Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Pháp luật là công cụ để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và là phương tiện để thực thi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Do đó, việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề pháp luật nhằm luật hóa kịp thời và đúng đắn các mối quan hệ xã hội sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.
Trong những năm qua, pháp luật tốtụng dân sựViệt Nam đã có những bước hoàn thiện đáng kể, từ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 vàmới nhất là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cácvấn đề được luật điều chỉnh cũng ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệxã hội, trong đó có vấn đề về người đại diện của đương sự.
Đại diện là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như trong môi trường pháp lý. Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền tham gia tố tụng đểbảovệquyền và lợiích hợppháp của mình. Tuy nhiên, không phảibấtkỳtrường hợp nào đương sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền tố tụng đó. Vìnguyên nhânchủquan (như hạnchếvề năng lực hành vi, thiếu kiến thức pháp
luật…), nguyên nhân khách quan (như thời gian, vịtríđịa lý…)dẫntới việc đương sự không thể tự tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, đương sự cần có người đại diện thay mặt mình thực hiện các quyền tố tụng để đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bên cạnh đó, sự tham gia của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự thông qua việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự góp phần đảm bảoquyền con người, quyền tiếpcậncông lý của công dân cũng như góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, việc người đại diện của đươngsựtham gia tốtụng dânsựđãchứng minhvịtrí, vai trò quan trọng của họđốivớiviệcbảovệquyền và lợiích hợppháp của đươngsựcũng nhưgóp phần làm rõsựthật của vụviệc dân sự. Vì vậy, việc nghiêncứumộtcáchđầy đủ, chuyên sâu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là cần thiết. Thời gian qua,ởViệt Nam,vấnđềđại diện trong lĩnhvựcdânsựđã
đượcluật quyđịnhtrong nhiều văn bản pháp luật như: Bộluật Dân sự, BộluậtTốtụng dân sự, Bộluật Laođộng,Luật Doanh nghiệp, Luật Bảovệ
ngườitiêu dùng, Luật Hôn nhân và gia đình… Trong đó,nếu Bộluật Dân sựlà văn bản quy định chung nhất các nội dung về chế định đại diện thì Bộ luật Tố tụng dân sự là văn bản quy định về trực tiếp về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 là văn bản đầu tiên điều chỉnh tập trung các vấn đề về người đại diện của đương sự trongtố tụng dân sự. Sau đó, các vấn đềvềngườiđạidiệncủađươngsựtrongtốtụng dânsựtiếptụcđượchoàn thiện trongBộluậtTốtụng dânsựnăm 2004,BộluậtTốtụng dânsựnăm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, một số quy định về người đại diện của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi vẫn chưa đầy đủ, một số quy định còn thiếu tínhcụthể, rõ ràng dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế.
Bộluật Tốtụng dânsựnăm 2015đãcó nhiều quyđịnhmớivềngười đạidiệncủađươngsựtrongtốtụng dânsựnhư: Ngoài cá nhân,ngườiđại diện còn có thể là pháp nhân để đảm bảo sự phù hợp với quy định của Bộ luật Dânsựnăm 2015;Tổchứcđạidiện tậpthểlaođộnglàngườiđạidiện theo pháp luật chotậpthểngườilaođộngkhởi kiệnvụán laođộng,tham giatố
tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm;Tổchứcđạidiệntậpthểlaođộngđạidiện chongườilaođộngkhởi kiệnvụán laođộng,tham giatốtụng khiđượcngườilaođộng ủyquyền; Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng laođộng, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diệncủatổchứcđạidiệntậpthểlaođộngthaymặthọkhởi kiệnvụán laođộng, tham gia tố tụng tại Tòa án; Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ (chồng) do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình,đồngthời lànạnnhâncủabạolựcgia đình do chồng (vợ)củahọgây ra làmảnhhưởngnghiêm trọngđếntính mạng,sứckhỏe, tinh thầncủahọthì cha, mẹ, người thân thích là người đại diện (Khoản 1, 3, 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng nhấn mạnh người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự chỉ cóquyền, nghĩa vụ trong phạm vi đại diện của mình. Về chỉ định người đại diện
trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng mở rộng trường hợp chỉ định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ nêu trên, quy định về người đại diện củađươngsựtrongBộluật Tốtụng dânsựnăm 2015 vẫn còn có những vướngmắc,hạnchế, bấtcập cầntiếp tục nghiêncứunhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật trên thực tế như:
Thứ nhất, pháp luật tố tụng dân sự chưa có quy định cụ thể về điều kiện đểtrởthành ngườiđạidiệncủađươngsự. Trong khi đó, pháp luật của mộtsốnước trênthếgiớiđãđưara các điềukiện chung nhấtvềngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự, đặc biệt là đối với người đại diện của đương sự làpháp nhân. Việc quy định các điều kiện để trở thành người đại diện là khoa học, tránh đượcsựtùy tiện và góp phầnbảo vệtốthơn các quyền, lợi ích hợppháp của đương sự.
Thứ hai, một số quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sựcòn chưa cụ thể, bất cập dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn thực hiện như:vấnđềxác địnhngườiđạidiện theo pháp luật của ngườichưa thành niên trong trường hợp quyền và lợi ích của cha, mẹ của người chưa thành niên đối lập nhau; xác định người đại diện của người mắc bệnh tâm thần; xácđịnh người đại diện trong tố tụng dân sự của pháp nhân trong trường hợp điều lệ của pháp nhân quyđịnhcó nhiềungườiđạidiện theo pháp luật;thủtục và điềukiệnđểchỉđịnh người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; xác định tư cách tố tụng của doanh
nghiệp tư nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân…
Thứba, mộtsốquy địnhvềngườiđạidiện theoủy quyềncủađươngsựcòn chưa cụ thể, bất cập dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn thực hiện như: Hình thức ủyquyền, phạm viủyquyền, quyền kýđơnkhởi kiện của ngườiđạidiện theo uỷ quyền, vấn đề người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cóthểđồngthời là ngườiđạidiện theoủyquyềncủađươngsựtrongtốtụng dân
sự…Tất cả những hạn chế vướng mắc trên một phần xuất phát từ quy định của pháp luật không rõ ràng, khônghợplý nhưngmặtkhác xuất pháttừtrìnhđộnăng lực của một số tòa án và thẩm phán chưa tốt nên việc hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là cần thiết.
Thứtư, thực tiễn thực hiện pháp luậtvềxác địnhtư cách tốtụng của ngườiđạidiện chođươngsựvẫncòn những trườnghợpcó sai sót và vướng mắc: tình trạng các tòa án sai lầm trong xác định tư cách tố tụng của người đại diện của đươngsựhoặc không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụtốtụng của ngườiđạidiện của đương sự… dẫn đến hậuquảquyền và lợiích hợp pháp của đươngsựkhôngđượcbảovệ, bảnán, quyếtđịnh bịtòa án cấptrên hủy. Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia tốtụng của ngườiđạidiện của đươngsựlà người khởi kiệnđểbảovệquyền và lợiích hợppháp của ngườikhác như: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án laođộng trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động không hiệu quả.
Trên cơ sở những phân tích ở trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tàiNgườiđại diện củađương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu về lý luận và thực tiễn của luận án tiến sĩ luật học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các nội dung sau:
– Nghiên cứunhững các vấnđề lý luậnvềngười đạidiện của đươngsựtrong tố tụng dân sự;
– Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam vềngườiđạidiện của đương sự;
– Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sựtrong tố tụng dân sự Việt Nam.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về phạm vi nội dung nghiên cứu:
Ngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự có thể được nghiên cứu dướinhiều góc độkhác nhau như: Quanhệ pháp luậtđạidiện, pháp luậtvềngườiđạidiện trong tố tụng dân sự và hoạtđộng tố tụng của người đạidiện củađươngsự.Tuy nhiên, trong phạm vi nghiêncứuluận án, nghiêncứusinh tập trung nghiên cứu về ngườiđạidiện của đương sự trongtốtụng dân sựdướihai góc độ, đó là: Các quy định của pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong
tốtụng dân sự và thực tiễn thực hiện pháp luậtvề người đạidiệncủa đương sựtrong tố tụng dân sự. Vì luận án tập trung nghiên cứu người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sựdướigóc độ pháp luật và thực tiễn thực hiện nên các giải pháp luận án đưa ra tập trung chủ yếu vào vấn đề hoàn thiện pháp luậtvề ngườiđại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, luận án không nghiên cứu về các giải pháp nhằmbảo đảmthực hiện pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong tốtụng dân sự.
