Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

MỞĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ởViệt Nam hiện nay, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, đa dạng hóa hệ thống các hình phạt và những biện pháp tư pháp, cụ thể hóa các căn cứ quyết định hình phạt hay chế tài đối với các tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm, pháp luật hình sựnước ta cũngđồngthời phân hóa các trườnghợpphạm tội, các đốitượng phạmtộikhác nhauđểcóđườnglốixửlý phù hợp, nhanh chóng, chính xác và công bằng. Đặc biệt, sự phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tộicònthểhiện ởchỗkhông phảitấtcảcác trườnghợpphạmtộihaytấtcảnhững người phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đó là trường hợp khi có đầy đủnhững điều kiện do pháp luật hình sự quy định, thì một người đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà nhà làm luật coi là tội phạm cóthểkhông phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể phải chịu trách nhiệm hình sựmột phần hoặc cũng có thểđược miễntrách nhiệm hình sự.

Làmộttrong nhữngchếđịnhquan trọng của luật hìnhsự ViệtNam, miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hìnhsựvà nguyên tắc nhân đạocủa Nhànước tađốivớingườiphạm tội, đồngthờiđộngviên, khuyến khíchngườiphạmtộilậpcông chuộc tội, chứngtỏkhảnăng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Miễn trách nhiệm hình sự cũng có mối quan hệ hữu cơ vàchặtchẽvớichếđịnhtrách nhiệm hìnhsự,vì giải quyếttốtvấn đềtrách nhiệm hình sự, đồng thời áp dụng đúng đắn và chính xác chế định miễn trách nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong công tác phòng và chốngtộiphạm, bảovệcác lợiích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

1

Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, chế định miễn trách nhiệm hình sự vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cáchsâu sắc, đầy đủ, có hệ thống và toàn diện. Chẳng hạn, dưới góc độ khoa học, hàng loạt vấn đềcần được làm sáng tỏ đểcó quan điểm thống nhất và đầy đủnhư khái niệm, bảnchất pháp lý và các hậuquảcụthểcủa việc miễn trách nhiệm hình sự, lịch sử phát triển của các quy phạm về chế định này, nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự các nước có quy định về miễn trách nhiệm hình sự hay việc tổng kết và đánh giá thực tiễn áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự, các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng… Ngoài ra, trong pháp luật hình sự thực định (Bộluật hìnhsựnăm 1999), nhà làm luậtnước ta cũng chưa ghi nhận khái niệm pháp lývềmiễn trách nhiệm hình sự, hậuquảpháp lý của việc miễn trách nhiệm hình sự; hoặc các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự vẫn còn được quy định rải rác ở các điều luật, các chương thuộc Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự nên việc quy định như vậy rõ ràng là chưa chính xác về mặt khoa học và chưa đạt về mặt lập pháp. Mặt khác, thực tiễn áp dụng chếđịnhnày cũngđãđặtra nhiềuvướngmắc đòihỏikhoa học luật hìnhsựphải nghiên cứu, giải quyết như căncứáp dụng miễn trách nhiệm hình sự, tiêu chí đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tiêu chí phân biệt các trườnghợpgiảmnhẹtrách nhiệm hìnhsựvớicác trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự do có sự can thiệp của các cơ quan đảng, chính quyền địa phương; v.v…

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự và sự thể hiện chúng trong các quy định của Bộluật hìnhsựnăm 1999 hiện hành, đồngthời đánh giá việc áp dụngchếđịnh miễn trách nhiệm hình sự trongthực tiễn đểđưa ra kiến giải lập pháp là môhình lý luận và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về chếđịnh này trong giai đoạn hiện nay không những có ý nghĩa lý luận – thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây cũng là lý

2

do luận chứng cho việc chúng tôi quyết địnhchọn đềtài “Những vấn đềlýluận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích, nhiệm vụ, đốitƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận án

5

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sángtỏmộtcách cóhệthống và toàn diệnvềmặtlý luận nhữngnộidung cơbảncủa chếđịnhmiễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng chế định này trong thực tiễn, từ đóxác định những bất cập đểđềxuất kiến giải lập pháp bằng việc đưa ra mô hình lý luận của các quy phạm vềchếđịnhmiễn trách nhiệm hìnhsựtrong luật hình sự nước ta, cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quảáp dụng chế định đãnêu trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từmục đích nghiêncứunêu trên, tác giảluận án đặtcho mình các nhiệmvụnghiên cứu chếđịnhmiễn trách nhiệm hìnhsựtrong luật hìnhsựViệt Nam dưới góc độ lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến nay, phân tích khái niệm, các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự, mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự đểkiến nghị nên giao duy nhất cho Tòa án có thẩm quyền áp dụng hai chế định này; phân loại các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, phân tích nội dung và điều kiện áp dụng của các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộluật hình sự năm 1999 hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản củachếđịnhmiễn trách nhiệm hìnhsựtheo luật hìnhsựViệt Nam.

Vềmặtthực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật hìnhsựvềchếđịnhmiễn trách nhiệm hìnhsựtrong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta, đồng thời phân tích những tồn tại xung quanh việc quy định miễn trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng nhằm đề xuất vàluận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam.

6

3.3. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, cụ thể là: khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sựtrong tương quanvớinhữngchếđịnhkhác, phân loại các trườnghợpmiễn trách nhiệm hình sự, mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, nộidung vàđiềukiện áp dụng của những trườnghợpmiễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, kết hợp vớithực tiễn áp dụng và tham khảo pháp luật hìnhsựcủa mộtsốnước trên thế giới đểqua đó chỉ ra những phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện vàđềxuất các kiến giải lập pháp, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam.

3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Namdưới góc độcủa luật hình sự, đồng thời,ởmộtchừng mực nhất định,luận án cũng cóđềcập đếnmộtsốquy phạm của luậttốtụng hìnhsựnhằm hỗtrợcho việc giải quyết nhiệmvụvàđối tượng nghiên cứu.

Về thời gian, luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hìnhsựViệt Namvềmiễn trách nhiệm hìnhsựtrong giaiđoạntừnăm 1997-2007.

4. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chốngtộiphạm, vềtính nhân đạocủa pháp luật, cũng như thànhtựucủa các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịchsửpháp luật, lý luậnvềNhànước và pháp luật, xãhộihọc pháp luật, luật hình sự, tộiphạm học, luậttố

7

tụng hìnhsựvà triết học, những luận điểmkhoa họctrong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhàkhoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.

Luận án sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học luật hình sự, như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; v.v…Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhànước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xửthuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa án nhân dân tối cao hoặc (và) của các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương ban hành có liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao và địa phương, 207 bản án hình sự, 145 quyết định giám đốc thẩm và hàng trăm tài liệu vụ án hìnhsựtrong thực tiễn xét xử, cũng như những thông tin trên mạng internetđểphân tích, tổnghợpcác tri thức khoa học luật hìnhsựvà luận chứng các vấn đềtương ứng được nghiên cứu trong luận án.

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Đâylà công trình chuyên khảo đầutiên trong khoahọcluật hìnhsựViệt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định miễn trách nhiệm hình sự ở cấp độ một luận án tiến sĩluật học. Trong luận án này, tác giả đã giải quyết về mặt lý luận những vấn đềsau:

1) Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về chế định miễn trách nhiệm hình sự như: khái niệm miễn trách nhiệm hình sự và các đặc điểm xã hội – pháp lý cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự; phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự; phân loại và tiêu chí phân loại các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự;

8

mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm hình sự, qua đó kiến nghị nên giao duy nhất cho Tòa án có thẩm quyền áp dụng hai chế định này.

2) Lần đầu tiên hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm về miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ thời kỳphong kiến cho đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá.

3) Phân tích từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành, đồng thời có nghiên cứu so sánh với pháp luật hình sự một số nước trên thế giới để đưa ra những kết luận khoa học về nội dung và điều kiện áp dụng và đánh giá tổng thể những tồn tạixung quanh việc quy định những trường hợp miễn trách nhiệm hình sựtrên phương diện lý luận và lập pháp hình sự.

4) Lần đầutiên phân tích việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sựViệt Namvềmiễn trách nhiệm hìnhsựtrong thực tiễn của các cơ quanđiều tra, truy tố và xét xử trong thời gian từ năm 1997-2007, qua đó góp phần đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến giải quyết vấn đềtrách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của người phạm tội ởnước ta trong thời gian qua. Đặc biệt, luận án còn chỉ ra một sốtồn tại, vướng mắctrong thực tiễn và những nguyên nhân của thực trạng này đểtìm ra giải pháp khắc phục.

5) Đề xuất mô hình lý luận của các quy phạm về chế định miễn trách nhiệm hình sự với những sửa đổi, bổ sung một số trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đang tồn tại trong thực tiễn, phù hợp với chính sách phân hóa và nguyên tắc nhân đạocủaNhànướccần đượcnhà làm luậtnướcta ghi nhận trongBộluật hình sự năm 1999 hiện hành.

6) Lần đầu tiên trên cơ sở phân tích những nguyên nhân trong thực tiễn áp dụng, luận án đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quyđịnh về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam đểphục vụ

9

yêucầucủathực tiễn công tác phòng và chốngtộiphạm, cũng như việc giáo dục, cải tạo người phạm tội.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Vềmặtlý luận:Đâylà công trình nghiên cứu chuyên khảo đồngbộđầutiên đềcậpmộtcách cóhệthống và toàn diện những vấn đềlý luận vàthực tiễnvềmiễn trách nhiệm hìnhsựtheo luật hìnhsựViệt Namởcấp độmột luận án tiến sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên. Ngoài ra, trong quá trình hoàn thành luận án, tácgiảđãcôngbốnhững kết quả nghiên cứu trong các tạp chí khoa học pháp lý mà danh mục một số công trình khoa học này được đề cập ở phần cuối luận án tiến sĩ.

Về mặtthực tiễn: Luận án góp phần vào việc xác định đúng đắn nhữngđiều kiện cụ thể của từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn điềutra, truy tố, xétxửcủa các cơ quan tiến hànhtốtụng, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sựở khía cạnh lập pháp, cũng như việc áp dụng chúng trong thực tiễn. Đặc biệt,đểgóp phần phân hóa tội phạm và người phạm tội, đồng thời nhân đạo hóa hơnnữachính sách hìnhsựcủaNhànước ta và nhằm phùhợpvớicác yêu cầu của thực tiễn xét xử, luận án cũng kiến nghị bổ sung một số trường hợp cóthể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, nhưng lại chưa được nhà làm luật nước ta quy định trong Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, luận án còn cóýnghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học – luật gia, cán bộ thực tiễn của các cơ quan bảo vệpháp luật và Tòa án, các sinh viên, họcviên cao học và nghiêncứusinh chuyên ngành tư pháp hình sự, phục vụcho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay.

7. Bố cục của luận án

10

Ngoài phần Mởđầu,Kếtluận, Danh mục tài liệu tham khảo vàPhụlục, luận án gồm 3 chương và được chia thành 8 mục với cơ cấu như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về miễn trách nhiệm hình sự. Chương 2: Các trườnghợpmiễn trách nhiệm hìnhsựtheo pháp luật

hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng.

Chương 3: Những phươnghướngcơbảncủa việc hoàn thiện và một sốgiải pháp nâng cao hiệuquảáp dụng các quyđịnhvềmiễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam.

11

Chương 1

NHỮNG VẤNĐỀLÝ LUẬN CHUNG VỀMIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1.1. KHÁI NIỆM MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNHSỰVÀ PHÂN LOẠI CÁC

TRƢỜNGHỢPMIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNHSỰ

Trong thực tiễn, các hình thức biểu hiện của tội phạm rất đa dạng, phong phú và không baogiờtồntạihai trườnghợpphạmtộixảyra lạitrùng nhau hay giống nhau một cách tuyệt đối từ hành vi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hình thức lỗi, không gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện phạmtộihay nhân thânngườiphạm tội… Do đó, nhà làm luật Việt Nam không thể định lượng một cách chính xác trong luật một hình thức xử lý – hoặc là quá trừu tượng, khái quát, hoặc là lại quá cụ thể, chi tiết để áp dụngmộtcách máy móc đốivớimọitrườnghợpphạmtộihaytấtcảnhững người phạm tội. Cho nên, đòi hỏi trong luật phải bao hàm các hình thức xử lýkhác nhau và ở một chừng mực nhất định vừa phải thể hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội – để có đường lối xử lý phù hợp, chính xác vàcông bằng, nhưng mặt khác – cũng phải bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc của luật hình sự nước ta như: pháp chế, dân chủ, bình đẳng trước luật hình sự…, qua đó còn phản ánh nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng“, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục” trong chính sách hình sựcủa Nhà nước đối với việc cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm. Sự thể hiện nội dung này phản ánh qua nguyên tắc xử lý được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọngđểphân hóa trách nhiệm hình sự trong luật và cá thể hóa trách nhiệm hình sựtrong thực tiễn đối với các trường hợp phạm tội và người phạm tội khác nhau. Nói một cách khác, đúng như GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa đã viết: “Trách nhiệm hình sự càng được phân hóa trong luật thì càng tạo điều kiện cho cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong áp dụng” [47, tr. 28].

12

Với tư cách là một chế định phản ánh chính sách phân hóa trách nhiệm hìnhsựvà nguyên tắc nhân đạotrong luật hìnhsựViệt Nam, miễn trách nhiệm hìnhsựthểhiện ởchỗ: trong thực tiễn đấutranh phòng và chống tội phạm, không phảibấtkỳtrườnghợpnào mộtngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, bị xã hội lên án và đáng bị xử lý về hình sự đều phải chịu trách nhiệm hình sự, mà có trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó vẫn có thểđáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội và phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, thì các cơ quan nhànước có thẩm quyền không buộchọphải chịu trách nhiệm hình sự mà miễn trách nhiệm hình sự cho người đó trên những cơsở chung.

1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trước khi xây dựng khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, vấn đềcơbản đầutiên là phải làm rõ khái niệm trách nhiệm hìnhsựvì miễn trách nhiệm hìnhsựcó mối quanhệhữucơ và chặtchẽvớitrách nhiệm hình sự. Giải quyết rõ ràng, dứtkhoát và chính xác vấn đềtrách nhiệm hìnhsựvàmiễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợicho các cơ quanbảovệpháp luật và Tòa án trong công tác đấutranh phòng và chốngtộiphạm,bảovệcác lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Hiện nay, trong thực tiễn đờisống xã hội, chínhtrịvà pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa tương đối thống nhất. Thứnhất, trách nhiệm làbổnphận, nghĩa vụ, việc phải làm của mộtngườitrước người khác, trước Nhà nước hay trước xã hội. Thứ hai, trách nhiệm là hậu quảbất lợi của một người đãthực hiện hành vi vi phạm bổn phận, nghĩa vụ phải gánh chịu trước người khác, trước Nhà nước hay trước xã hội.

13

Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ được dùng với nghĩa thứ hai vàsử dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, đồng thời là một dạng của trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý được đặt ra tùy theo tính chất vi phạm của hành vi đối với từng nhóm quan hệ xã hội khác nhauđược pháp luậtbảovệ,mànộidung baogồmcác loại như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật… Do đó, vềbản chất, trách nhiệm pháp lý không những bao gồm sự lên án, chỉ trích mà còn làsựphản ứngcủaNhànướcvà xãhộiđốivớichủthểthực hiện hành vi vi phạm pháp luật đã gây ra hoặc đe dọa gây ra hậu quả nguy hiểm ở mức độ nhất định cho xã hội. Nói một cách khác, trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quảbấtlợicủamộtchủthểvi phạm pháp luật phải gánh chịu vàđược thểhiện bằng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được pháp luật quyđịnh.

Làmộtdạng của trách nhiệm pháp lý, xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sựLiên xô cũ trước đây (và Liên bang Nga hiện nay)đãđượcTSKH.PGS. LêVăn Cảm dẫn ra trong Sách chuyên khảo Sau đại học của mình như: có quanđiểm coi trách nhiệm hình sự “là một giai đoạn nhất định của việc thực hiện các quyền và các nghĩa vụ bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự khi mà người phạm tội bị cưỡng chế đối với việc phải chịu những sự tước bỏ nhất định”; hay “là nghĩa vụ của người phạm tội: phải chịu hình phạt và được thểhiện trong việc tướcbỏcó tính chất cá nhân hoặc tính chất tài sản đốivới người đóvì tội phạm đã thực hiện; phải chịu biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự bao gồm những sự tước bỏ, đau đớn, mà pháp luật quyđịnh đối với người đó; phải chịu các hạn chế về quyền lợi theo trình tự đã được pháp luật quy định, đồng thời bị kết án và chịu hình phạt xuất phát từ trình tự tố tụng; phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước”; hoặc “là hậu quả bất lợi do luật quy định đối với người phạm tội được tuyên bằng bản án của Tòa án đối với

Những  vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

ngườiphạm tội, được thểhiện chính trong việc kết án hoặc kết án có kèm theo hình phạt và án tích”… [24, tr. 605-607].

Trong khoa học luật hình sự một số nước khác, khái niệm trách nhiệm hình sự về cơ bản thống nhất và được hiểu “là sự phản ứng hay sự lên án của Nhànước (hay và xã hội) đốivớingườithực hiện hành vi phạmtộivàthểhiện ở bản án mà trong đó họ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế đểtước bỏhoặc hạn chế các quyền hay lợi ích nhất định…” [136, tr. 7-8; 29].

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song tựutrunglạicác nhà khoahọcluật hìnhsựnướctavềcơ bản đều thống nhất về nội hàm của khái niệm trách nhiệm hình sự – là hậu quả pháp lýbất lợi của việc phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [11, tr. 122], [26, tr. 14], [48, tr. 281-282], [62, tr. 14], [77, tr. 65], [97, tr. 41]. Ngoài quan điểm trên, còn có quan điểm khác cho rằng: “Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội” [94, tr. 59]. Theo chúng tôi, quan điểm này chưa thật chính xác vì đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình sự và đồng nhất trách nhiệm hình sự với hình phạt. Trách nhiệm hình sự là khái niệm có nội hàm rộng hơn khái niệm hình phạt. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm vàđược thểhiện bằng việc áp dụngmộthoặc nhiều biện phápcưỡngchếcủa Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội, còn hình phạt chỉlàmộttrong những biện phápcưỡngchếchủyếuvà làmộtdạng của trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, trong trường hợp miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự lại được thể hiện bằng bản án kết tội của Tòa án mà không có việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Cho nên, với việc có bản án kết tội đãcó hiệu lực pháp luật, ngườiphạmtộibịcoi là “người có tội” vìbịTòa án nhân danh Nhà nước kết án vì họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, ở đây mặc dù người này có trách nhiệm hìnhsự,nhưnglạikhôngbịTòa án quyết địnhhình phạt mà làđược miễn

15

hình phạt. Do đó, không thể coi trách nhiệm hình sự phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

Gần đây, PGS.TS. Lê Thị Sơn đã có quan điểm mởrộng hơnvềtrách nhiệm hình sự và cho rằng:

Trách nhiệm hìnhsựtheo nghĩa tổngthểphải baogồmhai mặt: Thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước và chịu trách nhiệm hìnhsựcủa ngườiphạm tội… Tuyđềulàhậuquảcủa việc phạm tội nhưng việc thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự từ phía Nhànước mới đưa đếnkếtquảphải chịu trách nhiệm hìnhsựcủa người phạm tội. Trách nhiệm hình sự thực chất là nội dung của mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, phát sinh từ thời điểm tộiphạm đượcthực hiện.Mốiquanhệnày khôngchỉđược điều chỉnh do luật hình sự mà cả luật tố tụng hình sự và pháp luật về thi hành án [73, tr. 19].

Theo chúng tôi, quanđiểmnày có những nhântốhợplý, được xem xét trong phạm vi mở rộng hai chiều từ cả hai phía chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, đồng thời gắn với thực tiễn thực hiện trách nhiệm hình sự về mặt hình thức (có nghĩa đãđềcậpcảgóc độluậttốtụng hình sự), songởđây, chúng ta chỉ xem xét dưới góc độ luật hình sự về nội dung của khái niệm này.

Từsựphân tíchởtrên, theo quanđiểmcủa chúng tôi, trách nhiệm hình sự được hiểu là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là hậu quả pháp lýbất lợicủaviệc thực hiệntộiphạm vàđược thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội. Như vậy, việc áp dụng trách nhiệm hình sự chính xác đối với người phạm tội có mục đích rất quan trọng mang tính chất xã hội, – “đó lànhằm từngbước hạnchế, đẩylùi và tiếntớithủtiêu tình trạng phạmtộivànhững nguyên nhân làm phát sinhtộiphạm…” [62, tr. 12]. Cho nên, ngoài

16

những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hình sự còn bao gồm những đặc điểm riêng được thừa nhận chung bởi các nhà luật gia – hình sự học như sau:

Một là, trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác.

Hai là, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội. Do đó, không có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sựquy định là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.

Ba là, trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền vànghĩavụnhất định-mộtbên là Nhànước,còn bên kia làngườiphạm tội.Cụthể, Nhà nước, mà đại diện cho nó là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền có quyền xử lý người phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn do pháp luật quy định, còn người phạm tội cónghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước đối vớicác quyền và lợi ích của conngườivà của công dân theo đúng các quyđịnhcủapháp luật.

Bốnlà, trách nhiệm hìnhsựmang tính chất cá nhân vàchỉđược áp dụng đối với bản thân một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội màBộluật hìnhsựquyđịnhlàtộiphạm.Vềđiềunày, C. Mác đãviết: “… dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi do chính người đó – do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn của y phải là giới hạn của sự trừng phạt… [57, tr. 169]. Ngoài ra, trong điều kiện kinhtế- chính trị, xã hội, cũng như thực tiễn đấutranh phòng và chống tội phạm ở nước ta hiện nay, chúng ta mới chỉ thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân làchủthểcủa tộiphạm và phải chịu trách

17

nhiệm hìnhsựnhư luật hìnhsựmộtsốnước trênthếgiớiđãquyđịnh(Hoa Kỳ, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Trung Quốc; v.v…).

Năm là, trách nhiệm hìnhsựmang tính chất công -chỉcó Nhànước mớicó quyền buộcngườiphạm tội phải chịu trách nhiệm hìnhsựvà ngược lại, trách nhiệm hình sự của người phạm tội ở đây là trước Nhà nước, trước xãhội chứ không phải trước cơ quan, đơn vị hay cá nhân nào. Đồng thời, trách nhiệm hình sự được thể hiện trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chếcủa Nhànướcdo luật hìnhsựquyđịnh.Bản ánkếttội đãcó hiệulựcpháp luật của Tòa án là cơsởpháp lý quan trọng xác nhậnmộtngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm chính thức bịcoi là “có tội”. Nóimộtcách khác, đâylàhậuquảpháp lýthểhiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự, mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước, trước xã hội.

Nghiêncứutrách nhiệm hìnhsựcho thấy, mặc dù thuậtngữ”trách nhiệm hìnhsự”khôngđược nhà làm luậtnước ta ghi nhận dướidạng định nghĩa lập pháp, nhưng tinh thần của chế định này lại được ghi nhận trực tiếp

tại các điều 2, 8-16 Bộ luật hình sự năm 1999 và gián tiếp như là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt các quyđịnhcủa Phần chung và Phần các tộiphạm. Theo quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Nam hiện hành, mộtngườichỉcóthể(hay) phải chịu trách nhiệm hìnhsựkhi cóđầy đủcơsởvà những điềukiện của trách nhiệm hình sự đối với tội phạm được thực hiện trên những cơ sở chung. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy: cách diễn đạt của nhà làm luật nước ta lại theo công thức ghi nhận về điều kiện của trách nhiệm hìnhsự:”chỉngườinào… mớiphải chịu…” – rõ ràng là chưa thống nhất “giữa nội dung và tên gọi điều luật” [11, tr. 141], đặc biệt là chưa thể hiện rõ nét cơ sở khách quan (thực tế) – việc thực hiện hành vi. Cơ sởcủa trách nhiệm hìnhsựđược hiểu là căncứbuộc mộtngườiphải chịu trách

18

nhiệm hình sự. Do đó, cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộimà luật hìnhsựquyđịnhlàtộiphạm (cơsởkhách quan) và do người có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó gây nên (cơ sởchủquan). Giải quyết đúngđắnvà nhận thức chính xác cơsởcủa trách nhiệm hình sự sẽ góp phần triển khai tốt được chính sách hình sự và các nguyên tắc của luật hìnhsựViệt Nam. Đềcậpvấn đềnày, GS.TSKH. ĐàoTrí Úc cho rằng: “Nếu chỉ thấy hành vi (hoặc biết hành vi) mà không thừa nhận các yếu tốkhácvềmặtchủquan thìsẽrơi vào hình thứcchủnghĩa, quykếttrách nhiệm tràn lan. Nhưngnếuchỉvìyếutốchủquan mà truycứutrách nhiệm hìnhsựthìsẽphạm vào đàn áp tư tưởng…” [97, tr. 43]. Trong khi đó, điều kiện của trách nhiệm hình sự là “căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn cứriêng đó) thìmộtngườimớiphải chịu trách nhiệm hìnhsự” [11, tr. 30]. Theo đó, những điều kiện cụ thể của trách nhiệm hình sự baogồm: Người đóphải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi được thực hiện phải bịpháp luật hình sự quy định là tội phạm, đồng thời người đó phải có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó.

Như vậy, nếutrách nhiệm hìnhsự chỉ xuấthiện khi có sự việc phạm tội, nóchỉđược thực hiện trong phạm vi của quanhệpháp luật hìnhsựđãnêu, thì trong trườnghợpngườiphạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hình sự đối với họ cũng coi như đương nhiên chấm dứt. Nói một cách khác, bản chất xã hội – pháp lý của việc miễn trách nhiệm hình sự chính là không buộc một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội này nếu xét thấy không cần thiết phải buộc người đó phải chịu trách nhiệm hình sự, màvẫnbảo đảmyêu cầu đấutranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cảitạongườiphạm tội. Đâychính làkhảnăng giảm

19

nhẹcườngđộáp dụng trách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạm tội khi cónhững điều kiện do luật cho phép không cần thiết phải tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như yêu cầu của chính sách phân hóa được đặt ra khi giải quyết vấn đềtrách nhiệm hình sự của người phạm tội.

1.1.2. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự

Nhưđãđềcập, khi việc truycứutrách nhiệm hìnhsựđốivớimột ngườilà khôngcầnthiết, thìsẽcó trườnghợptrên thực tếNhànước không buộc người đóphải chịu trách nhiệm hìnhsựmà chohọđược(hoặc cóthểđược)miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, nếu việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự có căn cứ, chính xác và đúng pháp luật sẽ có tác dụng rất lớn thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau.

Trước hết, ở chừng mực nhất định, việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với một người thể hiện sựlên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội của họ, đồngthời thực hiện nghiêm chỉnh chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự thể hiện tại Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999, cũng như thực hiện tốt các nguyên tắc cơbảnkhác của luật hìnhsự(như: pháp chế, dân chủ, nhân đạo, bình đẳng trước luật hình sự…). Ngoài ra, miễn trách nhiệm hình sự còn thể hiện sựkhoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội, quađónhằm độngviên, khuyến khích họ lập công chuộc tội, chứng tỏkhảnăng giáo dục, cải tạo và có nhân thân tốt, tham gia vào việc thực hiện với vai tròthứ yếu so với đồng phạm… nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

Quyđịnhvềmiễn trách nhiệm hìnhsựcòn nhằm mục đích tiết kiệm và hạn chế việc áp dụng các chế tài pháp lý hình sự, nhất là hình phạt – biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với người phạm tội trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, trên cơ sở đó phát huy tính dân chủtrong công tác này và động viên mọi người dân, cơ quan, tổ chức, đặc biệt là gia đình của người phạm tội tích cực tham gia cùng với Nhà nước, xã hội và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội.

20

Như vậy, nếutrách nhiệm hìnhsự chỉcó thể được đặtrađốivới người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, thìmiễn trách nhiệm hìnhsựcũngđược áp dụng với đốitượngnày khi có các căncứđểmiễn trách nhiệm hình sự. Do đó, trên bình diện xãhội- pháp lý,đây chính là đòi hỏi của nguyên tắc công bằng của luật hình sự thể hiện ở chỗ, việc áp dụng trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự phải bình đẳng và đúng pháp luật đối với tất cả các trường hợp một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định.

Nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự trước đây, Bộ luật hình sự1985 và ngay cả Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành cho thấy, dưới góc độ

lập pháp nhà làm luật nước ta đều chưa ghi nhận khái niệm miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật. Trong khi đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, tương tựnhư khái niệm trách nhiệm hình sự, khái niệm miễn trách nhiệm hìnhsựcòn nhiều quanđiểmkhác nhauvềnộidung vàbảnchất pháp lýthểhiện trong những luận điểm khoa học của một số tác giả trong và ngoài nước dưới đây.

Quan điểm thứ nhất của tác giả Suzanne Wennberg (Thụy Điển) cho rằng:

Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sựdựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tếhành vi của mộtngười nào đóđãthỏa mãncảyếutốchủquan vàyếutốkhách quanđối với một loại tội phạm. Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởivì bịcáo khôngchỉtránh khỏi hình phạt mà hơnthếnữa hành viđókhôngđược coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ [133, tr. 184].

Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này bởi lẽ:

Mộtlà, khôngthểcoi miễn trách nhiệm hìnhsựlà “mộtnguyên tắc của luật hình sự…“. Bởi lẽ, theo pháp luật hình sự, miễn trách nhiệm hình sự

21

chỉlà xem nhưmộttrong các nộidungthểhiện nguyên tắc nhân đạo(bên cạnh chính sách phân hóatộiphạm vàngườiphạm tội), chứkhông phải làmột nguyên tắc cơ bản theo đúng nghĩa – là tư tưởng có tính chất chỉ đạo thểhiện xuyên suốt trong hoạt độngxây dựng -lậppháp, áp dụng và giải thích pháp luật hình sự, nó được áp dụng khi xét thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo họ khi đáp ứng những điều kiệnnhất định.

Hai là, cũng khôngthểcoi rằng “không cótộiphạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đóđãthỏa mãn cả yếu tố chủquan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm” vì về bản chất, hành vi của người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự đã thỏa mãn các dấu hiệu của mộtcấuthànhtộiphạm tươngứngnào đótrong Phần các tộiphạm của Bộluật hình sự. Hơn nữa, người được miễn trách nhiệm hìnhsựhoàn toàn đáp ứng các điều kiện với tư cách là chủ thể của tội phạm. Do đó, không thểcoi hành vicủangườinày không làtộiphạm dùvớibấtkỳlý do gì, vì nhưvậy là không chính xác về mặt lý luận và không phản ánh đúng đắn bản chất pháp lýcủa trường hợp đãnêu. Rõ ràng, miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn khác biệtvớitrườnghợpkhông cótộiphạm trên thực tếvềnộidung, điều kiện, đối tượng bị áp dụng, bản chất và hậu quả pháp lý.

Từviệc nhìn nhậnbảnchất pháp lýcủamiễn trách nhiệm hìnhsựkhác với nước ta, nên nhà làm luật Thụy Điển quan niệm các trường hợp sauđây được coi là các trườnghợpmiễn trách nhiệm hìnhsự:sựưng thuận, phòngvệchính đáng, tìnhthếcấpthiết (hay ngăn ngừa mốinguy hiểm sắp xảyra), thi hành công vụ, chấp hành mệnh lệnh hay thẩm quyềnhợppháp. Như vậy, Bộ luật hình sự nước này mặc dù đã quy định một chương riêng vềmiễn trách nhiệm hìnhsự(Chương 24) trongđóliệt kê những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, nhưng thực chất trong số các trường hợp này nhiều

22

trường hợp lại là các trườnghợpmangbảnchất pháp lýcủacác trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự nước ta (ví dụ: phòng vệchính đáng, tình thế cấp thiết) [133, tr. 184].

Quan điểm này còn thể hiện trong pháp luật hình sự của Tây Ban Nha, khi nhà làm luật nước này quan niệm trong Bộ luật hình sự năm 1995, miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Chương II – “Các căn cứ miễn trách nhiệm hìnhsự”(các điều20-21). Tuy nhiên, mặc dù tên chương là nhưvậynhưng trong nội dunglại đềcập đếncác trường hợp người thực hiện hành vi phạm tộikhông phải chịu (hay loại trừ) trách nhiệm hìnhsự:ngườichưa đến18 tuổi; người trong thời gian thực hiện tội phạm vì bị đầu độc bằng rượu mạnh, chất độc, chất ma túy hoặc chấthướngthần khác mà không cóýđịnhphạm tộihoặc không nhìn thấy trước hoặc không buộc phải nhìn thấy trước khảnăng là mình sẽ phạm tội, cũng như do ảnh hưởng của các chất này đãcản trởsự nhận thức được của người đótính chất trái pháp luật của hành vi hoặc cản trởsựđiềukhiển hành viđược thực hiện;ngườitrong thời gian thực hiện hành vi phạmtộivìbịrốiloạn nào đóvềtâm thần mà khôngthểnhận thức được tính chất trái pháp luật của hành vi do mình thực hiện hoặc khôngthểđiều khiển được hành vi của mình; người bị rối loạn về tâm thần làm mất năng

lực nhận thức hoạt động của mình từ lúc sinh ra hoặc từ lúc còn thơ ấu; người đãhành động trong phòng vệ chính đáng; người đã hành động trong tình thếcấpthiết; người đãhành độngđểthực hiện trách nhiệm, quyềnhợppháp, cũng như các nghĩavụtheo chức vụhoặc nghề nghiệp của mình; người đãhành động trong tình trạng khiếp sợ mãnh liệt [18, tr. 51-52]. Ngoài ra, pháp luật hình sự của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng thể hiện tương tự nội dung này [76, tr. 17]…

Quan điểm thứ hai của tác giả Agnê Barans Kaitê & Jonas Prapiestis, Cộng hòa Latvia, như sau:

Miễn trách nhiệm hìnhsựlàmộtchếđịnhđượcquyđịnh trong luật hình sự… phản ánh nhữngnỗlựccủanhà làm luật trong

23

việc phối hợp và bảo đảm sự đồng thuận giữa các lợi ích khác nhau. Chế định này không chỉ bao hàm các tiền đề pháp lý mang tính tiên quyết nhằm thực thi các nguyên tắc của trách nhiệm hình sự, mà còn hàm chứa các nguyên tắc cơ bản như pháp chế, nhân đạo, công bằng, bìnhđẳng,phân hóa và cáthểhóa trách nhiệm hìnhsự(sựtương xứng giữa tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và mức độcủatrách nhiệm hìnhsựđốivớihành vi đó), quađóNhànướctiết kiệm các chế tài tư pháp và các nguyên tắc hiến định khác… [129, tr. 30].

Chúng tôi nhận thấy quan điểm này có phần hợp lý ở chỗ – đã chỉ rađược miễn trách nhiệm hìnhsựlà một chếđịnhtrong luật hình sự, bao hàm các tiền đềpháp lý mang tính tiên quyết nhằm thực thi các nguyên tắc của trách nhiệm hình sự, đồng thời còn thể hiện trong đó các nguyên tắc của luật hình sự (như pháp chế, nhân đạo, công bằng, phân hóa trách nhiệm hình sự…), song nội hàm khái niệm lại đi sâu vàochỉrõýnghĩa chính trị – pháp lý của chếđịnhnày (thực thi các nguyên tắc, tiết kiệm các chếtài tư pháp và các nguyên tắc hiến định khác), mà chưa tập trung làm rõ bản chất pháp lý, điều kiện và đối tượng bị áp dụng cũng như hậu quả pháp lý tương ứng sau đó, dođó, ởmộtgóc độnhất định, khái niệm nàychỉcó giátrịtham khảo đểđịnh hướng hoàn thiện hơn khái niệm miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sựnước ta và phục vụviệc nhận thức chính xác bảnchất pháp lý của chếđịnh này trên thực tiễn áp dụng pháp luật hìnhsựliên quan đến trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Quan điểm thứ ba của tác giả người Nga B.X. Xavelôva cho rằng:

Miễn trách nhiệm hình sự được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp – không kèm theo việc quyết định hình phạt, tức là miễn trách nhiệm hình sự do Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát thực hiện, cũng nhưdo Tòa án thực hiện (khi không đưa ra bản án kết tội đối với người

24

phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự) và theo nghĩa rộng – suy cho cùng đó cũng đồng thời chính là miễn hình phạt [138, tr. 428].

Quanđiểmnày phùhợpvới những quyđịnhcủa pháp luật hình sự, pháp luậttốtụng hìnhsựhiện hànhởnước tavềthẩm quyền quyết định, ýnghĩa vàsựphản ánhnộidung, songcầnphải làm rõ nét hơnnộidung, bản chất pháp lý và đối tượng bị áp dụng chế định đã nêu, nhất là sự phân tách rõgiữa chế định miễn trách nhiệm hình sự và chế định miễn hình phạt vì chúng là những chế định độc lập, có nội dung, điều kiện, đối tượng áp dụng và điều quan trọng nhất là mang bản chất pháp lý khác nhau.

Quanđiểmthứtư của tác giảKêlina X.G (Liên bang Nga) cho rằng:

“Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đódưới hình thức bản án” [137, tr. 31].

Chúng tôi đồngtìnhvớinhữnghạtnhânhợplý của quanđiểmnày, mặc dù nó không phù hợp với những quy định hiện hành của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ở những điểm sau đây:

Mộtlà, tác giảcoi miễn trách nhiệm hìnhsựchỉlà việc hủy bỏsựđánh giá tiêu cực đốivớingườiphạmtộidướihình thức một bản án làthểhiện quan điểm xem miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng hạn chế về phạm vi chủ thể, giai đoạn và văn bản áp dụng.

Hai là, tác giả không thừa nhận việc người phạm tội được miễn trách nhiệm hìnhsựtrong các giaiđoạn trước khi xétxử(giaiđoạn điềutra, truy tố), tức là không thừa nhận sự hủy bỏ hậu quả tiêu cực, chấm dứt hoạt động

tố tụng hình sự đối với vụ án và cả đối với người phạm tộidưới hình thức văn bản đìnhchỉđiềutra, đìnhchỉvụán. Trong khi đó, tươngứngtheo các quyđịnhcủa pháp luậtnước ta, miễn trách nhiệm hìnhsựdo Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát và Tòa án tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể áp dụng (các điều 164, 169, 181, 249 và 314 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).

25

Điểm hợp lý của quan điểm trên ở chỗ, một người phải có trách nhiệm hình sự thì mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự, mà việc xác định một ngườicó trách nhiệm hìnhsựhay không là thuộc thẩm quyền của Tòa án.Điều 72 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã quy định: “Không ai bị coi là có

tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản ánkết tộicủaTòa án đãcó hiệu lực pháp luật“. Điều9Bộluậttốtụng hìnhsựnăm 2003 cũngđãxác định:

“Không ai bị coi là cótộikhi chưa có bản ánkếttộicủaTòa án đã có hiệu lực pháp luật“. Nói một cách khác, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất xác định một người có phải chịu trách nhiệm hình sự, thì chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người đó.

Trong khoa học luật hìnhsựViệt Nam, các nhà khoa học- luật giađềuthống nhấtnộidung của khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, songchỉkhác nhau về cách thể hiện với năm nhóm quan điểm chính sau:

Nhóm quan điểm thứ nhất, ghi nhận nội dung và chỉ rõ bản chất pháp lý: Miễn trách nhiệm hình sự là “một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam vàđược thểhiện bằng việc xóabỏhậu quảpháp lýcủaviệc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đốivới người bịcoi là có

lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [12, tr. 7];

Nhóm quan điểm thứ hai, ghi nhận nội dung, thẩm quyền áp dụng vàđặc biệt là hình thức pháp lý: Miễn trách nhiệm hìnhsựlà “không truy cứu trách nhiệm hìnhsựmộtngườivềviệc đãthực hiệnmộttộiphạm được quyđịnh trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền” [77, tr. 238];

Nhóm quan điểm thứ ba, ghi nhận nội dung và hậu quả pháp lý, nhưng không đềcậpthẩm quyền áp dụng và giaiđoạn áp dụng: Miễn trách nhiệm hình sự là “miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quyđịnh” [97, tr. 269] hay là “không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sựvề tội mà họ đãthực hiện” [93, tr. 321];

26

Nhóm quanđiểm thứtư, ghi nhậnnộidung vàhậuquảpháp lý trực tiếp trong giai đoạn tương ứng là xét xử, nhưng không ghi nhận thẩm quyền áp dụng: Miễn trách nhiệm hình sự là “miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội” [26, tr. 14];

Nhóm quan điểm thứ năm, ghi nhận tương đối đầy đủ về nội dung, phân định các giai đoạn áp dụng, thẩm quyền áp dụng và hậu quả pháp lý: Miễn trách nhiệm hình sự là “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cảmiễn phải chịu cáchậuquảtiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hìnhsựtừphía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chếcủa trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn xét xử. Trong trường hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích” [73, tr. 19];

Ngoài ra, quan điểm gắn với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự liên quanđếnmiễn trách nhiệm hìnhsựcủa ThS. Đinh VănQuếlà cóđiểm hơi khác biệt. Theo đó, tác giả coi loại trừ trách nhiệm hình sự có bản chất pháp lý khác với miễn trách nhiệm hình sự, với không có sự việc phạm tội… nhưng tác giảlạikhẳngđịnh”… suy cho cùng miễn trách nhiệm hìnhsựcũng làkhông bị truy cứu trách nhiệm hình sự (nếu người phạm tội không bị áp dụng biện pháp xử lý gì)… đồng thời, tác giả cũng phân chia những trường hợp này thành ba nhóm chính với 18 tình tiết khác nhau và xếp chung các trường hợp miễn trách nhiệm hìnhsựvào nhómthứba các trườnghợploạitrừtrách nhiệm hình sự [64, tr. 6-7; 96]. Việc thừa nhận bản chất pháp lý là khác nhau nhưng lại căn cứ vào thực tiễn áp dụng trường hợp một người không phải chịu biện pháp xử lý gì về hậu quả pháp lý đối với hai chế định khác nhau là có sựmâu thuẫn, vì miễn trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự hoàn

27

toàn khác nhau mà nội dung này sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể tại phần sau.

Như vậy, về cơ bản, tất cả các quan điểm khoa học trong nước đều tươngđối thống nhất trong việc khẳng định rõ nội dung và bản chất pháp lý của khái niệm miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hìnhsựdướigóc độkhoa học luật hìnhsựphảithểhiện những nội dung về bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng, đối tượng bị áp dụng và hậu quả pháp lý hình sự. Riêng về hình thức pháp lý và chủ thể có thẩm quyền áp dụngđãđược thể hiện trong luật tố tụng hình sự nên không cần thiết phải ghi nhận các nội dung này. Do đó, trước khi đưa ra khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, theo chúng tôi cần phải làm rõ nhữngđặc điểmxã hội – pháp lý cơbản vốn có của nó.

Mộtlà, cũng như trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sựthểhiệnsựphản ứng(lên án)đốivớingườicó hành vi phạm tội từphía Nhànước và xãhội. Nhưđãđềcập, trách nhiệm hìnhsựlàmộtdạng của trách nhiệm pháp lý, phản ánh sự lên án của Nhà nước và xã hội đối người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm. Với người đượcmiễn trách nhiệm hình sự, họcũngđãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhộimà luật hìnhsựquyđịnhlàtộiphạm, songvớingười này, tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng, các cơ quan tiến hành tố

tụng thấy rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự người đó lại không cần thiết mà vẫn đáp ứngcác yêu cầu đấutranh phòng và chốngtộiphạm, cũng nhưcông tác giáo dục, cảitạongườiphạm tội, thì nếu đáp ứngnhững điềukiện nhất định, họsẽkhông phải chịu trách nhiệm hìnhsựmàđược miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, mặc dù được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng người phạmtộivẫncóthểchịumộthoặc nhiều biện phápcưỡngchếphi hìnhsựthuộc các ngành luật tươngứngkhác (như:tốtụng hìnhsự,dânsự,hành chính, kỷ luật, lao động…).

28

Hai là, miễn trách nhiệm hìnhsựphản ánh chính sách phân hóa tội phạm vàngườiphạm tội, cũng nhưthểhiện nguyên tắc “nghiêmtrịkếthợp với khoan hồng“, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục,cải tạo” trong luật hìnhsựViệt Nam. TheoTừđiểnTiếng Việt, “phân hóa”được hiểu là:

“chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau” [61, tr. 771], còn “chính sách“được hiểu là “sáchlược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đíchnhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [61, tr. 163]. Như vậy, phân hóa trong luật hình sự được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như: phân loại tội phạm, trách nhiệm hình sự trong các giai đoạn phạm tội, danh mục (hệ thống) hình phạt và các biện pháp tư pháp, phân hóa trách nhiệm hìnhsựqua việc áp dụng trách nhiệm hình sự, chịu trách nhiệm hình sựhạnchế, không phải chịu trách nhiệm hình sự hay miễn trách nhiệm hình sự, đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự hay cóthểđược miễn trách nhiệm hình sự, các căn cứ quyết định hình phạt, phân hóa – mở rộng hay thu hẹp phạm vi tội danh trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự; v.v… Do đó, chính sách phân hóa này, đúng như GS.TSKH. Đào Trí Úc đã viết:

Cũng là một cách hiệu nghiệm của việc thực hiện tốt nguyên tắc không để lọt tội phạm và người phạm tội… và việc quy định chếđịnh miễn trách nhiệm hình sự… chứng tỏ rằng, con đường cơ bản, hậu quả cơ bản của tội phạm là trách nhiệm hình sự và hình phạt vàchấp hành hình phạt, còn tha miễn chỉ là trường hợp cá biệt, cụ thể, khi hoàn cảnh cụ thể đòi hỏi… [97, tr. 268].

Ba là, miễn trách nhiệm hìnhsựcũng làmộttrong nhữngchếđịnh phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Trước đây và hiện nay, nhân đạo luôn được xem là một giá trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng. Nhân đạo là nhân tố quan trọng góp phần làm sáng tỏ bản chất ưu việt của xã hội – xã hội chủ nghĩa. Là một giá trị pháp lý tiến bộ, tư tưởng nhân

29

đạo đãđược cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật (trong đó có pháp luật hình sự) thông qua đó bảo vệ lợi ích của công dân khi bị tội phạm xâm phạm, có thể là lợi ích hợp pháp của cá nhân người phạm tội nếu xứng đáng được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước và đáp ứng các điều kiện nhất định.Vì vậy, nhưđãđềcập, yêucầunguyêntắcnày lại được đềraởchỗ, chúng phải thể hiện mối liên hệ “… giữa một bên là chế độNhà nước, chế độxã hội, trật tự pháp luật, tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân với một bên là kẻ đã xâm hại chúng…” [102, tr. 281]. Nghiên cứumiễn trách nhiệm hìnhsựcho thấy – nó khôngchỉthểhiện nguyên tắc nhân đạo đốivớingườiphạmtộiqua hình thức trách nhiệm hìnhsựkhoan hồng, tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhànướcvớicác biện pháp tác độngxãhộitrong việc giáo dục,cảitạo người phạm tội, không buộc phải cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng,

lấy môi trường đang sinh sốngđólàm nơi tựcảitạo, giáo dục, qua đócòn khuyến khích họ lập công chuộc tội, đồng thời giảm nhẹ cường độ áp dụng trách nhiệm hình sự khi có những điều kiện mà pháp luật hình sự cho phép. Trong các trườnghợpmiễn trách nhiệm hình sự, thì việc miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết địnhđại xálà một trường hợp mang tính nhân đạo sâu sắc thể hiện chính sách khoan hồng, độlượng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Bốn là, miễn trách nhiệm hình sự gắn liền và có mối quan hệ chặt chẽtrách nhiệm hìnhsự. Miễn trách nhiệm hìnhsựgắnliền và cómốiquanhệchặt chẽ với trách nhiệm hình sự. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự cũng xuất phát từ khái niệm trách nhiệm hình sự. Nội dung cụ thể về đặc điểm cơbản này chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau.

Năm là, miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vicủa họ đãthỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể

30

trong Phần các tộiphạmBộluật hình sự, nhưnghọlạicó nhữngđiềukiện nhất định đểđược miễn trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa, nếu trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ đã thỏa mãn các dấuhiệucủamộtcấuthànhtộiphạmcụthểtrong Phần cáctộiphạmBộluật hình sự, thì miễn trách nhiệm hìnhsựcũng áp dụng với đốitượngnhư vậy, nhưng trường hợp của họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn, khi tiến hànhđiềutra, truy tố, xétxử,dosựchuyển biến của tình hình mà hành vi phạmtộihoặc ngườiphạmtộikhông còn nguy hiểm cho xãhộinữa, thìngườiphạm tội đượcmiễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 25) hay khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25 Bộluật hình sự). Ngoài ra, vì người được miễn trách nhiệm hìnhsựbịcoi làngười đãthực hiện hành vi phạm tội, cho nên họ không được (hay chính xác là không có quyền được) bồi thường thiệt hại theo quy định của Nghị quyết số388/NQTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủyban ThườngvụQuốc hộivềbồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố

tụng hình sự gây ra (điểm a khoản 1 Điều 2).

Sáu là, người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu các hậu quảpháp lý hìnhsựbấtlợicủaviệc phạm tội nhưng cóthểphải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy định trong các ngành luật khác. Về nội dung này, người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu các hậuquảpháp lý hìnhsựbấtlợicủa việc phạm tội như không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác và không bị coi làcó án tích… Tuy nhiên,họvẫnphải chịumộthoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự khác thuộc các ngành luật tương ứng (như: pháp luật dân sự, hành chính, kỷ luật, lao động…).

Ngoài ra, cũngcầnlưu ýlà, trườnghợptrongmộtvụán hìnhsựcóđồng phạm thì việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với người nào nếu

31

đáp ứng đầy đủnhững điều kiện do luật định, còn đối với những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung.

Tóm lại, bên cạnh việc thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội, chếđịnh miễntrách nhiệm hìnhsựcòn phản ánh chính sách phân hóa và nguyên tắc nhân đạo của trong việc xử lý người phạm tội và hành vi dohọthực hiện. Bằng việc quyđịnhvềmiễn trách nhiệm hình sự, nhà làm luật nước ta còn xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp nào người phạmtộivà hành vi phạmtộikhông còn nguy hiểm cho xãhộinữa, hoặc không cần thiết phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất sự lạm dụng, tùy tiện khi áp dụng, qua đó tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc pháp chếvà nguyên tắc công bằng xãhộichủnghĩa trong lĩnhvựctư pháp hình sự, bìnhđẳngtrong đánh giá và áp dụng chính xác các chếtài pháp lý hình sự. Đặc biệt, ởmộtmức độrộng hơn, đâycũng chính làmộttrong những hình thức xã hội hóa giáo dục quan trọng để nhân dân, mọi cơ quan tổ chức và giađình người đượcmiễn trách nhiệm hìnhsựtham gia vào việc cảitạo, giáo dục, giúp đỡ đưa họ trở lại con đường lương thiện và có ích cho xã hội.

Từ sự phân tích nội dung các đặc điểm xã hội – pháp lý của miễn trách nhiệm hìnhsựtrên đây cho phép chúng tôi cóthểrút ra khái niệm này nhưsau: Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất địnhphải gánh chịuhậuquảpháp lýbấtlợido việc người đóđãthực hiện hành vi phạm tội, màvẫnbảo đảmyêu cầu đấutranh phòng vàchống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội.

1.1.3. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với các khái niệm miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự

32

Bên cạnh khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, trong khoa học pháp lýhình sự, còn một số thuật ngữ có liên quan đến khái niệm này như: “miễn hình phạt“, “loại trừ trách nhiệm hình sự“. Do đó, việc phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với các khái niệm đãnêu là việc làm cần thiết mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét.

* Phân biệt miễn trách nhiệm hìnhsựvớimiễn hình phạt. Trước khi phân biệt hai khái niệm này, dướigóc độkhoa họcluật hình sự, miễn hình phạt được hiểu làkhông buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chếhình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước (hình phạt) về tội phạm mà người đóđãthực hiện khi đáp ứng các điều kiện nhất định.

Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định cụ thể các điều kiện đểngười phạm tội được miễn hình phạt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều46Bộluật hìnhsựvà đángđược khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đếnmức miễn trách nhiệm hình sự. Như vậy, sovớimiễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt có một số điểm giống nhau cơ bản dưới đây: a) Đều phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội và nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam; b) Chỉ có thể được áp dụng đối với người nào bịcoi là cólỗitrong việc thực hiện chínhtộiphạm đóvà đáp ứngnhữngđiều kiện cụ thể do luật hình sự quy định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể; c) Chủthểđược miễn trách nhiệm hìnhsựhay miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi nhất của việc phạm tội là án tích; d) Thông qua việc áp dụng, Nhà nước không phải sử dụng các biện pháp mang tính trấn áp về mặt hình sự, đồng thời, cũng không cần cách ly khỏi xã hội những người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng vàchống tội phạm, yêu cầu giáo dục, cải tạo người phạm tội… [25, tr. 20].

Ngoài ra, giữa hai khái niệm này còn có một số điểm khác nhau theo bảytiêu chí dưới đây:

Tiêu chíMiễn trách nhiệm hình sựMiễn hình phạt
Mục đích– Việc buộcmộtngườiphải chịu– Xét thấy không cần thiết phải áp

33

và ý nghĩa

áp dụng

trách nhiệm hìnhsựlà không cần thiết mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm

-Thểhiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội, cũng như nguyên tắc nhân đạotrong luật hình sự Việt Nam

dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhưng vẫn cần áp dụng trách nhiệm hình sự

-Thểhiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội, cũng như nguyên tắc nhân đạotrong luật hình sự Việt Nam

Điều kiện

áp dụng

Quyđịnh rõ ràng vàcụthểhơn so với miễn hình phạt trong từngđiều luậtQuy định chưa cụ thể và chưa rõràng so với miễn trách nhiệm hình sự trong từng điều luật
Danh mục

các trường

hợp

Có chín trường hợp quyđịnh tại Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều 69, khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290 và khoản 3Điều 314 Bộ luật hình sựGhi nhận trực tiếp tại hai điều luật làĐiều 54 và khoản 3Điều 314 và gián tiếpởmột điều luật làkhoản 4 Điều 69 Bộ luật hình sự
Thẩm quyền và giai đoạn

áp dụng

Do Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy theo giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tương ứngDo duy nhất một cơ quan là Tòa án áp dụng chỉtrong giai đoạn xét xử
Đối tượng bị áp dụngBị can, bị cáo (rộng hơn)Người bị kết án (bị cáo)
Nhân thân và hành vi phạm tội

của chủ thể

Ít nguy hiÓm h¬n so víi ng-êi®-îc miÔn h×nh ph¹tNguy hiÓm h¬n so víi ng-êi ®-îc miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù
Hậu quả

pháp lý

Không bịcoi là có án tích, song người nàyvẫncóthểbịáp dụng một sốbiện pháp cưỡng chếphi hình sự khác như tố tụng hình sự, dân sự, lao động, kỷ luật hoặc xửlý hành chính…Đương nhiên đượcxóa án tích, song thực tiễn cho thấy người nàyvẫncóthểbịáp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quyđịnh tại các điều 41-43 của Bộ luật hình sự

* Ph©n biÖt miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù víi lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù. VÒ c¬ b¶n, c¸c quan ®iÓm khoa häc trong n-íc vÒ kh¸i niÖm lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù gi÷a c¸c nhµ khoa häc – luËt gia luËt h×nh sù lµ t-¬ng ®èi thèng nhÊt. Tuy nhiªn, tr-íc khi ®-a ra kh¸i niÖm nµy th× qua nghiªn cøu chóng t«i nhËn thÊy cãquan ®iÓm cña ThS. §inh V¨n QuÕ quan niÖm t-¬ng®èikh¸c vÒ b¶n chÊt

ph¸p lý cña kh¸i niÖm nµy. Nh-®·®ÒcËp, vÒ c¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch

34

nhiÖm h×nh sù, t¸c gi¶ quan niÖm rÊt réng: “lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù lµtr-êng hîp mét ng-êi cã hµnh vi g©y thiÖt h¹i hoÆc ®e däa g©y ra thiÖt h¹i cho

x· héi, nh-ng theo ph¸p luËt hä kh«ng bÞ truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù“. Sau ®ã, mÆc dï ph©n tÝch lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cã b¶n chÊt ph¸p lý kh¸c víi miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù, víi kh«ng cã sù viÖc ph¹m téi… nh-ng t¸c gi¶ l¹i kh¼ng®Þnh “… suy cho cïng miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù còng lµ kh«ng bÞ truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù (c¨n cø vµo hËu qu¶ – nÕu ng-êi ph¹m téi kh«ng bÞ ¸p dông biÖn ph¸p xö lý g×)… ®ång thêi, t¸c gi¶ còng ph©n chia nh÷ng tr-êng hîp nµy thµnh ba nhãm chÝnh víi 18 t×nh tiÕt kh¸c nhau [64, tr. 6-7; 96]:

1) C¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù thuéc vÒ yÕu tènh©n th©n: a) T×nh tr¹ng kh«ng cã n¨ng lùc tr¸ch nhiÖm h×nh sù; b) Ch-a®Õn tuæi chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù; c) Ch-a bÞ kÕt ¸n, ch-a ®-îc xö lýhµnh chÝnh hoÆc xö lý kû luËt, ch-a ®-îc gi¸o dôc.

2) C¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù do hµnh vi nguy

hiÓm cho x· héi kh«ng cã lçi hoÆc kh«ng bÞ coi lµ cã lçi: a) Phßng vÖchÝnh ®¸ng; b) T×nh thÕ cÊp thiÕt; c) Sù kiÖn bÊt ngê; d) T×nh tr¹ng kh«ng thÓ kh¾c phôc ®-îc hËu qu¶; ®) B¾t ng-êi ph¹m téi qu¶ tang

hoÆc ®ang cã lÖnh truy n·; e) ChÊp hµnh chØ thÞ, quyÕt ®Þnh hoÆc mÖnh lÖnh; f) Rñi ro trong nghÒ nghiÖp hoÆc trong s¶n xuÊt; g) Kh«ng ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù vÒ hµnh vi th¸i qu¸ cña ng-êi thùc hµnh trong vô ¸n cã ®ång ph¹m.

3) C¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù kh¸c theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt: a) ChuÈn bÞ ph¹m téi Ýt nghiªm träng (nay cã nghÜa bao gåm c¶ téi ph¹m nghiªm träng theo Bé luËt h×nh sù n¨m 1999); b) TÝnh chÊt nguy hiÓm cña hµnh vi kh«ng ®¸ng kÓ; c) Tùýnöa chõng chÊm døt viÖc ph¹m téi; d) Ch-a g©y thiÖt h¹i hoÆc g©y thiÖt h¹i ch-a tíi møc ph¶i truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù; ®) §-îc miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù; e) HÕt thêi hiÖu truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù; f) Hµnh vi nguy hiÓm cho

x· héi kh«ng thuéc ph¹m vi ¸p dông cña Bé luËt h×nh sù.

35

Nh- vËy, theo quan ®iÓm nµy, c¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù lµ qu¸ réng vµ bao hµm rÊt nhiÒu tr-êng hîp kh¸c nhau, miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù thuéc nhãm c¸c tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù kh¸c theo quy®Þnh cña ph¸p luËt. Tuy nhiªn, theo chóng t«i nÕu coi c¸c tr-êng hîp miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù lµ nh÷ng tr-êng hîp lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù lµ ch-a®óng víi b¶n chÊt ph¸p lý cña c¸c kh¸i niÖm nµy. Kh«ng thÓ dùa trªn hËu qu¶ph¸p lý cuèi cïng gièng nhau trong tr-êng hîp “®Òu kh«ng ph¶i chÞu” ®Ó xÕp chóng cïng b¶n chÊt ®-îc. MiÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù hoµn toµn kh¸c biÖt víi lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù. Do ®ã, d-íi gãc ®é khoa häc, lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm

h×nh sù ®-îc hiÓu lµ viÖc mét ng-êi ®· thùc hiÖn hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi nh-ng kh«ng ®-a®ÕnhËu qu¶ ph¸p lý lµ ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tïy theo tõng tr-êng hîp t-¬ng øng cô thÓ khi ®¸p øng nh÷ng ®iÒu kiÖn nhÊt ®Þnh. Nãi mét c¸ch kh¸c, ng-êi ph¹m téi thuéc tr-êng hîp ®-îc lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù, th× còng cã nghÜa hä kh«ng ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù theo quy®Þnh cña ph¸p luËt h×nh sù trªn nh÷ng c¬ së chung [17, tr. 17]. D-íi gãc ®éhÑp, néi dung cña kh¸i niÖm nµy ®-îc hiÓu lµ khi hµnh vi cã tÝnh nguy hiÓm

cho x· héi ®-îc thùc hiÖn ®· cã dÊu hiÖu cña hµnh vi bÞ ph¸p luËt h×nh sù cÊm, nh-ng l¹i thiÕu mét trong c¸c dÊu hiÖu c¬ b¶n cña téi ph¹m, nªn tÝnh chÊt téi ph¹m cña hµnh vi ®ã ®-îc lo¹i trõ vµ ng-êi thùc hiÖn hµnh vi còng chØ cã thÓbÞ xö lý b»ng chÕ tµi ph¸p lý cña c¸c ngµnh luËt kh¸c, mµ kh«ng ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù… §ã lµ hµng lo¹t c¸c tr-êng hîp cô thÓ trong Bé luËt h×nh

sù n¨m 1999 nh-: Ng-êi thùc hiÖn hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi mµ Bé luËt h×nh sù quy ®Þnh lµ téi ph¹m, nh-ng l¹i ch-a ®ñ tuæi chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù(§iÒu 12); sù kiÖn bÊt ngê (§iÒu 11); phßng vÖ chÝnh ®¸ng (§iÒu 15); t×nh thÕcÊp thiÕt (§iÒu 16); v.v… Trong khi ®ã, hµnh vi do ng-êi ph¹m téi ®-îc miÔn

tr¸ch nhiÖm h×nh sù thùc hiÖn hoµn toµn tháa m·n c¸c dÊu hiÖu ph¸p lý cña mét cÊu thµnh téi ph¹m t-¬ng øng ®-îc ph¸p luËt h×nh sù quy ®Þnh, cã nghÜa hµnh vi do ng-êi nµy thùc hiÖn lµ téi ph¹m vµ ng-êi ®ã ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù, nh-ng do cã nh÷ng ®iÒu kiÖn vµ xÐt thÊy kh«ng cÇn thiÕt ph¶i truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù nªn hä l¹i ®-îc miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù. Cho nªn, viÖc

36

mét ng-êi thùc hiÖn mét hµnh vi ®-îc thùc hiÖn kh«ng cã dÊu hiÖu cña mét

cÊu thµnh téi ph¹m cô thÓ ®· lo¹i trõ kh¶ n¨ng truy cøu tr¸ch nhiÖm h×nh sù,®ång thêi còng lo¹i trõ kh¶ n¨ng miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù ®èi víi chÝnh ng-êi®ã. LogÝc cña vÊn ®Ò lµ kh«ng thÓ miÔn tr¸ch nhiÖm h×nh sù ®èi víi mét ng-êi mµ hä kh«ng cã nghÜa vô, tr¸ch nhiÖm ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù hay

kh«ng tháa m·n c¸c dÊu hiÖu (®Æc ®iÓm) c¬ b¶n cña téi ph¹m.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *