Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảođảman toàn thực phẩm (ATTP) là vấnđề liên quan trực tiếpđến sức khoẻ và tính mạng con người, duy trì và phát triển nòi giống cũng nhưquá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, vấn đề an toàn thực phẩm đang được quan tâm cả trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
Trên phạm vi toàn cầu, vấnđề an toàn thực phẩmđược cộngđồngthế giới quan tâm và kiểm soát. Nhiều Hiệp định, Công ước quốc tế quy định về việc bảo đảmcác yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đã được ký kết như: Công ước Bảovệ thực vậtquốc tế (IPPC), Hiệp định về áp dụng
các biện pháp kiểm dịchđộngthực vật(SPS),… và hàng loạt các quy định, tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến chất lượng, vệ sinh, an toàn thực phẩmđược ban hành như: các tiêu chuẩn về dinh dưỡng CODEX, hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soátđiểm tớihạnHACCP, các chương trình vệ sinh tiên quyết PRP,… Các tổ chức quốc tế giám sátvấnđề antoàn thực phẩm được thành lập
như: Uỷ ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế CODEX, …
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Quá trình này sẽ làmnảysinh nhiều vấn đề kinh tế – xã hộiphức tạpcầnđược xửlý, trongđóan toàn thực phẩm là mộttrong những vấnđề hết sức cấpbách, được toàn xã hội rất quan tâm. Hàng loạt các yêucầuđangđược đặtra và cầnphải thực hiệnmộtcách nghiêm túc, khẩn trương nhằm kiểm soátvà bảo đảman toàn thực phẩm trong cộng đồng. Việc kiểm soát nhập khẩu thực phẩm khôngbảođảmyêucầuvệ sinh và an toàn, các chấtphụgia thực phẩmđộc hại, các loại hoá chấtbảovệthực vật, các giống cây trồng vật nuôi, di nhập các loài sinh vật lạ, nhập khẩu các sản phẩm
biến đổi gen… đang là thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, hoạt động quản lý lưu thông thực phẩm, các cơsở giết mổ, hệ
1
thống kinh doanh dịchvụăn uống, quy trình trồng trọt, chăn nuôi, phòng
chống và triệt tiêu dịchbệnh… đanggặpnhiều khó khăn. Nhữngbấtcập trong quản lý an toàn thực phẩm cũng làmộttrong những nguyên nhândẫnđến các vụ ngộ độc thực phẩmvà lây lan dịch bệnh từ thực phẩm. Chất lượng thực phẩm khôngbảođảmcác yêucầuvề an toàn còn làm giảm khả năng thâm nhậpthịtrường và cạnh tranh hàng thực phẩmcủanước ta trênthịtrường thế giới.
An toàn thực phẩm khôngchỉcótầmquan trọngđốivớisứckhỏe con người, mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế – xã hội của một đất nước. Đápứngcác yêucầuvề an toàn thực phẩmsẽ hạnchế được tình trạngngộđộc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm, bảođảmtính mạng và sức khoẻcon người, duy trì và phát triển nòi giống, giảm thiểuônhiễm môi trường, tăng sức cạnh tranh cho hàng thực phẩm của Việt Nam và ngăn chặn thực phẩmđộc hạicóthểtràn vàonước ta. Tuânthủcác điềukiện an toàn thực phẩm cũng giúp Việt Nam thực hiện tốt những camkếtquốc tế về thương mạiđể nhanh chóng hội nhập với thế giới.
Thực tiễn cho thấy, vai trò của các quy định pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạilàhếtsức quan trọngbởithươngmạilà hoạtđộngtrung gianvớichức năng đưa hàng thực phẩmđếnvớingườitiêu dùng. Trong thời gian qua, nhànước đã ban hành nhiều vănbảnpháp luậtđiềuchỉnhvấnđề này. Tuy nhiên,cầncó những phân tích, đánh giálạicác quyđịnhpháp luật hiện hành liên quanđếnvấnđề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại để thấyđược những ưu điểm, hạnchế cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiệnhệ thống các quyđịnhpháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạithời gian qua diễn ra khá phức tạp, năng lực xửlý vi
2
phạm của các cơ quan chức năng cònhạnchếdo nhiều lý do khác nhau. Vìvậy, hơn lúc nàohếtcầncó những đánh giá khách quan và sâusắcvềtình hình thực hiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthương mại hiện nay, qua đóchỉra nguyên nhân của nhữngtồntạivà đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở nước ta.
Từ những lý do nêu trên, việc nghiêncứu đề tài“Pháp luật vềan toàn thực phẩm trong hoạt động thươngmại ở Việt Nam”là hết sức cần thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõvấnđề lý luậnvề pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mạiở Việt Nam, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện hiệu quả pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứuđược xácđịnh như sau:
– Nghiêncứuhệ thống nhằm làm rõ cơ sở lý luậnvề pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại;
– Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các quyđịnhpháp luật vàthực tiễn thực hiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthương mạiở Việt Nam;
– Xây dựng những yêu cầu đặt ra và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
– Các quan điểm, lý luận khoa học về pháp luật nói chung và pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại nói riêng;
– Các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mạicủa Việt Nam;
– Thực tiễn thực hiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại tại Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Về nội dung: Luận ánchủ yếunghiên cứu những vấn đề liên quanđến pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
– Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2016.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiêncứuluận án, nghiêncứusinhsửdụng phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp luận: Luận ánsửdụng phương pháp luậncủaChủnghĩa Mác-Lê Nin, tưtưởngHồChí Minh, phương pháp duyvậtbiện chứng vàchủnghĩa duy vật lịch sử được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ các chương của luận án. Đây là phương pháp khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộluận ánđểđánh giá khách quansựhoàn thiệncủapháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
– Phương pháp nghiên cứu cụthể: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê được luận án sử dụng nghiên cứu làm rõ nội dung đề tài luận án…Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, luận án có sự
4
kếthợp giữa các phương pháp trong từng phần của luận án; trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp, là những phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong luận án. Cụ thể:
Phương pháphệthống, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổnghợpđược sửdụng khi nghiêncứuChương 1để nghiêncứutổng quan các công trình nghiêncứuvềpháp luật an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại, xác định những kết quả đã nghiên cứu liên quan được luận án kếthừa, xác địnhnhữngvấnđề liên quanđếnđềtài mà các công trình nghiên cứu trước đó còn bỏ ngỏ cần nghiên cứu bổ sung, phát triển.
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, đối chiếu được sử dụng trong Chương 2 khi nghiêncứu một số vấnđề lý luận về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại.
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịchsử,
phương pháp so sánh…đượcsửdụng trong Chương 3đểlàm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
Phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợpđược sử dụng trong Chương 4 khi trình bày các yêucầuđặtravà đề xuấtgiải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở Việt Nam.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đâyđược coi là công trình chuyên khảođầutiên, nghiêncứu mộtcách toàn diện và cóhệ thống pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại. Nôi dung của luận án là những đánh giá, phân tíchvà đề xuấtcótính thực tiễn và ứng dụng nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthương mại. Một số đóng góp về mặt khoa học của luận án là:
5
Mộtlà, giải quyết thỏa đáng nhữngvấnđề mang tính lý luận của pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạibằng việc phân tích một cách có hệ thống các khái niệm: “an toàn thực phẩm”;“hoạtđộng thương mại”;“antoàn thực phẩm trong hoạt động thương mại”; “pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthương mại”,… Bên cạnh đó, luận án còn phân tích và làm rõ vai trò của pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thươngmạiđốivớiđờisống xã hội, phân tích, chỉ rõnộidung cơ bảncủa pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại.
Hai là, trên cơ sở phân tích thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật vềan toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạiViệt Nam, luận ánđãrút ra những ưuđiểm,hạnchế, thành công vàbấtcậpcủapháp luật cũng như thực trạng thực hiện pháp luậtvềan toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạiở Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra được nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó.
Ba là, luận giải và đề xuấtcụthể các giải pháp nhằmđápứng được yêu cầuvề bảođảman toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại. Luận án đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện hiệu quả pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạiở Việt Nam. Những giải pháp nàyđược xây dựng trên cơ sở những luậncứkhoa học được luận giảimộtcách sâu sắc về lý luận và thực tiễn của pháp luậtvềan toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa khoa học
Kếtquả nghiêncứucủa luận ánđã làm rõ nhữngvấnđề lý luận quan trọng có liên quanđến vấnđề antoàn thực phẩm và pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại, vấn đề cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thực trạng và thực tiễn pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thươngmạiở Việt Nam trong thời gian qua, ngoài nhữngkếtquả đạtđược cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Điều này xuất phát từ lý do là hệ thống các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại hiện
tạichưa thực sựđộngbộ, thống nhất và khả thi, thực tế thực hiện pháp luật của Việt Nam chưa thực sự hiệu quả. Vì vậy những kết quả nghiên cứu, đặc biệt là những giải pháp mà luận án đưa ra cóýnghĩa quan trọng trong việc sửa đổi, bổsungđể hoàn thiện pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại của Việt Nam. Ngoài ra,kếtquả nghiên cứu còn đóng góp vào việc thực hiện có hiệu quả pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại trên thực tiễn ở nước ta hiện nay, góp phần vào công cuộc bảo đảman toàn thực phẩm.
7. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phầnmở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm những nội dung chính như sau:
Chương1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu;
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm và pháp luậtvềan toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại;
Chương 3: Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Việt Nam và thực tiễn thực hiện;
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảthực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mạiở ViệtNam.
7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấnđề bảo đảmATTP là vấn đề hết sức nhức nhối trong xã hội. Do vậy, thời gian gần đâyvấnđề nàycũng được một số học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu trên những bình diện khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quanđếnđề tài luận án, nghiêncứusinh tổng quan tài liệu theo các vấnđề về lýluận, thực tiễn và giải pháp, kiến nghị.
1.1.1. Các nghiên cứu lý luậnvềpháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại
1.1.2. Các nghiên cứu thực tiễn về pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thươngmại
– Các nghiên cứu về thực trạng pháp luật về ATTP trongđó có đề cậpđến thực trạng ATTP trong hoạt động thương mại trong nước.
1.1.3. Các kiến nghị và giải pháp
1.1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu
– Những vấn đề đề mà luận án có thể kế thừa và phát triển
Qua khảocứucác tài liệu trong và ngoàinước liên quanđếnchủđềnghiên cứu, có thể nhận thấy một số nội dung liên quan đến đề tài luận án đãđược giải quyết và nghiên cứu sinh có thể kế thừa như sau:
Về mặt lý luận, trong một số công trình đã đề cập và nhận thức rõvề sựcầnthiết và vai tròcủapháp luật ATTP nói chung trongđócó pháp luậtvềATTP trong hoạt động thương mại. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trong vàngoài nước mà nghiên cứu sinh đã đề cập ở trên đã thể hiện sự đồng thuận cao trong nhận thức về sự cần thiết phải ban hành các quy định pháp luật nhằm bảođảmATTP trong xã hội. Riêng trong hoạtđộngthương mại, vai tròcủapháp luật ATTP cũng được chỉ ra và phân tích trên góc độ là công cụ nhằm bảo đảm cho hoạtđộngthươngmạiđượcthuận lợi. Các công trình nghiêncứutrong vàngoàinướcliên quanđếnđềtàicủaluận án cũngđãđềcập, phân tíchmộtsốkhái niệm mà luận án có thể sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
Về mặt thựctiễn,về cơ bảnthực trạng pháp luật ATTP nói chung ở Việt Nam đã đượcmột số công trình đề cập đầy đủ, thể hiện quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về ATTP ở Việt Nam từ trước đến nay. Riêng pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại, một số công trình đã đề cập, phân tích và đã rút ra một số đánh giá về nó. Những đánh giá này là dữ liệu quan trọng mà nghiên cứu sinh có thể kế thừa và phát triển trong luận án của mình.
29
Thực tiễn của hoạt động quản lý ATTP nói chung và quản lý, kiểm soát ATTP trong hoạtđộngthươngmạinói riêng cũngđược mộtsốcông trình nghiêncứutrong và ngoàinước đề cậpđến. Những công trình nàyđã phân tích thực trạng quản lý ATTPở các khía cạnh như: tổchức bộmáy quản lý, thẩm quyền quản lý, cơ chế phốihợptrong quản lý, thực tiễn quản lý, hiệu quả của hoạtđộngquản lý. Đâylà cơ sởhếtsức quan trọng trong quá trình thực hiệnđềtài luận án của nghiêncứusinh, bởinhữngdữliệu nàysẽ giúp nghiên cứu sinh đánh giá được tính thực tiễn của pháp luật ATTP trong hoạtđộng thương mại.
Về mặt giải pháp và kiến nghị, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luậnán đã đưa ra được một số kiếnnghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ATTP nói chung trong đó có đề cập đến pháp luật về ATTP trong hoạtđộngthươngmạinói riêng. Các giải pháp nàychủyếulà những giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về ATTP như: tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước liên quan, nâng cao năng lực đội
ngũ thực thi pháp luật về ATTP, giáo dục tuyên truyền pháp luật về ATTP,… Những giải pháp kiến nghị nàysẽ được nghiêncứusinh cân nhắc sửdụng trong quá trình thực hiện luận án của mình.
– Những vấn đề liên quan đến chủ đề luận án chưađược giải quyết thấu đáo hoặc chưa được đặt ra trong các nghiên cứu đã công bố
Về mặt lý luận, một số vấn đề lý luận về pháp luật ATTP trong hoạtđộng thương mại chưa được đề cập, phân tích trong các nghiên cứu liên quan. Các công trình nghiên cứu chưa đưa ra được một khái niệmđầyđủ về “pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại”.
Các công trình tuyđã đề cậpđếnvai trò của các quy định pháp luậtvềATTP nhưng chưa có công trình nào đề cập cụ thể và làmnổi bậtđược vai tròcủa pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại đối với đời sống xã hội.
30
Nhữngnộidungcủacác quyđịnhpháp luậtvề ATTP, trongđócó các quy định về ATTP trong hoạt động thương mại đã được một số công trình liệt kê. Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiến hành phân tích, bình luận và chỉ rõnhững nội dung cơ bản của pháp luậtvềATTP trong hoạt động thương mại.
Về mặtthực tiễn, các nghiêncứucó liên quan hiện nayđã có nhữngđánh phân tích, đánh giá về pháp luật về ATTP ởViệt Nam, tuy nhiên chưa cómộtcông trìnhcụthể nào thực hiện phân tích, đánh giá và bình luậnvềpháp luật ATTP trong hoạt động thương mại một cách có hệ thống. Tình trạng này đồng nghĩa với việc chưa có những tổng kết, đánh giá riêng về thực trạng pháp luậtvề ATTP trong hoạtđộngthươngmạicủa Việt Nam. Sựthiếu hụt những tổng kết, đánh giá này thể hiện các công trình nghiêncứutrong vàngoài nước chưa cung cấp được bức tranh toàn cảnh của pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, thực trạng thực hiện pháp luật về ATTP ở Việt Nam tuy đãđược một số công trình đề cập đếnnhưng ở góc độ chung. Các công trình đãđượccôngbốcó liên quanchủyếunêu lên tình trạng vi phạm pháp luật ATTP một cách chung chung, chưa thể hiện rõ được tình hình thực hiện các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại diễn ra trên thực tếở mức độ nào, cónhững tích cực và hạn chế gì?
Về những giải pháp, kiến nghị, kết quả nghiên cứu liên quan đến chủ đềpháp luật ATTP trong hoạt động thương mại đã đi đến một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ATTP nói chung và pháp luật ATTP trong hoạtđộng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, bất cập lớn nhất của các nghiên cứu đóthểhiệnởtínhđơnlẻ,thiếuđồngbộgiữa các giải pháp. Ngoài ra, các công trình nghiêncứucũng chưa xây dựngđượcgiải pháp mang tính tổng thể, lâu dài cho việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luậtvềATTP trong hoạtđộng thương mại ở Việt Nam trong tương lai.
31
Có thể thấy, hiện nay chưa có công trình khoa học ở cấp độ Tiến sĩ nào nghiêncứumộtcách toàn diện và cóhệ thống nhữngvấnđề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật;chỉra nhữnghạnchế của pháp luật và quá trình thực thi, trên cơ sởđóđề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại. Do vậy, việc nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn vàđề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luậtvề ATTP trong hoạtđộngthươngmạilà không trùnglặpvớicác công trình đã thực hiện trước đây.
1.1.5. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ những phân tích về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề của luận án như trên, nghiên cứu sinh nhận thấy những vấn đềsau cần phải được nghiên cứu và giải quyết trong luận án:
Thứ nhất, nghiên cứu, bổ sung một số vấn đề lý luận về pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại. Đó là những vấn đề sau: Xây dựng khái niệm “An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại” và khái niệm “pháp luật về ATTP trong hoạtđộngthươngmại”,các khái niệm này phảiđượcđưaradướidạngđịnh nghĩa với những lập luận khoa học; Phân tích và làmnổibậtvai trò của pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại đối với đời sống xã hội; Chỉ ra những nội dung chính của pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại.
Thứhai, tổng hợp, phân tích và bình luận những quyđịnhpháp luậtvềATTP trong hoạtđộngthươngmạiởViệt Nam theo từng mảngvấnđề.Kết quảcủaquá trình này là những đánh giávềthực trạng pháp luật ATTP trong hoạt động thương mại hiện hành của Việt Nam.
Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam thời gian qua. Kết quả nghiên cứu là những tổng kết và đánh giá về tình hình thực hiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
32
Thứ tư, nghiên cứu đưa ra những yêu cầu cho việc hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam. Kết quả là việc hình thành những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong hoàn thiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam.
Thứnăm, nghiêncứuđềxuấtmộtsốgiải pháp hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ởViệt Nam trong thời gian tới.Kếtquảnghiêncứulà những giải pháp có tính khả thi và đồng bộ cao.
1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh vận dụng những lý thuyết sau:
– Lý thuyết“Kinh tế có điều tiết”là lý thuyết điển hình về nền kinh tế cósựcan thiệp mạnh của Nhà nướcvàonềnkinhtế thịtrường do J.M.Keynes (1884 – 1946) đề ra, thể hiện vai trò, chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước qua việc đề ra pháp luậtvà điềuhành nền kinh tế bằng pháp luật để nâng cao tính cạnh tranh, ngăn chặn những tác động tiêu cực từ bên ngoài, bảo đảm cho thị trường hoạt động có hiệu quả, cân bằng và phát triển kinh tế bền vững;
– Lý thuyếtvề mốiquanhệbiện chứng và phổbiến giữa Nhà nước, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. Mối quanhệ biệnchứng giữa các chủ thể nàyđượcđặt trong các quy luật của kinh tế thị trường đó là: cạnh tranh, giá trị và cung cầu. Lý thuyết này giúp nhìn nhận vai trò của từng chủthể trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại từ góc nhìn kinh tế thị trường và pháp lý.
– Lý thuyếtvề “Luật tự nhiên”mà đạidiện là Aristote (384 – 322 trước công nghuyên) Lý thuyết này được sử dụng như là một phương pháp luận đểtiếpcậncác quyđịnhpháp luật thựcđịnhvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại. Dựa trên quanđiểmcủa pháp luật tự nhiên, việc pháp luật
33
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong vấn đề ATTP được xem là khách quan bởi việc bảo vệ sức khỏe, tính mạng và giống nòi của con người là quyền được quyết định bởi thuộc tính của con người. Lý thuyết pháp luậttựnhiên khẳngđịnhtấtcả các quyền thuộc về cònngườilà “tàisản” vôđiều kiện của con người và đemđếncho con người bằng chính việc họ sinh ra và
tồn tạivớitư cách là con người [55]
– Lý thuyếtvề “Quyền tự nhiên”của con người. Tiêu biểu cho lý thuyết này là Thomas Hobbes (1588-1679), Jonh Locke (1632-1704) và Thomas Paine (1731-1809). Theo đó, các quyền của conngườilà quyền không thể tước bỏ được, đâylà các quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho họ. sinh ra là đãđược hưởngcác quyền này. Trong các quyền của conngườicó quyềnđược bảođảman toàn khisửdụng, tiêuthụcác sảnphẩm hàng hóa (trongđócóthực phẩm). Nhiệmvụcủa nhà nước là bảođảmcho con ngườiđược hưởng các quyền đó. Nhiệmvụnàyđược nhà nước thực hiện thông qua côngcụpháp luật.
– Lý thuyết “Công lý như là công bằng” là hệ thống các luận điểm của Jonhs Rawls (1922-2002), theo đó công bằng xã hội được xem là cơ sở vững chắc cho một xã hội ổnđịnh và trong đó mọi người đều có lợi, được bảo vệ vềtính mạng, sức khỏe và tài sản. Nguyên tắc “công lý” được hiểu là nguyên tắc mà các cá nhân tự do có lý trí muốn bảo đảm và phát triển lợi ích của mình họ sẽ tựnguyện chấp nhận trongđiềukiệnmọingườibìnhđẳngđể cùng nhau xácđịnhnhữngđiềukiện cănbảnnhất, chung nhất trong cộng đồng. Lýthuyết này xác địnhnguyên tắc bìnhđẳngtrong các mốiquan hệ, trongđóquanhệ kinh tế. Đâylà lý thuyết cóảnhhưởngtrong việc tạodựng khung pháp lý điều chỉnh vấn đề ATTP nói chung, nhất là trong điều kiện kinh tế thịtrường ở Việt Nam hiện nay.
34
1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu
Các lý thuyết nghiên cứu được sử dụng như là những hành trang trên conđườngtìmlờigiải chogiảthuyết nghiêncứubao trùm của đề tài nàyđólà:
Hoạt động thương mại hàng thực phẩm diễn ra trên thị trường, thị trường đóvận hành theo cơ chế thị trường được chi phối bởi quy luật cung-cầu, quy luật giátrịvà quy luật cạnh tranh. Quyềnlợicủa ngườitiêu dùng thực phẩm, lợiích xã hộiđangbịxâm phạm do những hành vi của ngườisảnxuất và kinh doanh thực phẩm không an toànvẫnhiệnhữutrên thực tế và nhucầuhoàn thiện pháp luật để hạn chế và triệt tiêu các hành vi này.
Bên cạnh giả thuyết đó, luận án cònđặtra mộtgiả thuyếtđặc thù làmảng pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại của Việt Nam hiện nay chưa đủ, chưa toàn diện còn có những mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính thực tiễn và cần phải hoàn thiện nó trên những nguyên lý khoa học trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng như thực tiễn pháp luật và hành pháp của Việt Nam.
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án nàyđược triểnkhai nghiên cứu nhằm tìm lời giải và đáp án cho những câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Quan niệm như thế nào về an toàn thực phẩm trong hoạt độngthương mại?Bảođảman toàn thực phẩm trong hoạtđộngthương mại có ý nghĩa ra sao đối với đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Quan niệm thế nào về pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại? Nội dung và vai trò của nó ra sao?
Câuhỏinghiên cứu 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam thế nào?
Câuhỏinghiên cứu 4: Những yêucầuđặtra và giải pháp nàođểhoàn
35
thiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại của Việt Nam? Cần cónhững giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay?
1.2.4. Hướng tiếp cận nghiên cứu
– Trên cơ sở tậphợp, hệ thống hóa các công trình nghiêncứucó liên quan đến chủ đề luận án, luận án kế thừa có chọn lọc, phát triển các luận điểm nghiên cứu, đồngthời phát hiệnvấnđề nghiêncứumới, xây dựng các luậnđiểm khoa học thuộc nội dung nghiên cứu luận án.
– Luận án tiếp cận giải quyếtvấnđề nghiên cứu từ góc độ của khoa học pháp lý. Tuy nhiên, do đặc thù của đối tượng nghiên cứu nên góc độ tiếp cận liên ngành, đa ngành khoa học xã hội được luận án khai thác ở mức độ tối đa.
– Luận án nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn vận hành của các quy định pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại trong đời sống. Gócđộ nghiên cứu ứng dụng được luận án đặc biệt chú ý.
36
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Vấnđề bảo đảmATTP nói chung và ATTP trong hoạt động thương mại nói riêngđã được các nhà nghiêncứutrong và ngoàinước quan tâm và tiến hành nghiên cứu. Với mục tiêu bảo vệ lợi ích cộng đồng nói chung, quyền lợi của ngườisử dụng thực phẩm nói riêng, góc độ pháp lý về ATTP trong hoạtđộngthươngmạicũng được các nhà nghiêncứukhai thác để tìm ra phương cách. Trong chương này, luận án đã đạt được một số kết quả chính sau:Thứnhất, khái quát tình hình nghiêncứutrongnướcvànướcngoài liên quanđến chủ đề nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đi trước được tổng quan theo từng mảng vấn đề là: nghiên cứu lý luận về pháp luật ATTP trong hoạtđộngthương mại, thực trạng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềATTP trong hoạt động thương mại. Thứ hai, đưa ra những đánh giáđốivớicác công trình nghiêncứucó liên quan mà luận ánsẽkế thừa cũng như tiếp tục phát triển, bên cạnh đó chỉ rõ những hạn chế mà luận án cần tiếp tục triển khai nghiên cứu. Thứ ba, xác định các lý thuyết làm cơ sở cho hoạtđộng nghiên cứu. Các giả thuyết và câu hỏi nghiêncứu được xác lậpkhi thực hiện đềtài:“Pháp luậtvề an toàn thực phẩm trong hoạtđộngthươngmạiởViệt Nam”.
37
Chƣơng 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
VÀ PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TRONG HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI
2.1. Khái quát về an toàn thực phẩm trong hoạt động thƣơng mại 2.1.1. Khái niệm về an toàn thực phẩm
Từ khi con người bắtđầu xuất hiệntrên trái đấtđã cần đến thực phẩmđể duy trìsựsống. Ởmỗithờikỳkhác nhau, mỗiquốc gia hay vùng lãnhthổkhác nhaulạicó những loại thực phẩmđặc trưngcủamình. Tuy nhiên, thực phẩm hay còn gọi theo cách thông thường là thức ăn là bất kỳ thứ gì mà con người có thể ăn uống được. Thực phẩm bao gồm 3 nhóm chính là chất đạm, chất béo, và tinh bột. Trước đây, nguồn thực phẩmchủyếulà do con người săn bắt, hái lượm được. Khi con người biết trồng trọt, chăn nuôi thì nhiều loại thực phẩm khác nhauđãrađờiđểthỏa mãn nhucầutiêuthụthực phẩm ngày càng lớn. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì những thực phẩm tiện lợi
hơn như: thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm chức năng,… được sử dụng rộng rãi bởi chúng rất tiện ích, nhanh gọn và dễ sử dụng.
An toàn thực phẩm (food safety) là một khái niệm khoa học có nội dung rộng hơn khái niệmvệ sinh thực phẩm hay chấtlượngthực phẩm nóđược hiểu như khả năng không gây nguyhạicủa thực phẩmđốivớicon người. Nguyên nhân gây nguy hạiđối vớicon người có thể là do các tác nhân vi sinh vật, các chất hóahọchay các yếutốvậtlý. Khả năng gây nguyhạiđếncon ngườikhôngchỉở chính thực phẩm mà còn do quá trình trước thu hoạch. Theo nghĩa rộng hơn, ATTP cònđược hiểu là khảnăng cungcấpđầyđủvàkịp thời về số lượng và chất lượng thực phẩm khi quốc gia gặp thiên tai hoặc một lý do nào đó.
38
Trên thực tế, có nhiều khái niệm khác nhauvề“antoàn thực phẩm”. Theo pháp luật của Nhật Bản, khái niệm ATTP được hiểu làvệ sinh thực phẩm và đươc giải thích như sau: “ATTPđược hiểu là điềukiện vệ sinh liên quanđếnviệc tiêu dùng thực phẩmcủaconngườibaogồmthực phẩm, phụgia thực phẩm, dụngcụchế biến và baobì”(khoản 6, Điều4, Luậtvệ sinh thực phẩm năm 1947, sửa đổinăm 2005 của Nhật Bản). Địnhnghĩa này cónhắc tới việc tiêu dùng thực phẩm của con người nhưng vẫn chưa nêu rõ việc bảo đảman toàn sức khỏe cho con người khi tiêu dùng thực phẩm.
Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực – Nông nghiệp thế giới (FAO), ATTP được định nghĩa “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hạichongườitiêu dùng khi nóđượcchế biến hoặc/và dùng theomụcđích sử dụng của nó”[62,Tr5]. Theo định nghĩa này, ATTP là hoạtđộng bảođảmcho thực phẩm không tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng cảkhi chế biến và sử dụng. Định nghĩa tuy đã thể hiện tính khái quát hóa nhưng chưa chỉrõđượctácđộngcủa thực phẩm không an toànđốivớingườitiêu dùng, đólà gâyhạigì chongườitiêu dùng: sức khỏe, hay tính mạng, tinh
thần,…?
TheoTổchức Ytế thếgiới (WHO) và Tổchức Lương thực – Nông nghiệp thế giới (FAO) thì“An toàn thực phẩm là việc bảođảmthực phẩm không gây hạicho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảođảmthực phẩm khôngbịhỏng, không chứa các tác nhânvậtlý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”[65, Tr3]. Đây là khái niệm khá đầy đủ, tuy nhiên tính khái quát hóa chưa cao.
Theo trang Từ điển bách khoa toàn thực mở vi.wikipedia.org, khái niệm ATTP được đồng nhất với khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Theođó“Vệsinh an toàn thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩahẹplàmột
39
môn khoa học dùngđể môtảviệc xử lý, chế biến, bảoquản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnhtậtdo thực
phẩm gây ra…. Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộnhững vấn đề cần xửlý liên quan đến việcbảo đảm vệsinh đối với thực phẩm nhằmbảođảmcho sức khỏe của người tiêudùng”[85]. Theo cách hiểu này, ATTP được đánhđồngvớivệ sinh an toàn thực phẩm và được xem như làmột môn khoa học để giải quyết những vấn đề liên quanđến thực phẩmnhằm bảo đảmthực phẩm không gây ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng.
Theo cách hiểu trực tiếp và cơbảnnhất, ATTP là việc khôngđểthực phẩm có ảnh hưởng, gậyhạilên sức khỏe con người. Theo giải thích tại Luật an toàn thực phẩm năm 2010, “antoàn thực phẩm là việc bảođảmđể thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. (khoản 1, Điều 2, Luật ATTP năm 2010) Đây là khái niệm khá khái quát khi nó chứa đựng đầyđủnhững nội dung cốt lõicủa vấnđề về ATTP. Theo khái niệm này, ATTPđược hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện phápđể bảođảmthực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người. Trong luận án, “antoànthực phẩm”đượcđịnh nghĩa là việc bảođảm để thực phẩm không gây hạiđếnsức khỏe, tính mạng con người, địnhnghĩa nàyđồngnhất với khái niệm về an toàn thực phẩm trong Luật ATTP năm 2010.
Để biết thực phẩm có an toàn hay không,cầndựa vàomộtcơ sở hiểu biết có tính khoa học, cho phéptrả lờiđâu là an toàn, đâu là nguy hại, bởi vìcác chất độc có thể tích tụ trong cơ thể thời gian dài, ảnh hưởng đến sức khỏe một cách thầm lặng trước khi phát bệnh.
BảođảmATTP có nghĩa là những hành động của con người nhằm ngăn chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm không an toàn gây ra đối với con người, động thực vật. Cụ thể là: phòng ngừa các mối nguy vềan toàn và vệ sinh thực phẩm; kiểm tra, kiểm soát, xửlý các trườnghợpvi
40
phạm về VSATTP; và can thiệp để loạitrừhậu quả do thực phẩm gây nênđối với con người, môi trường và phát triển kinh tế – xã hội.
Như vậy, mục đích trực tiếp của việcbảo đảmATTP là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề ATTP còn có ý nghĩa to lớn hơn đó là vấnđề phát triển con người, vấnđề chấtlượngcuộc sống, vấnđề công bằng xãhội, vấn đề hội nhập quốc tế và văn hoá.
Trước hết, xétvề bình diện xã hội, ATTP liên quanđếnchấtlượnglaođộng của cả nềnkinh tế hiện tại và tương lai, duy trì và phát triển nòi giống của dân tộc. Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập hiện nay ATTPảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nềnkinh tế, đặcbiệt là nhữngnướcđang phát triển mà nguồn tíchluỹbanđầudựa chủyếuvào các nguồn lực tựnhiên. Các sản phẩm nông nghiệp và thuỷsảnbảođảmATTP là lợithế cạnh tranh của các nước này trong thươngmạiquốc tế, làm tăng khả năng tiếpcậnthịtrường. Thứ ba,bảođảmATTP còn có vai trò quan trọng trong việc tạomôi trường thuận lợi thu hút ngoại lực như đầu tư trực tiếp nước ngoài, du lịch, nâng cao hình ảnh quốc gia trong con mắt của người nước ngoài. Cuối cùng, ATTP còn liên quanđếncác yếutốvăn hoá – xã hội. Văn hoá ẩmthực của mộtvùng, một nước là di sản vô cùng quý giá góp phần cho phát triển.
2.1.2. An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại
Vấnđề ATTP được đề cậptrong nhiều lĩnh vực củađờisống xã hội, trongđócó lĩnh vực thương mại. VậyATTP trong hoạtđộngthươngmạilàgì?Để trả lờicho câuhỏinày, chúng ta cầntìm hiểu khái niệm“hoạtđộng thương mại”.
Thương mại, tiếng Anh là Trade, vừa có ý nghĩa là kinh doanh, vừa có ýnghĩa là traođổihàng hoá, dịch vụ. Ngoài ra tiếng Anh còn dùngmộtthuật ngữnữa là Business hoặc Commerece vớinghĩa là buôn bán hàng hoá, kinh doanh hàng hoá hay là mậudịch. Tiếng Pháp cũng cótừngữtươngđương
41
Commerce (tương đương với Business, Trade của tiếng Anh) là sự buôn bán, mậudịch hàng hoá, dịch vụ. Tiếng La tinh, thươngmạilà Commercium vừa có ý nghĩa là mua bán hàng hoá, vừa có ý nghĩa là hoạt động kinh doanh. Nhưvậy, khái niệm thương mại cần được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thịtrường, Thươngmạiđồngnghĩa vớikinh doanhđược hiểu là các hoạtđộngkinhtế nhằm mục tiêu sinhlờicủa các chủthể kinh doanh trênthịtrường. Đólà mọihoạtđộngnhằm mục đích sinh lợi, đồngnghĩa vớihoạtđộng kinh doanh. “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cảcác côngđoạncủaquá trìnhđầutư, từ sảnxuấtđếntiêuthụsảnphẩm hoặc cung ứng dịchvụtrênthịtrường nhằm mục đích sinhlợi”(khoản 16,Điều4, Luật Doanh nghiệp 2014). Hoạtđộngkinh doanh thực hiện trong nhiều lĩnh vực: sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ.
Như vậy, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất dướicác hình thức đầutư trực tiếp và đầutư gián tiếp, được điềuchỉnh bằng LuậtĐầutư, Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanhbấtđộngsản, Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác.
Theo nghĩa hẹp, Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá. Nếu hoạt động traođổi hàng hoá (kinh doanh hàng hoá) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (hoạt động xuất, nhập khẩu)
Theo Luật thương mại,“Hoạt động thươngmạilà hoạt động nhằm mụcđích sinh lợi, baogồmmua bán hàng hoá, cung ứng dịchvụ, đầu tư,xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1, Điều 3, Luật Thươngmại2005). Hoạtđộngthươngmạiđượcđịnhnghĩa theo Luật Thươngmạichỉtậptrung vào các hoạtđộngkinh doanh trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất.
42
Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Theo khoản 8, 9,Điều3, Luật Thương mại 2005: mua bán hàng hoá là hoạtđộngthương mại, theođóbên bán có nghĩavụgiao hàng, chuyển quyềnsởhữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩavụthanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyềnsởhữuhàng hoá theo thỏa thuận; Cungứngdịchvụ(Thươngmạidịchvụ)là hoạtđộng thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bênsửdụng dịchvụ(gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ vàsửdụng dịch vụtheo thỏa thuận.
Trên thựctế,thươngmạicóthểđượcphân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
– Theo phạm vi hoạt động, có thươngmạinộiđịa (nội thương), thương mạiquốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông
thôn, thương mại nội bộ ngành…
– Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá trình tái sản xuất xã hội, có thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại hàng sản xuất,
thương mại hàng tiêu dùng…
– Theo các khâu trong quá trình lưu thông, có thươngmạibán buôn, thương mại bán lẻ.
– Theo mức độcan thiệp của Nhà nước vào quá trình thương mại, cóthương mại tự do và thương mại có sự bảohộ.
– Theokỹthuật giao dịch, có thươngmạitruyền thống và thươngmạiđiện tử.[18]
Theo pháp luật thương mại, hoạt động thương mại có các đặc điểm sau:
+Vềchủthể: hoạtđộngthươngmạilà quanhệgiữa các thương nhân hoặc ít nhấtmộtbên là thương nhân,ngườithực hiện các hoạtđộngkinh
43
doanh thươngmạicó tính chất nghề nghiệp. Thương nhân baogồmtổchức kinh tếđượcthành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh(Điều6, Luật thươngmại). Ngoài ra, tham gia vào các hoạtđộngthươngmạicòn có các cá nhân hoạtđộngthươngmạimộtcáchđộclập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Không phải là thương nhân theo Luật thương mại). Như vậy, chủ thểcủahoạtđộngthươngmạithực phẩm là cáctổchức, các nhân tham gia vào việc mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng ứng dịch vụ liên quan đến
thực phẩm như: vận chuyển, bảo quản, đóng gói,… thực phẩm
+Vềmụcđích:Mụcđíchcủangườithực hiện hoạtđộngthương mại làlợinhuận
+ Vềnộidung: 02 nhóm hoạtđộng cơbản là mua bán hàng hoá và cungứng dịch vụ(thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ). Ngoài ra, các hình thứcđầutư nhằm tìm kiếmlợinhuận cũng là những hoạtđộngthương mại. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiêncứucủaluận án này, hình thứcđầutư này không được đặt ra.
Việc xem xét thương mại theo nhiều góc độ trên tuy mang tính tương đối nhưng có ý nghĩa trong việc xây dựng các chính sách thương mại nói chung, chính sách về ATTP nói riêng, trong đó có việc xây dựng pháp luật về ATTP trong hoạtđộngthương mại. Trong phạm vi nghiêncứucủa luận án này, nghiên cứu sinh tiếp cận khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp, theo đó, “hoạtđộng thương mại là quá trình mua bán hàng hoá và cung ứng dịchvụtrên thịtrường”, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá và dịchvụliên quanđến thực phẩm.
Như vậy, có thể hiểu“hoạtđộngthươngmạihàng thực phẩm là hoạtđộng mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng các dịch vụ liên quan đến thực phẩm trênthịtrường”. Thuậtngữ“hoạtđộngkinh doanh thực phẩm”
44
trong luận án nàyđược hiểuđồng nhất với khái niệm “hoạt động thương mại hàng thực phẩm”, thuậtnghữ “kinh doanh thực phẩm” được hiểulà việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng dịch vụ liên quanđến thực phẩm.
Như vậy, với cách hiểuvề “an toàn thực phẩm” và “hoạt động thương mai” như trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệmvề ATTP trong hoạtđộng thương mại như sau: An toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại là việc bảo đảm để thựcphẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người trong hoạtđộngmua bán hàng hóa là thực phẩm và cungứngdịchvụliên quan đến thực phẩm.
Hiểu một cách đơn giản, ATTP trong hoạt động thương mại là việc thực hiện những biện pháp nhằmbảođảmthực phẩm không gâyhại đếnsức khỏe và tính mạng của ngườitiêu dùng trongmộtsốhoặc tấtcả các hoạtđộng:
buôn bán, giới thiệu, bảo quản, vận chuyển,…
2.2. Pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thƣơng mại
2.2.1. Khái niệm pháp luật an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan
hệ xãhộido Nhànước ban hành, thể hiệnýchícủagiaicấpcầmquyền vàđược thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước.[14,Tr288]
Pháp luậtđược hiểulà tậphợpcủa những quy phạm hay quy tắc ứng xửđược nhà nước ban hành hoặc thừa nhậnvà bảo đảmthực thi. Pháp luật trước hếtlà những quyđịnhdo nhànước ban hành, thông qua nhữngthủtục chặt chẽ, tồn tại chủ yếu ở những văn bản pháp luật.[54]
Mục đích mà pháp luật ATTP hướng tới là bảo vệ sức khỏe, tính mạng và nhữnglợiích khác của ngườitiêu dùng. Pháp luật ATTP điềuchỉnh mối quan hệ phát sinh trong chuỗi cung ứng thực phẩm gồm: trồng trọt/chăn nuôi, thu hái/đánh bắt/khai thác, sơ chế/chế biến, bao gói,bảoquản, vậnchuyển,
45
giới thiệu, buôn bán thực phẩm. Như vậy, pháp luật ATTP là mộtlĩnh vực pháp luật chuyên ngành tập hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lýđiềuchỉnh các quanhệ xã hộiphát sinh giữa chủthểtrong quá trình các chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mại là một bộ phận của pháp luật ATTP, điềuchỉnh những quanhệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại thực phẩm. Như vậy, cóthểhiểu, pháp luậtvềan toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại là tập hợp những quy phạm do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hóa là thực phẩm và cung ứng dịch vụ liên quan đến thực phẩm.
Pháp luật về ATTP trong hoạt động thương mạiđược xác định là tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và bảođảmthực hiện. Đólànhững quy tắc, chuẩn mực chung mang tính bắt buộc phải thi hành đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan, và được ban hành bởi các cơ quan nhànước có thẩm quyền. Nhà nước sử dụng những thiết chế của mình để bảo đảm thực hiện nó trongđờisống xã hội. Khách thể của các quy phạm pháp luật này là những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại thực phẩm. Các quy phạm nàyđiềuchỉnh hành vi của các chủthể trong quá trình thực hiện mua bán hàng hóa và cung ứng dich vụ liên quan đến thực phẩm.
2.2.2. Nộidung pháp luậtvềan toàn thực phẩm trong hoạtđộng thương mại
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\PHÁP LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

