Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với tư cách là một trong những bộ phận nền tảng cấu thành thể chế pháp lý của nền kinh tế thị trường (KTTT) hiện đại, pháp luật cạnh tranh (PLCT) đã khẳng định được vị trí và vai trò trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Yêu cầu hoàn thiện PLCTđã giành được sự chú ý đặc biệt của Đảng và Nhà nước, sự hậu thuẫn mạnh mẽ trong cộng đồng các doanh nghiệp, sự ủng hộ và đồng thuận của các tầng lớp nhân dân. Kể

từ sau khi Luật Cạnh tranh (LCT) năm 2004 được ban hành, hệ thống PLCT đã hình thành từng bước, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Có thểkhẳng định rằng, việc ban hành LCT 2004 đã nhanh chóng và kịp thời thể chế hoá, hiện thực và cụ thể hoá chủ trương xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh, phục vụ cho việc phát triển đất nước, kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, chống lại các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, sau hơn 12 năm, PLCT vẫn chưa thực sự thể hiện được hết vai trò và nhiệm vụ to lớn của chúng

– là công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước để điều tiết kinh tế vĩ mô trong nền KTTT. Từkhi thành lập Cục Quản lý cạnh tranh (QLCT) và Hội đồng cạnh tranh

(HĐCT) cho đến nay, số lượng vụ việc tập trung kinh tế (TTKT) được điều tra,xử lývi phạm các vụ việc không nhiều, chủ yếu dừng lại ở việc tham vấn, xem xét hồ sơthông báo TTKT và cho tiến hành TTKT1. Điều này mâu thuẫn với thực tiễn TTKT đang diễn ra rất phổ biến, phạm vi ngày càng rộng và có chiều hướng diễn biến rất phức tạp; các doanh nghiệp trong và ngoài nước coi đây là cách thức đầu tư hiệu quảnhất trong việc tiết kiệm nguồn lực, thâm nhập thị trường, giảm thiểu các rào cản gia nhập thị trường cũng như nhằm gia tăng nguồn lực và sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, sự cần thiết và cấp bách nghiên cứu về pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tếbìnhđẳng,hợptác và cạnh tranh theo pháp luật2. Trong bối cảnh này, việc xây

dựng chính sách cạnh tranh với mục tiêu là bảo vệ cạnh tranh, bảo đảm môi trường

1 Xem các Báo cáo hoạt động thường niên của Cục QLCT, Bộ Công thương, đặc biệt từ năm 2010 đến nay. 2Điều51, 52 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2013.

2

cạnh tranh công bằng, lành mạnh mà trong đó có pháp luật kiểm soát TTKT là một yêu cầu cấp bách.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một trong những nội dung quan trọng đã được đề cập đến trong Đại hội lần thứ XI và các Nghị quyết của Đảng3, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện PLCT với vai trò được coi là trụ cột của pháp luật kinh tế công, là “Hiến pháp” của thị trường là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay4. Việc sửa đổi LCT 2004 được coi là một vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-20205.

Thứ ba, xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới và bối cảnh Việt Nammởcửa thị trường, nhiều nhà đầu tư nước ngoài, tập đoàn đa quốc gia đã đầu tư vào Việt Nam thông qua hình thức sáp nhập, mua lại doanh nghiệp. Thực tiễn hơn 12 năm thi hành LCT đã và đang cho thấy nhiều hành vi phản cạnh tranh diễn ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia, nhưng lại có tác động tới môi trường cạnh tranh trong nước. Trước thực trạng này, nhiều quốc gia đã đối phó bằng cách mở rộng phạm vi áp dụng của LCT, điều này được thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc “tác động ảnh hưởng của hành vi”

(effect doctrine), qua đó giúp cho cơ quan cạnh tranh (CQCT) có khả năng kiểm soát các hành vi phản cạnh tranh xuyên biên giới từ đó góp phần bảo vệ thị trường trong nước6. Bên cạnh đó hoạt động TTKT nói chung và sáp nhập, mua lại nói riêng cũng tiềm ẩn nguy cơ hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và có thể gây ảnh

3

hưởng đến môi trường cạnh tranh. Khung pháp lý kiểm soát TTKT còn nhiều khiếm khuyết và việc áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT còn nhiều vướng mắc (về đối tượng kiểm soát, phạm vi kiểm soát, ngưỡng kiểm soát TTKT), thiếu tiêu chí đánh giá tính HCCT của hành vi TTKT. Thực tiễn đó, đặt ra vấn đề phải xem xét một cách thấu đáo, xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật kiểm soát TTKT, đặc biệt làm rõ ranh giới giữa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và bảo vệ cạnh tranh.

Thứ tư, năm 2015 có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong quátrình hội nhập quốc tế, đó là việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Mục tiêu của AEC là tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có tay nghề trong khối7. Chính sách cạnh tranh đã được coi là một lĩnh vực ưu tiên hàngđầutrong việctạolậpmộtthịtrường chung vàmộtcơsởsảnxuất chung trong ASEAN8. Việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT đối với Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ, việc tham gia vào AEC dẫn đến PLCT quốc gia cần phải hài hòa hoặc tương đồng với PLCT của các quốc gia khác. Tất cả được thực hiện trên cơ sở một chính sách cạnh tranh đồng bộ. Do đó, hội nhập AEC sẽ

tạo cơ hội cho việc kiểm soát hiệu quả các hành vi TTKT diễn ra tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài (khu vực ASEAN) có tác động đến thị trường Việt Nam, tạo khung pháp lý cho các hoạt động đầu tư thông qua hình thức TTKT của doanh nghiệp các quốc gia trong cộng đồng AEC. Pháp luật về kiểm soát TTKT của Việt Nam hiện tại dựa chủ yếu vào tiêu chí thị phần, do đó, vấn đề cốt lõi quan trọng đối với Việt Nam khi hội nhập ASEAN là hoàn thiện cách xác định thị phần và sử dụng thị phần trong kiểm soát TTKT. Trongbốicảnh đó, việc nghiêncứupháp luật kiểm soát TTKTgắnvớihộinhập khu vực,gắnvớitìm hiểu kinh nghiệm chính sách cạnh tranh của mô hình tương tự như AEC là cần thiết và cấp bách.

4

Thứ năm, việc xây dựng và thực thi pháp luật kiểm soát TTKT9 là để thực hiện các mục tiêu của chính sách kiểm soát TTKT10. Trong chính sách công cũng bao hàm cả chính sách về bảo đảm an ninh quốc gia, trong đó có an ninh kinh tế. Hiện tại, mục tiêu cốt lõi của chính sách kiểm soát TTKT của Việt Nam mới chỉnhằm đảm bảo hoạt động TTKT không hoặc không tiềm ẩn nguy cơ gây ra tácđộngtiêu cực tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, mục tiêu bảo đảm an ninh kinh tế trong kiểm soát TTKT chưa được tínhđến. Vìvậy cần nghiên cứu bổ sung các tiêu chí xem xét các vụ TTKT nhằm hướng đến mục tiêu này.

Thứ sáu, vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp, bao gồm các hình thức TTKT đã được quy định trong pháp luật về doanh nghiệp kể từ sau khi Việt Nam tiến hành đổi mới, xây dựng những nền móng cho KTTT11 và tiếp tục được đề cập, hoàn thiện bởi cácđạo luật về doanh nghiệp12. Kể từ sau khi LCT 2004 ra đời, đặc biệt khi Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, các hoạt động TTKT đã bắt đầu khởi sắc, hoạt động TTKT tại Việt Nam tăng trưởng mạnh13. Xu thế chủ đạo vẫn là làn

5

sóng mua lại các doanh nghiệp trong nước của các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài. Các doanh nghiệp tham gia TTKT thuộc mọi thành phần kinh tế, từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài14. Ở giai đoạn đầu vụ việc chủ yếu là TTKT theo chiều ngang15. Từ 2012 đến nay đã xuất hiện thêm các hình thức TTKT khác như: (i) TTKT theo chiều dọc (vertical mergers) nhằm kiểm soát nguồn cung, nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất kinh doanh16; (ii) TTKT dạngtổ hợp (conglomerate) để mở rộng lĩnh vực kinh doanh17; (iii)sáp nhập đểtái cấu trúc hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn18; hoặc (iv) thâu tóm gián tiếp19. Các vụ TTKT cũng ngày càng gia tăng về số lượng và quy mô20 cũng như tính

đạt mức gần1,7 tỷ USD nhưng đã giảm sút trong 2 năm 2008 và 2009. Mặc dù vậy, so với các nước khác trong khu vực thì quy mô giao dịch TTKT tại thị trường Việt Nam tương đối nhỏ. Xem thêm: Vũ Bá Phú (2011), “Các vấn đề chống tập trung kinh tế qua hoạt động M&A”, Tổng hợp Tài liệu DiễnđànM&A Việt Nam 2011. Tài liệu truy cập tại địa chỉ: http://m.maf.vn/tong-hop-tai-lieu-dien-dan-ma-viet-nam-2011.html.

14 Trên thực tế những giao dịch lớn và chủ yếu là đến từ các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệpdẫnđầutrong các ngành, lĩnh vực kinh doanh tại Việt Nam và các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới. Trong các lĩnh vực diễn ra hành vi TTKT, lĩnh vực bánlẻvà ngành hàng tiêu dùng là những lĩnh vực luôn có hoạt động M&A diễn ra sôi nổi với nhiều thương vụ mua bán, sáp nhập có giá trị giao dịch lớn. Tiếpđó làlĩnh vực hàng tiêu dùng thiết yếuvà lĩnh vực năng lượng.

15 Mặc dù vậy, thời kỳ này cũng đã xuất hiện các vụ mua bán, sáp nhập theo chiều dọc. Đồng thời, nếu ở giai đoạn trước đó, các vụ TTKT nhìn chung ở mức độ giản đơn với đặc điểm chủ yếu là các thương vụ thâu tóm một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp và có rất ít các vụ việc có mức độ phức tạp cao hơn như hợp nhất (hình thức đòi hỏi trìnhđộ quản lý và hợp tác, phối hợp cao giữa các bên tham gia). Cũng ở giai đoạn trước đây, có rất nhiều vụ M&A dưới hình thức đầu tư tài chính, mua cổ phần để trở thành đối tác chiến lược hoặc kỳ vọng vào sự tăng giá cổ phiếu (nhắmđến lợi ích tài chính đơn thuần) chứ chưa nhắm đến thâu tóm để khống chế sở hữu và điều hành công ty.

16Vụsáp nhập giữa giữa Công ty cổ phần Mirae Fiber (Mirae Fiber) có vốn điều lệ 103,8 tỷ đồng, mã niêm yết trên thị trường chứng khoán là KMF vào Công ty cổ phần Mirae (Mirae) cóvốn điềulệ 132,8 tỷ đồng, mãniêm yết trên thị trường chứng khoán là KMR, vụ sáp nhập này diễn ra vào cuối năm 2009. Sau khi tiếp nhậnđầyđủ thông tin và nghiên cứu vụ việc, Cục QLCT đã trả lời trường hợpnày đượcphép tiến hành sáp nhập. Sau khi sáp nhập, cổ phiếu của Mirae Fiberđượcchuyển đổi thành cổ phiếu của Miraevới tỷ lệ đã đượchai bên thống nhất, Mirae Fiber chấm dứt hoạt động, toànbộ cổphiếu của Marie được niêm yết bổ sung trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, KMF hủy niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Xem Cục QLCT, Bộ Công thương (2013), “Báo cáo tập trung kinh tế Việt Nam 2012”, tr.33.

17 Tiêu biểu cho trào lưu này là vụ ICA giành quyền kiểm soát công ty Thuận Phát, theo đó, ICA là công ty chiếm thị phần lớn trên thị trường các sản phẩm chăm sóc sức khỏe của nam giới, trong khi đó công ty Thuận

Phát đã có vị trí trên thị trường sản xuất nước mắm và các loại gia vị, Masan Food – Mỏ than Núi Pháo…

18 Ví dụ vụ TTKT giữa Unilever quốc tế – Unilever Việt Nam, Kinh Đô – Kinh Đô miền Bắc, Vinpearl Land –

Vinpearl Hội An – Vinpearl Đà Nẵng…

19 Ví dụ trường hợp Eximbank tuyên bố nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết của Sacombank nhưng lại thông qua các công ty con/công ty liên kết hoặcđượcủy quyền từ các cổ đông khác của Sacombank.

20 Xét về quy mô, khoảng 80% các thương vụ TTKT được công bố có giá trị tương đối nhỏ (dưới 20 triệu USD). Ở giai đoạntrước2010 có thể thấy có hai loại thương vụ chiếm ưu thế: một là các giao dịch quy mônhỏ dưới 5 triệu USD (chiếm khoảng 30% – 35% số vụ) và hai là, các giao dịch có quy mô ở mức trung bình (khoảng 20 triệu USD/thương vụ, chiếm 50% – 55% tổng số vụ). Nếu năm 2012, giá trị trung bình của một thương vụ đạt khoảng 10 triệu USD, năm 2013 tăng lên trên 15 triệu USD, sang 2014 lại giảm xuống còn 8,7 triệu USD. Tuy nhiên, đã ngày càng xuất hiện nhiều thương vụ có giá trị lớn (từ 100 triệu USD trở lên) và được nhận định là đang gia tăng. Điều này cóthể đượclý giải bởi một số nguyên nhân như sau: (i)trướcđây, khi muốn thâm nhập thị trường Việt Nam thông qua hình thức M&A, các nhà đầutư nướcngoài cần thận trọng

thăm dò tình hình cụthể của nềnkinh tế nói chung, cũng như thị trường mà họ đang hướng tới. Dođó, họ chỉ bỏ vốn mua lại một công ty có quy mô trung bình hoặcmột lượng cổphần không lớn của một công ty lớn. Sau

6

đa dạng21. Cục QLCT đã thụ lý một số vụ việc thông báo TTKT và cũng đã có nhiều vụviệc thamvấnvềTTKT trước và trong quá trình các doanh nghiệp thực hiện TTKT22. Thực tiễn TTKT tại Việt Nam hơn 12 năm qua đã cho thấy sự cần thiết cấp bách phải hoàn thiện các quy định về kiểm soát TTKT nhằm theo kịp sự phát triển và đa dạng của hoạt động TTKT tại Việt Nam trong tương lai.

Thứbảy, sau hơn 12 năm thi hành, LCT 2004 đã bộc lộ những bất cập liên quanđến vấn đề kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

Một là, quy định về ngưỡng thông báo kiểm soát hoạt động TTKT, Điều 18 của LCT 2004 hiện chỉ căn cứ vào tiêu chí thị phần kết hợp là bất khả thi. Thực tiễn thi hành LCT 2004 cho thấy,vớiquyđịnh vềthịphần, việctựxác định thịphần của mình trên thị trường liên quan là rất khó thực hiện tại Việt Nam. Từ đó, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn để biết mình có thuộc ngưỡng bị cấm hoặc phải thông báo TTKT hay không.

Hai là, LCT 2004 mới chỉ xem xét TTKT theo chiều ngang, tức là TTKT giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan cùng một cấp độ kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những giao dịch TTKT theo chiều dọc23 và TTKT dạng hỗn hợp24.

Ba là, tại Việt Nam trong thời gian qua cũng đã chứng kiến một số vụ mua bán, sáp nhập có giá trị giao dịch lớn được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng lại có tác động tới thị trường Việt Nam25. Tuy nhiên, PLCT Việt Nam hiện lại chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc vàđầy đủ nhằm điều chỉnh cácloại hành vi như

một thời gian nhất định, khi đã có một chiến lược kinh doanh dài hạn và nhìn thấy tiềm năng ở thị trường Việt Nam, nhà đầutư nướcngoài sẽ xúc tiến thực hiện những thương vụ M&A có giá trị lớn hơnđể cóthể thực hiệnđượcchính sách của riêng mình; (ii) trong những năm gần đây, một số doanh nghiệp, tập đoàn trong nước cũng đã trưởng thành, lớn mạnh đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện mua lại các doanh nghiệp khác, thậm chí kểcảmua lại doanh nghiệpnướcngoài.Sốlượng các vụ M&A do doanh nghiệp trong nước tiến hành với giá trịtrên 50 triệu USD cũng đang gia tăng mạnh. Xem: tlđd 9, tr.20 – 21.

21 Đáng chú ý là trong số các vụ việc thông báo và tham vấn TTKT tới Cục QLCT có nhiềuvụ việcTTKT lớn, diễnra ở nướcngoài, nhưng các doanh nghiệp này có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, như PepsiCo –

Suntory; A.P Moller – Maersk – A/S CMA CgM – S.A MSC Mediterranean Shipping Company SA…

22 Theo báo cáo TTKT thì cho tới nay, Cục QLCT đã phê chuẩn tất cả các vụ việc TTKT được thông báo và có 01 vụviệc thuộc trường hợp bị cấm nhưng đáp ứng điều kiện cho hưởng miễn trừ theo quy định của LCT. Trong số vụ việc TTKT đã được Cục QLCT xem xét nêu trên, các vụ việc TTKT theo hình thức sáp nhập và mua lại doanh nghiệp chiếm đa số. Trong năm 2012, Cục QLCT đã tiếp nhận 03 hồ sơ TTKT và tham vấn một số vụ việc.

23 Giữa các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường thuộc các cấp độ khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau, ví dụgiữa thị trường sản xuất và thị trường cung cấp nguyên liệu, giữa thị trường sản xuất và thị trường phân phối. Xem OECD (1993), Glossary of Industrial Organisation Economics and Competition Law, tài liệu truy cập tạiđịa chỉ: http://www.oecd.org/regreform/sectors/2376087.pdf, ngày 22/02/2016.

24 Giữa các doanh nghiệp hoạt động trên các thị trường sản phẩm khác nhau và giữa chúng không có mối quan hệ theo chiều dọc. Xem OECD (1993), tlđd 23.

25 ChẳnghạnnhưvụTậpđoàn Abbott mualạiCông tydượcphẩm CFR;Tậpđoàn Boehringer Ingelheim International mua lại Sanofi SA trong lĩnh vực thuốc thú y; Tập đoàn Central Group (Thái Lan) mua lại Hệ thống

siêu thị Big C tại Việt Nam…Xem Bộ Công thương, ‘Tờ trình Chính phủ về Dự án LCT (sửa đổi) ngày 07/7/2017.

 

Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam
Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

vậy. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, chống lại những tác động của các hành vi có hại đối với cạnh tranh tại thị trường Việt Nam chưa được thực thi đầy đủ. Vì vậy, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với dạng TTKT xuyên biên giới như vậy là cần thiết nhằm bảo vệ cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh mở rộng cũng phù hợp với xu hướng PLCT của các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật

Bản, Pháp, Đức, Trung Quốc, Canada…

Vì những lý do nêu trên, để đóng góp hoàn thiện cơ sở lý luận và pháp luật vềkiểm soát TTKT, tác giả chọn đề tài “Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam” làm luận án Tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích nghiên cứu: làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TTKT, kiểm soát TTKT và pháp luật về kiểm soát TTKT; phân tích, đánh giáthực trạng quyđịnh pháp luật về kiểm soát TTKT và thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lýluận vềkiểm soát TTKT và pháp luật về kiểm soát TTKT, bao gồm: (i) khái niệm, hình thức, bản chất của TTKT; (ii) cơ sở lý luận của sự cần thiết phải kiểm soát TTKT; (iii) các luận cứvà mục tiêu của chính sách và pháp luật kiểm soát TTKT; (iv) mối liên hệ của pháp luật kiểm soát TTKT với các lĩnh vực pháp luật có liên quan.

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quy định pháp luật về kiểm soát TTKT và thực tiễn áp dụng về kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện nay dựa trên các nội dung: đối tượng, phạm vi, ngưỡng thông báo TTKT, tiêu chí đánh giá tác động của vụ TTKT, cơ quan thực hiện kiểm soát TTKT, thủ tục thông báo TTKT, xử lý hồ sơthông báo TTKT, điều tra xử lý vi phạm quy định pháp luật về TTKT.

Ba là, nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát TTKT của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụcho các luận cứ đề xuất hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam, trong đó đóng góp những luận cứ cho các đề xuất nhằm hoàn thiện Dự thảo LCT (sửa đổi).

8

Bốn là, xây dựng hệ thống các giải pháp chung, kiến nghị cụ thể hoàn thiện quyđịnh pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, góp phần vào các giải pháp cụ thể hoàn thiện Dự thảo LCT (sửa đổi).

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là (i) các quan điểm, các lý thuyết nghiên cứu về TTKT, kiểm soát TTKT; (ii) quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát TTKT; quy định pháp luật về kiểm soát TTKT cũng như thực tiễn áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và một số quốc gia trong Liên minh châu âu (EU), ASEAN để đối chiếu, so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiêncứucác quyđịnhpháp luậtvềkiểm soát TTKT ởViệt Nam trong PLCT và một số quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan như pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, viễn thông, chứng khoán… Luận án cũng nghiên cứu quy định của pháp luật về kiểm soát TTKT của một số quốc gia trên thế giới nhưHoa Kỳ, Canada, Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và một số quốc gia trong EU, ASEAN. Những vấn đề này sẽ được trình bày, phân tích lồng ghép trong các nội dung nghiên cứu tương ứng.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung vào hai vấn đề trọng tâm của kiểm soát TTKT là phạm vi, ngưỡng kiểm soát TTKT; cơ quan kiểm soát TTKT và đánh giá tác động kinh tế của TTKT. Do đó, luận án không đi sâu vào thủ tục điều tra, xácđịnhvi phạm về TTKT, cơ chế và thủ tục miễn trừ đối với hành vi TTKTbịcấm và đặc biệt là các biện pháp chế tài áp dụng đối với vi phạm về TTKT, bởi lẽ các biện pháp chế tài không thuộc về nội dung và thủ tục kiểm soát TTKT. Hơn nữa, các biện pháp chế tài đối với hành vi TTKT vi phạm LCT 2004 cũng được áp dụng cho các hành vi HCCT khác, do đó không cần thiết phải nghiên cứu sâu và riêng biệt trong luận án.

Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu các vụ việc thực tiễn tại Việt Nam kể từ năm2012 đến nay. Mặc dù LCT 2004 chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005, tuy nhiên như đã trình bày, luận án nghiên cứu từ thời điểm thực tiễn Việt Nam xuất hiện nhiều biểu hiện TTKT mới, đồng thời Bộ Công thương tiến hành báo cáo TTKT lần thứ hai (năm 2012), trong đó nêu ra những vấn đề cần quan tâm trong kiểm soát TTKT ở Việt Nam trong tình hình mới.

9

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Một là, luận án góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTKT và pháp luật kiểm soát TTKT, trong đó giải quyết được những vấn đề lý luận cốt lõi như: đặc điểm, phân loại, bản chất TTKT, tác động của TTKT đối với nền kinh tế nói chung và môi trường cạnh tranh, cơ sở lý luận của hoạt động kiểm soát TTKT của Nhà nước.

Hai là, luận án làm rõ thực trạng các quy định pháp luật, phân tích những bất cập và chỉ ra những hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

Ba là, luận án nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật kiểm soát TTKTở một số quốc gia tiêu biểu để tiếp thu nhằm giải quyết những bất cập của pháp luật Việt Nam.

Bốn là, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp những nội dung, thông tin quan trọng, tin cậy, có giá trị về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

Năm là, luận án có giá trị tham khảo, phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy vàhọc tập chuyên sâu về pháp luật kiểm soát TTKT, đặc biệt trong bối cảnh sửa đổi LCT 2004.

5. Những điểm mới của luận án

Luận án sẽ là công trình nghiên cứu đánh giá chuyên sâu, toàn diện về pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam. Cụ thể, luận án có những điểm mới quan trọng sau đây:

Thứ nhất, đây là công trình đánh giá toàn diện tổng quan các nghiên cứu, quanđiểm, cách tiếp cận về TTKT và kiểm soát TTKT ở Việt Nam và trên thế giới.

Thứ hai, đây là công trình nghiên cứu toàn diện, làm sâu sắc các vấn đề lý luận về TTKT trong đó phân tích làm rõ bản chất, vai trò của TTKT. Những vấn đề nàyđược tiếp cận ởgócđộmớikhông chỉxem TTKT nhưmộthoạt động củadoanh nghiệp làm gia tăng nguy cơ lạm dụng sức mạnh thị trường mà còn nghiên cứu vềcác tác động tích cực cũng như tiêu cực mà nó đem lại.

Thứ ba, đây là công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ, phân tích, đánh giá toàn bộcơ chế kiểm soát TTKT ở Việt Nam, baogồmcác quy định pháp luật về kiểm soát TTKT và thực thi kiểm soát TTKT của Việt Nam hiện hành. Đặc biệt luận áncó sựphân tích chuyên sâu những hạn chế, bất cập của việc áp dụng các quy định này về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chỉ ra những vấn đề cần phải bổ sung, hoàn thiện trong LCT 2004. Về cấu trúc, luận án được thiết kế theo hướng hiện đại, giải quyết một cách cụthể, trực diện từng vấn đề nghiên cứu và bằng các kiến nghị, giải pháp cụ thể.

Thứ tư, đây là công trình nghiên cứu nhằm mục đích là hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam dựa trên cơ sở nghiên cứu vận dụng và đề xuất áp dụng tư duy kinh tế, cách tiếp cận kinh tế – luật trong việc phân tích đánh giá tác động đối với cạnh

10

tranh của vụ TTKT, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị mang tính đột phá, mang bản sắc và cách tiếp cận kinh tế. Do đó khác với các cách tiếp cận và giải quyết vấn đề truyền thống, đề xuất đáng chú ý nhất của luận án là xây dựng cơ chế kiểm soát TTKT không còn xoay quanh tiêu chí thị phần như trước đây – vốn đem lại bất cập trong việc áp dụng LCT trong việc kiểm soát hoạt động TTKT ở Việt Nam, góp phần vào việc đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia thông qua kiểm soát hoạt động TTKT.

11

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận 1.2.1. Cơ sở lý thuyết

1.2.1.1. Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu chung: Pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện nay cónhững hạn chế, bất cập gì? Pháp luật kiểm soát TTKT cần được hoàn thiện nhưthế

37

nào để nâng cao hiệu quả kiểm soát TTKT bằng pháp luật nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay?

Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

Thứ nhất, cần nhận diện như thế nàovề lýluận TTKT và kiểm soát TTKT?Từđó, luận án cần giải quyết được hai vấn đề sau: (i) với ý nghĩa là đối tượng của hoạt động kiểm soát của Nhà nước để bảo vệ cạnh tranh, TTKT được quan niệm? (ii) bản chất của TTKT, kiểm soát TTKT? mục tiêu của kiểm soát TTKT với chính sách cạnh tranh như thế nào?

Thứ hai, pháp luật kiểm soát TTKT dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào?Đểlàm rõ câu hỏi này, luận án cần giải quyết được ba vấn đề sau: (i) cơ sở lý luận của pháp luật kiểm soát TTKT? (ii) tại sao phải kiểm soát TTKT bằng pháp luật? (iii) khái niệm, nội dung pháp luật và chính sách kiểm soát TTKT?

Thứ ba, cần hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT như thế nào để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay? Để giải quyết câu hỏi này, luận án cần giải quyết được các vấn đề sau: (i) thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam đã kiểm soát một cách hiệu quả hoạt động TTKT tác độngđến cạnh tranh chưa? các quy định của pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện còn những bất cập, hạn chế nào? (ii) điều chỉnh pháp luật các vụ việc TTKT phải nhưthế nào để đáp ứng yêu cầu đặt ra? (iii) hướng tiếp cận nào trong việc xây dựng khung pháp lý về kiểm soát TTKT một cách có hiệu quả và phát huy những khía cạnh tích cực mà vụ TTKT có thể đem lại; và (iv) những giải pháp nào nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật kiểm soát TTKT trong LCT Việt Nam?

Thứ tư, thực tiễn quy định và áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT trên thế giới đem lại cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm gì? Cụ thể luận án cần chỉ ra: (i) pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Liên bang Nga,

Nhật Bản, Trung Quốc…(ii) những quyđịnhđó có những ưu điểm, mặt tích cực cũng như những hạn chế nào? (iii) những kinh nghiệm có thể tiếp thu để hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam?

Thứ năm, các giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam làgì? Cụ thể luận án cần phải giải quyết được hai vấn đề sau: (i) những định hướng, giải pháplớnnàođểhoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKTởViệt Nam? và (ii) những giải pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKT ởViệt Nam?

38

1.2.1.2. Lý thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở những câu hỏi nghiên cứu, luận án dựa vào các cơ sở lý thuyết sau đây: Thứ nhất, các lý thuyết về kinh tế học pháp luật được sử dụng khi phân tích

kinh tế trong đánh giá tác động cạnh tranh của vụ việc TTKT theo chiều ngang cũng như TTKT theo chiều dọc và hỗn hợp, bao gồm việc đánh giá tácđộng đơnphương và tác động phối hợp mà vụ việc TTKT đem lại.

Thứ hai, lý thuyết về cạnh tranh trong nền KTTT, bao gồm lý thuyết về chính sách cạnh tranh; lý thuyết về mối tương quan giữa cấu trúc thị trường – hành vi và hiệu quả (S-C-P) được vận dụng để phân tích và làm rõ tác động của các hình thức TTKT đối với cạnh tranh và đánh giá hiệu quả kinh tế mà hành vi TTKT có thể đem lại; lý thuyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền nhằm chứng minh mối tương quan giữa việc hình thành sức mạnh thị trường với việc sử dụng các hành vi lạm dụng vị trí thị trường để gây ra các hiệu ứng HCCT. Các lý thuyết nàyđược sử dụngkhi phân tích đánh giá tác động HCCT trực tiếp, bao gồm việc xác định mức độ tập trung của thị trường và mối tương quan giữa cấu trúc thị trường và hành vi cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường.

Thứ ba, lý thuyết về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, lý thuyết về vai tròcủa Nhà nước trong nền KTTT, trong đó nổi lên đặc biệt là vai trò bảo vệ cạnh tranh,điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp. Các lý thuyết này được sử dụng nhằm làm rõ nền tảng cơ sở lý luận của pháp luật kiểm soát TTKT và mối tương quan giữa quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp với vai trò của Nhà nước nhằm tìm ra giới hạn tối ưu nhất của hoạt động kiểm soát kinh tế để đi đến mục đích cuối cùng là môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh cho các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

1.2.1.3. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa thành công của các công trình nghiên cứu pháp luật về kiểm soát TTKT và thực tiễn áp dụng pháp luật, kinh nghiệm của các nước trên thế giới,giảthuyết nghiên cứu chung của luận án như sau: Pháp luật kiểm soát TTKT của Việt Nam hiện hành còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của giai đoạn hiện nay và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế cần được bổ sung, hoàn thiện.

Trên cơ sở đó, luận án bước đầu dự kiến một số giả thuyết nghiên cứu cụ thể: Thứ nhất, với tư cách là một đối tượng của hoạt động kiểm soát của Nhà nước,

bản chất TTKT là sự tập trung, tích tụ quyền lực thị trường. Đây là quá trình vận động

tự nhiên của doanh nghiệp, hợp pháp và cần được khuyến khích và kiểm soát, hạn chếtác động tiêu cực mà không phải làm nhằm cấmđoán chúng. Do đó, hành vi

39

TTKT cần phải được xem xét ở cả khía cạnh tiêu cực và tích cực bằng một hệ thống các tiêu chí đánh giá tác động khách quan và hiệu quả.

Thứ hai,vềnhận thức và cách tiếp cận, đã có một sự không chính xác khi quan niệm TTKT là một trong những hành vi HCCT, thể hiện qua cách thiết kế của Điều 3 khoản 3 LCT 2004. Điều này tất yếu tác động đến phương thức kiểm soát đối với các vụ việc TTKT theo nguyên tắc cho phép – cấm đoán một cách máy móc mà không dựa trên cơ sở của những phân tích về tác động của vụ TTKT đối với cạnh tranh vàđối với nền kinh tế.

Thứ ba, cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật kiểm soát TTKT cần thiết phải dựa trên: (i) các luận cứ và mục tiêu của chính sách kiểm soát TTKT nói riêng, chính sách cạnh tranh nói chung; (ii) nhu cầu thực hiện TTKT của các doanh nghiệp và (iii) vai trò bảo vệ cạnh tranh của Nhà nước.

Thứ tư, thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện đang có những bất cập nổi cộm, cụ thể:

Một là, đối tượng kiểm soát TTKT bộc lộ một số hạn chế cơ bản và tỏ ra lạc hậu với thực tiễn thế giới, thể hiện ở việc pháp luật chỉ kiểm soát TTKT theo chiều ngang, chưa đề cập đến kiểm soát TTKT theo chiều dọc, TTKT hỗn hợp, không kiểm soátđược đối với các hình thức giành quyền kiểm soát như việc một cá nhân kiêm nhiệm chức vụ quản lý ở nhiều doanh nghiệp khác nhau. Do đó, cần thiết phải thay đổi khái niệm TTKT theo hướng tiếp cận có khả năng bao quát các dạng hành vi TTKT.

Hai là, phạm vi kiểm soát TTKT không phù hợp với tình hình và xu thế hiện nay, pháp luật hiện hành không kiểm soát các vụ TTKT thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do đó, phạm vi kiểm soát TTKT cần phải được mở rộng để có thể kiểm soát một cách có hiệu quả các hành vi TTKT xuyên biên giới.

Ba là, ngưỡng kiểm soát TTKT bộc lộ bất cập và không khả thi, việc xác định ngưỡng thông báo chỉ dựa trên tiêu chí thị phần dẫn tới không kiểm soát được TTKT theo chiều dọc hoặc hỗn hợp, không khả thi trong thực tiễn áp dụng của các doanh nghiệp. Do đó, cần phải sử dụng các tiêu chí khác vừa khả thi, vừa có khả năng đảm bảo mục tiêu của kiểm soát TTKT.

Bốn là, tiêu chí đánh giá tác động của TTKT đối với cạnh tranh là bất cập vàkhông thể hiện được tư duy kinh tế, không cho phép xem xét tác động hậu TTKT và thuần túy dựa trên đánh giá sức mạnh thị trường phiến diện theo thị phần kết hợp, chưa xây dựng được cơ sở lý luận và hệ thống các tiêu chí đánh giá tính HCCT của hành vi TTKT, thiếu tiêu chí bảo đảm an ninh kinh tế.

40

Năm là, thủ tục thông báo và xử lý thông báo TTKT chưa rõ ràng, thuận tiện cho doanh nghiệp, hiện tại các doanh nghiệp chủ yếu tự xác định thị phần và không có khảnăng tiến hành TTKT một cách tự động. Do đó, một cơ chế như vậy là cần thiết.

Thứ năm, có thể tiếp thu kinh nghiệm pháp luật kiểm soát TTKT của một sốquốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc và EU.Đây chính là những quốc gia tiên phong trong việc kiểm soát các hành vi thị trường bằng PLCT và cũng là những khuôn mẫu để các quốc gia nghiên cứu, học hỏi để áp dụng cho pháp luật của quốc gia mình. Từ đó, để giải quyết những bất cập nói trên của pháp luật Việt Nam về kiểm soát TTKT. Trong đó pháp luật kiểm soát TTKT cần phải thể hiện vai trò trung tâm của CQCT cũng như việc đánh giá tác độngcủa vụviệc TTKT cần có sự kết hợp giữa tư duy kinh tế và pháp lý.

Thứ sáu, cần thiết phải có những định hướng chung, xác định rõ mục tiêu của chính sách cạnh tranh nói chung và chính sách kiểm soát TTKT nói riêng thì mới cóthể đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKTở Việt Nam. Do đó, vấn đề đặt ra là LCT (sửa đổi) cần phải xác định rõ mục tiêu, từđó tạo cơ sở cho việc thực hiện kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

1.2.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được trình bày trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về nhànước vàpháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung của luận án được nêu và phân tích dựa trên cơsởcác văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu pháp lý. Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu chính của luận án, tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội truyền thống trong việc tiếp cận và nghiên cứu các quy định liên quan của pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam bao gồm:

(i) Phương pháp phân tích (bao gồm phân tích lý thuyết, phân tích luật thành văn, phân tích các tình huống áp dụng pháp luật): phân tích các lý thuyết liên quan góp phần làm sáng tỏ bản chất nội dung được nghiên cứu, thấy được nội dung sâu xa bên trong những thuật ngữ pháp lý được trình bày trong các văn bản luật. Từ đó, có thể đưa ra đánh giá quy định pháp luật hiện hành làm cơ sở đề xuất hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu. Luận án chủ yếu là phân tích nội dung của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật hoặc một chế định luật có liên quan đến nội dung cần nghiên cứu, bao gồm pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới cũng như phân tích một sốtình huống thực tế để minh họa cho lý luận đã nêu. Phương phápnày được sử dụng

41

chủ yếu ở chương một và hai khi nghiên cứu cụ thể đối tượng, phạm vi, thủ tục thông báo TTKT, cơ quan thực hiện kiểm soát TTKT.

(ii) Phương pháp tổng hợp: để đảm bảo tính logic, tính hệ thống trong quá trình nghiên cứu, luận án cũng sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm đánh giá một cách tổng quan những vấn đề lý luận chưa làm rõ, những bất cập khi áp dụng trong thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để viết các tiểu kết, kết luận chương, chương ba và chương bốn khi đưa ra đề xuất hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

(iii) Phương pháp nghiên cứu so sánh luật: so sánh, đối chiếu giữa quy định của pháp luật của Việt Nam với quyđịnh pháp luật của các quốc gia đểthấyđược sựtương đồng, sự khác biệt; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm đềxuất hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKT có liên quan. Phương pháp nàyđược sử dụng xuyên suốt trong các chương của luận án.

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các phương pháp nghiêncứu mới được áp dụng ở Việt Nam của trường phái kinh tế học pháp luật với các phương pháp cụ thể nhưphương pháp phân tích chi phí giao dịch/lợi ích – trước hết để đánh giá chính các đềxuất hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT, để hiệu quả thực thi pháp luật là tối ưu. Các phương pháp, lý thuyết của trường phái kinh tế học pháp luật chủ yếu được sửdụng ở chương ba khi luận giải về ngưỡng kiểm soát TTKT và chương bốn để đánh giá hiệu quả của các đề xuất hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

1.2.3. Phương pháp tiếp cận

Việc nghiên cứu dựa trên các phương pháp tiếp cận sau:

Thứ nhất,từ góc độ lýluận, cách tiếp cận của luận án là nghiên cứu bản chất của TTKT, kiểm soát TTKT; từđó phân tích các nộidung xoay quanh kiểm soát TTKT: đối tượng kiểm soát, phạm vi kiểm soát, ngưỡng kiểm soát, cơ quan thực hiện việc kiểm soát, xử lý vi phạm quy định về kiểm soát TTKT.

Thứ hai, từ góc độ quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động cạnh tranh nói chung và hành vi TTKT nói riêng. Cách tiếp cận của luận án làxem đây là hành động của Nhà nước thông qua cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành những quy định pháp luật liên quan đến kiểm soát TTKT để bảo đảm xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, tự do. Từ đó, xem pháp luật kiểm soát TTKT là nhằmhướngđến bảo đảmviệc kiểm soát hiệu quảcủa CQCT một cách minh bạch, hợp lý, khả thi và thống nhất với các lĩnh vực pháp luật khác.

42

Thứ ba, xuất phát từ cách tiếp cận xem pháp luật kiểm soát TTKT là một chếđịnh quan trọng, truyền thống của PLCT thế giới, luận án nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia tiêu biểu để xây dựng những đề xuất cụ thể hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về kiểm soát TTKT cũng như cơ chế thực thi pháp luật, xử lý vi phạm, khắc phục hậu quả.

1.3 Kết cấu của luận án

Luận án được trình bày gồm phần mở đầu, phần kết luận và 4 chương, cụ thể: Chương 1: Tổng quan về những vấn đề nghiên cứu của luận án. Chương này

đánh giá tình hình nghiên cứu nói chung về TTKT và pháp luật kiểm soát TTKT, đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu. Chương một xác định cơ sở lý thuyết nghiên cứu của luận án, các phương pháp nghiên cứu và cách thức tiếp cận nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận về tập trung kinh tế và pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế. Chương hai tập trung nghiên cứu cácvấn đề lý luận cơbản về TTKT, bao gồm: khái niệm, đặc điểm và phân loại TTKT; phân tích các cơ sở lý luận của pháp luật kiểm soát TTKT; nghiên cứu tổng quan về pháp luật kiểm soát TTKT; thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam. Trong quá trình phân tích, luận án có lồng ghép phân tích, so sánh với quy định pháp luật một số nước về nội dung liên quan để rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam.

Chương 3: Quy định pháp luật về hình thức tập trung kinh tế, phạm vi và ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam. Đây là một trong hai vấn đề cơ bản của pháp luật về kiểm soát TTKT. Trong chương ba, các phân tích dựa theo các chủ đề chính bao gồm: hình thức, phạm vi và ngưỡng kiểm soát TTKT. Ở mỗi phần, luận án phân tích quy định của pháp luật cụ thể, chỉ ra những bất cập và hạn chế cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật liên quan. Phần cuối của chương là những đềxuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức, phạm vi và ngưỡng kiểm soát TTKT.

Chương 4: Cơ quan thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế và thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế. Trong chương này, hai vấn đề được nghiên cứu và phân tích trên

cơ sở các quy định của pháp luật và hoạt động của CQCT Việt Nam, đó là thực trạng áp dụng quy định về thông báo TTKT với các vụ việc được thông báo và vấn đề tham vấn trong thủtục TTKT. Chương này cũng đi sâu vào phân tích một vấn đềquan trọng trong quá trình thực hiện kiểm soát TTKT đó là đánh giá tác động về kinh tếtrong thẩm định hồ sơ thông báo TTKT. Trên cơ sở những bất cập đã được chỉ ra khi phân tích, chương này đưa ra những đềxuất nhằm hoàn thiện pháp luật vềcơ chếthực hiện kiểm soát TTKT.

43

Kết luận Chương 1

Có thể khẳng định rằng TTKT là hiện tượng tất yếu, khách quan của hoạt động kinh tế trong nền KTTT. Bên cạnh những yếu tố tích cực, TTKT ẩn chứa những tácđộng tiêu cực tới nền kinh tế nếu không được kiểm soát hiệu quả. Cụ thể, đó làkhảnăng hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh/vị trí độc quyền và nguy cơtiềm tàng thực thi các hành vi phản cạnh tranh gây tác động xấu đến cạnh tranh trên thị trường, bên cạnh vấn đề bảo đảm an ninh về kinh tế trước những hoạt động TTKT.Đây là vấn đề mà các Nhà nước cần phải tính đến khi ban hành PLCT, pháp luật kiểm soát TTKT nói riêng. Chương một của luận án giải quyết về tính cấp thiết của đề tài,

tổng quan tình hình nghiên cứu đến đề tài và cơ sở lý thuyết, cụ thể:

1.Về tính cấp thiết của luận án: Luận án đã kết luận rằng khung pháp lý điều chỉnh về TTKT ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đầy đủ, hiệu quả quản lý nhà nước về kiểm soát TTKT chưa cao. Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu để tìm ra những bất cập nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát TTKT.

2. Về tổng quan tình hình nghiên cứu: Hiện nay đã có nhiều nghiêncứu ở nước ngoài và ở Việt Nam về pháp luật kiểm soát TTKT. Các nghiên cứu này đã làm rõ chính sách, pháp luật của các quốc gia cụ thể và tìm hiểu một số khía cạnh liên quanđến TTKT. Qua các công trình, bài viết khoa học đã được công bố liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam ở cấp độ luận án tiến sĩ.

Luận án nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước, tập trung vào những câu hỏi: Bản chất TTKT cũng như đối tượng của hoạt động kiểm soát TTKT là gì? Cơ sở lý luận và thực tiễn nào của pháp luật kiểm soát TTKT? Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam cho thấy có những bất cập nào nổi cộm nhất? Những kinh nghiệm nào có thể tiếp thu từ quy định pháp luật kiểm soát TTKT ở một số quốc gia? Cần phải có nhữngđịnh hướngchung và giải pháp cụ thể như thế nào để hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam?

3. Luận án nêu ra hướng tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu cũng được xác định rõ trong chương một của luận án.

Tóm lại, luận án sẽ là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện cácvấn đề lýluận và thực tiễn về pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam. Từ đó góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống lý luận về pháp luật kiểm soát TTKT, rút ra các kết luận làm cơsởkhoa học cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm soát TTKT ở Việt Nam.

44

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ

VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ2.1. Khái quát về tập trung kinh tế

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tập trung kinh tế2.1.1.1. Khái niệm tập trung kinh tế

Khái niệm tập trung kinh tế trong kinh tế học và khoa học pháp lý

Hiện có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về TTKT60. Ở góc độ kinh tế học,có hai cách tiếp cận. Cách tiếp cận thứ nhất xem xét khái niệm TTKT ở gócđộ kinh tế học, cụ thể là miêu tả và cung cấp một cái nhìn tổng quanvề mức độ tập trung của một ngành công nghiệp, dựa vào cách đo lường sự cạnh tranh và tỷ lệ tập trung của các công ty trong ngành61. Theo cách tiếp cận này, TTKT được xem là mức độ tập trung tư bản, gồm các thành tố như doanh thu, tài sản hay việc làm trong ngành của các doanh nghiệp, TTKT bao gồm tập trung ngành hay tập trung thị trường. Trongđó TTKT có thể được chia làm hai loại là TTKT bên bán và TTKT bên mua (nhằm)đối kháng lại khả năng làm giá của bên bán62. Cách tiếp cận thứ hai nhìn nhận khái niệm TTKT ở góc độ kinh tế học vi mô, thông qua đó nhằm giải thích và xem xét việc tái cấu trúc chi phí và hoạt động của một công ty, đổi mới quy trình sản xuất qua TTKT63. Nhưmột lẽ tựnhiên, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trườngđều phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thông qua quá trình “tự lớn lên” của chính mình (năng lực nội sinh)64. Tuy nhiên, trên thực tế, sự lớn lên của các doanh nghiệp bằng con đường nội sinh như trên là không đáng kể mà chủ yếu thông qua con đường tăng trưởng ngoại sinh TTKT.

Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế công nghiệp và LCT của OECD, TTKT là tình trạng khi một số ít công ty thực hiện một khối lượng lớn hoạt động kinh tế trên thịtrường dựa trên tổng doanh thu, tài sản hoặc lao động sử dụng. Thuật ngữ TTKT được

60 Hiện nay trong kinh tế học và khoa học pháp lý thường sử dụng hai khái niệm là “sáp nhập” (merger) và“tậptrung kinh tế” (economic concentration). Hai khái niệm này tuy khác nhau về tên gọi nhưng về bản chấtđềulà cùng chỉ một vấnđề.Mặc dù vậy, trong hầu hết pháp luật của các quốc gia không sử dụng khái niệm

“tậptrung kinh tế”, thay vào khái niệm “sáp nhập và thâu tóm” (Merger and Acquisition – M&A). Các khái niệm này sẽ đượclàm rõ trong chương này.

61Frederic M. Scherer and David Ross (3rd ed, 1990), Industrial Market Structure and Economic Performance, Houghton Mifflin Company.

62 Tlđd 61. 63 Tlđd 61.

64 Thể hiện bằng những biện pháp như nâng cao năng lực tài chính, cải tiếntổchức quản lý, phát triển công nghệ mới, thay đổi chiếnlược sảnxuất kinh doanh… và đôi khi còn cócảviệc tìm kiếm “vận may” trên thương trường thông qua việc mua bán tài sản, thậm chí là mua bán doanh nghiệp.

45

xem xét ở bốn khía cạnh: một là, tập trung tổng hợp thể hiện vị trí tương đối của các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tếđểphục vụcho phân tích kinh tế, chínhtrịvàthống kê; hai là, tập trung công nghiệp hay tập trung thị trường thể hiện vị trí tươngđối vàmức độ quyền lực thị trường của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại để phục vụ cho kiểm soát chống độc quyền; ba là, tập trung tiêu dùng thể hiện thị phần của sản phẩm có một số lượng nhất định người mua trên thị trường và bốn là, tập trung tài sản thể hiện xu hướng thay đổi của dòng tư bản trên thị trường chứng khoán65.

Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD không đưa ra khái niệm TTKT mà sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lại” để chỉ tình huống khi giữa hai hoặc nhiều hơn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động hợp pháp theo đó doanh nghiệp hợp nhất quyền sởhữu đối với tài sản mà trước kia được kiểm soát riêng biệt. Tình huống này bao gồm các hoạt động thâu tóm, liên doanh và các hình thức giành quyền kiểm soát khác, bao gồm cả việc một cá nhân kiêm nhiệm chức vụ quản lý ở nhiều doanh nghiệp khác nhau.

Trong các tài liệu như Public regulation of business66, Business Law and Regulatory Environment: Concepts and Cases67, The Legal and Regulatory Environment of Business68 thể hiện cách tiếp cận về kiểm soát TTKT như một hình thức điều chỉnh của Nhà nước, điều chỉnh công đối với doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các tài liệu nêu trên, không trực tiếp nhắc đến TTKT mà sử dụng các thuật ngữ mergers (sáp nhập) để chỉ hiện tượng này.

Khái niệm TTKT trong pháp luật của một số quốc gia

Khái niệm TTKT theo quy định của PLCT của các quốc gia trên thế giới cũng khá đa dạng. Pháp luật EU định nghĩa hành vi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tại Quyđịnh về kiểm soát TTKT (EC Merger Control 2004) là “tập trung kinh tế” (economic concentration).Vềcơ bản,mộthoạtđộngTTKTxảyra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp kết hợp lại với nhau, hoặc khi có sự mua lại dưới hình thức kiểm soát đơn lẻhoặc kiểm soát chung toàn bộ hoặc một phần của doanh nghiệp hiện tại; hoặc khi một liên doanhđược tạo ra với mức độ tự chủ đầy đủ(full control joint-venture)69. Theo

65 Tlđd 34. 66 Tlđd 41. 67 Tlđd 42. 68 Tlđd 43.

69 ECMR Điều 3(1).

46

quy định tại Điều L430-1 Bộ luật Thương mại Pháp70, khái niệm TTKT được diễn đạt bằng hình thức liệt kê, cụ thể TTKT có thể diễn ra dưới hai hình thức sau đây: (i) Hai hoặc nhiều doanh nghiệp độc lập sáp nhập hoặc hợp nhất với nhau; (ii) Một hoặc nhiều doanh nghiệp, hoặc những người đang nắm quyền kiểm soát những doanh nghiệp đó, tiến hành nắmlấyquyền kiểm soátđốivới mộtphần hoặc toànbộmộthoặc nhiều doanh nghiệp khác, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, dưới hình thức góp vốn, mua lại tài sản, kýkết hợp đồnghoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác71. Cách tiếp cận này cóđiểm tương đồng với định nghĩa về TTKT theo Điều 17 của LCT 2004.

Theo Luật Chống HCCT của Đức, sửa đổi lần thứ 9 Luật Chống HCCT72 thông qua tháng 3/2017 và có hiệu lực từ tháng 5/2017, trong đó có cập nhật ngưỡng thông báo TTKT theo Chỉ thị của Liên minh châu Âu, TTKT được thực hiện thông qua các hình thức mua lại toàn bộ hoặc phần lớn tài sản của doanh nghiệp khác, mua cổ phần và quyền bỏphiếu để chiếm từ25% đến 50% cổ phần để có được quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc từng phần của một hay nhiều doanh nghiệp khác hoặc các hình thức liên kết khác giữa các doanh nghiệp để tạo ra sự chi phối của một hoặc một số doanh nghiệp73. Tương tựnhư quyđịnh về “mua lại” trong pháp luật Việt Nam, TTKT có thể bao gồm việc mua lại cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hay từng phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác.

Tương tự, khái niệm TTKT được định nghĩa theo pháp luật chống độc quyền Trung Quốc74 dưới hình thức liệt kê. Theo đó, một vụ TTKT được hiểu là (i) vụ TTKT giữa các chủ thể kinh doanh; hoặc (ii) việc thâu tóm (acquisition)đối với một chủ thểkinh doanh khác bằng hình thức mua lại tài sản hoặc phần vốn góp nhằm kiểm soátđối với một chủ thể kinh doanh khác; hoặc (iii) việc thâu tóm dưới hình thức một hợp

70 Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp, Luật sửa đổi, bổ sung 2013, có hiệu lực từ ngày 01/07/2013. Truy cập

tại địa chỉ https://www.legifrance.gouv.fr/Media/Traductions/English-

en/code_commerce_part_L_EN_20130701, ngày 20/10/2017.

71 Ở đây, quyền kiểm soát được hiểu là khả năng chi phối hoạt động của doanh nghiệp khác, cho dù chủ thể của quyền kiểm soát đã có được khả năng đó bằng bất kỳ cách thức nào: nhận chuyển giao quyềnsở hữuhoặc quyền hưởng dụng đối với một phầnhoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp khác; thực hiện những giao dịch tạo ra quyền chi phối đối với thành phần, cơ chế ra quyết định của các cơ quan quản lý của doanh nghiệp khác, hoặc đối với nội dung các quyết định của các cơ quan này. XemỦyban Quốc gia về hợp tác kinh tế Quốc tế (2005), Chính sách và thực tiễn PLCT của Cộng hòa Pháp, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.95.

72 Luật Chống Hạn chế cạnh tranh của Đức được thông qua vào năm 1957.

73 Sửa đổi lầnthứ 9 Luật ChốnghạnchếCạnh tranh thông qua tháng 9/2017 (Act against Restraints of Competition ARC) (Gesetz gegen Wettbewerbsbeschränkungen).

74 Điều 20 Luật Chống độc quyền (AML, 2008). Văn bản hướng dẫn “Các biện pháp thông báo đối với tập trung kinh tế của doanh nghiệp” (2009); Quy định tạm thời về “Thực hiện bán lại tài sản hoặc hoạt động kinh doanh trong các vụ việc tập trung kinh tế” (2010); Quy định về “Biện pháp tạm thời về các vấn đề liên quan đến thực thi hệ thống rà soát mua bán sáp nhập các doanh nghiệp nội địa bởi các doanh nghiệp nước ngoài” (2011).

47

đồng hoặc những biện pháp khác nhằm kiểm soát, hoặc có khả năng thực hiện một tác động có tính quyết định đối với một chủ thể kinh doanh khác. Ngoài các hình thức này, hình thức liên doanh cũng được coi là một trường hợp phải thông báo nếu nhưđáp ứng tiêu chí về ngưỡng thông báo (thresholds). Cách định nghĩa theo kiểu liệt kênhư vậy tương tự như cách thức quy định của pháp luật Việt Nam, trong đó đặc điểm chung là nắm giữ quyền kiểm soát đối với một hoặc một số doanh nghiệp khác.

Tại Liên bang Nga, theo Khoản 21 Điều 4 Luật về bảo vệ cạnh tranh Liên bang Nga, TTKT là việc thực hiện những hợp đồng, những hành động khác làm ảnh hưởngđến tình trạng cạnh tranh. Ở đây cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua của các chủ thểkinh doanh khi hành động độc lập của mỗi chủ thể loại trừ hoặc hạn chế khả năng của chủ thể khác đơn phương ảnh hưởng đến các điều kiện chung của luân chuyển hàng hóa trên thị trường liên quan75. Như vậy, PLCT Liên bang Nga đưa ra khái niệm TTKT tương đối rộng, bao gồm tất cả những hợp đồng và hành động có thể làm ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thịtrường liên quan. Theo tácgiảKovalkova M.V thìTTKT là việc thực hiện thông qua các thủ tục tổ chức lại hoặc hợp đồng quá trình tập trung các tài nguyên vật chất và quản lýđể củng cốvị trí kinh tế của chủ thể kinh doanh đã tồn tại hoặc được tổ chức lại, dẫn đến việc chủ thể có thể gây ảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh của các chủ thể khác hoặc đến thị trường liên quan76. Theo cách hiểu này, vụ TTKT có thể dẫn đến hiệu ứng tập trung quyền lực thị trường vào tay một/mộtsố đối thủcạnh tranhdẫnđến khả năng tăng giá hoặc sử dụng giá vào mục đích cạnh tranh cũng như khả năng tiềm tàng thực hiện các hành vi HCCT khác. Việc thayđổi cấu trúc, tương quan trên thị trường cũng có khả năng dẫn đến việc chấm dứt tồn tại, rút lui khỏithịtrường, buộc các doanh nghiệp khác phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc điều chỉnh lĩnh vực hoạt động của mình. Khác với khái niệm TTKT theo pháp luật Việt Nam, khái niệm TTKT của Liên bang Nga có nội hàm rộng hơn và hướng về hậu quả của vụ TTKT.

Khácvớicách tiếpcậncủacác quốc gia nói trên,Đạoluật Chốngđộcquyền Clayton (Clayton Antitrust Act) của Hoa Kỳ77, Mục 7 nghiêm cấm bất kỳ giao dịch mua

75 Tlđd 52.

76 Ковалькова М.В. (2005), Государственный антимонопольный контроль в российском иамериканском праве:Сравнительно-правовойаспект,Дис.канд. юрид. наук.Ставрополь.(Kovalkova M.V. (2005), Kiểm soát chống độc quyền nhà nước trong luật Nga và Hoa Kỳ: từ góc độ so sánh luật, Luận án Tiến sĩ Luật, Stavropol).

77 Ban hành năm 1914 (15 U.S.C §18) là Đạo luật Chống độc quyền Liên bang cơ bản về kiểm soát sáp nhập và mua lại. Quy định về kiểm soát mua bán sáp nhậpđượcquy định chi tiết bằng Hướng dẫn Sáp nhập theo hàng ngang (Horizontal Mergers Guidelines) ban hành bởi Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ lầnđầutiên vào năm

48

lại cổ phần hoặc tài sản trong các giao dịch ảnh hưởng đến thị trường và có khả năng dẫn tới HCCT một cách đáng kể, hoặc có xu hướng tạo ra độc quyền trên thị trường. Cụ thể, hướng dẫn này khẳng định, một vụ sáp nhập sẽ không được phép nếu nó tạo ra hoặc tăng cường sức mạnh thị trường hoặc tạo điều kiện cho việc tăng cường sức mạnh thị trường. Qua đây có thể thấy cách tiếp cận của pháp luật Hoa Kỳ không đưa ra định nghĩa TTKT mà thông qua việc miêu tả các hành vi cụ thể như sáp nhập hoặc mua lại cổ phần hoặc tài sản, đồng thời nhìn nhận nó chủ yếu thông qua hậu quả gây ra HCCT hay không? Tại Nhật Bản, Chương IVcủaLuật Chốngđộcquyền NhậtBản(Anti – Monopoly Act (AMA)78, quy định về sáp nhập áp dụng đối với sáp nhập và mua lại có tác động hạn chếđáng kể cạnh tranh trong bất kỳ lĩnh vực thương mại cụ thể nào (nghĩa là ở bất kỳthịtrường nào) và những hành vi tập trung quyền lực kinh tế một cách quá mức79.

Tương tự, LCT Liên bang Úcchỉquy định một công ty không được trực tiếp hoặc gián tiếp mua lại cổ phần của một công ty hoặc một bên khác (person) nếu nhưviệc mua lại đó có tác động, hoặc có khả năng gây tác động làm suy giảmđáng kể sựcạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, Mục 50A cũng áp dụng đối với các giao dịch TTKT diễn ra bên ngoài lãnh thổ nước Úc nhưng có thể tác động hoặc có khả năng tác động HCCT đáng kể trên thị trường Úc. Cả hai Mục này đều không đề cập đếnđịnh nghĩa TTKT80. Trêncơ sởnhững quy định chung đó, các quy định về kiểm soát TTKT được áp dụngđối vớicác hìnhthức cụthể là sáp nhập, mua lại và liên doanh81. Cách tiếp cận của các quốc gia này khác với cách tiếp cận về khái niệm TTKT theo pháp luật Việt Nam, theo đó không giới hạn về các hình thức TTKT, thay vào đó làxem xét ở tiêu chí tác động HCCT của vụ TTKT.

1992, hiện tại đã được thay thế bằng Hướng dẫn mới ban hành vào 19/8/2010. Xem https://www.ftc.gov/sites/default/files/attachments/merger-review/100819hmg.pdf, truy cập ngày 19/10/2017/ 78 Luật số 54 ngày 14/4/1947, còn đượcgọi là Đạoluật về Ngăn chặn độc quyền tư nhân và duy trì Thương

mại công bằng. Truy cập tại địa chỉ

http://www.jftc.go.jp/en/legislation_gls/amended_ama09/index.files/The_Antimonopoly_Act.pdf, ngày 16/10/2017.

79 Điều 9 và 10 Luật Chống độc quyền Nhật Bản năm 1947 (sửa đổi). Truy cập tại địa chỉ http://www.jftc.go.jp/en/legislation_gls/amended_ama09/amended_ama15_04.html, ngày 16/10/2010.

80 Mục 50 LCT và Tiêu dùng Australia 2010. Tài liệu truy cập tại https://www.legislation.gov.au/Details/C2013C00004, ngày 19/10/2017.

81 Mục 50 CCA 2010 áp dụng đối với hình thức sáp nhập và mua lại (merger & acquisition), bao gồm việc mua lại cổphần hoặc tài sản có tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cáchđáng kể ở bất kỳ thị trường nào tại Úc. Tuy nhiên, CCA không quy định mức doanh thu tối thiểu hoặc các ngưỡng khácđểáp dụng Mục 50 hoặc 50A, do đó việc mua lại với bất kỳ quy mô nào cũng có thể là mục tiêu của các quy định này. Đối với hình thức liên doanh (join venture) thì CCA 2010 áp dụng trong trường hợp nếu liên quanđến việc mua lại cổ phần hoặc tài sản. Các quy định khác của CCA cũng có thể liên quanđếnliên doanh, bao gồm các quy định về hành vi cartel dân sự và hình sự, các quy định về miễn trừ và bảođảmđối với các liên doanh và các điều khoản liên quan liên quan đến các thỏa thuận HCCT.

49

Các nước ASEAN82 có những cáchđịnhnghĩa TTKT khác nhau, tuy nhiên, nhìn chung là có những tương đồng với pháp luật Việt Nam. Theo pháp luật chống độc quyền Thái Lan, hành vi TTKT bao gồmviệc mua lại và sáp nhập hai hoặc nhiều công ty có thể dưới các hình thức sau: (i) sáp nhập (hợp nhất), (ii) mua lại cổ phần,

(iii) mua lại tài sản. Trong ba hình thức trên thì hình thức hợp nhất ít phổ biến tại Thái Lan do Thái Lan không khuyến khích hình thức hợp nhất các công ty. Tuy nhiên, quyđịnh tại Mục 26 cho thấy cách tiếp cận của Thái Lan bao gồmTTKT theo chiều ngang, chiều dọc và hỗn hợp, chẳng hạn giữa một nhà sản xuất này với một nhà sản xuất khác; giữa một nhà phân phối này với một nhà phân phối khác; giữa một nhàsản xuất với một nhà phân phối khác; hoặc giữa một nhà cung cấp dịch vụ này với một nhà cung cấp dịch vụ khác. Ngoài ra, TTKT còn được hiểu là việc mua lại toàn bộ hoặc một phần tài sản hoặc cổ phần của một doanh nghiệp khác nhằm mục tiêu chiếm giữ quyền quản lý, bao gồm quản lý và quản trị doanh nghiệp83.

Đối với Indonesia, Luật Chống độc quyền 1999 cấm sáp nhập và hợp nhất chủthể kinh doanh và thâu tóm đối với vốn góp của công ty nếu chúng có tác động bất lợi đối với cạnh tranh trên thị trường.84 Cách tiếp cận này tương tự như cách tiếp cận của LCT Liên bang Úc. Đáng chú ý là, việc thành lập một liên doanh mới và thâu tóm tài sản sẽ không được coi là một vụ TTKT và vì thế không chịu sự điều chỉnh của luật này. Theo LCT Philippines 2015, hành vi TTKT được định nghĩa thông qua khái niệm “sáp nhập” và “mua lại”. Sáp nhập được hiểu là việc kết hợp của hai hoặc nhiều thực thể vào một thực thể đang tồn tại hoặc tạo thành một thực thể mới. Hành vi mua lại được hiểu là việc mua cổ phần hoặc tài sản hoặc những cách thức khác nhằm mục đích chiếm quyền sở hữu bởi một thực thể đối với toàn bộ hoặc một phần của một doanh nghiệp thực thể khác; của hai hoặc nhiều thực thể đối với một thực thể khác khác; hoặc của một hoặc nhiều thực thể đối với một hoặc nhiều thực thể trởlên.85 Ở Singapore, TTKT được hiểu là các hình thức sáp nhập, thâu tóm tài sản và vốn góp, việc thâu tóm các cổ phần thiểu số, thành lập liên doanh hoặc các hành vi khác dẫn đến việc sáp nhập86. Cụ thể, TTKT được hiểu là việc hai hoặc nhiều chủ

82 Bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore và Lào.

83 Mục 26 LCT Thái Lan năm 1999 (Competition Act 1999), Luật số B.E. 2542 (1999). Truy cập tại địa chỉ http://www.wipo.int/wipolex/en/text.jsp?file_id=215726, ngày 16/10/2017.

84 Điều 28 LCT Indonesia năm 1999. Truy cập tại địa chỉ http://eng.kppu.go.id/newkppu/wp- content/uploads/2016/11/law_5_year_1999_.pdf, ngày 19/10/2017.

85 Mục 4 (Giải thích thuật ngữ), LCT Cộng hòa Philippines năm 2015, Luật số No. 10667. Truy cập tại địa chỉhttp://www.officialgazette.gov.ph/2015/07/21/republic-act-no-10667/ ngày 15/10/2017.

86 Mục 54 LCT Singapore năm 2007

50

thể, trước đây độc lập với nhau, hợp nhất lại với nhau; hoặc một hoặc một số cá nhân hoặc các chủ thể khác nắm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của toàn bộ hoặc một phần của một hoặc nhiều chủ thể khác; hoặc do kết quả của việc mua lại bởi một cam kết của tài sản; hoặc một phần của tài sản nhằm thay thế vị trí hoặc thay thế một cách đáng kể chủ thể thứ hai hoặc là lĩnh vực kinh doanh mà trong đó chủ thể kinh doanh khác đã tham gia vào trước vụ mua lại87.

Như vậy, có thể thấy rằng hầu hết các quốc gia đều không đưa ra một định nghĩađầy đủ về TTKT. Thay vào đó, khái niệm TTKT được thể hiện bằng cách liệt kê các hành vi TTKT. Khái niệm này thường thể hiện dưới dạng các điều khoản về giải thích từ ngữ hoặc thể hiện trong các quy định cụ thể về kiểm soát TTKT. Ngoài ra, khái niệm TTKT thường gắn liền với vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp dẫn đến những thayđổi trong cấutrúcthịtrường cũng như tương quan của các doanh nghiệp trên thịtrường. Ngoài ra, thực tiễn pháp luật kiểm soát TTKT của các nước thể hiện quanđiểm chỉ kiểm soát/ngăn cấm những vụ TTKT có gây ra hoặc khả năng gây tác động tiêu cực đến cạnh tranh.

Khái niệm TTKT ở Việt Nam

Khái niệm TTKT ở Việt Nam được xem xét chủ yếu như tập trung công nghiệp hay thị trường và cũng có những cách tiếp cận khác nhau. Theo Giáo trình LCT của Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì với tưcách là hành vi của các doanh nghiệp, TTKT (còn gọi là tập trung tưbản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tưbản88 lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác89. Giáo trình LCT của tác giả Tăng Văn Nghĩa đưa ra khái niệm TTKT là những hình thức tích tụ, tập trung nguồn lực của doanh nghiệp trên thị trường nhằm hình thành những chủ thể kinh doanh lớn hơn hoặc liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua những con đường khác nhau để hình thành một chủ thể kinh doanh thống nhất90. Giáo trình LCT và Giải quyết tranh chấp thương mại của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa TTKT là hành vi tích tụ quyền lực thị trường của

87Hướng dẫncủa Cơ quan Cạnh tranh Singapore (CCS) về những điều khoản cơ bảnấnhành năm 2016 (đối

với Mục 54 LCT Singapore 2007). Truy cập tại địa chỉhttps://www.ccs.gov.sg/~/media/custom/ccs/files/legislation/ccs%20guidelines/guidelines%20finalise%20apr %202017/guidelines%20on%20the%20major%20provisions%20apr%2017.ashx, ngày 14/10/2017.

88 Tư bảnđượchiểu là các giá trị kinh tế trênthị trường đượcsử dụng để tìm kiếm giá trị thặng dư như vốn, công nghệ, trình độ quản lý.

89 Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình LCT, Nxb. Đại học Quốc gia, tr.148.

90 Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình LCT, Nxb. Giáo dục Việt Nam, tr.103.

51

các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường liên quan với mục đích HCCT trên thị trường liên quan đó thông qua việc giảm bớt số lượng đối thủ cạnh tranh hoặc tạo ra sự liên kết giữa các đối thủ để HCCT91. Định nghĩa này đi theo cách tiếp cận xem xét hậu quả của hành vi TTKT đối với cạnh tranh và đặc biệt là chỉ xem xét hành vi TTKT ở góc độ giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh.

Tựu trung lại, có ba cách tiếp cận cơ bản về khái niệm TTKT:

Một là, TTKT được nhìn nhận với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường.

Ở góc độ này, TTKT trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất92. Cách nhìn nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của TTKTđối với cấu trúc thị trường cạnh tranh, coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần của khái niệm TTKT. Ở góc độ này, khái niệm TTKT có thể phân biệt với tập trung sản xuất93.

Hai là, TTKT được xem xét với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp có khảnăng gây HCCT.

TTKT hay còn gọi là tập trung tư bản có thể được hiểu là sự tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác. Khái niệm này thể hiện bản chất và phương thức của hiện tượng TTKT.

Cũng có thể thấy rằng, trong nền KTTT thì TTKT làhoạt độngphổ biến của các doanh nghiệp với mục đích tăng cường tiềm lực kinh tế, tạo ra các doanh nghiệp mới có quy mô lớn hơn. Vì thế, TTKT là hoạt động tiềm tàng khả năng dẫn đến kết quả là hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc ở một mức độ cao hơn là vịtrí độc quyền trên thị trường. Với việc có được những vị trí này, doanh nghiệp có xu hướng lạm dụng vị trí của mình để thực hiện các hành vi gây tác động tiêu cực cho thị trường, cho doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, bao gồm việc tăng giá,ấn định

91 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình LCT và Giải quyết tranh chấp Thương mại, Nxb. Hồng Đức,TP. Hồ Chí Minh, tr.211.

92 Lê Viết Thái (2005), Chuyên đề nghiên cứuvềhành vi tập trung kinh tế, Đề tài nghiên cứu khoa học “Thểchế cạnh tranh tại Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam”, Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Thương mại.

93Tậptrung sản xuất được hiểu là sự hợp nhất một số cơ sở sản xuất thành một xí nghiệp lớn, sự mở rộng sản xuất trên cơ sở quá trình phát triển khách quan của lực lượng sản xuất dựa vào kỹ thuật máy móc.Tậptrung sảnxuất diễn ra một cách tự phát, trong tiến trình cạnh tranh, khi những xí nghiệplớnthôn tính những xí nghiệp nhỏ, còn những xí nghiệplớn hợpnhất thành những xí nghiệp kếch xù. Tập trung sản xuất được thực hiện thông qua tập trung tư bản. Tập trung và tích tụ tư bản và sản xuất phát triển đếnmức độ nhất định sẽ dẫnđến sự ra đời của các tổ chức độc quyền, tập trung trong tay chúng phần rất lớn sản xuất xã hội. Xem M.I.Voncop (1987),TừđiểnKinh tế chính trị học, Nxb. Tiến bộ, tr.403.

52

khối lượng, sản lượng hoặc tạo ra các rào cản… Chính vì thế, các hành vi TTKT cần thiết phải được kiểm soát94.

Ba là, TTKT được xem dưới góc độ pháp luật như là một hành vi pháp lý.

LCT 2004 không quy định thế nào là TTKT mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là TTKT95. Theo đó, Khoản 3 Điều 3 khẳng định TTKT là hành vi HCCT; Điều 16 liệt kê: TTKT là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp; các hành vi TTKT khác theo quy định của pháp luật96.

Sự liệt kê này đã làm rõ các hình thức TTKT. Trên thực tế, các doanh nghiệp cóthể thực hiện việc TTKT bằng conđườngthôn tính hay chi phối doanh nghiệp khác thông qua hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường vốn. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà pháp luật doanh nghiệp hay pháp luật chứng khoán thường quan tâm vấn đề về khống chế mức tham gia góp vốn vào một doanh nghiệp hay tỷ lệ mà mỗi nhà đầu tư mua trong mỗi đợt phát hành cổ phiếu. Những hình thức đầu tư vào doanh nghiệp khác, đến một mức độ nào đó, có thể coi là một hình thức khác của TTKT97.

Như vậy, qua việc nghiên cứu quyđịnhpháp luật và khoa học pháp lý ở các nước trên thế giới, có thể thấy TTKT được tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh giành quyền kiểm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp. Điều này cũng đã thể hiện bản chất của hành vi TTKT như sau:

Một là, về bản chất, TTKT được coi là hiện tượng bình thường trong hoạt động kinh doanh và tự thân TTKT là hoàn toàn hợp pháp theo pháp luật về doanh nghiệp, đầu

tư, chứng khoán… TTKT cũng không phải là hành vi HCCT, mà mới chỉ là nguy cơ tiềm năng có thể gây ra hành vi HCCT. Do đó, Nhà nước chỉ nên can thiệp hoặc cấm đoán khi có đầy đủ cơ sở khẳng định TTKT gây ra tác động đáng kể cho cạnh tranh.

Hai là,bảnchất của TTKT chính là hành vi tập trung quyền lực thịtrường (market power)98 và việc tập trung này được thực hiện dưới các hình thức khác nhau nhưng đều có chung dấu hiệu là làm tăng khả năng duy trì giá cả trên mức giá cạnh

94 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình LCT, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, tr.244.

95 PLCT của các nước trên thế giới cũng thường hướng vào việc xác định các dấu hiệu cũng như hình thức thực hiện TTKT mà không đưa ra quy định giải thích TTKT là gì.

96Vấn đề sẽ còn bỏ ngỏ lànhững trường hợp TTKT khác theo quy định của pháp luật. Đây là cách quy định “dự phòng” của nhà làm luật với hy vọng là để bao quát hết những hiện tượng đã được ghi nhận ở pháp luật chuyên ngành hoặc sẽ xuất hiện trong đời sống kinh tế và vì thế sẽ được pháp luật quy định.

97 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương mại, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 372.

98 Quyền lực thị trường hay sức mạnh thị trường là một thuật ngữ kinh tế thông dụng được dùng trong lĩnh vực cạnh tranh để đánh giá khả năng của hành vi thỏa thuận hay hành vi đơn phương được thực hiện bởi các chủthể kinh doanh trên thị trường.

53

tranh hoặc giảm chất lượng hoặc sản lượng xuốngdưới mức cạnhtranh mà vẫn thuđượclợinhuận99. Khi thực hiện TTKT, các doanh nghiệp cóthểcó sức mạnhthịtrường đáng kể (significant/substantial market power)thường được hiểu làsức mạnh thị trường ở một mức độ đủ để làmdoanh nghiệp không phải đối mặt hay ít phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các đối thủ khác trên thị trường, hoặc ít chịu sức ép từviệc gia nhập ngành của các đối thủtiềm năng. Vì vậy, doanh nghiệp có thểhànhđộng một cách tương đối độc lập với đối thủ cạnh tranh cũng như là với người tiêu dùng và có khả năng tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giáđược xác định trong thị trường cạnh tranh hoặc từ việc hạn chế sản lượng hay chất lượng dưới mức của thị trường cạnh tranh100.

Ba là, với việc coi tác động của TTKT đối với cạnh tranh là nguy cơ tiềm năng, việc xem xét bản chất của hành vi TTKT nhất thiết cần xác định được sức mạnh thịtrường mà TTKT sẽ tạo ra và tác động của nó. Sức mạnhthị trường ở đây cóthể được tiếp cận ở hai góc độ: sức mạnh về giá và sức mạnh loại trừ. Sức mạnh về giá là khảnăng có thể gia tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giá cạnh tranh hoặc khảnăng kiểm soát, hạn chếsản lượng đểtăng giá. Trong khi đó, sức mạnh loại trừ là khả năng vượt trội trên thị trường để có thể thực hiện hành vi ngăn cản, kìm hãm hay loạitrừđốithủcạnh tranh, xâm hại trực tiếpđếncấu trúc cạnh tranh và từđócó thểtăng giá101. Đâychính là lý do mà trong quá trình kiểm soát TTKT, mối quan tâm hàng đầu của CQCT là liệu sự hợp nhất sau TTKT có khả năng

tạo ra doanh nghiệp thống lĩnh với sức mạnh đáng kể để dễ dàng trục lợi từ khách hàng thông qua việc định giá cao hơn mức cạnh tranh trước đó hay không?

Trên cơ sở tiếp cận từ khía cạnh giành quyền kiểm soát, quyền quản lý phát sinh từquyền sở hữu tài sản, phần vốn góp, theo tác giả: TTKT là hành vi của doanh nghiệp thực hiện việc tập trung quyền lực thị trường thông qua các thủ tục tổ chức lại hoặc hợp đồng

tập trung các tài nguyên vật chất và quản lý để củng cố vị trí kinh tế của chủ thể kinh doanh đã tồn tại hoặc được tổ chức lại, dẫn đến việc chủ thể có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể khác hoặc ảnh hưởng đến thị trường liên quan.

99 Xem: Hướng dẫn về sáp nhập theo chiều ngang của Bộ Tư pháp và Ủy ban Thương mại công bằng Hoa Kỳ1992 vàHướngdẫn của Cục Thương mại công bằng Anh về Đánh giá sức mạnh thị trường 2004 (OFT 415). Trích theo: Lưu Hương Ly (2012), Đánh giá sức mạnh thị trường trong LCT năm 2004, Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp, số 6. Tài liệu truy cập tại địa chỉ: http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/ThucTienPhapLuat/View_detail.aspx?ItemID=84.

100 Xem: Phùng Văn Thành (2012), Sức mạnh thị trường đáng kể từ góc độ lý thuyết kinh tế đến quy định của PLCT, Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng, số 36, tr.22.

101Đâylà cách tiếp cận của các học giả theo trường phái hậu Chicago và được xem xét nhiều hơn trên cơ sở quy định của pháp luật chống độc quyền Hoa Kỳ. Xem: Khái niệm thống lĩnh của GS. Giorgio Monti, London School of Economic, trích theo Tlđd 100, tr.22.

54

2.1.1.2. Đặc điểm tập trung kinh tế

Cho dù được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và được diễn tả bằng những ngôn ngữ pháp lý khác nhau, về cơ bản TTKT được thể hiện qua những nội dung sau:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện TTKT là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường. Tham gia TTKT phải có ít nhất hai chủ thể tồn tại độc lập thực hiện việc tập

trung sức mạnh kinh tế (trong hợp nhất, liên doanh) hoặc dồn sức mạnh kinh tế cho một chủ thể (trong sáp nhập, mua lại). Theo Điều 2 LCT 2004, chủ thể tham gia TTKT cóthểlà tổ chức, cá nhân kinh doanh (được gọi chung là doanh nghiệp). Vềcơ bản, các doanh nghiệp tham gia TTKT có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan.

Tuy nhiên, theo PLCT Việt Nam hiện nay, hành vi TTKT chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp đanghoạt độngtrên cùng một thị trường liên quan, nghĩa là TTKT theo chiều ngang. Ngoài ra, tùy thuộc vào hình thức TTKT mà chủ thể thực hiện hành vi TTKT phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Nhưvậy, dưới góc độpháp luật,đặc điểm phảicó nhiều doanh nghiệp tham gia TTKT đã giúp phân biệt với TTKT dưới góc độ kinh tế, được hiểu là sự tăng trưởng nội sinh của một doanh nghiệp trên cơ sở tựmở rộngnănglực sảnxuất, kinh doanh của mình.Dấuhiệu chủ thể thực hiện hành vi TTKT là doanh nghiệp cũng giúp phân biệt với hành vi đầu tư vào doanh nghiệp của các cá nhân. Với vai trò là nhà đầu tư, các cá nhân có thể góp vốn vào nhiều doanh nghiệp và là chủ sở hữu của nhiều cơ sởkinh doanh nhưng việc góp vốn này có thể không phải là hành vi TTKT.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *