Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do lựa chọn đề tài nghiêncứu

Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam” xuất phát từ một số lído sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động tội phạm xuyên quốc gia tại khu vực Đông Nam Á.

Tội phạm xuyên quốc gia hiện nay là nguy cơ của không chỉ một quốc gia nào. Ở Việt Nam, tội phạm xuyên quốc gia tăng lên nhanh chóng và diễn biến phức tạp cùng với quá trình toàn cầu hóa và mở cửa của đất nước. Chính vì vậy,đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia là vấn đề vô cùng cấp bách.

Việt Nam là thành viên của ASEAN từ năm 1995. Từ đó đến nay, Việt Nam được đánh giá là thành viên năng động và có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển của ASEAN trên mọi lĩnh vực, trong đó có phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

Như chúng ta đều biết, ASEAN là tổ chức của các quốc gia nằm trong

khu vực Đông Nam Á – một khu vực giàu tài nguyên, có vị trí chiến lược vôcùng quan trọng nhưngđồngthời cũng là mảnhđấtmàumỡcủa các loại tội phạm xuyên quốc gia. Khu vực Tam giác vàng từng là nơi sản xuất cây thuốc phiệnlớnnhất trên thế giới chođếnkhi các quốc gianỗlực xóa bỏnó vào những năm 1990, tuy nhiên, khu vực này vẫn là một trong những nơi buôn bán ma túy sầm uất nhất trên thế giới. Theo đại diện Cơ quan phòng, chống ma túy

và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) tại khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương, các quốc gia ở Đông Á và Đông Nam Á đã chứng kiến sự gia tăng liên tục các vụ thu giữ Methamphetamine trong thập kỷ qua, nhiều hơn bất kỳnơi nào khác trên thế giới. Năm 2019, các quốc gia trong khu vực xác nhận

lượng ma túy bị thu giữ lên đến 115 tấn. Vấn đề ma túy ở Đông Nam Á hiện nay đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết và đã trở thành một cuộc khủng hoảng gây ra những hệ lụy về sức khỏe, quyền con người, an ninh và kinh tế đối với

1

các quốc gia có liên quan1. Đông Nam Á có lẽ cũng là nơi nguy hiểm nhất đối với những người đi biển Châu Á trong gần thập kỷ qua. Theo Tổ chức Hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển Châu Á (ReCAAP), năm 2020, số vụ cướp ở eo biển Malacca và Singapore Strait đạt kỷ lục trong năm năm qua. Trong sáu tháng đầu năm 2016, chỉ có 1 vụ, cùng kỳ năm 2017 là 2, năm 2018 là 5, năm 2019 là 8 và chỉ tính riêng nửa đầu năm 2020 là 13 vụ2.Tộiphạm buôn người cũng là vấnnạnlớntạikhu vực góp phần gây ra nhiều thảm họa nhân đạo như vụ 2000 “thuyền nhân” bị bỏ đói trên những con tàu gỗ thô sơ cạn thực phẩm trong vùng biển Malaysia và Indonesia năm 2013. Hàng trăm nấm mồ chôn người nhập cư trái phép người Rohingya (Myanmar)

và Bangladesh được tìm thấy tại miền Nam Thái Lan cũng trong năm 20133… Năm 2020, mặc dù nhiều nước thực hiện giãn cách xã hội do đại dịch Covid- 19, hoạt động tội phạm mua bán người có chiều hướng giảm, nhưng vì siêu lợi nhuận, các đối tượng mua bán người thường xuyên thay đổi phương thức, thủđoạn để đối phó lực lượng thực thi pháp luật và hình thành nhiều đường dây, băng nhóm xuyên quốc gia với quy mô, tính chất ngày càng phức tạp4.

Bên cạnh đó, còn rất nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như rửa tiền,

khủng bố, tội phạm công nghệ cao, buôn lậu vũ khí… đang là thách thức đối với các quốc gia trong khu vực.

Chính vì thế, vấnđềnghiên cứu và xây dựng PhápluậtCộngđồng ASEAN về vấn đề này là hết sức cấp bách nhằm đấu tranh có hiệu quả chống lại tội phạm xuyên quốc gia. Điều này càng cần thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia hợp tác sâu rộng vào ASEAN và an ninh quốc gia gắn bó chặt chẽ với an ninh khu vực như một khẩu hiệu mà ASEAN đã đặt ra “một

2

Cộng đồng – một vận mệnh”.

Thứ hai, Pháp luật Cộng đồng ASEAN về vấn đề này còn tồn tại khôngít bất cập, cần được nghiên cứu hoàn thiện

Nhằm giúp cho việc đấu tranh chống lại tội phạm xuyên quốc gia ngày một hiệu quả, ASEAN đã ban hành nhiều văn bản có giá trị pháp lí khác nhau nhằm tăng cường sự hợp tác của các quốc gia trong vấn đề này. Có văn bản làđiều ước quốc tế có tính ràng buộc cao có thể kể đến như: Hiệp định tương trợ

tư pháp hìnhsựASEAN năm 2004; Hiến chương ASEAN năm 2007; Công

ước ASEAN về chống khủng bố năm 2007… Bên cạnh đó, có rất nhiều văn bản mang tính khuyến nghị dưới dạng các Tuyên bố của các Hội nghị Bộ trưởng

Ngoại giao, Quốc phòng, Công an…; các Kế hoạch hành động, Bản ghi nhớ. Các văn bản mang tính khuyến nghị, có tính ràngbuộckhông caolạichiếm phần lớn trong hệ thống các văn bản pháp lí của ASEAN. Điều này thực sự đã

gây không ít khó khăn cho ASEAN trong quá trình hợp tác và nhất là gây ra sựtùy tiện thực hiện tại các quốc gia, không nâng cao được trách nhiệm của các quốc gia trong vấn đề này. Đặc biệt, đây không phải là vấn đề nhạy cảm với ASEAN như an ninh truyền thống hay quyền con người.

Mộtvấnđềnữa đólà tronghệthống văn bản phápluậtcủa ASEAN không có sự phân định rạch ròi giá trị hiệu lực các văn bản như Liên minh châuÂu. Điều này cũng gây ra sự tùy tiện trong việc thực hiện tại các quốc gia, tạo ra sự không thống nhât trong toàn bộ hệ thống pháp lí. Nếu như ở Liên minh

châu Âu, luật gốc – các văn bản nền tảng thành lập Liên minh do các quốc gia thỏa thuận xây dựng có giá trị hiệu lực pháp lí cao nhất sauđó đến điều ước quốc tế do EU ký với bên ngoài, tiếp theo đến luật phái sinh (văn bản do cơquan của Liên minh ban hành), sau nữa mới đến điều ước quốc tế giữa các quốc gia thành viên và điều ước giữa quốc gia thành viên với bên ngoài. Ở ASEAN, trong cùng một vấn đề tồn tại rất nhiều điều ước quốc tế, như điều ước quốc tếkhu vực, điều ước giữa các quốc gia thành viên với nhau và với bên ngoài, vídụnhư vấnđềtương trợ tư pháp hìnhsựchẳng hạn. Vậynếu quy định mâu thuẫn nhau thì điều ước nào được áp dụng?

Thứba, việc nghiêncứuvềPháp luật CộngđồngASEAN vềphòng,

3

chống tội phạm xuyên quốc gia cũng như thực tiễn thực hiện tại Việt Nam ởcấp độ luận án tiến sỹ đang còn bỏ ngỏ

Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia nói chung ở cáccấp độ, cóthể kể đến như: Bàn về khái niệm tội phạm cótổchức và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của tác giả Nguyễn Phong Hoà,

Tạpchí Toà án nhân dân tối cao, số4/2005, tr. 9–14; Côngước chốngtội phạm có tổ chức xuyên quốc gia – những cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia của tác giả Lương Thanh Hải, Tạpchí Toà án nhân dân tối cao, số

14/2006, tr. 24 – 29; Nội dung pháp lí hình sự trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của tác giả Dương Tuyết

Miên, Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, số 7/2006, tr. 26 – 31; Một số vấn đề về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm cótổchức xuyên quốc gia của tác giả Đinh Xuân Nam, Nguyễn Xuân Hưởng, Tạp

chí Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, số 10/2009, tr. 30 – 32; Bànvềcác khái niệm tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của tác giả Hoàng Anh Tuyên, Tạp chí Kiểm sát, Viện Kiểm

sát nhân dân tối cao, Số 19/2009, tr. 26 – 29; Công tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong tình hình mới của tác giả Phạm Quý Ngọ, Tạp chí Cộng

sản số 811 (5/2010), tr. 63 – 68; Vấn đề tội phạm hoá trong các công ước quốc tế đấu tranh với tội phạm xuyên quốc gia của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa,

Tạp chí Luật học. Trường Đại học Luật Hà Nội, số 6/2010, tr. 19 – 24; Vài nét về vấn đề toàn cầu hoá và tội phạm xuyên quốc gia của tác giả Trần Đức Châm, Nguyễn Khắc Sâm,Tạpchí Kiểm sát,ViệnKiểm sát nhân dân tối cao, số

10/2011, tr. 10 – 12…

Hiện nay việc nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia trong phạm vi khu vực ASEAN rất hiếm công trình nghiên cứu đề cập, nếu có đề cập cũng khôngđề cập một cách toàn diện mà chỉ ở một vài lĩnh vực nào đó, ví dụ: Hiệp hội cảnh sát các nước ASEAN – mô hình hợp tác quốc tế đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Đức Phúc, Tạp chí

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 9/2008, tr. 65 – 72; Hoạt động hợp tác quốc tế của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam với lực lượng cảnh sát

4

các nước ASEAN trong đấu tranh phòng, chống tội phạm của tác giả Lê Hồng

Hải, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện cảnh sát nhân dân 2015…

Công trình nghiên cứuvềtộiphạm xuyên quốc gia trong khu vực ASEAN ở cấp độ luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ hiện nay vẫn chưa có công trình nào, trong khi đây là vấn đề hết sức quan trọng.

Thứ tư, tác giả luận án là người hết sức quan tâm pháp luật quốc tế vàkhu vực về chống tội phạm xuyên quốc gia. Tác giả đã có nhiều bài báo, công trình khoa học nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia quốc tế, như: Các quan niệm về tội phạm xuyên quốc gia hiện nay trên thế giới, Tạp chí nhà nước vàphápluậtsố275/2011;Vềmộtsốkháiniệmcơ bản trong pháp luật phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; Tạp chí nhà nước và pháp luật số 5/2013; Bàn về định nghĩa tội phạm xuyên quốc gia trong các điều ước quốc tế, Tạp chí Luật học số 11/2009.

Bên cạnh đó, Luận văn thạc sỹ của nghiên cứu sinh cũng là một đề tài nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia quốc tế.

Thứnăm, tác giả là giảng viênbộmôn PhápluậtCộngđồngASEAN trong đó có nghiên cứu về pháp luật phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia của ASEAN. Thực hiện đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn đối với nghiên cứu sinh. Vừa là một công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ luận án tiến sỹ lại vừa phục vụ cho công tác giảng dạy của nghiên cứu sinh sau này. Đây là cơ hội tốt để nghiên cứu sinh có thể nghiên cứu sâu thêm một lĩnh vực đang còn bỏngỏ của pháp luật hiện nay.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lí luận và thực tiễn về tội phạm xuyên quốc gia, luận án nghiên cứu một cách hệ thống và làm rõ khái niệm, đặc điểm, tính chất,

nội dung… của Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Đồng thời, tác giả phân tích, đánh giá việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN tại Việt Nam, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5

Từ mục đích đặt ra ở trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:

– Luận án nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về tội phạm xuyên quốc gia, làm rõ khái niệm về tội phạm xuyên quốc gia – một vấn đề đang còn tranh cãi hiện nay.

– Nghiên cứu Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm

xuyên quốc gia dưới các góc độ khái niệm, đặc điểm, tính chất, nộidung…, đánh giá tổng thể Pháp luật Cộng đồng ASEAN về vấn đề này.

– Phân tích, đánh giá vấn đề thực thi PhápluậtCộng đồngASEANvềphòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tại Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi của Việt Nam về vấn đề này.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đềtài chủ yếu tiếp cận dưới khía cạnh pháp lí, thông qua việc nghiên cứu các vănkiệnpháp lí của CộngđồngASEAN và hệthống phápluậtcác quốc gia thành viên, đặc biệtlàViệtNamvềphòng, chốngtộiphạm xuyên quốc gia qua đó đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Cộngđồng ASEAN cũng như Việt Nam về vấn đề này. Đối tượng nghiên cứu của luận án, đó là:

– Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; – Pháp luật các quốc gia thành viên về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; – Thực tiễn hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong Cộng

đồng ASEAN (tập trung vào một số tội phạm điển hình như: Buôn bán phụ nữ, trẻ em; tội phạm ma tuý; tội khủng bố).

– Thực hiệnphápluậtCộngđồngASEANvềphòng, chốngtộiphạm xuyên quốc gia tại các quốc gia thành viên, tập trung vào Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đểthực hiệnđềtài,luậnán tiếpcận theo phương phápluậncủa chủ

nghĩa Mác –Lênin. Đốivớitừngnộidungcụthể, Luậnánsửdụng nhiều

phương pháp khoa học khác nhau như sau:

+ Phương pháp so sánh luật: Phương pháp so sánh luật được sử dụng chủyếu so sánh, làm rõ ưu nhược điểm của Pháp luật Cộng đồng ASEAN, Pháp

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

luậtViệtNam trong vấnđềphòng, chốngtội phạmxuyên quốc gia đểtừ đó

đưa ra những đánh giá và kiến nghị giải pháp phù hợp.

+ Phương pháp mô tả, phân tích, bình luận: Phương pháp nàyđược sửdụng trong quá trình tác giả làm rõ khái niệm về tội phạm xuyên quốc gia cũng

như làm rõ các quy định trong Pháp luật Cộng đồng ASEAN, pháp luật Việt Nam và một số quốc gia thực thi Pháp luật Cộng đồng ASEAN về vấn đề này.

+ Phương pháp tổng hợp, lịch sử, thống kê: Phương pháp này sử dụng trong quá trình làm rõ thực trạngtộiphạm xuyên quốc gia, làm rõhệthống Pháp luật ASEAN, Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Các quy định của Pháp luật ASEAN và một sốquốc gia thành viên khu vực mà tác giả quan tâm nghiên cứu không được quyđịnh tập trung mà nằm rải rác trong rất nhiều văn kiện có giá trị pháp lí khác nhau, ban hành, sửa đổi qua nhiều thời kỳ… do vậy việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này là phổ biến trong luận án.

Ngoài ra, luận án sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành…

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về Pháp luật Cộng đồng ASEAN phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam. Trong bối cảnh tội phạm xuyên quốc gia ngày càng trở thành thách thức lớn đe doạ hoà bình, ổn định tại các quốc gia, đe doạ cuộc sống người dân và Việt Nam chuẩn bị cho năm Chủ tịch ASEAN 2020, luận án có những đóng góp như sau:

– Luận án làm rõ các quy định của pháp luật Cộng đồng ASEAN phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia một cách có hệ thống, bên cạnh đó, xây dựng,

đưa ra khái niệm pháp luật Cộng đồng ASEAN về vấn đề này.

– Luận án trên cơ sở nghiên cứu đã đưa ra đánh giá về Pháp luật Cộngđồng ASEAN phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, từ đó có các giải pháp tiếp tục hoàn thiện, trở thành cơ sở pháp lí cho việc hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia khu vực.

– Luận án làm rõ việc thực hiện pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng,

7

chốngtộiphạm xuyên quốc giatạiViệtNam, như: xây dựnghệthống pháp luật, xây dựng hệ thống thiết chế pháp lí… từ đó đánh giá được ưu nhược điểm trong việc thực thi nghĩa vụ thành viên của Việt Nam.

– Luận án đưa ra các giải pháp khắc phục hạn chế của Việt Nam trong việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm một số quốc gia thành viên khác trong khu vực như Giải pháp xây dựng luật, giải pháp xây dựng hệ thống thiết chế pháp lí, giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực thi…

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án

Chương 2: Lí luận chung về tội phạm xuyên quốc gia và Pháp luật Cộngđồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

Chương 3: Pháp luật Cộng đồng ASEAN điều chỉnh hoạt động hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

Chương 4: Việt Nam với việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia.

8

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia luôn là vấn đề cấp bách mà mỗi quốc gia, khu vực trên thế giới đều hết sức chú trọng. ASEAN không phải là ngoại lệ khi khu vực này là một trong những trọng điểm về tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay trên bình diện thế giới và trong nước, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về Pháp luật CộngđồngASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, nhất là trong bối cảnh Cộng đồng ASEAN đã được tuyên bố chính thức thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015.

1.1. Trong nước

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề lí luận về tội phạm xuyên quốc gia và hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về hệ thống pháp luật của ASEAN trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

1.1.4. Nhóm công trình nghiêncứuvấnđềthực hiện Pháp luật Cộngđồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia của Việt Nam

1.2. Ngoài nước

1.3. Những vấn đề đề tài cần tiếp tục nghiên cứu

Đề tàinày bên cạnh việc kế thừa, tổng hợp và phát triển những kết quảnghiên cứu tại các công trình trước còn phải làm rõ một số nội dung sau:

Thứ nhất, làm rõ về mặt lí luận Pháp luật Cộng đồng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia.

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã liệt kê ở phần trên,

chưa có công trình nào nghiên cứumộtcách toàn diện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia mà mới chỉ liệt kê văn bản hoặc đi sâu vào một số khía cạnh của vấn đề này. Tác giả đề tài sẽ phải làm rõthêm về khái niệm, đặc điểm, nguồn Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, từ đó tìm kiếm các giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của Pháp luật Cộng đồng ASEAN.

Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá tổng thể nội dung Pháp luật Cộng đồng ASEAN về Phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Các công trình nghiên cứu PhápluậtCộngđồngASEANvềphòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong và ngoài nước, chưa có công trình nàođềcập nội dung tổng thể Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Các công trình cũng chỉ đề cập Pháp luật Cộng đồng ASEAN trongmộtlĩnh vực hợp tác nào đó, ví dụ: PhápluậtCộngđồngASEANvề

tương trợ tư pháp hình sự; Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống buôn

35

người, buôn bán ma tuý… Tác giả đề tài cần nghiên cứu đánh giá nội dung tổng thể Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia

như: Nguyên tắc phòng, chốngtộiphạm; các quy định liên quanđếnphòng ngừa tội phạm (hài hoà hoá pháp luật; trao đổi thông tin, phát hiện, cảnh báo sớm; kiểm soát vũ khí, biên giới; xây dựng cơ sở dữ liệu khu vực…); các quyđịnh nhằm trừng trị tội phạm (xác lập quyền tài phán; truy nã tội phạm; tương trợ tư pháp hình sự; dẫn độ tội phạm…).

Sau khi làm rõ nội dung tổng thể Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tác giả luận án đi sâu vào đánh giá hệ thống pháp luật khu vực về vấn đề này. Từ những đánh giá đó, tác giả sẽ đưa ra những khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN.

Thứ ba, làm rõ hệ thống thiết chế phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia khu vực, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của một số thiết chế khu vực nhằm phòng, chống có hiệu quả tội phạm xuyên quốc gia, ví dụ

như ASEANAPOL, Trung tâm phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ASEAN…

Tổngthểhệthống thiết chế pháp lí của ASEANvềphòng, chốngtội phạm xuyên quốc gia cũng là vấn đề mà chưa đề tài nào đề cập. Các đề tài trước

đây đã đề cập đến một số thiết chế pháp lí phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN như các Hội nghị bộ trưởng phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia hay ASEANAPOL. Đặc biệt, ASEANAPOLđượccác công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu rấtkỹlưỡng. Tuy nhiên, nghiên cứu tổng thể hệ thống thiết chế của ASEAN về vấn đề này là nội dung còn đang bỏ ngỏ. Tác giả đề tài sẽ liệt kê và phân tích từng thiết chế pháp lí phòng, chống

tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN từ đó đưa ra đánh giá tổng quan về vấn đềnày. Từnhững đánh giá đó, tác giảluậnán cũng đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống thiết chế pháp lí phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Thứ tư, nghiên cứu tổng thể việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia của Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Đây là vấn đề cũng chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu

trước đó. Trong phần này, tác giả luận án làm rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng

36

và Nhà nước về vấn đềtộiphạm xuyên quốc gia và việc thực hiện nghĩa vụthành viên của Việt Nam trong ASEAN. Tiếp đó, tác giả luận án làm rõ thực tiễn thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tại Việt Nam như vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia tương thích và đáp ứng được các yêu cầu hợp tác của ASEAN; Xây dựng hệ thống thiết chế phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và các biện pháp thực hiện nghĩa vụthành viên khác của Việt Nam. Tiếp theo đó, tác giả luận án đánh giá việc thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tại Việt Nam và đưa ra kiến nghị hoàn thiện cơ chế thực hiện Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia tại Việt Nam.

1.4. Giả thuyết nghiên cứu của luận án

Giả thuyết thứ nhất: Trong bối cảnh toàn cầu hoá, tội phạm xuyên quốc gia là thách thức an ninh toàn cầu và khu vực Đông Nam Á không phải là ngoại lệ, nhưng hiện nay nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm xuyên quốc gia khu vực còn nhiều hạn chế.

Giả thuyết thứ hai: Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia là cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia khu vực và đang ngày càng được hoàn thiện.

Giảthuyếtthứba:ViệtNam là thành viên chủđộng, tích cực trong ASEAN, Việt Nam thực hiện đầy đủ và hiệu quả Pháp luật ASEAN về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, nhưng vẫn tồn tại một số bất cập, cần tiếp tục hoàn thiện.

1.5. Câu hỏi nghiên cứu

Nội dung của Luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi:

Khái niệm, đặc điểm của tội phạm xuyên quốc gia và sự cần thiết hợp tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia trong khu vực Đông Nam Á?

Khái niệm, đặc điểm, nội dung của Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạmxuyên quốc gia? Đánh giá thực trạng và những vấn đềcầntiếp tục hoàn thiện của Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia?

PhápluậtViệtNamđã hoàn thiện, đáp ứng yêucầucủa Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia hay chưa? Những vấn đềnào cần tiếp tục hoàn thiện đối với Pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác khu vực?

37

1.6. Hướng tiếp cận của Luận án

Để luận giải, minh chứng cho các giả thuyết của Luận án, tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, Luận án sẽ tiếp cận theo hướng sau:

Tiếp cận các điều ước quốc tế khu vực về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và các văn kiện pháp lý khu vực khác dưới góc độ một chỉnh thể hoàn chỉnh tạo nên những đặc trưng riêng của Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia với những quy phạm “luật cứng” và “luật mềm”.

Tiếp cận liên ngành: Luận án có sự kết hợp tri thức của nhiều ngành khoa học như khoa học chính trị, lịch sử, triết học, luật học (luật hình sự, tố tụng hình sự, luật quốc tế…).

Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử được nhất quán trong toàn bộ quátrình nghiên cứu, đặc biệt trong việc đánh giá sự hình thành, phát triển của Pháp luật ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và pháp luật Việt Nam trong việc thực hiện Pháp luật ASEAN về vấn đề này.

Tiếpcậnso sánh:Được sửdụng trong quá trình nghiên cứu pháp luật khu vực và quốc gia khác.

38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu của các học giả liên quan đến Luận án đã cho tác giả cái nhìn toàn diện, rõ ràng về các vấn đề tác giả cần kế thừa và tiếp tục hoàn thiện trong Luận án. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu hiện tại mới chỉ đề cập đến một số nội dung, khía cạnh của Pháp luật về tội phạm xuyên quốc gia khu vực như: Hệ thống văn kiện của ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; các loại tội phạm xuyên quốc gia trong ASEAN; thực trạng và giải pháp nâng caohiệuquả hợp tácđấutranh phòng, chống một số tội phạm cụ thể của khu vực như khủng bố, buôn người, tội phạm ma tuý… Từ đó, tác giả xác định rõ mục đích, phương pháp nghiên cứu… nhằm làm rõ các nội dung về Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia như: làm rõ về mặt lí luận Pháp luật Cộng đồng ASEANvềtộiphạm xuyên quốc gia; đánh giá tổngthểnộidung Pháp luật Cộng đồng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này; nghiên cứu tổng thể việc thực hiện Pháp luậtCộng đồngASEANvềphòng, chốngtộiphạm xuyên quốc gia của Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này…

39

CHƯƠNG II

LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM

XUYÊN QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN

VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM XUYÊN QUỐC GIA 2.1. Khái niệm tội phạm xuyên quốc gia

2.1.1. Quan điểm của các nhà nghiên cứu

“Tội phạmxuyên quốc gia” hay“tội phạmcó tính chất xuyên quốc gia” (Transnational crime) đã và đang là nguy cơ toàn cầu đe dọa ổn định, hòa bình, an ninh và cuộc sống người dân trong xu thế hội nhập. Tội phạm xuyên quốc gia là chủđề nóng trong các diễn đàn hợp tác an ninh quốc tếvàđược điều chỉnh bởi hàng loạt các văn kiện, điều ước quốc tế khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm“tội phạmxuyên quốc gia” hiện nay vẫn gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu và chưa được ghi nhận đầy đủ trong các văn bản pháp lí quốc tế cũng nhưpháp luật quốc gia.

Quan điểm phổ biến trong Luật quốc tế hiện nay chia tội phạm làm ba nhóm:Tộiphạm quốc tế, tộiphạm có tính chất quốc tếvà tộiphạm thông

thường. Tội phạm quốc tế hay tội ác quốc tế phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ của quốc gia, chống lại luật quốc tế, xâm hại nghiêm trọng đến hòa bình an ninh quốc tế11. Tội phạm quốc tế là những hành vi xâm phạmđộc lậpcủa các quốc gia và quan hệ hoà bình giữa các dân tộc và như vậy bản chất của tội phạm quốc tế “là những hành vi xâm phạm đến hoà bình và an ninh nhân loại, đến sự tồntạicủacác quốc gia trên thế giới”12. Theo khoản 1Điều5 Quy chếRoma, Tòa án hình sự quốc tế (ICC) có quyền tài phán đối với loại tội phạm này. Đây là nhóm tội phạm nghiêm trọng nhất, gây lo ngại cho toàn thể cộngđồng quốc tế, bao gồm: tội phạm chiến tranh; tội chống lại loài người, tội diệt chủng và tội xâm lược. Tội phạm hình sự chung không xâmphạm đếntrậttựpháp lí quốc tế và không đụng chạmđếnquyền lợi của cộng đồng quốc tế, tuy

nhiên việc thực thi công líđối vớitội phạm hình sự chung trong nhiều trường hợp không thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ của các nước khác. Vídụ, người phạmtội cướptài sản sau khi phạm tội ở một quốc gia, sau đó vượt

11 Xem: ThS. Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Luật hình sự quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 12 Xem: TS. LS. Chu Thị Trang Vân, Các tội phạm quốc tế, Sách: Những vấn đề lí luận, thực tiễn về luật

hình sự quốc tế, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 223;

40

biên giới và lẩn trốn tại quốc gia khác. Trong trường hợp như vậycầncósựgiúp đỡ của các quốc gia liên quan trong việc truy nã, bắt giữ, dẫnđộ người

phạmtội…13Tội phạmcó tính chất quốc tế (hay trong một số tàiliệukhoa học còn được gọi là tội phạm điều ước quốc tế, tội phạm hình sự quốc tế) “là những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền, lợi ích của các quốc gia cũng như công dân và pháp nhân các nước, xâm phạm đến sự phát triển các quan hệ hữu nghịgiữa các quốc gia, gây thiệt hại cho các lĩnh vực hợp tác quốc tế ở các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và đời sống dân sự. Tội phạm hình sự quốc tế được quyđịnh trong các điều ước quốc tế được phê chuẩn và có hiệu lực, hoặc theo các quy định của pháp luật hình sự quốc gia phù hợp với những điều ước quốc tếhữu quan về tội phạm hình sự quốc tế”14. Tội phạm có tính chất quốc tế khác

tội phạm thông thường ở tính quốc tế – tính xuyên quốc gia, xuyên biên giới. Tộiphạm thông thường không có tính quốc tếhoặc có nhưng rấtmờnhạt,

không đặc trưng. Còn tội phạm có tính chất quốc tế khác so với tội phạm quốc tế ở chỗ, tội phạm quốc tế là loại tội phạm bị truy cứu trách nhiệm dựa trên cơsở luật quốc tế và chủ yếu được xét xử tại các toà án quốc tế được thành lập theo sự thoả thuận của cộng đồng quốc tế15.

Vậy tội phạm xuyên quốc gia có nội hàm thế nào trong phạm vi ba nhóm tội phạm vừa kể trên? Hiện nay ở Việt Nam, rất nhiều tác giả đồng nhất khái

niệm tội phạm có tính chất quốc tế hay tội phạm điều ước quốc tế, tội phạm hình sự quốc tế với tội phạm xuyên quốc gia. Các tác giả theo quan điểm này thống nhất cho rằng tội phạm điều ước, tội phạm có tính quốc tế, tội phạm hình sự quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia là khái niệm tương đồng có cùng nội hàm. Tính quốc tế hay yếu tố quốc tế là đặc trưng của loại tội phạm xuyên quốc gia và nó thường được thể hiện qua phương thức, hoàn cảnh, địa điểm thực hiện vàhậu quả của tội phạm. Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa khẳng định rằng: Trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu về luật hình sự quốc tế, việc đạt đến một khái

13 Xem: ThS. Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Luật hình sự quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; Giáo trình Luật Hình sự quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2012; TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh…

14 Xem: TS. Trần Văn Thắng – ThS. Lê Mai Anh (đồng chủ biên), Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.

15 Xem: TS. Trần Văn Thắng – ThS. Lê Mai Anh (đồng chủ biên), Luật quốc tế – Lí luận và thực tiễn, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.

41

niệm thống nhất là tương đối khó khăn, bởi vì xuất phát từ những nền tảng xãhội, kinh tế, chính trị, văn hoá khác nhau. Chính vì vậy việc tồn tại nhiều tên gọi khác nhau đối với nhóm tội phạm xuyên quốc gia (tội phạm có tính chất quốc tế, tội phạm điều ước quốc tế) là một điều dễ hiểu. Trong số các tên gọi nêu trên, tên gọi tội phạm xuyên quốc gia đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các tài liệu khoa học trước đây của Nga và các nước trong Liên bang Xô Viết cũ thường gọi nhóm tội phạm này là “tội phạm có tính chất quốc tế”16. Tác giả Chu Thị Trang Vân cũng đồng nhất khái niệm tội phạm có tính quốc tế với tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếutốnước ngoài. Tác giả cho rằngtộiphạm này cóthểphân thành các nhóm: 1) Các tội xâm phạm hợp tác hữu nghị và sự tồn tại bình thường của các quan hệ quốc tế, bao gồm tội khung bố, tội cướp máy bay, phương tiện giao thông khác…; 2) Các tội xâm phạm môi trường sống của con người, di sản văn hoá của các dân tộc trên thế giới như buôn lậu, buôn bán trái phép chất ma tuý, làm và buôn bán tiền giả… 3) Các tội phạm có tính quốc tế khác như phá hoại công trình ngầmdướibiển, các tộiphạmđược thực hiệntrên máy bay, tàu thuỷ…17 Ở nước ngoài, ủng hộ cho quan điểm tội phạm xuyên quốc gia có nội hàm đồng nhất với tội phạm có tính quốc tế tiêu biểu là Giáo sư Cartpetx I. I.Ông cho rằng: Tội phạmcó tính chất quốc tếvàtội phạmxuyên quốc gia lànhững hành vi được quy định trong các điều ước quốc tế, không thuộc nhóm

tộiphạm chống loài người, nhưng xâmhạiđếnsựphát triển quanhệbình

thường giữa các quốc gia, gây tổn hại cho sự hợp tác quốc tế ở các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, tài sản của các quốc gia cũng như các tổ chức, công dân và bị trừng phạt theo điều ước quốc tế được phê chuẩn theo trình tự chung hoặc theo các quy định của pháp luật hình sự quốc gia phù hợp với những điều ước quốctếnày18. Quanđiểmcủa Cartpetxđượcnhiều học giả ủnghộvàsửdụng trong các công trình nghiên cứu của họ19. Bên cạnh những tác giả có quan điểm rõ ràng cũng có rất nhiều công trình sử dụng cả khái niệm tội phạm có tính chất

16TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 121.

17 TS.LS. Chu Thị Trang Vân, Các tội phạm quốc tế, Sách: Những vấn đề lí luận, thực tiễn về luật hình sựquốc tế, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 224;

18 Cartpetx I. I. (1999), Tội phạm có tính chất quốc tế, Nxb. Tài liệu pháp lí, Moscow, tr. 48.

19 Theo TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, Nxb.Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 122.

42

quốc tế và tội phạm xuyên quốc gia nhưng không làm rõ hai khái niệm này20.

Nhìn chung, cómộtnhóm các nhà nghiên cứu cho rằng, thuật ngữtội phạm xuyên quốc gia và tội phạm có tính quốc tế là hai khái niệm rất khó phân biệt rạch ròi. Trong đó, khái niệm tội phạm có tính quốc tế được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, học thuật, ít xuất hiện trong các văn kiện pháp lí, trái lại thuật ngữ tội phạm xuyên quốc gia được sử dụng phổ biến trong các văn kiện pháp lý và ngày được biết đến và nghiên cứu nhiều hơn.

Có quan điểm khác lại cho rằng “tội phạm xuyên quốc gia không chỉ làtội phạm có tính chất quốc tế (vượt qua biên giới của nhiều nước) mà còn cóthể ảnh hưởng đếnhành vi phạm tội ở nước khác. Tội phạm xuyên quốc gia cũng có thể là hành vi phạm tội xảy ra ở một quốc gia nhưng hậu quả của nólại xảy ra ở một quốc gia khác. Tội phạm xuyên quốc gia bao gồm: tội mua bán

người, tôi buôn lậu ma túy, vũ khí, khủng bố, buôn bán nô lệ, tra tấn, tội ác apartheid”21… Như vậy, quan điểm này đã chỉ rõ nội hàmcủa “tội phạmxuyên quốc gia” rộng hơn“tội phạmcó tính chấtquốc tế”. Tội phạmcó tính chất quốc tế chỉ là trường hợp hành vi phạmtội vượtqua biên giới của nhiều quốc gia, còn tội phạm xuyên quốc gia không chỉ có trường hợp nói trên mà còn có thêm

trường hợp hành vi phạm tội còn có thể ảnh hưởng đến hành vi phạm tội ở nước khác hoặc có thể là hành vi phạm tội xảy ra ở một quốc gia nhưng hậu quả của nó lại xảy ra ở một quốc gia khác.22

Mặc dù các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau liên quanđến việc phân biệt rạch ròi nội hàm khái niệm tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm có tính quốc tế nhưng họ lại đưa ra định nghĩa tương đối thống nhất về tội phạm xuyên quốc gia. Phần lớn các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm tội phạm xuyên quốc gia mộtcách khái quát dựa trênđặctrưngvềhành vi, khách thể, thẩm quyền tài phán,… nhằm phân biệt tội phạm xuyên quốc gia với tội phạm quốc tế hay tội phạm thông thường… Tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa trong cuốn sách chuyên khảo Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người xuất bản năm 2014 tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho rằng,

20 PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên), Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr. 94.

21 Theo: Nguyễn Ngọc Chí (2012), Những vẫn đề lí luận thực tiễn về Luật Hình sự quốc tế, NXB Chính trịquốc gia, Hà Nội, tr.211.

22 TS. Nguyễn Ngọc Chí (2012), Những vẫn đề lí luận thực tiễn về Luật Hình sự quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.211

43

“tội phạm xuyên quốc gia là những hành vi nguy hiểm, xâm hại trật tự pháp luật của các quốc gia được quy định trong các điều ước quốc tế và bị trừng phạt bởi quốc gia theo các quy địnhcủaLuật hình sự quốc gia phù hợp với những điều ước này”.23 So sánh tội phạm xuyên quốc gia với tội phạm quốc tế, tác giả cho rằng, tội phạm xuyên quốc gia xâm phạmđếntrật tự pháp luật của các quốc gia, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cộng đồng quốc tế nhưng khôngđến mức nghiêm trọng như tội phạm quốc tế, do vậy quyền tài phán đối với tội phạm này chỉ thuộc về toà án quốc gia. Các toà án hình sự quốc tế không xét xử các tội phạm xuyên quốc gia24.

Trên thế giới cũng có nhiều học giả nghiên cứu về tội phạm xuyên quốc gia, trong đó nổi tiếng nhất là Neil Boister. Neil Boister là Giảng viên cao cấp về Luậthìnhsựquốc tếtạiĐạihọc Canterbury (New Zealand) và Đạihọc Nottingham (Vương quốc Anh). Ông cho rằng tội phạm xuyên quốc gia là tội phạm thực sự hoặc có khả năng ảnh hưởng vượt biên giới quốc gia, những tội phạm này không chỉ xâm phạm lợi ích quốc gia mà còn xâm phạm những lợi ích cơ bản của cộng đồng quốc tế. Tội phạm xuyên quốc gia được sử dụng rộng rãi nhưmộtkháiniệmchung bao trùm nhiều loại hoạtđộngtộiphạm khác

nhau25. Gerhard O.W. Mueller, trong cuốn Tội phạm xuyên quốc gia –Định nghĩa và kháiniệmcũng có quanđiểmtương tự khi cho rằng tội phạm xuyên quốc gia là kháiniệmdùng để chỉ nhóm tội phạm vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thuộc thẩm quyền tài phán của một số quốc gia hoặc có tác động đến quốc gia khác26. Trong khi đó, Fijnaut lại phản ánh rằng thuậtngữ “tội phạmxuyên quốc gia” là khái niệm chứa nhiều loạitội phạmkhác nhau, tuy nhiên, việc sửdụng tính từ “xuyên quốc gia” là không hợp lí khi thực tế không phải tất cả các

tội phạmxuyên quốc gia đều vượt qua ranh giới nhà nước. Fijnaut kết luận rằng tính từ “xuyên quốc gia” hiện là sai lầm và không công bằng đối với tính đa dạng của loại tội phạm này và đối với quy mô địa phương và/hoặc quốc gia của

23 TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

24 TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2014), Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trang 213.

25 Boister, Neil (2003): Transnational Criminal Law? European Journal of International Law, Vol 15, No 5, p. 953-976

26 Mueller, ‘Transnational crime: Definitions and Concepts’, in P. Williams and D. Vlassis (eds), Combating Transnational Crime (2001), P. 31.

44

nó27. GS. Morten Bergsmo thông qua nghiên cứu của mình đã chỉ ra các đặcđiểm của tội phạm xuyên quốc gia như sau:

-Tội phạmxuyên quốc gia là những hành viđược“tội phạmhoá một cáchquốc tế”;

– Tội phạm xuyên quốc gia được điều tra, truy tố, xét xử bởi quốc gia;

– Các quốc gia không truy tố tội phạm có nghĩa vụ dẫn độ người phạm tội28

Khi xác định “Tội phạm xuyên quốc gia là những hành vi được tội phạm hoá một cáchquốc tế”Bergsmo muốn đề cậpđếnviệctội phạm xuyên quốc gia được ghi nhận trong các điều ước quốc tế, dovậytất các quốc gia thành

viên của điều ước đó đều phải tuân thủ. Đây cũng chính là điểm khác biệt của tội phạmxuyên quốc gia và tội phạm hình sự thông thường (tội phạm hình sự

chung); bởi vì xuất phát từ sự khác biệt về kinh tế; văn hoá; chính trị; xã hội… một hành vi bị coi là tội phạm ở quốc gia này, có thể không bị coi là tội phạmở nước khác. Một học giả Trung Quốc, Giáo sư La Cương, trong Bài viết“Đối sách chống lại các tội phạm xuyên quốc gia ở Trung Quốc” cho lại rằng: “Tội phạm xuyên quốc gia không phải là một thuật ngữ chuyên ngành luật, nó làkhái niệm mang tính hình tượng được sử dụng để miêu tả hành vi phạm tội nguy hiểm hơnrấtnhiều sovớicác hành vi phạmtộitruyền thống khác, được sửdụng trong tội phạm học và điều tra tội phạm, mang tính đặc trưng hiện thực tương đối rõ ràng”29. Tuy nhiên, khi định nghĩa về tội phạm xuyên quốc gia,

ông lại có quan điểm khá tương đồng với các học giả khác được nhắc đến ở

trên, ông cho rằng: “Tội phạm xuyên quốc gia” là khái niệm dùng để chỉ việc chuẩn bị, thực hiện hoặc hậu quả của hành vi phạm tội vượt qua biên giới của hai hoặc nhiều nước hoặc hai hoặc trên hai khu vực pháp luật, hành vi này cóthể bị toà án của hai hoặc nhiều nước hoặc các khu vực pháp luật khác nhau, căn cứ theo pháp luật hiện hành của nước hoặc khu vực đó để tiến hành xử lí

27 Fijnaut, ‘Transnational Crime and the role of the United Nations’, European Journal of Criminal Law and Criminal Justice (2000) 119, at 120.

28 Morten Bergsmo, International criminal jurisdictions (2008) Nguồn:

http://www.uio.no/studier/emner/jus/jus/JUR5710/h08/undervisningsmateriale/ Bergsmo.ppt>at 20 April 2009.

29 PGS. La Cương, Đối sách chống lại các tội phạm xuyên quốc gia ở Trung Quốc, Tạp chí Luật học,số11/2011, tr. 67.

45

hình sự”30.

Như vậy, có thể thấy, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm liên quan trong việc phânbiệttộiphạm xuyên quốc gia và tộiphạm có tính quốc tế và việc

phânbiệtrạch ròi kháiniệmnày là không hề dễ dàng. Tác giả luận án nhất trívới quan điểm cho rằng, tội phạm xuyên quốc gia có nội hàm rộng hơn so với tội phạmcó tính quốc tế. Tộiphạm có tính quốctếlàtội phạmvừa xâm hại quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia bảo vệ, vừa xâmhạiquan hệ xã hội

được luật quốc tế bảo vệ cho nên sẽ đồng thời được ghi nhận cả trong luật hình sự quốc gia và các điềuướcquốc tế. Chính vì thế, tội phạm có tính quốc tế còn

được gọi là tội phạm điều ước, được điều ước quốc tế ghi nhận nhằm hợp tácđấu tranh phòng, chống như: Tội khủng bố, buôn bán người, tội phạm ma tuý,

cướpbiển… Còn tội phạmxuyên quốc gia còn bao gồm cả các tội phạm thông

thường, như: hiếp dâm, cướptài sản, giết người… miễn là các tội phạm nàyđáp ứng được các dấu hiệu “xuyên quốc gia” theo quy định tại Công ước của

Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo năm 2000) mà tác giả sẽ trình bày ở phần dưới đây.

2.1.2. Khái niệm tội phạm xuyên quốc gia trong các điều ước quốc tếVấnđề tội phạmxuyên quốc gia đã xuất hiện từ lâu. Trong thời kỳ toàn

cầuhoá, các quốc gia thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường buôn bán giữa các nước, tự do hoá thương mại, việc qua lại giữa các nước ngày càng trở nên

dễ dàng hơn… Những nhân tố này đã tác động làm cho tội phạm có tổ chức

xuyên quốc gia ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, sự sụp đổ của hệ thống các

nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ và các nước Đông Âu dẫn đến sự suy yếu quyền lực nhà nước, từ đó, làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống luật pháp cũng như khả năng kiểm soáttội phạmcủa những quốc gia này. Các tội phạm

xuyên quốc gia nhân đó ngày càng phát triển và mở rộng phạmvi hoạt động ởnhững quốc gia này sau đó lan sang nhiều quốc gia khác nhau. Ở nhiều quốc gia, tội phạm xuyên quốc gia cũng phát triển chóng mặt do sự buông lỏng quản

lí, quan liêu, độc quyền, xung đột sắc tộc, tôn giáo… Một số quốc gia rơi vào

tình trạng bất ổn thường xuyên do chiến tranh hoặc xung đột sắc tộc, tôn giáo… Những nhân tố kể trên làm cho tội phạm xuyên quốc gia ngày càng gia tăng và

30 PGS. La Cương, Đối sách chống lại các tội phạm xuyên quốc gia ở Trung Quốc, Tạp chí Luật học,số11/2011, tr. 67.

46

trở nên phức tạp.

Vấnđề tội phạmxuyên quốc gia được cộng đồng quốc tế quan tâm chúý kể từ đầu những năm 1990, khi Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã phát hiện ra sự gia tăng mở rộng một cách nhanh chóng của tội phạm xuyên quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệtlà sựcâu kết của khủngbốquốc tế và tộiphạm cótổ

chức, rửa tiền… Vào năm 1991, Hộiđồngbảo an Liên hợp quốc đã đưa ra

nguyên tắc có tính định hướng cho chính sách kiểm soát và chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tuy nhiên, khái niệmtội phạmxuyên quốc gia chưa

được đề cập. Tiếp đó, trong năm 1994, Hội nghị các bộ trưởng trên thế giới vềtội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đã thông qua Tuyên ngôn chính trị Naples

và kế hoạch hành động toàn cầu chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Năm 1992, Liên hợp quốc đã thành lập Uỷ ban phòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự. Với Uỷ ban này, Liên hợp quốc đã đưa hoạtđộngphòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia lên một tầm cao mới. Bên cạnh đó, Chương trình Liên hợp quốc về kiểm soát ma tuý quốc tế, Trung tâm phòng ngừa tội phạm quốc tế cũngđược thành lập. Các chương trình chốngtộirửa tiền,

Chương trình chống tội phạm tham nhũng, Chương trình chống tội phạm buôn bán người đã được đẩy mạnh. Tuy nhiên, có thể thấy khuôn khổ pháp lí thời kỳnày nhìn chung tản mạn, chưa hiệu quả, nhất là chưa có khái niệm rõ ràng vềtội phạmxuyên quốc gia. Đây cũng có thể coi là một trong các nguyên nhân khiến việc ngăn chặn chưa hiệu quả của cộng đồng quốc tế đối với sự gia tăng nhanh chóng của tội phạm xuyên quốc gia.

Tháng 11/1994 tại Italia đã diễn ra Hội nghị Bộ trưởng các nước trên thếgiớivề tộiphạm cótổchức. Hội nghị đã thông qua chương trình hànhđộng toàn cầu chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Tuy nhiên, Hội nghị vẫn

chưa thống nhất được việc soạn thảo và ban hành văn kiện pháp lí quốc tế cótính toàn cầu trong đó quy định về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Sau hàng loạt phiên họp từ năm 1999 đến 2000, Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư bổsung đã được thông qua vào phiên họp thứ 10, từ ngày 17 đến 28/7/2000. Thấy rõtầmquan trọng của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, cho đến nay, đã có 190 nước phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và vănkiệnnày trở thành cơ sở pháp

47

lí toàn cầu để thực hiện tương trợ tư pháp giữa các quốc gia. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 (Công ước Palermo) không xây dựng khái niệm về tội phạm xuyên quốc gia mà đưa ra các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Theo khoản 2 Điều 3 Công ước,“một hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia nếu:

(a) Nó được thực hiện ở nhiều hơn một quốc gia;

(b) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng phần chủ yếu của việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn ra ở một quốc gia khác;

(c) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động tội phạm ở nhiều quốc gia; hoặc

(d) Nó được thực hiện ở một quốc gia nhưng cóảnh hưởng lớn ở một quốc gia khác.”

Trước năm 2015, trong các văn kiện pháp lí của ASEAN không đưa rađịnh nghĩa về tội phạm xuyên quốc gia mà chủ yếu liệt kê các tội phạm xuyên quốc gia điển hình trong khu vực như buôn bán trái phép ma tuý, khủng bố, rửa tiền, cướp biển… Bắt đầu từ năm 2015, trên cơ sở kế thừa các quy định tại Công

ước Palermo, ASEAN đã cố gắng đưa ra khái niệm về tội phạm xuyên quốc gia dựa trên các dấu hiệu của nó. Theo quy định tại Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2015 (ACTIP) thì“Tội phạm xuyên quốc gia” là một hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia. Thế nào là hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia, ASEAN đã kế thừa quy định tại Công ước Palermo khi quy định: “Một hành vi phạm tội có tính chất xuyên quốc gia nếu:

(i) hành vi đó được thực hiện ở nhiều quốc gia;

(ii) hành vi đó được thực hiện ở một quốc gia nhưng phần chủ yếu của việc chuẩn bị, lên kế hoạch, chỉ đạo hoặc điều khiển nó lại diễn raở một quốc gia khác;

(iii) hành vi đó được thực hiện ở một quốc gia nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia các hoạt động phạm tội ở nhiều quốc gia; hoặc

(iv) hành vi đó được thực hiện ở một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn ở một quốc gia khác”31.

31 Khoản h Điều 2 Công ước ASEAN về phòng, chống buôn người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2015 (ACTIP)

48

Như vậy, trên cơ sở dấu hiệu tội phạm xuyên quốc gia đưa ra tại Công

ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể hiểu tội phạm xuyên quốc gia lànhững hành vi nguy hiểm cho xã hội, được chuẩn bị, thực hiện hoặc có hậu quả

vượt qua biên giới quốc gia, thuộc thẩm quyền tài phán hình sự quốc gia, do

người có năng lực trách nhiệm hình sự gây ra một cách cố ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được ghi nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.

2.2. Đặc điểm của tội phạm xuyên quốc gia

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN VỀ PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM XUYÊN QUỐC GIA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *