Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam

Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hai mươi lăm năm phát triển theo mô hình kinh tế mới, kể từ sauĐại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI- (1986), đã tạo điều kiện cho Việt Nam vươn lên trởthành quốc gia cótốcđộphát triển kinhtếcao,đờisống xãhộithayđổi,quan niệm về hoạt động kinh doanh cũng đã thay đổi rất nhiều. Trải qua một quá trình phát triển, nhiều doanh nghiệp trong khu vực Nhà nước cũng như trong khu vực dân doanh đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có quá trình tập trung và tích tụ vốn lâu dài; hoạt động mua lại, sáp nhập, hợp nhất diễn ra thường xuyên với sựhỗtrợcủathịtrường chứng khoán. Hơnthếnữa, nhucầuthực hiện liênkếtđầutưtạothànhtổhợp, kinh doanh đa ngànhđãtrởthành nhucầumang tính thời sự. Những điều này đãđặt ra một vấn đề cần giải quyết: các mô hình tổ chức kinhtếđangvậnhành hiện nay khôngđápứngđượcnhucầuhuyđộngvốn, chuyên môn hóasảnxuất, quảntrịdoanh nghiệp. Thựctếcho thấy, mô hình TĐKT đã xuất hiện ở Việt Nam và phần nào đáp ứng các nhu cầu của nhà đầu tưtrong cả khối Nhà nước và dân doanh.

Trong khu vực Nhà nước, Chính phủ đã thực hiện chủ trương chuyển đổi mô hình các TCT 91 sang mô hình TĐKT, vìvậynhiều TĐKT nhànướcđãđượcthànhlậpnhư :Tậpđoàn Dầukhí quốc gia Việt Nam,Tậpđoàn Than khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, v.v.. Sau khi Chính phủ thíđiểm thành lập nhiều TĐKT và ban hành Nghị định 101/2009/NĐ -CP về thí điểm thành lập,tổchức, hoạtđộngvà quản lý TĐKT Nhànước,mô hình TĐKT nhànước đã có sự vận độngliên tục theo nhiều chiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, vềcơbảnmộtsốTĐKT Nhànướcđang hoạtđộngthiếu hiệu quả, khôngđápứngđượcsựkỳvọngcủaChínhphủkhi coi mô hình TĐKT là giải pháp then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập toàn diện. Một số tập đoàn tạo gánh nặng cho sự phát triển quốc gia, gây thất thoát ngân sách, làm tăng tỉ lệ nợ

của Chính phủ, làm giảm các chỉ số về hiệu quả đầu tư, tạo ra những hệ lụy phức tạpvềxãhội,điểnhình là trườnghợpcủaTậpđoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin). Nghịđịnh69/2014/NĐ-CPđượcban hànhđãgóp phần thống nhất quy định về TĐKT nhà nước, bên cạnh đó, còn nhiều vă n bản khác quy định về việc sử dụng và đầu tư vốn Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả của việc thực hiện các quy định pháp luật về TĐKT nhà nước vẫn chưa cao, giải quyết những vấn đềcủa TĐKT nhà nước vẫn chỉ dừng ở những câu hỏi.

Trong khiđó,các doanh nghiệpởkhối dân doanh cũng tíchcựcchuyểnđổisang mô hình TĐKT:Tậpđoàn FPT,Tậpđoàn Hòa Phát,Tậpđoàn Hoàng

Anh Gia Lai, Tập đoàn đầu tư CEO, v.v…Mặc dù vậy, hiện nay quy định pháp luật về TĐKT tư nhân chưa có tính hệ thống. Đối với TĐKT tư nhân, ngoài bốnđiềuluật trong Luật Doanh nghiệp (2014) vàmộtđiềuluật quyđịnhhướngdẫn TĐKT trong Nghịđịnh102/2010/NĐ-CP, không có quyđịnhcụthểnàovềmôhình này. Các TĐKT tư nhân đanggặpnhiều khó khăn khi triển khai hoạtđộng kinh doanh cũng như vấn đề quản trị nội bộ tập đoàn.Tuy nhiên, trong xu thế phát triển, mô hình TĐKT tư nhân có thể trở thành những động lực mới dần thay thếcho mô hình TĐKT Nhànướctrong chiếnlượcphát triển kinhtếtạiViệt Nam trong thời gian sắp tới. Vì lẽ đó, việc xây dựng ngay một hệ thống các quy phạm pháp luậttạocơsởđểcho việc thực hiện tái cơcấuTĐKT làmộtnhucầucấp thiết và thời sự, đây cũng là lý dođể nghiên cứu sinh quyết định lựa chọnchủ đề“Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩluật học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

Mục đích tiến hành nghiên cứu đề tài luận án là phân tích, đánh giá những vấnđềpháp lývềmô hình TĐKTđểtừđótìm kiếm những giảipháp phù hợp hoàn thiện quy định pháp luật về TĐKT tại Việt Nam.

2

Đểthực hiệnđượcmụcđích nêu trên, nhiệmvụcủaluận ánđượcđặtra nghiên cứu cụ thể các vấn đề:

Thứ nhất, luận án nghiên cứu bản chất kinh tế, bản chất pháp lý của TĐKT từ đó xác địnhnhững dấu hiệu đặc trưng của mô hình kinh doanh này;

Thứhai,luận án nghiêncứuquá trình phát triển, phân tích cácyếutốchi phối và xác định những nội dung cơ bản của pháp luật về TĐKT;

Thứ ba, luận án khảo cứu mô hình và quy định pháp luật một số quốc gia trên thế giới, từ đó có so sánh, đánh giá nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quy báu cho quá trình xây dựng pháp luật về TĐKT Việt Nam.

Thứ tư, luận án nghiên cứu và đánh giá thực trạng quy định phápluật vềliênkếthình thành TĐKT,vềthành lập,vềquyền và nghĩavụcủacác doanh nghiệp tham gia TĐKT, về cơ chế giám sát của Nhà nước và chấm dứt hoạt động dưới hình thức TĐKT. Những nghiên cứu này là cơ sở để luận án đề xuất những giải pháp có tính thực tiễn.

Thứnăm, luận ánđưara những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvềTĐKT baogồmnhững nhóm giải pháp cơbảnvà những giải pháp mang tính chất cụ thể.

3. Phạm vi nghiên cứu

Tậpđoàn kinhtếlàmộtmô hìnhtổchức kinhtếđặcbiệt và làđốitượng nghiên cứu của nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau như: kinh tế học, tài chính học, quảntrịhọcvà luật học.Vớichuyên ngành luật kinhtế,phạm vi nghiêncứucủa luận án trong đề tài này tập trung vào các vấn đề pháp luật của mô hình TĐKT .

Vềnộidung, luận ántậptrung nghiêncứunhững quyđịnhpháp luậtvềTĐKTđểcóthểđánh giáđượcnhữngvấnđềtrong thực trạng thành lập, hoạtđộng,quản lý,điềuhành TĐKT hiện nay. Những quyđịnhpháp luậtđược nghiên cứu nằm trong hệ thống pháp luật hợp đồng, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về cạnh tranh, pháp luật về đấu thầu, pháp luật về sở hữu trí tuệ.

3

Luận án nghiêncứuquyđịnhpháp luậtvềmô hình TĐKT nhànướcvàmô hình TĐKT tư nhân. Mô hình TĐKT nhànướcvà mô hình TĐKT tư nhân giống nhau về bản chất tuy nhiên các quy định pháp luật về mô hình TĐKT nhànướcchiếmtỷtrọng lớn. Việc nghiêncứusong song hai mô hình là căncứđểluận án đưa ra những đánh giá và kiến nghị phù hợp với từng loại mô hình theođịnhhướnggiảmbớtsốlượngvà thuhẹpphạm vi kinh doanh các TĐKT nhànước,ưu tiên phát triển T ĐKT tư nhân.

Vềkhông gian, luận ántậptrungchủyếunghiêncứucác quyđịnhpháp luật trong nước, tuy nhiên, có phân tích, bình luận một số quy định của pháp luật nước ngoài để rút ra các bài học kinh nghiệm cần thiết cho quá trình xây dựng vàhoàn thiện pháp luật ở Việt Nam.

Vềthời gian, luận ántậptrung nghiêncứucác quyđịnhpháp luật hiện hành để đánh giá chính xác thực trạng của pháp luật. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khảthicủacác kiến nghị, luận án cũng nghiêncứuquá trìnhvậnđộngvà phát triển của hệ thống pháp luật về TĐKT.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, tác giả luận án đã áp dụng các phương pháp nghiêncứucụthể, phùhợpvớitừngnộidung nghiên cứu, như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê , logic, lịch sử, so sánh, đối chiếu, v.v.. nhằm làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu. Trong đó:

Phương pháp phân tích, logic, tổnghợpđượcsửdụng trong toànbộnội dung của luận án;

Phương pháp lịchsử,đốichiếuđược sửdụng trong nội dung nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về TĐKT;

Phương pháp so sánh được sử dụng trong nội dung nghiên cứu mô hình vàpháp luật về TĐKT của một số quốc gia trên thế giới ;

4

Phương pháp thống kêđượcsửdụng trong phần đánh giá những thực trạng pháp luật tại Chương III của luận án .

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình khoahọcnghiêncứupháp luậtvềTĐKT, tácgiảluận án mong muốn có thể đóng góp một số những vấn đề mới cho khoa học pháp lý cụthể như sau:

Thứnhất, luận án chứađựngnhững nghiêncứumang tínhhọcthuật vàquan điểm của tác giả luận án về địa vị pháp lý và tư cách chủ thể của TĐKT. Đây là vấn đề quan trọng làm cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về TĐKT;

Thứ hai, luận án làm rõ bản chất các liên kết trong TĐKT như liên kết vềvốn, liên kết về thương hiệu, liên kết về công nghệ, liên kết về thị trường và một số hình thức liên kết khác;

Thứ ba, luận án đưa ra giải pháp với vấn đề về quyền quản lý, về giao dịch và cácvấnđềpháp lývềmốiquanhệgiữa công tymẹ-công ty con, quanhệgiữa công ty mẹ và các công ty thành viên, mối quan hệ giữa các công ty cùng cấp trong tập đoàn được làm sáng tỏ trong nội dung luận án;

Thứ tư, từ kết quả các nhiệm vụ của luận án được giải quyết, luận án đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về TĐKT trong giai đoạn hiện nay trên tinh thần tái cơ cấu TĐKT nhà nước, tạo điều kiện cho TĐKT tư nhân phát triển thuận lợi .

6. Kết cấu của luận án

Ngoàiphần Mở đầu, Kết luận, luận án gồm những nội dung cụ thể sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Nhữngvấnđềlý luậnvềtậpđoàn kinhtếvà pháp luậttậpđoàn kinh tế

Chương 3: Thực trạng pháp luật về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Chương 4: Phươnghướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềtậpđoàn kinh tế tại Việt Nam

Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam
Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨUĐỀ TÀI

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUANĐẾNĐỀTÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Công trình khoa học trong nước

Tậpđoàn kinhtếlàmộtđềtài mang tính thờisự.Nhiều công trình khoa họcđãnghiêncứuvà đánh giávềsựphù hợp, tính hiệuquảvàkhảnăng hoạtđộngcủamô hình TĐKT. Các công trình nghiêncứukhoahọcbao gồm: sách tham khảo, đề tài khoa học, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học vàcác hội thảo khoa học, v.v..

1.1.1.1. Sách tham khảo

1.1.1.2. Đề tài khoa học

1.1.1.3. Luận án tiến sĩ

1.1.1.4. Bài viết đăng trên tạp chí

1.1.1.5. Báo cáo, hội thảo khoa học

1.1.2. Công trình khoa học nước ngoài 1.1.2.1. Sách nước ngoài

1.1.2.2. Bài viết tạp chí

1.2.1. Tình hình nghiên cứu cơsởlý luận và thực tiễn củatập đoàn kinh tế và pháp luật tập đoàn kinh tế

1.2.1.1. Khái niệm Tập đoàn kinh tế

Khái niệm“Tậpđoàn kinhtế”đãđượcnhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau.

Theo Nguyễn Đình Phan (1996), Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia: “Tập đoàn kinh doanh là một tổhợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vimộtnướchoặc nhiềunướctrongđócómột“côngtymẹ” nắmquyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về mặt tài chính và chiến lược phát triển.Tậpđoàn kinh doanh làmộtcơcấutổchứcvừacó chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung khảnăng cạnh tranh vàtối đa hóa lợi nhuận”

Theo Vũ Huy Từ (2002), Mô hình TĐKT trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB ChínhtrịQuốc gia: “TĐKT làmộtcơcấusởhữu,tổchức và kinh doanh đa dạng, có quy mô lớn, nó vừa có chức năng sản xuất- kinh doanh, vừa có chức năng liênkếtkinhtếnhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồnlựcbanđầu(vốn,sứclaođộng,công nghệ, v.v..)đểtăngkhảnăng cạnh tranh trên thị trường và tối đa hóa lợi nhuận. Trong đó các TĐKT là

tổ hợp các doanh nghiệp thành viên (công ty con) do công ty mẹ nắm quyền lãnhđạochi phốivềnguồnlựcbanđầu,chiếnlượcphát triển và hoạtđộngnhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau”

Trong đề tài nghiên cứu về TĐKT của Bộ kế hoạch và Đầu tư (2007) đưa ra khái niệm: “TĐKT là tổ hợp các doanh nghiệp hoạt động trong một hay nhiều

23

lĩnh vực khác nhau, ở phạm vi một nước hay nhiều nước; trong đó có một doanh nghiệp (công tymẹ)nắmquyền lãnhđạo,chi phối hoạtđộngcủacác doanh nghiệp khác (công ty con)vềmặttài chính và chiếnlượcphát triển. TĐKT làmột cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh.”

Những khái niệm trênđượcđưara trên khía cạnh kinhtếhọc. Các khái niệm miêu tả khá đầy đủ và chính xác mô hình TĐKT vì vừa hàm chứa đặc điểm về kinh tế, vừa hàm chứa một số đặc điểm về pháp luật. Bên cạnh đó, nhiều tác giả cũng đưa ra khái niệm về TĐKT với nhiều nội dung tương đồng đó là: một phương thức tổ chức kinh doanh, quy mô lớn, có sự liên kết, hoạt động theo môhình công ty mẹ- công ty con, hoạt động vì mục đích kinh tế, lợi nhuận. Đây lànhững điểm chung cơ bản, để tác giả luận án xây dựng một khái niệm về TĐKT.

Vềkhái niệmdướigócđộpháp lý, theo Nguyễn Ngọc Bích (2007),Tậpđoàn: tổ chức và điều hành:“Tập đoàn là tên gọi để chỉ một nhóm công ty kết nối với nhau bằng vốn hay bằng quyền biểu quyết. Mỗi công ty trong tập đoàn làmột pháp nhân độc lập, tức là có quyền đi kiện và bị kiện, và có tài sản để thực hiện quyềnđó.Tậpđoàn không phải làmộtkhái niệm pháp lý vì trong luật không có khái niệm trách nhiệm tập thể.”

Quan niệmcủatácgiảNguyễn Ngọc Bíchchỉcoi TĐKT làmộttên gọi chưa phản ánh đầy đủ bản chất của mô hình TĐKT. Tuy nhiên, đây vẫn là khái niệm có giá trị tham khảo tốt với nghiên cứu sinh trong quá trình xây dựng khái niệm pháp lý về TĐKT.

1.2.1.2. Đặc điểm tập đoàn kinh tế

Nhiều công trình nghiêncứuđãđưara nhữngđặctrưng cơbản củamôhình TĐKT. Tác phẩm“Thànhlậpvà quản lý cáctậpđoàn kinh doanhởViệt Nam”củaNguyễn Đình Phan, Trương Đoàn Thể, Phương Bá Phượng, Nguyễn

24

Thế Phiệt, NXB Chính trị Quốc gia (1996) đưa ra 03 đặc điểm về quy mô, ngành nghề và mô hình TĐKT. Tác phẩm“Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa,hiện đạihóa”củaVũ HuyTừ,NXB ChínhtrịQuốc gia (2002)đưara 04đặc điểm về quy mô, ngành nghề, cấu trúc và điều hành TĐKT. Điểm chung của hầuhếtcác công trình nghiêncứuđềuphân tích cácđặcđiểmvềkinhtếcủa TĐKT bao gồm:

Thứ nhất, TĐKT có quy mô vốn lớn, nguồn vốn này có thể do Nhà nước hỗ trợvốn(đây là mô hình TĐKTđiểnhình tại các quốc gia châu Á);sửdụng nhiều lao động,; phạm vi hoạt động rất rộng không chỉ nằm trong phạm vi lãnh thổ mộtquốc gia mà ở nhiều nước trên phạm vi toàn cầu;

Thứ hai, các TĐKT đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực ;

Thứba, cáctậpđoàn thường đa dạngvềcơcấutổchức nhưngchủyếu hoạt động theo mô hình công ty me- công ty con. Trong đó công ty mẹ sở hữusốlượng lớn phần vốn góp trong công ty con và giữ quyền chi phối. Trên thế giới cũng có nhiều mô hình TĐKT khác nhau, cơ cấu tổ chức có đôi chút khác biệt;

Thứ tư, các TĐKT thường có một ngân hàng lớn “độc quyền” hoặc công ty tài chính, công ty này có thể nắm cổ phần chi phối các công ty thành viên. Bên cạnh đóTĐKT có thể có các trung tâm nghiên cứu khoa học, các cơ sở đào tạo.

Các đặc điểm này phản ánh đúng bản chất về kin h tế của các mô hình kinh tế,tácgiảluận ánsửdụng nhữngkếtquảnghiêncứunày, cóbổsung thêm những vídụcụthểđểminh chứng. Tuy nhiên, các công trình nghiêncứuđều chưa tiến hành tìm hiểu những đặc điểm của TĐKT dưới góc độ pháp lý, nhằm làm rõbảnchất vàđặctrưngcủamô hình này. Đâylànộidung chiếmtỉtrọng lớn trong nội dung luận án.

1.2.1.3. Về các hình thức liên kết trong tập đoàn kinh tế

Đềtài nghiêncứu“Xuthếhình thành TĐKTởViệt Nam” củaBộKếhoạch và Đầu tư (2007) đã phân tích cụ thể các hình thức liên kết dựa trên bản

25

chất của liên kết, các công trình nghiên cứu xem xét dưới dạng“liên kếtcứng” và “liên kết mềm”.

Trong đó “liên kết cứng” là các công ty thành viên “liên kết chặt chẽ vềvốn”.Các công ty thành viênmấttính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại. Công ty mẹ có lợi thế nắm giữ cổ phần chi phối các công ty để giữ quyền lãnhđạo,ra quyếtđịnhquan trọng các công ty thành viên. Các công ty thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về chu kỳcông nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của tập đoàn.

“Liênkếtmềm”các công ty thành viên kýkếthiệpđịnhthỏathuậnvới

nhauvềcác nguyêntắcchung trong hoạtđộngsảnxuất–kinh doanh như xácđịnh quy mô sản xuất, số lượng và giá cả sản phẩm, phân chia thị trường, hợp tác nghiêncứukhoa học, công nghệ, traođổibằng phát minh sáng chế, v.v.. Theo hình thức này, các TĐKT thường cómộtban quảntrịđiềuhành cá c hoạtđộng theo một chiến lược chung, nhưng từng công ty thành viên vẫn giữ nguyên tínhđộc lập về sản xuất, tài chính và thương mại.

Nội dung của Luận án cũng bàn về tính liên kết trong tập đoàn nhưng dưới gócđộpháp lý. Các liênkếttrong TĐKTđượchìn h thành trên cơsởquanhệhợpđồngnhư:hợpđồnggóp vốn,hợpđồnghợptác kinh doanh,hợpđồng chuyển quyềnsởhữuđốitượngsởhữucông nghiệp,hợpđồngsửdụng nhãn hiệu, v.v.. Việc phân tích cụ thể các quy định về từng loại hợp đồng là cơ sở đểxác định bản chất liên kết.

1.2.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tập đoàn kinh tế

Thực trạng hoạt động của các TĐKT là nội dung được các đề tài tập trung nghiên cứu ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau.

26

Thứ nhất, Chính sách pháp luật chưa hoàn chỉnh. Theo Bùi Hưng Nguyên (2011) (trong bài tạp chí “Tập đoàn kinh tế- Một số bất cập từ khung pháp lý”, Tạp chí khoa học công nghệ Hàng Hải số 25 tháng 1 năm 2011), hiện nay đang xảy ra tình trạng quá tải khi chưa có văn bản dưới luật nào quy định về TĐKT, tất cả chỉ tạm dừng ở một quy định trong Luật Doanh nghiệp (2005) và một quyđịnh hướng dẫn trong Nghị định; bên cạnh đó là sự bất bình đẳng giữa TĐKT tưnhân và TĐKT Nhànước;sựthiếu nhất quanvềquyđịnhđốivớiTĐKT Nhànước.Theo Đoàn Trung Kiên và Vũ Phương Đông (2010) (trong tác phẩm Những vấn đề bất cập về TĐKT theo Luật doanh nghiệp 2005, Tạp chí Luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội số 09/2010), pháp luật còn nhiều quy định bất cập vềcấutrúc liênkếtbên trongcủaTĐKT; những quyđịnhmâu thuẫndẫnđến nhầm lẫn về tên thương mại của TĐKT ; chưa rõ ràng trong việc xác định quy môtập đoàn. Nhiều nhà nghiên cứu đều chỉ ra sự thiếu hụt các quy định về thủ tục thành lập TĐKT, thủ tục bảo hộ nhãn hiệu tập đoàn, thủ tục giải thể tập đoàn.

Thứhai,vềhiệuquảsửdụng nguồnvốntheo nhà nghiêncứuLưuĐức Khải, Hà Huy Ngọc (2009) (trong tác phẩm “Phát triển TĐKT ở Việt Nam trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí cộng sản số 6-175) và Trần Thị Lan Hương (trong tác phẩm Những vấn đề rút ra từ thí điểm mô hình TĐKT, Tạp chítổ chức Nhà nước số 8/2010) việc sử dụng nguồn lực trong kinh doanh của các TĐKT Nhànướcchưa hiệu quả,mụctiêu phát triển cáctậpđoàn đa ngành, đa lĩnh vực đã bị thực hiện sai lệch. Nhiều tập đoàn đầu tư sang các lĩnh vực khác hẳn với ngành nghề kinh doanh chính, khiến cho nguồn lực vốn của tập đoàn vừa nhỏ lại bị phân tán. Giữa các TĐKT chưa có sự phối hợp tốt, chưa tạo rađược sựliên kết, gắn bó trong sản xuất, kinh doanh nên chưa phát huy được thế mạnh của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính của từng tập đoàn.

Thứ ba, các TĐKT được bảo hộ độc quyền nên một số ngành nghề đã tiến hànhđầutư sang những ngành nghề khác mà không thực hiện đúng chức năng

27

của tập đoàn. Theo Hoàng Văn Dụ (2007) (trong tác phẩm “Một số vấn đề về tậpđoàn kinhtế”,tạpchí công nghệ tháng 07/2007): Cáctậpđoànđầutiênđược Chính phủ thành lập như Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông là những tập đoàn có sự bảo hộđộc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Với sự bảo hộ độc quyền, cáctậpđoàn chi phối toànbộhoạtđộnglĩnh vựcđầutư.Đâylàyếutốlàm giảm sức cạnh tranh của các tập đoàn Việt Nam, vì tại thị trường trong nước các tập đoànmộtmình một sân chơi. Mặcdù vậy, khimởrộng hoạt động kinh doanh,gặpphảisựcạnh tranhtừcácnhà đầutư nước ngoài thì các TĐKT nhànước đã bộc lộ nhiều yếu kém. Một số tập đoàn còn chuyển sang đầu tư tại nhiều lĩnhvựckhác nhau như:Tậpđoàndầukhí Việt Nam,TậpđoànđiệnlựcViệt Nam,Tậpđoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam còn tiến hànhđầutư sang lĩnh

vựctài chính,bấtđộngsản, viễn thông,vậntải, v.v.. nhưng hiệuquảkinhtếkhông đạt được, gây thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước.

Thứtư, Theo Phạm Duy Nghĩa (2014) (trong tác phẩm“Táicấutrúctậpđoàn và doanh nghiệp nhà nước: một góc nhìn từ thể chế và pháp luật”), thực trạng trong quản lý vốn nhà nước hiện nay là chưa tách bạch rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng của chủ sở hữu nhà nước đối với các TĐKT; chưa cóquy định cụ thể và rõ ràng về giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sởhữuNhànước;thiếu các quyđịnhvềphương thức và biện pháp hình thành các quyết định của chủ sở hữu Nhà nước, cơ chế tách bạch giữa quản lý Nhà nước vàquản lý của chủ sở hữu Nhà nước, cơ chế công khai và minh bạch.

1.2.3. Tình hình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực hiện pháp luật về tập đoàn kinh tế

Các nhà nghiên cứu sau khi tiến hành xem xét các nội dung về TĐKT đều có nhữngđịnhhướnghoàn thiện và giải pháp khắc phục nhữngyếuđiểmcủa TĐKT. Về giải pháp hoàn thiện có các giải ph áp cơ bản sau đây:

28

Thứnhất, hoàn thiệnhệthống pháp luật.Đâylà giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TĐKT được đa số các nhà nghiên cứu nhắc đến.

Theo Lưu Đức Khải và Hà Huy Ngọc (2009) (trong tác phẩm “Phát triển TĐKT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí cộng sản số6): Nhà nước sớm ban hành các quy định về tính pháp lý, mô hình và nguyên tắc hình thành các TĐKT, những yêucầuvà tiêu chívềquy môtổchức, phương pháptổchức, cáchệthống quản lý,độingũ cánbộ,sốvốnphápđịnh,cácchỉtiêu kinh tế tối thiểu, v.v.. Song song với khung khổ cơ bản nhất về pháp lý, Nhànước có những quy định rõ ràng hơn trong cơ chế hoạt động và mối quan hệ bên trongmỗitập đoàn liên quan đến kinh doanh,đầu tư,tài chính, thông tin, nhân sự, tài sản, trách nhiệm, v.v.. Quan trọng nhất là phải xác định và phân biệt một cách rõ ràng hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước và của chủ sở hữu.

Theo Nguyễn Minh Phong (2011) (trong tác phẩm “Những nút thắt trong phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước”, Tạp chí Ngân hàng 2011): Việt Nam phải khẩn trương xây dựng Luật quản lý vốn Nhà nước hoặc Luật đầu tư công tạo cơsởpháp lýcầnthiếtđiềuchỉnh bằng Luậtđốivớicác hoạtđộngđầutư công, trong đó có đầu tư của các DNNN trong 2 dạng hoạt động vì l ợi nhuận và phi lợi nhuận. Theo Vũ Huy Từ (2002) (trong tác phẩm “Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Chính trị Quốc gia): để TĐKT có thể hoạtđộng tại Việt Nam cần phải có hệ thống văn bản: Luật về công ty tài chính, Luật thịtrường chứng khoán, Luật liênkếtkinh doanh, Luậtđầutư trong và ngoài nước, Luật cạnh tranh, Luật chống độc quyền. Nhà nghiên cứu cũng khuyến nghịViệt Nam cần sớm ban hành Luật Tập đoàn kinh tế.

Theo ông Trương Gia Bình- Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FPT (2010) (trong bài tạp chí điện tử“Môhìnhtậpđoàn kinhtếtư nhân: Có cần đạo luật riêng” Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp do Phan Nam thực thiện): Không cần thiết phải cómộtvăn bản mang tính chất hành chínhvề sựrađờicủaTĐKT tư nhân mà

29

chỉ cần Luật Doanh nghiệp là có thể giải quyết được. Sở dĩ, Chính phủ có riêng mộtNghị định về thànhlập, tổchức, hoạtđộngvà quản lý TĐKT nhà nước cóthể là để tháo gỡ cho các TĐKT nhà nước.

Thứ hai, khuyến khích sự phát triển của tập đoàn.

Theo ông Nguyễn MạnhCường – Phóchủtịch thường trựcHộidoanh nhân trẻ Việt Nam (2010) (trong bài tạp chí điện tử “Mô hình tập đoàn kinh tế tưnhân: Cócần đạo luật riêng”Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp do Phan Nam thực thiện): việc thành lập mô hình TĐKT tư nhân cần phải chú trọng đến những thếmạnh nội tại của chính doanh nghiệp. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng cần cónhững nghiên cứu cụ thể, học tập các mô hình kinh tế tư nhân từ các nước phát triển, nhất là cácnướccóđiềukiện phát triển tươngtựViệtNamđểcó những hoạch định vàbước điđúng hướng khi hình thành TĐKT tư nhânởViệt Nam. HộiDoanh nghiệptrẻViệt Namđãthànhlậpnhóm chuyên gia và các doanh nghiệp để có thể hoàn thành sớm nhất đề án hình thành TĐKT tư nhân trình Thủtướng Chính phủ xem xét.

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn- Tổng giámđốcTập đoàn đầutư phát triển nhà Hà Nội (2010) (trong bài tạp chí điện tử “Mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân:

Cócầnđạoluật riêng”Tạpchí Diễnđàndoanh nghiệp do Phan Nam thực thiện): việc hoạchđịnhcác chính sách nhằm xây dựng mô hình hình thành vàphát triển các TĐKT tư nhân phải tương thíchvớihệthống pháp luật,cảicách hành chínhvềcạnh tranh vàđầutư, thương mại, chuyển giao công nghệ, thuế, tài chính, ngân hàng, sáp nhập và mualạitheohướngt hốngnhất để tạora một môi trường kinh doanh thuận lợi và sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Thứ ba, Nhóm giải pháp hỗ trợ các TĐKT phát huy vai trò và tác dụng lànhững “trọng điểm và mũi nhọn kinh tế” , giám sát hoạt động của các TĐKT.

Theo ông Đinh La Thăng-Bộ trưởng BộGiao thông vận tải, nguyên Chủtịch HĐQT, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn dầu khí Việt Nam (2010) (trong tác phẩm

30

“Về tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam sau gần 5 năm thí điểm hoạt động”, Tạpchí Cộng sản, Trung ươngĐảngcộngsảnViệt Nam):cầnphải kiện toàn công tác quản lý của Nhà nước và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với tập đoàn. Hình thành mới một cơ quan của Chính phủ quản lýthống nhất mọi mặt hoạt động của các TĐKT nhà nước. Thực hiện ủy quyền tốiđa cho HĐTV tập đoàn trên cơ sở tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để các tậpđoànchủđộng,quyếtđịnhkịpthời và chịu trách nhiệmvềcácvấnđềlớn trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và đấu thầu đối với những vấnđềđòihỏiphải có quyếtđịnhnhanh chóng, khôngđểlỡnhững cơhộisản xuất, kinh doanh; thường xuyên sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động, Quy chế tài chính của tập đoàn cho phù hợp với thực tiễn hoạt động của tập đoàn theo từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển.

Theo LưuĐứcKhải và Hà Huy Ngọc (2009) (trong tác phẩm Phát triển TĐKT ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí cộng sản số6): Quyđịnhrõ trách nhiệmcủacácbộ,ngành trong việc quản lý và giám sát TĐKT, như Bộ Kế hoạch và Đầu tưgiám sát công ty mẹ thành lập doanh nghiệp mới, góp vốn vào doanh nghiệp khác thuộc lĩnh vực có nguy cơ rủi ro, giám sát các danh mục đầu tư, các ngành nghề kinh doanh chính và ngành nghề liên quan; BộNộivụtheo dõi, đánh giá nănglựccánbộlãnhđạodo anh nghiệp;BộTài chính giám sát, đánh giá hoạt động tài chính, kết quả kinh doanh của công ty mẹvà toàn bộ hoạt động của TĐKT, giám sát việc tăng vốn điều lệ của công ty mẹ vàcác doanh nghiệp thành viên, phát hành cổ phiếu, việc vay vốn đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản; giám sát việc chuyển dịch vốn,đầu tư, các nguồn lực bên trong tập đoàn và ngoài tập đoàn. Nhà nước cần xóa bỏđộc quyền và đặc quyền kinh doanh của DNNN để phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết WTO. Có như vậy mới nâng cao năng lực cạnh tranh của các TĐKT và giải phóng được các nguồn lực kinh tế khác.

31

Theo Trần Tiến Cường (2011) (trong tác phẩm “Nâng cao sức cạnh tranh của TĐKT Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản- Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam số82):cầntách chức năngchủsởhữuvớichức năng quản lý hành chính nhànước; bảo đảm tính chuyên trách, chuyên nghiệp, có đầu mối của đại diện ý chủsở hữu đốivới các TĐKT nhà nước, hoặc có thể thành lậpmộttổ chức chuyên trách đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các TĐKT nhà nước. Giải pháp này hạn chế tình trạng không rõ trách nhiệm trong sử dụng vốn, tài sản và tình trạngđầutư dàn trải, kém hiệu quả, kiểm soátđượccác nhântốlàm giảmsứccạnh tranh của TĐKT nhà nước.

Theo Nguyễn Minh Phong (2011) (trong tác phẩm “Những nút thắt trong phát triển tập đoàn kinh tế Nhà nước”, Tạp chí Ngân hàng 2011): phải buộc tất cả các TĐKT phải công bố thông tin hoạt động, nhất là về tài chính như quy địnhđối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Kếtluận,hầuhếtcác giải pháp hoàn thiện TĐKTtạiViệt Namtậptrung vào giải pháp về quản trị và kinh tế, vì nhà nghiên cứu tiếp cận TĐKT chủ yếu dướigócđộquản lý kinhtế.Các giải pháp này cũngtậptrung vào các TĐKT Nhà nước mà thiếu giải pháp cho các TĐKT tư nhân. Điều này phản ảnh nhu cầu mang tính thờisựvềhoàn thiện cơchếhoạtđộngcủaTĐKT Nhànước,tuy nhiên, các TĐKT tư nhân cũngcầncó các giải phápđểthúcđẩysựphát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trong giai đoạn mới.

1.3. NHỮNGNỘIDUNG CƠBẢNCẦNGIẢI QUYẾT TRONG LUẬNÁN, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.3.1. Những nội dung cơ bản cần giải quyết trong luận án

Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu và trình bày quan niệm về TĐKT dưới hai góc độ: góc độ kinh tế trên cơ sở các nghiên cứu đã trình bày ở trên, và góc độpháp lý trên cơ sở nghiên cứu chuyên sâu của tác giả. Dựa vào việc xem xét TĐKT

từnhiều khía cạnh, tácgiảluận ándựkiến xây dựngmộtkhái niệm pháp lývề

32

“Tập đoàn kinh tế”. Luận án cũng dành thời lượng phù hợp để xác định địa vị pháp lý và tư cách chủ thể của TĐKT. Đây là vấn đề còn nhiều vướng mắc, nhiều quan niệm khác nhau, là điểm mấu chốt trong nội dun g lý luận về TĐKT;

Thứ hai, luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về hình thức liên kết trong TĐKT như liên kết về vốn, liên kết về quyền sở hữu công nghiệp và một số các hình thức liên kết khác. Tác giả đã tập trung một số nội dung luậnán để luận giải các vấn đề liên quan đến liên kết trong tập đoàn. Tác giả làm rõbản chất của từng dạng liên kết, đặc điểm, yếu tố chi phối, và quy định của pháp luật về các liên kết này. Thông qua việc giải quyết về các liên kết trong tập đoàn, tác giả luận án muốn làm rõ tính chất đa dạng của quá trình vận hành TĐKT tại Việt Nam;

Thứba, luận án tiến hành nghiêncứucác quyđịnhcủapháp luậtvềhình thành TĐKT Nhà nước và TĐKT tư nhân. Việc thành lập TĐKT Nhà nước từ các mệnh lệnh hành chính và chuyển đổi t ừ mô hình TCT đã tạo ra những bất cập, luậnán tập trung phân tích những bất cập này nhằm gợi mở hướng hoàn thiện. Quá trình thành lập các TĐKT tư nhân chưa có quy định cụ thể, gây ra hiện tượng nhầm lẫn về tên gọi của tập đoàn. Một số phương án quy định v ề quy mô tập đoàn được gợi mở nhưng chưa có quy định cụ thể. Tác giả luận án phân tích và làm rõ thực trạng này từ đó đề xuất phương án riêng dành cho các TĐKT tư nhân.

Thứ tư, luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong TĐKT, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thành viên trong TĐKT. Nội dung này, tácgiảdựđịnhtậptrung phân tích sâu và làm rõ hoạtđộngquản lýtrong các TĐKT Nhà nước giữa công ty mẹ và công ty con, công ty thành viên trong TĐKT, trong đó tập trung làm rõ trách nhiệm của công ty mẹ trong việc sửdụng nguồn vốn đầu tư nhà nước và sự phân bổ nguồn vốn cho các công ty con, công ty thành viêntậpđoàn.VềTĐKT tư nhân, do chưa có quyđịnhvềhoạtđộng điều hành và phụ thuộc vào quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư, n ên tác

33

giảchỉnghiêncứukháilược.Xuyên suốtnộidung này, tácgiảluận án làm rõcác vấn đề về quyền quản lý, về giao dịch, các vấn đề pháp lý khác giữa công ty mẹ-công ty con, mối quan hệ giữa các công ty cùng cấp trong tập đoàn, về hình thức đầu tưđơn cấp, đa cấp, hay đầu tư hỗ hợp.

Thứ năm, từ những vấn đề được giải quyết, nội dung luận án trình bày giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của TĐKT. Giải pháp này vừa có tính tổng thể vừa có tính chất chi tiết để đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện.

1.3.2.Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câuhỏi1: TĐKT có tư cáchchủthểđểtham gia các quanhệpháp luật hay không? TĐKT có tài sản độc lập và có tư cách pháp nhân hay không?

Giảthuyết nghiên cứu:TạiViệt Nam có giaiđoạntrướcnăm 2000, môhình tập đoàn kinh doanh được quy định có tư cách pháp nhân, là chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật. Hiện nay, nhà đầu tư tại khu vực kinh tế tư nhân, luôn mong muốn Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân cho TĐKT để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng thương hiệu của tập đoàn.

Câuhỏi2: TĐKTđượchình thành trên cơsởliênkếtgiữa các công ty thành viên trong tập đoàn. Có thủ tục thành lập TĐKT hay không?

Giảthuyết nghiên cứu: Liênkếtgiữa các c ông ty thành viên trongtậpđoàn không giống liênkếtgiữa thành viên trong công ty. Khi nhàđầutư cùng nhau góp vốn thành lập công ty, có thủ tục thành lập công ty. Trong trường hợp các công ty cùng nhau thỏa thuậnvềviệc hình thànhmộtnhóm kinh doanh chung,thủtụcthànhlậpnhóm có thựcsựcầnphảiđượcluật hóa. TĐKT nhànướcđãcóthủtụcthànhlậptrướcđây, nhưng TĐKT tư nhân thì chưa có quy

định cụ thể.

Câu hỏi 3: TĐKT có một bộ máy quản lý điều hành riêng, độc lập với các công ty thành viên trong tập đoàn?

34

Giảthuyết nghiên cứu: TĐKT làmộttậphợpnhóm công ty, trongđócócông ty chi phối (gọi là công tymẹ)và công tybịchi phối (công ty con). Việc quản lý hoạtđộngcủaTĐKT do công tymẹthực hiện. Tuy nhiên, công tymẹphải tập trung thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, việc phân bổ nguồn lực đểquản lý tập đoàn sẽ tạo ra những rủi ro cho hoạt động kinh doanh của công ty mẹ.

Câuhỏi4: Cócầnthiết phải xây dựng cơchếkiểm tra, giám sátđốivới hoạt động của TĐKT không?

Giảthuyết nghiên cứu: Các thành viên trong TĐKT cómốiquanhệchặt chẽ thông qua các hình thức liên kết, giữa các thành viên trong tập đoàn thường xuyên có quanhệkinh doanh trên cơsởthỏa thuận. Cơchếkiểm tra, giám sátđược xây dựng nhằm kiểm soát những liên kết nà y.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1.Đềtài nghiêncứuvềTĐKT làđềtài không mới.Sốlượngcông trình nghiên cứu về đề tài này trong và ngoài nước khá đồ sộ. Tuy nhiên, chủ yếu các nghiên cứu là từ góc độ kinh tế, theo chuyên ngành quản trị kinh doanh, quản lýcông. Nhiều công trình nghiên cứu thường tập trung vào các khía cạnh liên quanđến liên kết trong tập đoàn, quản trị trong tập đoàn, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của tập đoàn.

2. Luận án tập trung nghiên cứu về TĐKT từ khía cạnh pháp lýnhằm hoàn thiện khung pháp luật cho TĐKT tại Việt Nam trong bối cảnh những nghiên cứu chuyên sâu pháp lý về TĐKT còn nhiều hạn chế.

3. Trên cơsởnhững đánh giákếtquảcụthểcủacác công trình nghiên cứu, tác giả xác định rõ được một số nội dung cơ bản làm nhiệm vụ nghiên cứu củaluận án: khái niệm,đặcđiểmpháp lýcủaTĐKT;cấutrúc pháp luậtvềTĐKT;bảnchất liênkếttrong TĐKT; thành lập, quản lý, chấmdứthoạtđộng TĐKT; và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về TĐKT.

35

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ PHÁP

LUẬT TẬP ĐOÀN KINH TẾ

2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ2.1.1. Khái niệm tập đoàn kinh tế

Quy luật vận động phát triển của nền kinh tế hàng hóa, quy luật cạnh tranh buộc nhà kinh doanh phải triển khai những mô hình liên kết phù hợp nhằm tích tụvốn, tăngkhảnăng cạnh tranh, phân tánrủiro, quản lý và kinh doanh hiệu quả. Trong giaiđoạnđầucủanềnkinhtếhàng hóa, liênkếtgópvốnthành lập công ty kinh doanhtrởthành xuhướngchủđạo.Tuy nhiên, quy luậtvậnđộng củanềnkinhtếngày càng phức tạp,đòihỏinhà kinh doanh phải xây dựng những mô hình liên kết kiểu mới để hình thành một tổ chức kinh doanh quy môlớnhơn, hiệuquảhơn,sứccạnh tranh cao hơn,đólà cáctậpđoàn kinh doanh (hay tập đoàn kinh tế)

Sự tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, của tiến bộ khoa học kỹ thuật, của nhu cầu tập trung vốn, giảm chi phí kinh doanh, phân tán rủi ro làm xu hướng hình thành các TĐKT ngày càng trở nên mạnh mẽ. Các TĐKT ngày nay đã phát triển lớn mạnh về quy mô, đa dạng về ngành nghề, phức tạp về cơ cấu tổ chức và địa bàn hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau.

Có nhiều khái niệm khác nhau về TĐKT. Theo Từ điển kinh tế Anh- Việt [52, tr.644]:“Tậpđoàn làtổhợpcủanhững nhàsảnxuất kinh doanh, những công ty độc lập, tập hợp nhằm loại trừ sự cạnh tranh lẫn nhau. Tập đoàn thường do các công ty mẹ làm chủ và tự nó không sản xuất nhưng là tổ chức nắm toàn bộ các công ty còn lại”

Theo từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp- Việt [58, tr.414]: “Tập đoàn kinh tế (groupe de société) là tập hợp các công ty có mối quan hệ về kinh tế, tài chính

36

và tạo thành một đơn vị kinh tế. Về mặt pháp lý, các công ty trong nhóm công ty là các thực thể pháp lý riêng biệt và độc lập với nhau”

Theo Đại từ điển kinh tế thị trường [96, tr378]: “Tập đoàn xí nghiệp là một quần thể xí nghiệp, đó là do yêu cầu cạnh tranh củamột sốxí nghiệp, trong việc liênhệkinhtếngang và trên cơsởtựnguyện, bìnhđẳng,liênhợplạivớinhau thành một thực thể kinh tế như công ti liên hợp chẳng hạn. Tập đoàn xí nghiệp làmộtloạitổchức xí nghiệp hiệnđại,cũng là pháp nhân kinhtế.Trongđó:lấyxínghiệp loạilớnlà loại trung tâmcốtlõi, có thựclựckinhtếhùng hậu, cóvịtrítương đối quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tập đoàn thực hiện nhiều chức năng: sản xuất, nghiên cứu khoa học, sản xuất sản phẩm mới, tiêu thụ và phục vụ, có năng lực cạnh tranh trên thị trường nước ngoài”

Trong cuốn “Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh tại Việt Nam” [49] định nghĩa: “Tập đoàn kinh doanh là một cơ cấu tổ chức vừ a có chức năng kinh doanh,vừacó chức năng liênkếtkinhtếnhằm tăng cường, tíchtụ,tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận”

Nhiều khái niệmvề“Tậpđoàn kinhtế”hay“tậpđoàn kinh doanh”đãđượcđưara, nhưngchủyếutiếpcậndưới gócđộkinhtế.Trên cơsởtổng hợp những khái niệm, cóthểđịnhnghĩa:“Tậpđoàn kinhtếlàmộttổchức quy môlớn, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở

liên kết hình thành từ hoạt độngđầu tư,góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại, các liên kết kinh doanh nhằm tích tụ, tập trung nguồn lực để tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận.”

Xét về bản chất pháp lý, TĐKT được hình thành từ sự liên kết của các chủthể kinh doanh, những liên kết này được hình th ành từ hoạt động đầu tư và trong những hợp đồng liên kết. Các hình thức liên kết trong TĐKT rất phức tạp, tươngứng với mỗi hình thức liên kết là một loại hợp đồng như: hợp đồng góp vốn, hợpđồngchuyển nhượng phầnvốngóp,hợpđồngchuyển quyềnsửdụngđốitượng

37

quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, v.v.. Quátrình thành lập TĐKT là một quá trình tự nhiên trên cơ sở quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng. Xét ở khía cạnh pháp lý có thể định nghĩa TĐKT như sau:

“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp liên kết giữa các pháp nhân kinh doanhđộclập trên cơ sở hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết. Hoạtđộng đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết tạo lập quyền và nghĩa vụ cho mỗithành viên trongtậpđoàn, trongđócó những pháp nhân kinh doanhgiữquyền chi phối, những pháp nhân kinh doanhbịchi phối và những pháp nhân kinh doanh không bị chi phối”

2.1.2. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế

2.1.2.1. Tập đoàn kinh tế được hình thành từ liên kết giữa các chủ thểkinh doanh độc lập tạo thành một tổ hợp

Tập đoàn kinh tế được hình thành trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể kinh doanh.Chủthểkinh doanh trongtậpđoàn là những pháp nhân kinh doanhđộc lập. Liên kết giữa các chủ thể kinh doanh trong tập đoànđượcquyđịnhtạicá c hợp đồng liên kết.

Liênkếtgiữa các thành viên trongtậpđoàn hoàn toàn khácvớiliên kết giữa các thành viên trong công ty. Liên kết giữa các thành viên trong công ty làliênkếthình thànhtừquanhệđầutư gópvốnđểtrởthànhđồngsởhữuchung củacông ty, giữa các thành viên có mối quan hệ chặt chẽ, hoàn toàn độc lập vềtư cách pháp lý, quản lý vàđiềuhành. Các thành viên trong công ty tính trách nhiệm được cá biệt hóa, các thành viên được tham gia quản lý, điều hành công tyở mức độ tươngứng vớitỷ lệ vốn góp vào công ty. Liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn được hình thành trên cơ sở đầu tư vốn trực tiếp từ thành viên này vào thành viên khác hoặc việc cùng sở hữu, sử dụng chung các đối tượng sở hữu công nghiệp hay nằm trong một chuỗi kinh doanh. Các thành viên trong tập đoànđộc lập về mặt pháp lý, tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình,

38

tuy nhiên các thành viên cóthểchi phốilẫnnhau trong hoạtđộngkinh doanh. Các thành viên trong tập đoàn không chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh chung của tập đoàn và cũng không chịu trách nhiệm trong trường hợp một thành viên khác của tập đoàn làm ăn thua lỗ phá sản. Thành viên trong tập đoàn ràng buộc trách nhiệm trực tiếpvớinhau thông quahợpđồngliên kết.Mốiliên kết giữa các thành viên trongtậpđoàn cóthểchi phối hoặc những liênkếtkhông mang tính chi phối.

Thứ nhất, Liên kết chặt chẽ, chi phối

Tập đoàn kinh tế có liên kết chặt chẽ, chi phối là tập hợp của công ty chi phối và các công tybịchi phối. Công ty chi phối (h ay còngọilà công ty mẹ) trong TĐKT thườngtồntạiởmô hìnhcổphần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, giữ quyền chi phối điều hành các hoạt động của công ty bị chi phối (hay còn gọi là công ty con). Công ty con tham gia vào tập đoàn độc lập về pháp lý nhưng bị hạn chế quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính. Các công ty thành viên trongtậpđoàn buộc phải tuân theo những quyđịnhcứng, thống nhất trong toànbộtậpđoàn, công ty thành viên khôngthểrút khỏitậpđoàn. Các liên kết trong TĐKT mang tính chi phối, được hình thành trên cơ sởđầu tư góp vốn và một số hình thức khác.

(i) Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn.

Liên kết chi phối thông qua đầu tư góp vốn là liên kết hình thành từ hoạtđộnggópvốncủacông tymẹvào công ty con. Phầnvốngópcủacông tymẹchiếm tỉ lệ trong vốn điều lệ của công ty con đủ để chi phối hoạt động của công ty con. Về bản chất, công ty mẹ chính là cổ đông, thành viên góp vốn của công ty con, tuy nhiên cổ đông, thành viên này giữ quyền chi phối trong công ty con. Công tymẹcóthểchi phối toànbộhoặcmộtphần hoạtđộngcủacông ty con. Theolẽthường,tỉlệvốnđểcông tymẹchi phối công ty conđượcxácđịnhlàquá bán cho dù thực tế không phải trường hợp nào cũng như vậy.

39

(ii) Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty

Liên kết chi phối thông qua việc kiểm soát hoạt động công ty là hình thức công ty mẹ cử đa số người vào ban điều hành công ty con, cho phối hoặc quyếtđịnh phương thức kinh doanh công ty con. Việc cử người quản lý từ công ty mẹvào banđiềuhànhcủacông ty con cóthểthực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong trường hợp trực tiếp, công ty con chấp nhận những điều kiện để trở thành thành viên tập đoàn, cho phép công ty mẹ được bổ nhiệm các chức danh quản lýquan trọngcủacông ty, công ty mẹ được quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty bịchi phối. Việc chấp nhận điều kiện nàymởđượccho công ty con cơhộigia nhập tập đoàn, từ đó được hưởng lợi ích từ tập đoàn. Trong trường hợp gián tiếp, công ty mẹ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của công ty con nhưng chưa ở mức chi phối, tuy nhiên sau khi bầu ban điều hành, với số cổ phần, phần vốn góp nắm giữcông ty mẹ vẫn cử được đa số thành viên trong ban điều hành công ty con.

(iii) Liênkếtchi phối thông qua việc chuyển các quyền liên quanđếnsởhữu công nghiệp và một số loại quyền khác.

Liên kết hình thành từ việc công ty chi phối cho phép, nhường quyền cho công ty bị chi phối sử dụng những quyền và lợi ích liên quan đến nhãn hiệu, bíquyết kinh doanh, và tham gia vào một quá trình sản xuất công nghệ. Công ty chi phốisửdụng quyềnsởhữutrí tuệ, kinh nghiệmsảnxuất kinh doanhđểápđặt hoạtđộngsảnxuất kinh doanhcủacông tybịchi phối.Nếucác công tybịchi phối không tuân theo sự chỉ dẫn của công ty chi phối, công ty bị chi phối có thểbị khai trừ khỏi tập đoàn, loại khỏi dây chuyền sản xuất, hoặc ngừng cấp các lợi thếvềcông nghệ,dẫnđếnđìnhtrệsảnxuất vàđốimặtnguy cơ phá sản. Bên cạnhđó,trongmộtsốtrườnghợpcông ty chi phối chuyển giaomộtsốquyền mang tính chất độc quyền được Nhà nước giao (như quyền khai thác tài nguyên) cho công tybịchi phối. Công tybịchi phối hoàn toànphụthuộc và phải tuân

40

theo chỉ dẫn của công ty chi phối nhằm hưởng các lợi ích từ những quyền mang tính độc quyền như trên.

Thứ hai, liên kết không mang tính chi phối

Bên cạnh liên kết vốn mang tính chi phối, trong TĐKT còn có những hình thức liên kết khác như về liên kết vốn nhưng không đủ mức chi phối, liên kết vềcông nghệ, liên kết về thị trường, liên kết về nhân sự lãnhđạo, những hình thức liên kết này thường mang tính chất liên kết mềm được hình thành trên cơ sở thỏa thuận hợp đồng. Theo đó, công ty mẹ chia sẻ những lợi ích về công nghệ, về thịtrường cho các chủ thể kinh doanh khác (gọi là thành viên liên kết). Công ty mẹchi phối một phần hoạt động của thành viên liên kết, yêu cầu thành viên liên kết phải tuân thủ những nguyên tắc và chính sách kinh doanh của toàn bộ tập đoàn. Thành viên liênkếthoàn toànđộclậpcảvềmặtpháp lý cũng như hoạtđộng kinh doanh thương mại. Thành viên liên kết là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, những công ty này có thể dễ dàng trở thành thành viên tập đoàn và cũng dễdàng chấm dứt tư cách thành viên của tập đoàn. Thành viên liên kết thường phải trả phí sử dụng cho những lợi thế kinh tế mà công ty mẹ chuyển giao.

2.1.2.2.Tậpđoàn kinh tếlàtổhợpcó danh tính và không có tư cách pháp nhân

TĐKT là một tổ hợp có danh tính, danh tính của TĐKT để chỉ một tập hợp các pháp nhân độc lập, hoạt động trên cơ sở liên kết chặt chẽ vì lợi ích kinh tế. Danh tínhcủaTĐKTđểphân biệt giữamộttậphợppháp nhânvớicác pháp nhân trong tập đoàn và phân biệt với tập hợp pháp nhân khác. Danh tính của tậpđoàn là một quyền tài sản, được xác định là một tên thương mại, là cơ sở để xây dựnghệthống nhãn hiệutậpđoàn. Các pháp nhânđộclậptrongtậpđoàn cóquyền thụ hưởng giá trị tên thương mại, nhãn hiệu và phải trả phí.

TĐKT không có tư cách pháp nhân khi xem xét theo nhiều góc độ và học thuyết khác nhau. Những nhà nghiên cứu tại các quốc gia theo truyền thống dân

41

luật (civil law) có haihọcthuyết pháp nhân cơ bản:họcthuyết pháp nhângiảtưởngvàhọcthuyết pháp nhân thựctế.(i)Họcthuyết pháp nhângiảtưởngcoi pháp nhân là một đối tượng hư cấu do nhà làm luật quy định nhằm tạo điều kiện cho việc thiết lập quan hệ của một nhóm người. Tư cách pháp nhân có thể được nhà làm luật quy định hoặc tước bỏ. Pháp nhân không tự mình trực tiếp thực hiện hành vi, hoạtđộngtheo mong muốncủathành viên pháp nhânchứkhông phải trên cơ sở mục đích hoạt động của pháp nhân [41, tr.228]. (ii) Học thuyết pháp nhân thực tế coi pháp nhân một tập hợp của nhiều người, có tư cách như một cánhân, có quyền, nghĩavụnhưmộtcá nhân. Quyền và nghĩavụcủapháp nhân hình thành trên cơ sở liên kết giữa các cá thể độc lập với nă ng lực hành vi của cáthể độc lập đó. Hoạt động của cá nhân có thể bị chi phối bởi yếu tố về tình cảm, lý trí, năng lực bị giới hạn do khả năng thực hiện hoặc độ tuổi. Pháp nhân không bị chi phối bởi yếu tố này mà hoạt động theo mục đích của pháp nhân [98, tr.49, 50]. Như vậy, theo học thuyết pháp nhân thực tế thì pháp nhân không phải là một chủ thể giả tưởngmà làmột chủ thể thực tế, độc lập cũng được“sinh ra”, “lớn lên”,“bệnhtật”,“tử”như cá nhân, cũng hoạtđộngnhư cá nhân [ 11, tr.177]. Pháp nhân có mong muốn riêng và có quyềntựdo thực hiện hành vivớidanh nghĩa chính mình để thực hiện mong muốn đó. Đối với các quốc gia theo truyền thống thông luật (common law), pháp nhân độc lập là chủ thể được thành lập cótàisảnđộclậpđốivớicác thành viên sánglậppháp nhân. Sau ánlệnổitiếng Salomon vs Salomon.ltd cuốithế kỷthứ XIX, quan niệm pháp nhân được củng cố thêm trong đó pháp nhân chịu trách nhiệm riêng biệt.

Như vậy, cho dù quan niệm pháp nhân theo cách nào thìđiều kiện cơ bảnđể xác định tư cách pháp nhân đó là yếu tố độc lập về tài sản và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Xét từ khía cạnh liên kết của các pháp nhân tạo thành TĐKT vàbản chất pháp lý của tập đoàn, có thể thấy, TĐKT không có tư cách pháp nhân vìnhững lý do sau:

42

Thứnhất, TĐKT không có tàisảnđộclập.Đặctrưngcủapháp nhân làphải sở hữu một tài sản độc lập và sử dụng những lợi ích từ tài sản của mìnhđểthực hiện các mục đích của pháp nhân (đối với các pháp nhân kinh doanh đó làmục đích sinh lời). Tài sản của pháp nhân còn là cơ sở để pháp nhân gánh chịu cácrủiro phát sinh trong quá trình thực hiệnýchícủapháp nhân.Sảnnghiệpđược thiết lập bằng những tài sản do thành viên của pháp nhân đóng góp thông qua việc thực hiện chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho pháp nhân. TĐKTđược hình thành từ sự liên kết của các pháp nhân độc lập nhưng không xuất phát

từviệc thực hiện gópvốnchung. TĐKT không tiếp nhậnsựchuyển quyềnsởhữu tài sản góp vốn từ các pháp nhân thành viên, do đó không hình thành tài sản riêng. Nhằm duy trì hoạtđộngđiềuhànhtạiTĐKT, các pháp nhân thành viên thực hiện nghĩavụđóng góp tài chính hoặc pháp nhân chi phốitậpđoàn trích mộtphầnlợinhuậnđểchitrảcác chi phí có liên quan. Nguồn tài chính này làcần thiết để đảmbảo bộmáy quản trị thực hiện các trách nhiệm cần thiết trong hoạtđộngquản lýtậpđoàn. Tuy nhiên,sựđóng góp hoặc tríchlậpquỹnày không làm hình thành sản nghiệp riêng cho TĐKT, mà thông thường pháp nhân có khả năng chi phối trong tập đoàn sẽ thực hiện việc tiếp nhận các khoản đóng góp và chi trả để duy trì bộ máy điều hành cho tập đoàn.

Thứhai, TĐKT không có nănglựcpháp lý. TĐKT làtậphợpcủanhiều pháp nhân, mỗi pháp nhân là một chủ thể pháp lý với năng lực pháp lý đầy đủ, nhân danh chính mình thực hiện các quan hệ pháp luật. Sự tập hợp của các pháp nhân trong TĐKT khônghướngđếnviệc hình thànhmộttổchức kinhtếmới tham giathịtrường mà thực hiện quá trình liên kết nhằm tối đa hóa lợi ích của từng pháp nhân kinh doanh độc lập. Do đó, TĐKT không có năng lực pháp luật của một chủ thể pháp lý thông thường, cũng không cần đến sự thừa nhận của cơquan Nhànướccó thẩm quyềnvề“sựrađời”mình,từđókhông có năng lực hành vi để thực hiện các hoạt động nhân danh tập đoàn. Sự vận động của TĐKT

43

chính là sự vận động của các pháp nhân độc lập trong tập đoàn. Thông thường, pháp nhân chi phối tập đoàn tiến hành giao dịch nhân danh chính mìnhđể thực hiện giao dịch với danh nghĩa tập đoàn phù hợp với nhu cầu quản lý, phát triển kinh doanh của tập đoàn.

Thứba, TĐKT không chịu trách nhiệm tàisản. TĐKT không có tài sản riêng, không thể chịu trách nhiệm tài sản. Giao dịchcủaTĐKTđược thực hiện thông qua công ty chi phối. Mặt khác, TĐKT không có năng lực pháp lý, không nhân danh chính mình thực hiện các giao dịch dânsựhay thương mại. Vì vậy, TĐKT không chịu trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từhoạtđộngcủamình,đồngthời cũng không chịu trách nhiệm pháp lý thay cho các pháp nhân thành viên. Trong trườnghợpphát sinh các nghĩavụpháp lýtừgiao dịch, pháp nhân chi phối chịu trách nhiệm bằng tàisảnđộclậpcủapháp nhân đó.

2.1.2.3. Tập đoàn kinh tế có cơ cấu tổ chức phức tạp, nhiều cấp

Cơcấu tổchức tập đoàn nhằm giải quyết hài hòamốiquanhệvềlợiích giữa các công ty trong tập đoàn. TĐKT chỉ có thể phát triển được khi có một cơcấutổchứchợplý,đểcác bánh xe trongtậpđoànvậnhànhđồngbộ,có hiệu quả. Cơcấutổchứctậpđoàn phải xácđịnhcụthểvấnđềquyền hạn, trách nhiệm, phân cấp quản lý. Đây là một yêu cầu phức tạp, vì các công ty trong tậpđoàn tươngđốiđộclập,mỗicông ty cómộtcơcấuquản lý riêng. Các công ty trong tập đoàn liên kết với nhau trên cơ sở quan hệ về vốn, quan hệ quản lý hoặc thông qua hợp đồng kinh tế, do đó, việc xây dựng thống nhất một cơ cấu quản lýlà đòi hỏi không dễ thực hiện trong tập đoàn.

TĐKT có nhiều cấp. Cấp một gồm công ty chi phối ban đầu (công ty mẹ) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp một). Cấp hai bao gồm công ty chi phối (là công ty con cấp một) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp hai). Các tập đoàn có quy mô, không có giới hạn về số cấp trong tập đoàn, điều

44

này dẫn đến số lượngthành viên trong tập đoàn rất lớn. Các công ty mẹ, công ty con cấp một, công ty con cấp hai đều mang chung một họ, đó có thể là thành tốtrong tên của công ty mẹ ban đầu. Vấn đề quản lý hoạt động kinh doanh của các công tyở cấp dướikhông trực tiếp là hết sức khó khăn cho công tymẹ của tậpđoàn. Các tập đoàn phải thiết kế cơ chế kiểm soát thông suốt từ công ty mẹ đến các công ty con ở những cấp khác nhau nhằm kiểm tra, giám sát và thực hiện cóhiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh của các công ty trong tập đoàn. Có nhiều mô hình TĐKT khác nhau:

Mô hình 1: Cấu trúc đơn giản (Mô hình đầu tư đơn cấp). Tập đoàn có môhình cấu trúc đơn giản bao gồm công ty mẹ hình thành liên kết để chi phối với các công ty conởtầngthứhai, sauđócác công ty conởtầngthứhailạihình thành liênkếtđểchi phốicủacác công ty conởtầngthứba, và tiếptụcởcác tầng tiếp theo. Các công ty đồng cấp không hình thành liên kết để chi phối nhau, các công tyởcấpdướikhông hình thành liênkếtđểchi phối các công ty cấp trên. Mô hình này đảm bảo quyền lực được thực hiện theo trình tự từ trên xuống, quyền lực tập trung ở công ty mẹ của tập đoàn.

Mô hình 2: Cấu trúc đầu tư đa cấp đơn giản. TĐKT có mô hình cấu trúc đa cấp, công ty mẹ có thể hình thành liên kết chi phối với công ty con cấp hai, đồng thời trực tiếp hình thành liên kết chi phối với công ty con ở cấp ba, cấp bốn, v.v.. Các công ty đồng cấp không hình thành liên kết để chi phối nhau, các công ty ởcấp dưới không hình thành liên kết để chi phối các công ty cấp trên. Mô hình này tạocho công tymẹcủatậpđoàn nhiềulựachọn hơnvềphương thứcđầutư vàquản lý dòng vốn, tuy nhiên, công ty mẹ thường gặp nhiều khó khăn trong: hoạtđộng điều hành tập đoàn; phân định quyền năng, lĩnh vực của công ty con; giảm thiểu thiệt hại do cạnh tranh trong nội bộ tập đoàn.

Mô hình 3: Cấu trúc đầu tư đa cấp sở hữu chéo. Đây là mô hình TĐKT rất phức tạp, theo đó các công ty đồng cấp có thể hình thành liên kết để chi phối lẫn

45

nhau, các công ty cấp dưới có thể hình thành liên kết để chi phối các công ty cấp trên. Nhiều công ty cùng nhau hình thành liên kết để chi phối một công ty khác trong tập đoàn. Mô hình này cho phép hình thành một tập đoàn có liên kết chặt chẽ, nhưngrấtkhó quản lýđiềuhành, khó kiểm soátrủiro vì trongmộtsốtrường hợp không xác định được công ty mẹ chi phối tập đoàn là công ty nào vàkhông xác định được chính xác “đư ờng đi” của dòng tiền để có những biện pháp giảm thiểu những nguy cơ.

2.1.2.4. Tập đoàn kinh tế lớn về quy mô, sử dụng nhiều lao động, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, doanh thu cao.

TĐKT có sự tích tụ về vốn của các công ty trong tập đoàn, bao gồm công ty mẹ,các công ty con, công ty thành viên, công ty liên kết. Quy môvốncủatậpđoàn được hình thành từ một quá trình tích tụ lâu dài, thông qua hoạt động thu hút nhà đầu tư và thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh. Quy mô vốn lớn tạora chotậpđoàn nănglựccạnh tranh hiệu quả, phát triểnđầutư công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm giá thành, gia tăng lợinhuận,tạođộnglựcthúcđẩyquá trình phát triểncủatừng công ty trongtậpđoàn nói riêng và toàn bộ tập đoàn nói chung.

Vídụ:Tập đoàn Samsung Electronic (Hà Quốc) có tổng số tàisản202,8 tỷUSD;Tậpđoàn Royal Dutch Shell (tập đoàndầukhí hoàng gia Hà Lan) cótổng số tài sản 357,5 tỷ USD; Tập đoàn Toyota (Nhật Bản) có tổng tài sản 402,4

tỷ USD; Tập đoàn General Electric (Hòa Kỳ) có tổng tài sản 646,6 tỷ USD [39]. Tại Việt Nam, các TĐKT có quy mô tương đối lớn: Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Namvớiquy môvốnkhoảng 178 nghìntỉđồng;TậpđoànĐiệnlựcViệt Nam với quy mô 110 nghìn tỷ đồng; Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji với quy môvốn khoảng 11 nghìn tỉ đồng; Tập đoàn FPT với quy mô khoảng 3.400 tỷ đồng [97]; v.v..

Tập đoàn tập trung lực lượng lao động quy mô lớn, do các công ty thành

46

viên trongtậpđoàn hoạtđộngthuộc nhiều lĩnhvựckhác nhau;lựclượnglaođộng được phân hóa, từ lao động đơn giản tới lao động bằng tri thức sáng tạo,từtrình độ chuyên môn trung bình đến trình độ chuyên môn cao đến. Nhu cầu nhân lực trong tập đoàn lớn, quy trình tuyển chọn và đào tạo được thực hiện nghiêm túc.Tậpđoàn khi tiến hành hoạtđộngđầutưtạicác quốc giađềuhỗtrợgiải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại quốc gia tiếp nhậnđầu tư.

Vídụ:Tậpđoàn Toyota đangsửdụng 325.000 nhân viên,tậpđoàn State Grid (Trung Quốc) đangsửdụng 1.583.000 nhân viên,Tậpđoàn bánlẻWal – mart (Mỹ) đang sử dụng 2,2, triệu nhân viên [129]. Tại Việt Nam, theo thông tin từ website chính thức của các tập đoàn kinh tế, số lượng cán bộ công nhân viênđang làm việc trong Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam là 110.000; trong Tậpđoàn Điện lực là 105.000; Tập đoàn FPT là 17.410 nhân viên (trong đó 6.500 kỹsư, lập trình viên); Tập đoàn Vinamilk là 62.000 nhân viên.

Trongbốicảnh toàncầuhóa, xuthếhộinhập,mởcửa, ưuđãiđầutư,tậpđoànđãmởrộng phạm vi hoạtđộngtừmộtquốc gia, sang nhiều quốc gia khác nhau, trở thành các tập đoàn đa quốc gia. Các TĐKT đã tiến hành đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phân công lao động, phát huy lợi thế cạnh tranh ở các khu vực khác nhau. Các tập đoàn đa quốc gia gây sức ép cạnh tranh không nhỏ cho các doanh nghiệp nội địa. Những tập đoàn như Walmart, Toyota, Samsung, Apple, BP, Unilever v.v..đãvươn dài cánh tay đi khắp cácthịtrường trên thế giới để khai thác những ưu điểm của những thị trường mới nổi này.

Ví dụ: Tập đoàn bán lẻ Wal -mart có hơn 10.000 cửa hàng bán lẻ ở 28 quốc gia, sự xuất hiện của Wal-mart ở bất cứ quốc gia nào cũng tạo ra một sức ép lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa ở quốc gia đó. Wal-mart đã từng có ý định mua lại một số chuỗi bản lẻ Việt Nam để tấn công vào thị trường nước ta. Wal-mart đã khai trương trung tâm mua sắm đầu tiên tại Việt Nam là Aeon Mall Celadon Cityở quận

47

Tân Phú, TP.HCM, với tổng số vốn đầu tư hơn 100 triệu USD.

Hầu hết các TĐKT đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trongđócómộtsốngành nghề kinh doanh mang tính mũi nhọn. Các TĐKT trải qua một quá trình phát triển từ ngành nghề kinh doanh chiến lược sau một thời gian phát triển thành các TĐKT đa ngành. Mỗi tập đoàn đều có ngành nghề, lĩnh vực chủđạovớinhữngsảnphẩm có thương hiệu đặc trưngcủa tậpđoàn. Bên cạnh những công ty sản xuất kinh doanh tại ngành nghề chủ đạo, TĐKT còn bao gồm:

những công ty kinh doanh lĩnhvựcđầutư chiếnlượcmới; nhữngtổchức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phục vụ nhu cầu nguồn vốn cho tập đoàn; các công ty kinh doanh thương mại, dịchvụ,nghiên cứu,đàotạophụcvụhoạtđộngtậpđoàn. Tập đoàn thực hiện hoạtđộngđầu tưđa ngành, đa lĩnh vựcvớimụctiêu phân tánrủiro,bảođảmcho hoạtđộngcủatậpđoàn có tínhbềnvững và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động phong phú của

tập đoàn.

Ví dụ: Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc hoạt động ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau: lĩnhvựcđiệntửvớicông ty Samsung Electronics (công tyđiện tử lớn thứ tư thế giới), lĩnh vực xây dựng với công ty Samsung Engineering và Samsung C&T (nằm trongtốp50 công ty xây dựnglớnnhấtthếgiới), lĩnh vựcđóng tàuvớicông ty Samsung Heavy Industries (nằm trongtốp5 công tyđóng tàu lớn nhất thế giới), lĩnh vực bảo hiểmvới công ty Samsung Life Insurance, ngoài ra Samsung còn thực hiệnđầutưởnhững lĩnhvựcnhư công viên vui chơi, quảng cáo, hàng không vũ trụ, thiếtbịgiám sát [1 40].Tậpđoàn SumitomocủaNhậtBảnthực hiện kinh doanhởrấtnhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau: xây dựng, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, máy móc, vũ khí, khai khoáng, điện tử, xi măng, thép, thủy tinh, lốp, cao su, hóa chất. Các TĐKT Việt Nam cũng khôngnằmngoài xu thế. Các TĐKT tư nhânởViệt Nam cũng hoạtđộngkinh doanh mang tính đa ngành. Vídụ,TậpđoànĐạidương kinh

48

doanh nhiều lĩnh vực: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, khách sạn, nhà hàng và thậm chí cả bán kem; hay Tập đoàn vàng bạc đá quý Doji với ngành nghề kinh doanh chính là lĩnhvựckhai thác vàchếtác vàng, bạc,đáquý, vẫn thực hiện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, trung tâm thương mại (Ruby Plaza), nhà hàng khách sạn (Mai Ngọc, Akari Moon). Tuy nhiên đối với các TĐKT nhà nước tính đa dạng ngành nghề có ít nhiều hạn chế, do chủ trương củaNhànướcchỉđầutư những ngành nghề kinh doanhchủyếucủatậpđoàn:

Tập đoàn dầu khí Việt Nam lĩnh vực kinh doanh chủ yếu thăm do, khai thác dầu khí, bên cạnh đó kinh doanh những sản phẩm chế biến dầu khí (phân bón, điện năng, năng lượng tái tạo) [23]. Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam kinh doanh chủyếutrong lĩnhvựckhai khoáng, bên cạnhđólà những ngành nghề kinh doanh có liên quan trực tiếp (điện năng, cơ khí, vật liệu xây dựng) [27]

Tậpđoàn kinhtếthực hiện hoạtđộngđầutư quy mô lớn, phạm vi hoạtđộng rộng, lợi thế cạnh tranh tốt, trình độ quản lý cao, tối đa hóa lợi nhuận, dođó,Tập đoàn có khả năng đạt được doanh thu lớn và ổn định. Các công ty trong tập đoàn cũng được hưởng lợi từ sự phát triển chung của tập đoàn. Khi tập đoàn phát triển, các công ty cung ứng dịch vụ cho tập đoàn cũng có nguồn thu nhập ổnđịnh,sinh lời hiệu quả.

Vídụ:Doanh thucủaTậpđoàn Wal-mart trong năm 2013 là 421,89tỷUSDlớnhơn GDP củaNa Uy (414,46tỷĐôla Mỹ); doanh thucủaTậpđoàn Exxon Mobil trong năm 2013 là 354,67 tỷ Đô la Mỹ lớn hơn GDP của Thái Lan (318,85 tỷ Đô la Mỹ); doanh thu của Tập đoàn Ford trong năm 2013 là 128,95 tỷĐô la Mỹ lớn hơn nhiều GDP của Việt Nam (103,57 tỷ Đô la Mỹ)[133].Ở Việt Nam, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam có doanh thu đạt 758 nghìn tỷ Việt Nam đồng (37,9 tỷ Đô la Mỹ) trong năm tài khóa 2013, bằng 36% GDP của Việt Nam; Tập đoàn FPT có doanh thu đạt 28,6 nghìn tỷ Việt Nam đồng (1,3 tỷ Đô la Mỹ) trong năm tài khóa 2013.[129]

49

2.1.3. Phân loại các hình thức liên kết trong tập đoàn kinh tế

Đểnghiêncứucó tínhphổquát, tiêu chí phân loại các liênkếttrong TĐKT cụ thể như sau: về việc hình thành liê n kết, về thị trường, mức độ liên kết, quản trị liên kết trong tập đoàn

2.1.3.1. Phân loại liên kết trên tiêu chí về nguyên nhân hình thành liên kết

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM

Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam Những vấn đề pháp lý về tập đoàn kinh tế tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *