộtthành viên do nhà nước nắmgiữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của Tổng Công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Vốn nhà nước chỉ đầu tư vào doanh nghiệp cấp I (công ty mẹ), do đó, chủsở hữucó quyền quyếtđịnh,có trách nhiệm quản lý và giám sátđốivới phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp cấp I. Không coi việc sử dụng nguồn vốn công ty mẹ đầu tư vào doanh nghiệp khác là vốn nhà nước đầu tư. Quan điểm này khác biệt với quanđiểmtạiNghịđịnh09/2009/NĐ-CP về quản lý tài chính DNNN.
Theo Nghị định này, cơ quan nhà nước có quyền can thiệp vào quản lý cả phần vốn góp của DNNN đã đầu tư vào doanh nghiệp khác.
Quan điểm được ghi nhận tại Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 là hoàn toàn hợp lý. Nhà nước chỉ là chủsở hữucủa phầnvốngóp ban đầuvào doanh nghiệp mà thôi. Liên quan đến doanh nghiệp khác được góp vốn hay thành lập sau đó, chủ sở hữu của phần vốn góp phải là DNNN với tư cách là pháp nhân độc lập và là chủ thể góp vốn, mà không phải và không thể là nhà nước được. Đây là vốn của DNNN chứkhông phải vốn của nhà nước nữa.
Để làm rõvấnđề vốncủa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014đã quyđịnhcụ thể tạiKhoản 9, Điều 3:“Vốncủadoanh nghiệp do nhànước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và vốn do doanh nghiệp huy động.”
Như vậy, có thể thấy, vốn của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được cấu thành bởi 2 bộ phận:
– Một là, vốn được cấp từ ngân sách, được cấp lần đầu khi mới hoạtđộng hoặcvốnđược cấpbổsung trong quá trình hoạt động. Ởđây, như phân tíchởtrên, bao gồm cả những nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách;
– Hai là,vốndo doanh nghiệp 100% vốnnhà nước tự tích lũy, tự huyđộng được như phần thu nhập sau thuế được giữ lạiđể táiđầu tư;huy động vốn vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính; vay của các tổchức, cá nhân trong và ngoàinước qua cáchợpđồngtín dụng, qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Nhà nước sử dụngvốnnhànước để đầutư phát triển kinhtế,xã hội nói chung bằng nhiều cách thức khác nhau (đầu tư công; đầu tư thông qua các Ban Quản lýdự án trực thuộc các bộ, ngành chức năng có liên quanđặcbiệt trong lĩnhvựcxây dựng cơsở hạ tầngkỹthuật của nềnkinhtế;đầutư từ ngân sách nhà nước để xây dựng cơ sở vật chất cho các hoạt động của các cơ quan quản lý
nhà nước và tổ chức hành chính – sự nghiệp…). Một trong những cách thức đó lànhà nước sử dụngmộtphầnvốnNhà nước để đầutư vào DNNN và đặcbiệt doanh nghiệp 100% vốnnhà nước. Những hoạtđộngđầutư vốnnhà nước cho hoạtđộngkinhtế nhất thiết phảihướngtớiquản trịhiệu quả, dođócầnđược triển khaimộtcách thống nhất thông qua các chủthểlà doanh nghiệp. Doanh
nghiệp chính là chủthể tiếp nhậnđầutư vốnnhànước,đặcbiệt là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước mà tác giả luận án lựa chọn để nghiên cứu.
2.1.2. Khái niệm kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước 2.1.2.1. Khái niệm kiểm soát
Thông thường, “Kiểmsoát”,“Kiểmtra” thường mangýnghĩa tiêu cực,
như kiềm chế, thúc ép, địnhranh giới, theo dõi…. Tuy nhiên, kiểm soát là cần
thiết và hữu ích. Kiểm soát hiệu quả là một trong số các bí quyết để gia tăng lợi nhuận của các công ty lớn.
Kiểm soát làmộtchức năng mà mọinhà quản lýđềuphải thực hiện dùrằngkếtquảcông việc của cácbộphận dohọquản lýđềuđạtđúng theokếhoạch đề ra. Nhà quản lý không thể xácđịnh mứcđộ hoàn thành công việc của bộ phận nếukhông đo lường được việcđã thựchiện và so sánh với tiêu chuẩn. Kiểm soát còn giúp các nhà quảntrịnhận thấy những khiếm khuyết tronghệthống của tổ chức, trên cơ sởđó có thể đưara những quyết định điều chỉnh kịp thời.Mặtkhác, các hoạtđộngkiểm soátđảmbảo chosự tồntạivà duy trì tính hiệu quả của mỗicá nhân, mỗinhóm, mỗibộphận và tổchức. Mộthệ thống
kiểm soáthữuhiệu sẽ thúc đẩyvà cho phép mỗibộphậntự kiểm soát hơn là chịusự kiểmsoáttừ ngườikhác. Chính sự tự giác sẽ giúp công việcđược hiệu quả hơn.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì kiểm soát là xem xétđể phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định (đồng nghĩa với kiểm tra) vàđặt trong phạm vi quyền hành của mình.
Như vậykhái niệm kiểm soát rộng hơn kiểm tra và quản lý. Hoạtđộng kiểm soát khôngđơnthuầnchỉlà việc kiểm tra, ngăn chặn phát hiện những vi phạm mà kiểm soát còn là một trong các chức năng của quản lý điều hành.
Ngoài ra, Kiểm soát còn làmộttiến trìnhgồmcác hoạtđộnggiám sát nhằm đảm bảo rằngcác hoạtđộngđó đượcthực hiện theo đúng nhưkếhoạch và điềuchỉnh những sai sót quan trọng. Mộthệ thống kiểm soát hiệu quả phảiđảmbảo rằng, các hoạt động được hoàn thành theo đúng những phương pháp màcó thể đạt được như mục tiêu của tổ chức đề ra.
2.1.2.2. Một số loại kiểm soát (i) Kiểm soát phòng ngừa
Kiểm soát phòng ngừa, còngọilà kiểm soátlườngtrước hay kiểm soát trước khi thực hiện. Hoạtđộngkiểm tra trước khi hoạtđộngxảyra, bằng cách
tiên liệu những vấn đề có thể xảyra để có những biện phápđiều chỉnh ngay trong hiện tại. Kiểm soát phòng ngừa giúp cho tổ chức thực hiện kế hoạch chính xác, dự liệu được những vấn đề có thể ảnh hưởng từ thời điểmlên kế hoạch chođến lúc thực hiện. Kiểm tra lường trước dựa vào dự báo, dự đoán về sự biến đổi của thịtrường, các yếutốliên quan. Loại kiểm soát này mang tínhđịnh hướng tương lai.
Điểmquan trọngcủakiểm soát này là đưara những hoạtđộngquảntrịtrước khimộtvấnđềxảyra. Kiểu kiểm soát nàyđược mong muốn vì nó cho phép nhà quản trị ngăn chặn vấn đề chứ không phải là khắc phục sau khi những tổn thất đã xảy ra, như sản phẩm kém chất lượng, mất khách hàng, giảm doanh
thu,…
Tácđộngcủa kiểm soátlườngtrước là giúp cho các doanh nghiệp chủđộng đối phó với những bất trắc trong tương lai và chủ động tránh sailầmngay từ đầu. Đây làhình thức ít tốn kém nhất.
Tuy nhiên, kiểu kiểm soát này muốn thành công,đòihỏiphải có nhiều thông tin chính xác, do đó, mấtrấtnhiều thời gian và tốn kém thì mới thực hiệnđược. Vì vậy mà các nhà kiểm soát hay sử dụng 2 loại kiểm soát còn lại.
(ii) Kiểm soát tại chỗ
Kiểm soáttạichỗ được áp dụng khi một hoạtđộng đang đượctiến hành, các nhà quản trị có thể khắc phục những vấn đề mới phát sinh, trước khi chúng trở nên quá tốn kém. Hoạtđộng kiểmtra bằng cách theo dõi trực tiếp những diễn biến trong quá trình thực hiệnkế hoạch, mục tiêu là nhằmkịpthời tháogỡ những vướng mắc, những trở ngại khó khăn khi thựchiện để đảmbảo tiến độ dựkiến.
Dạngphổbiến nhất của kiểm soáttạichỗlà giám sát trực tiếp. Khi một nhà quảntrịtrực tiếp theo dõi hoạtđộngcủa nhân viên, nhà quảntrịđócóthểvừakiểm tra vừa khắc phục khi vấn đề xảy ra.Mặcdù chắc chắn có sự chậm trễ giữa hoạtđộngvà phản ứngđể khắc phục của nhà quảntrịnhưngsựchậmtrễnày là rất ngắn.
Tuy nhiên, dạng kiểm tra nay chỉ có hiệu quả khi các nhà quản trị có được thông tin chính xác, kịp thời về những thay đổi của môi trường và về hoạtđộng.
(iii) Kiểm soát phản hồi
Kiểm soát phản hồi là loại kiểm soátđượcthực hiện sau khi hoạtđộng đãxảy ra.
Kiểm soát phản hồi có 2 ưu điểm hơn hẳn kiểm soát lường trước lẫn kiểm soát đồng thời. Đó là, cung cấp cho nhà quản trị đầy đủ thông tin về những hiệu quả của nổ lựctrong việc lập kế hoạch của họ. Cung cấp thông tin cần thiếtđểlập kế hoạchhữuhiệu trong giaiđoạnhoạch địnhcủa quá trình quản trị. Nếu kiểm soát phản hồi chỉ ra rằng, không có nhiều sai lệch giữa kết quả đã thực hiện và tiêu chuẩn (hoặc mục tiêu)cần đạtđược thì điều này chứng tỏ công tác hoạchđịnh hữu hiệu. Ngược lại, sự phát hiện có nhiều sai lệch sẽ giúp nhà quản trị rút kinh nghiệm để đưa ra những kế hoạch mới tốt hơn.
Mặcdù vậy, loại kiểm soát này có hạn chế là độtrễvềthời gian thường khá lớn, từ lúc sự cố thựcsự xảyra đến khi phát hiện sai sót hoặc sai lệch của kếtquả đolườngcăncứvào tiêu chuẩn haykế hoạch đã đề ra. Nhưngđốivới nhiều hoạtđộng sựphản hồi chỉ là một hình thức tin cậy sẵn có.
Như vậy, kiểm soát có thể được hiểu là việc nhà quản lý xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Kiểm soát là mộttrong các chức năng của quản lý, có tác dụng giúp nhà quản lý điều chỉnh các hoạtđộng thựctế theo kế hoạch dự kiến, từ đó hiện thựchoá đượccác mục tiêu đã xác định. Các
tập đoàn kinh tế có qui mô lớn, phạm vi hoạt động phân tán, tính chất hoạtđộng của các đơnvịthành viên có thể rấtđa dạng, phức tạp, dođó,sai phạm trong hoạtđộng thựctế tạicác đơn vị thành viên có thể dễ nảy sinh, chậm hoặc khó bịphát hiện và điềuchỉnhkịpthời dẫn,đếnrủiro cao trong việc khôngđạtđược mục tiêu, chiến lược và kế hoạch đã đặt ra của tập đoàn nói chung. Trong hoàn cảnh như vậy, kiểm soát được coi là hoạtđộng rấtthiết thực và hữu hiệu đối với nhà quản lý các tập đoàn kinh tế.
Việc kiểm soátvốnnhà nước tạicác doanh nghiệp 100% vốnnhà nước xuất pháttừ đặctính của chủ sở hữu. Chủ sở hữu “bỏ vốn” vào các doanh nghiệp thì phải kiểm soát phần vốn nàytạicác doanh nghiệp, đây là quyền tự nhiên, tất yếuvà được pháp luật thừa nhận. Mặtkhác, các doanh nghiệp 100% vốnnhànước nắmgiữ một nguồn vốn nhà nước lớn, việc sử dụng các nguồn vốn này cóảnh hưởng đếnsựphát triển cảcảnềnkinhtế,thậm chí là an ninh quốc phòng của đất nước.
Tuy nhiên, việcsử dụng không hiệu quả vốnnhà nước tạicác doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước trong thời gian qua là rất rõ; tình trạng đầu tư dàn trải, khôngtậptrung vào ngành nghề kinh doanh, đầutư vào những lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro và không thuộc thế mạnh như bất động sản, chứng khoán, ngân
hàng…đã dẫn đến việc rấtnhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gây thất thoát vốn nhà nước, làm suy giảm kinh tế, thậm chí làmmấtniềm tin của nhân dân vàosựlãnh đạo của Đảng. Vì vậy, việc kiểm soát vốn nhà nướctạicác doanh nghiệp có100% vốn nhà nước là rất cần thiết.
Việc kiểm soát vốn nhà nước tại các DNNN không chỉ đặt ra đối với Việt Nam mà còn được đặtra đối với các nước trên thế giới. Tùy theo phương thức kiểm soát , quản lý vốn mà trên thế giới có các mô hình kiểm soát, quản lý vốn nhà nước tại các DNNN này khác nhau. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình: môhình phân tán (quản lý, kiểm soát theo bộ, ngành): Anh, Phần Lan có 9 bộ nhưng kiểm soát, quản lý 50 công ty nhà nước; mô hình song trùng (hai cơ quan cùngđảmnhiệm chức năngchủsở hữuđốivớicác công ty nhà nước): Ý, Úc, Hàn
Quốc…;mô hình tập trung (các DNNN được đặtdưới sự kiểmsoát, quản lý của
1 bộ, 1 tổ chức): Hà Lan, Tây Ban Nha…[29]
2.1.2.2. Đặc trưng của kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp 100% vốnnhà nước
Thứnhất, vềchủ thểkiểm soát vốn nhànước tạidoanh nghiệp 100% vốnnhà nước
Nhà nước đầutư vốn tạidoanh nghiệp 100% vốnnhà nước, đểcó thểkiểm soát, giám sátđược việcsử dụng vốn đó, nhà nước cầncó nhiều côngcụquản lý, giám sát khác nhau,được tiến hànhmộtcách đồngthời và bổtrợ cho nhau.Vềmặtlý thuyết, việcchỉtậptrungsử dụngmộthoặcmộtsốít côngcụkiểm soát sẽ có thể dẫn tới rủi ro, thất thoát đối với tài sản nhà nước trong trường hợp một hoặc một số công cụ này bị vô hiệu.
Do vậy, việc kiểm soát vốn nhà nước có thể thông qua nhiều phương thức khác nhau, có thể khái quát thành các phương thức sau:
Thứ nhất, kiểm soát vốn thông qua đạidiện của chủ sở hữu
Thứ hai, kiểm soát vốn thông qua hoạt động của Tổng Công ty đầu tư vàkinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
Thứ ba, kiểm soátvốnthông qua hoạtđộngkiểm soátnộibộcủa các doanh nghiệp
Thứ tư, kiểm soát vốn thông qua hoạt động kiểm toán
Thứ năm, kiểm soát vốn thông qua phápluật về đầu tư,tài chính, đấu thầu và các quy định khác có liên quan
Với những phương thức kiểm soát trên, có thể thấy rõ các chủthể cóquyền hạn, trách nhiệm quản lý, kiểm soátvốnnhà nước tạicác doanh nghiệp 100% vốnnhà nước. Những quyền và trách nhiệm này xuất pháttừ cơ sở của quyền chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn của mình.
Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữuđốivới doanh nghiệp 100% vốnnhà nước.Chínhphủtrực tiếp thực hiện hoặc phân công choThủtướngChính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; phâncấpchoỦyban nhân dân tỉnh, thànhphốtrực thuộc Trungương; giao cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Người đại diện thực hiện các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước.
Tổng công tyĐầutư và Kinh doanhvốnnhà nước (SCIC) là doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, được nhà nước đầu tư vốnđiều lệ và quản lývốnnhà nước tạicác doanh nghiệp do các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chuyển giao.
Mặtkhác, cho dù có trìnhđộnghiệpvụcao, cho dù có quyềnlựcđiều
hành doanh nghiệp…thì cũng không phảimọitổchức, cá nhânđềucó thể tự
kiểm tra, đánh giá xembảnBáo cáo tài chính– Báo cáo quyết toánmộtnăm kinh doanh đã phản ánh trung thực và hợp lý tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có liên quan hay chưa. Do đó, từ gần 100 năm nay trên thế giới, và từ 20 năm qua ở Việt Namđã hình thành và phát triển hoạtđộngkiểm toán, bao gồmkiểm toán nhànước và kiểm toán độc lập.
Đây cũng là một trong những chủ thể thực hiện kiểm soát vốn, tàisảncủa nhà nước đầu tư tạidoanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Hoạtđộng của kiểmtoán giúp đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thựccủacác thông tin tài chính công, tàisảncông hoặc báo cáo tài chính liên quanđếnquản lý, sửdụng tài chính công, tài sản công; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tàisảncôngtạicác doanh nghiệp 100% vốnnhànước.
Cuối cùng, chính doanh nghiệp phải là chủthể kiểm soátvốncủa chính mình. Hội đồng thành viên, Ban Điều hành doanh nghiệp thông qua bộ phận tài chínhkế toán, Ban Kiểm soátnộibộcó trách nhiệmtổchức việctự kiểm soát nộibộdoanh nghiệp mang tính chất thường xuyên, độtxuất theo ngày, tuần, tháng, quý, năm tùy theo tính chất hoạtđộngcủa doanh nghiệp. Thông qua tự
kiểm soát để có những điều chỉnh, biện pháp tự chấn chỉnh về quản lý tài chính nói riêng, quản trịdoanh nghiệp nói chungđể đưatài chính doanh nghiệp luôn trong trạng thái an toàn.
Hộiđồngthành viên, Ban Điềuhành doanh nghiệp thông qua ngườiđại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thực hiện kiểm soát, sử dụng, bảo toàn và phát triển phần vốn đã góp vào doanh nghiệp khác.
Kiểm soát viên do chủ sở hữu bổ nhiệm có nhiệm vụ giúp chủ sở hữu thực hiện công tác giám sát hoạtđộngsảnxuất kinh doanh và giám sát tài chính doanh nghiệp.
Thứhai, nội dung của kiểm soát vốn nhà nước tại doanh nghiệp 100% vốnnhà nước
Thiết lập nhữngnộidungcụthể về kiểm soátvốnnhà nước tạidoanh nghiệp 100% vốn nhà nước là hếtsứcquan trọng, nhằm tạo cơ sở giúp các chủthể kiểm soát vốn thực hiện nhiệm vụ kiểm soát của mình.
Khácvớicách thức kiểm soátvốntrong cơ chế kếhoạch hoá tập trung, trongnềnkinhtế thịtrường, Nhà nướcthực hiện việc kiểm soátvốnnhà nước mộtcách gián tiếp. Nhà nước ban hành chính sách nhằmđịnhhướngsự phát triển theo mục tiêu của nhà nước và giúp doanh nghiệptự chủtrong hoạtđộng sảnxuất, kinh doanh. Chính sách kiểm soát vốn được ban hành hướng vào việc khai thác, động viênvà sửdụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và nâng cao hiệu quả của nền tài chính quốc gia.
Chính sách kiểm soátvốnnhà nước tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống các chính sách tài chính nói chung. Chính sách kiểm soát vốnđúngđắnsẽ kích thích sự chuyển dịch các luồng giá trịtrongnềnkinhtếquốc dân theo hướngduyđộngmọinguồnvốnvào đầutư phát triển sảnxuất, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và
tốc độ pháttriển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanhcủadoanh nghiệp; kế đó, quy môđầutư và tàitrợtừ ngân sáchđốivới doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh
tế, và qua đó Chính phủ còn thựchiện được yêu cầu điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tếtheo định hướng đã đề ra.
Với các chính sách kiểm soátvốnnhà nước tạicác doanh nghiệp 100% vốn nhà nước như vậy, nộidung các công việccụ thể trong kiểm soátvốnnhànước bao gồm:
– Kiểm soát việc sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp – Kiểm soát vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
– Bảo toàn và phát triển vốn
– Phân phối lợi nhuận sau thuế
2.1.3. Những yếu tốảnh hưởngtớiviệc kiểm soát vốn nhànước tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Có những yếu tố sau đây ảnh hưởng đến việc kiểm soát vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước:
2.1.3.1. Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT VỐN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ 100% VỐN NHÀ NƯỚC