Luận án nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong giải quyết vụ án dânsự mà không nghiên cứuvề người đạidiện của đươngsự trong giải quyết việc dân sự, không nghiên cứu về ngườiđạidiện của đương sự trong thi hành án dân sự.
Thứ hai, về phạm vi thời gian nghiên cứu:
Một là, luận án tập trung chủ yếu vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành về ngườiđại diện của đương sự bằng việc: (i) phân tích, đánh giá ưu điểm và hạn chế, bất cập của các quy định pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự(ii) chỉ ra điểm mới của pháp luật hiện hành về người đại diệncủa đương sựtrongtốtụng dân sự. Luận án cóđề cậpđếnviệc nghiên cứupháp luậttốtụng dân sự nước ngoài và pháp luật tố tụng dânsựViệt Nam trước ngày 01/7/2016 nhằm luận giải cho các nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Hai là, trên cơ sở nghiên cứulý luận, thực trạng pháp luật, nghiên cứu sinh sẽ nghiêncứuthực tiễn thực hiện thông qua mộtsốbản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình huống thực tế trong đời sống xã hội, qua đó đánh giáquyđịnhpháp luật hiện hành, đồngthời đưara mộtsốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là:
– Làm sángtỏmộtcách có hệ thống những vấn đề lý luậnvề ngườiđại diệncủađươngsự trongtốtụng dân sự. Đặc biệt, xây dựng và hoàn thiện hơn
kháiniệm, đặcđiểm của ngườiđạidiện của đương sự trongtốtụng dân sự, xácđịnhcơ sở khoa họccủaviệc xây dựng pháp luậtvềngườiđạidiệncủađươngsựtrongtốtụng dânsự,nộidung pháp luậtvềngườiđạidiệncủađương sự trong tố tụng dân sự.
– Làm rõ những điểm hạn chế,bấtcập của pháp luậttốtụng dân sự Việt Nam hiện hành vềngườiđạidiện của đươngsự trongtốtụng dânsựvà những tồntại, vướngmắc trong thực tiễn thực hiện pháp luậtvề ngườiđạidiệncủa
đương sự trongtốtụng dân sự và chỉ ra những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó.
– Luận giải định hướng hoàn thiện pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, xây dựng được kháiniệm về người đạidiện của đương sự trong tốtụng dân sự, chỉrađược nhữngđặcđiểm của ngườiđạidiện của đươngsựtrong tố tụng dân sự.
Thứ hai, luận giải cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luậtvề ngườiđại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Thứ ba, luận giải nội dung pháp luật vềngười đại diện của đương sựtrong tốtụng dân sự.
Thứ tư, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự với các nộidung cơ bảnnhư: Xácđịnhngườiđạidiện của đươngsự trongtốtụng dân sự, phạm vi tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diệncủađươngsự trongtốtụng dânsự;những trường hợpkhôngđượclàm ngườiđại diện đươngsựtrongtốtụng dân sự, chấm dứtđạidiện và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự.
Thứ năm, luận giải rõ định hướng hoàn thiện pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay.
Thứ sáu,đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtvề ngườiđại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận
Trong suốt quá trình thực hiện luận án, các nội dung trong luận án đều được nghiên cứu sinh dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tưtưởngHồChí Minhvềnhànướcvà pháp luật, quanđiểmcủaĐảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì thế các kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luậtđều được xuất phát và thực hiện trên những quan điểm chỉ đạo đó.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, việc nghiên cứuđề tài luận án cònsử dụngcác phương pháp nghiên cứu phổ biến và điểnhình trong lĩnh vực luật học như:
Thứ nhất, phương pháp phân tích được sửdụng xuyên suốt luận án đểnhận thức từ chi tiết đến khái quát vấn đề nghiên cứu;
Thứ hai, phương pháp thống kê, tổnghợpnhằm liệt kê mộtcáchđầyđủcác công trình khoa học đã được côngbốtrước đây để tiếp thu các kiến thức, thành tựu đã đạt được về vấn đề nghiên cứu;
Thứ ba, phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong tốtụng dân sự.
Thứ tư, phương pháp so sánhđược sử dụngđể tìm ra sự tươngđồngvàkhác biệt giữa các quy định pháp luậtvề ngườiđạidiện của đươngsự trongtốtụng dân sựcủa một số nước và pháp luậttốtụng dân sự Việt Nam trước ngày 01/7/2016 nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về người đại diệncủađương sự trong tố tụng dânsựở Việt Nam.
Hệ thống các phương pháp nghiêncứunêu trên trong luận ánđược sửdụng linh hoạt, có sựkếthợpgiữa các phương pháp nghiêncứutùy theo từng nộidung nghiên cứu, từng vấnđềnghiêncứuvà từng phần nghiêncứuđược triển khai trên thựctế;do đó, các phương pháp nghiên cứuđược đồngthời sửdụng, có sự kết hợp chứ không áp dụng vào luận án một cách rời rạc, tách biệt.
5. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thốngvề ngườiđạidiện của đươngsựtrongtốtụng dân sự. Những đóng góp mới nổi bật của luận án thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, luận án đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về ngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự, đặc biệt là khái niệm,đặc điểmcủa người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự, cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự, nội dung pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự. Việc làm sáng tỏ những vấnđề lý luận này sẽ là cơ sở để tiếpcận các quy định của pháp luậttốtụng dân sựhiện hànhvề ngườiđạidiệncủađươngsự trongtốtụng dân sự, là địnhhướng cho các giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong tố
tụng dân sự.
Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quyđịnh pháp luậttốtụng dân sự Việt Nam về ngườiđạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện pháp luậtvề ngườiđạidiện của đương sự trong tốtụng dân sự từ 01/7/2016 đến nay, chỉ rõ những hạn chế,bấtcập trong các quyđịnhcủa pháp luậttốtụng dânsựvà nhữngtồntại, vướngmắc trong thực tiễn thực hiện pháp luậtvề ngườiđạidiệncủađương sự trongtốtụng dân sựtạicác Tòa án ở Việt Nam.
Thứ ba, luận án luận giải các địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề người đạidiện của đươngsự trongtốtụng dân sự, từ đógóp phần bảođảm quyềncon người, quyền tiếp cậncông lý của người dân, quyền bìnhđẳng của đương sự trong tố tụng dân sự, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự trong tố tụng dân sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặtlý luận, kếtquả nghiêncứucủa luận án cungcấpthêm cơ sở lýluận cho việc nghiêncứucác quyđịnhpháp luật, thực tiễn áp dụng vàđềxuất các giải pháp hoàn thiện các quy định về ngườiđạidiện của đương sự trong tốtụng dân sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, kết quả của luận án có thể sử dụng như một tài liệu phục vụ cho hoạt động thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại các tòa án, cũng như
giảng dạy, nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Kết quảnghiên của luận án cũng là tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
7. Kết cấu của luận án
Ngoàiphần mở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 2:Những vấn đề lý luận về người đạidiện của đương sựtrong tốtụng dân sự
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hànhvề người đạidiện của đương sựtrong tố tụng dân sự
Chương 4: Thực tiễn thực hiện, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về người đạidiện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan tới đề tài luận án

1.3. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài luận án
1.3.1. Đánh giákếtquảnghiên cứu vềmặtlý luận nhữngvấnđề liên quan tới người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
Các công trình nghiên cứu đã đưa ra, phân tích các khái niệm về người đại diện của đươngsựtrong TTDS. Tuy nhiên, mộtsốkhái niệm chưa phản ánhđược bảnchất của ngườiđạidiện của đương sựtrong TTDS là người“nhân danh”, “thay mặt” đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bên cạnh đó, các công trình nghiêncứucũngđã chỉra các đặc điểmcủa ngườiđại diện của đương sự trong TTDS. Tuy nhiên, có những đặc điểm đưa ra chưa hoàn toàn chính xác như: người đại diện theo pháp luật của đương sự có cácđặc điểm tương tự như đương sự. Trong khi đó, người đại diện theo pháp luật của đương sự và đương sự là hai chủ thể khác nhau. Đặc điểm đặc trưng của đương sự là cóquyền và lợi ích hợp pháp bị tranh chấp hoặc có yêu cầu, còn người đại diện của đương sự là người không có lợi ích bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Hoặc việc đưađặc điểm người đại diện là “cá nhân” cũng không phù hợp với quy định của BLTTDS năm 2015. Bởi vì, theo Bộ luật này thì pháp nhân cũng là một chủ thểcủa người đại diện của đươngsự trong TTDS, chứ không chỉ là “cá nhân”. Hoặc có tác giả khẳng định người đại diện là “cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức để khởi
kiện…” là chưa chính xác. Bởi vì, theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì cónhững người đại diện cho đương sự chỉ đơn thuần là tham gia tố tụng để trả lời về những vấn đềliên quan đến quyền và lợiích hợp pháp của mình như người yêucầutrong việc dânsự/ngườicó liên quan trong việc dânsựhoặc chỉlà bịđơn trong vụ án… chứ không thực hiện việc khởi kiện.
Vềphân loạingườiđạidiện, các công trình nghiêncứuđềuchỉra rằng:
trong TTDS có nhiều cách phân loạingườiđạidiệncủa đươngsựvà mỗicách phân loại có những ý nghĩa riêng biệt. Mỗi cách phân loại đưa lại những góc độnhận thức khác nhau về khái niệm người đại diện, tùy vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn cách phân loại phù hợp. Theo các tác giả, dựa vào các tiêu chí sauđể phân loại người đại diện của đương sự:Một là, dựa vào vị trí của người được đại diện có thể phân ra thành ba loại người đại diện của đương sự là:người đại diện cho nguyên đơn, người đại diện cho bị đơn và người đại diện cho người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Hai là, dựa vào chủ thể được đại diện có thể phân ra thành hai loại người đại diện của đương sự là: người đại diện cho cá nhân và
ngườiđại diện cho cơ quan, tổchức; Ba là, dựa vào cơ sởtham gia tốtụng cóthểphân thành ba loạingườiđạidiện của đươngsựgồm: ngườiđạidiện theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định và người đại diện theo ủy quyền.2 Bốn là, dựa vào ý chí của đương sự để phân ra thành người đại diện theo pháp luật và ngườiđạidiện theoủyquyền. Đâycũng là cách phân loại thường gặp nhất trong các công trình, tài liệu nghiên cứu về chế định đại diện nói chung vàngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS nói riêng. Việc phân loạingườiđại diện có ý nghĩa trong việc xác định căn cứ tham gia tố tụng của người đại diện của đươngsựtrong TTDS. Từđóxácđịnhcác quyền và nghĩa vụtốtụng của ngườiđạidiện của đươngsự. Vớinhiều cách phân loại như vậy, cầntiếp tục nghiên cứu làm rõ người đại diện do Tòa án chỉ định là người đại diện theo pháp luật hay đây phải được xem là một loại đại diện tương đương với đại diện theo pháp luật/đại diện theo ủy quyền. Nếu xem là một loại riêng biệt thì cần phải xây dựng cho loại người này một tiểu chế định như đối với người đại diện theo pháp luật và ngườiđạidiện theo ủy quyền. Do đó, việc luận giảiđểlựa chọn hướng nghiên cứu về việc phân loại người đại diện của đương sự một cách khoa học vàđúng đắn nhất là nhiệm vụ đặt ra đối với nghiên cứu sinh.
Vềcơsởkhoa học và thực tiễn, các công trình nghiêncứucũng đã tìm hiểu, nghiêncứu đểlý giải cho việc rađờinhững quyđịnhvềngườiđạidiện của đương sự trong TTDS. Tuy nhiên, ngoài thống nhất về xuất phát điểm của việc xây dựng quy định phápluật về người đại diện của đương sự làđảm bảo quyền tiếpcậncông lý;đảmbảoquyềntựđịnhđoạtcủađươngsự;bảovệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì vẫn còn có những cơ sở chưa thống nhất,cầnđượcđánh giá, phân tíchmộtcách thấu đáo như:mốiliênhệgiữa pháp luậtnộidung và pháp luật TTDS;đảmbảođiềuchỉnh phùhợpđốivới từng loạiđạidiện… Hiện nay giữa luậtnộidung và luật TTDS còn có nhiều điểmchưa tương thích trongchế định đại diện dẫntớikhó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Vì vậy, việc làm rõ những cơ sởnày sẽgóp phầntạocăncứhoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, việc đánh giá nên theo hướng nhóm các quyền được đảm bảo của đương sự trong TTDS qua quyđịnh về người đại diện sẽ mang tính tổng quát, toàn diện hơn. Mặt khác, các tác giảcũng chưachỉra việc xây dựng quyđịnhvềngườiđạidiệncủađươngsự
2 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, trang 116.
còn xuất phát từ việc nâng cao trách nhiệm của cha, mẹ, người giám hộ với con chưa thành niên,ngườimất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức và làmchủhành vi và trách nhiệm của xãhộiđốivớinhững ngườiyếuthếcũng như trách nhiệm của người đứng đầu pháp nhân đối với pháp nhân. Đồng thời, cơ sở khoa học của việc quy định về người đại diện theo ủy quyền trong TTDS phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận của đương sự.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc tiếp tục nghiên cứu để làm sáng
tỏ đầy đủ các vấn đề lý luận của người đại diện của đương sự trong TTDS vẫn rất cần thiết để thống nhất cách nhìn nhận, dẫn đường cho việc thực thi đúng đắn các quy định của pháp luật.
1.3.2. Đánh giákếtquảnghiên cứuvềthực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành và phương hướng hoàn thiện vềngười đại diện của đươngsự trong tố tụng dân sự
Tìm hiểu về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS, các tác giả phần lớn nghiên cứu trên các phương diện như: Xác định người đại diện; Phạm vi tham gia tố tụng; Quyền và nghĩa vụ
tố tụng; Chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý.
Vềthực trạng pháp luật,mộtsốcông trình nghiên cứu đặtcâuhỏivềviệc BLTTDS 2004đãquyđịnhvềtrườnghợpthực hiệnchỉđịnhngườiđại diện cho đương sự khi đương sự “là người bị hạn chế NLHVDS, mà không cóngười đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trườnghợpquyđịnhtạiKhoản 1Điều75củaBộluật TTDS”.Vậyđốivới người mất NLHVDS, người vắng mặt không có tin tức mà không có người đại diện hoặcngườiđạidiện theo pháp luậtcủahọthuộcmộttrong các trường hợpquyđịnhtạiKhoản 1Điều75 BLTTDS thì Toà án cóđượcchỉđịnh người đại diện để tham gia tố tụng tại Toà án hay không? Hay vấn đề đương sự là người mù thì có bắt buộc phải có người đại diện hay không? Hay trường hợp cha, mẹ của người mất năng lực hành vi TTDS có được đại diện cho con mình làmđơnly hôn không?Mộtsốcâuhỏiđặtra nàyđãđượcgiải quyết thoả đáng như trườnghợpđươngsựmất NLHVDSđãđượcbổsung là một trong những trườnghợpđểTòa ánchỉđịnhngườiđạidiện trong BLTTDS
2015, trườnghợpvềcha,mẹđạidiện cho conbịtâm thầnđểlàmthủtụcly hôn cũng đã được quy định tại Điều 51, Luật HNGĐ năm 2014.
Tuy nhiên, một số vấn đề sau sẽ phải tiếp tục nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện, đó là: Trường hợp người vắng mặt không tin tức mà không cóngườiđạidiện hoặc ngườiđạidiện theo pháp luật của họthuộc mộttrong các trườnghợpquyđịnhtạiKhoản 1Điều75 BLTTDS? Trườnghợpđươngsựlà người có nhược điểm về thể chất tới mức không thể tham gia tố tụng (như người bị mùcả hai mắt, bị điếc cả hai tai) thì có bắt buộc phải có người đại diện hay không? Trường hợp đương sự là cá nhân không có NLHVDS, không có giám hộđương nhiên và chính quyền địa phương cũng không cử giám hộ và Toà án cũng không có quyền chỉ định người giám hộ thì xác định người đại diện như thế nàođể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự?
Về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện củađươngsựtrong TTDS, các tácgiảđã đềcậptới những sai sót, vướngmắc, bất cập trong xácđịnh địa vị pháplý như xác định sai nguyên đơn, bị đơn dân sự do nhầm lẫn tư cách của người được đại diện và người đại diện theo pháp luật.Đólà phải xác định người được đại diện là nguyên đơn thì trên thực tế không ít bản án đã xác định người đại diện là nguyên đơn. Hoặc đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức phải được xác định là nguyênđơnhoặc bịđơnchứkhông phảingười đạidiện theo pháp luật của cơ quan, tổchức đó là nguyên đơn hoặc bị đơn. Ngoài ra, các tác giả cũng dẫn chứng những trường hợp Tòa án vẫn chấp nhận người đại diện của đương sự thuộc một trong các trường hợp không được làm người đại diện của đương sự quy định tại Điều
87 BLTTDS năm 2015 như là kiểm sát viên, công an… Bên cạnh đó, các tácgiảcũng chỉ ra những bất cập về căn cứ xácđịnh cánhân bị mất NLHVDS dẫn tới khó khăn trong việc chỉ định người đại diện cho đương sự. Thực tế này dẫn tới hậu quả là các đương sự này khi tham gia các vụ việc dân sự không thể tự bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụcủa ngườiđạidiện theo quyđịnhcủa pháp luật, các tácgiảcũng cóýkiến cho rằngmộtsốngườiđạidiện không nhận thức được vai trò, nhiệm vụcủa mình nên không tích cực tham gia tố tụng, thực hiện không đúng, không đầy đủquyền và nghĩa vụ tố tụng của mình hoặc có những hành vi cản trở, trì hoãn hoạt độngtốtụng như cốtình không cómặtđầyđủtheo giấy triệutậpcủa Toà án,
không tuân thủ nội quy phiên toà… Hoặc việc một số Tòa án đã không thực sựtôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện của đương sự như không tôn trọng thỏa thuận của họ, không tôn trọng quyền yêu cầuthayđổi ngườitiến hànhtốtụng, tranh luận tại phiên tòa… Hoặc việc chấp nhận hay không chấp nhậnlờikhai của đương sự/ngườiđạidiện của đươngsựkhi có sự mâu thuẫn về cùng một nội dung liên quan đến vụ việc dân sự? Về vấnđề chấm dứt đại diện của đương sự cũng được các tácgiả chỉ ra những vi phạm trong thực tiễn xét xử như việc Toà án vẫn tiếp tục triệu tập cha,mẹ của đương sự tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo pháp luật của đương sự khiđương sự đã thành niên hoặc năng lực hành vi đã được khôi phục3
Liên quan tới cơ sở tham gia tố tụng của người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS, các tác giả đã nêu một số hạn chế, bất cập như sự chồng chéo, chưa thống nhấttạiĐiều107 và 109 BLDS năm 2005 trong quyđịnhvềđạidiện của hộgia đìnhdẫntớikhó khăn trong việc xácđịnhngườiđạidiện trong TTDS. Hoặc vềviệc xácđịnhtínhhợpphápvềhình thức của đơnkhởi kiện dongườiđạidiện theo ủyquyềnđứngđơnkhởi kiện, vềxácđịnhgiá trịpháp lý của văn bản uỷ quyền. Bên cạnh đó, luật quy định chưa rõ ràng về việc người đại diện theo ủy quyền có được tiếp tục ủy quyền lại cho người khác tham gia tố tụng hay không, do đó, thực tiễn áp dụng cũng có vướng mắc: có tổ chức hành nghề công chứngvẫnthực hiện công chứnghợpđồngủyquyềnlạitừngườinhận ủyquyềnđầutiên sangngườinhận ủyquyềnthứhai. Hay trong trường hợp ly hôn, đương sự có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa phúc thẩm nếuhai bênchỉcòn tranh chấpvềphần tàisảnchung hay không?4 Trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn, việc dân sự thuận tình ly hôn, có Tòa án chấp nhậnsựtham gia tốtụng của ngườiđạidiện theoủy quyền trong việc giao nộp và nhận các giấy tờ pháp lý liên quan, giải quyết các quan hệ tài sản nhưng có Tòa lại không chấp nhận. Thực tiễn nhiều vụ việc cho thấy, nhiều trường hợp vượt quá phạm vi đại diện nhưng tòa ánvẫnchấp nhận như việc nộidungủyquyềnchỉđược thaymặttrảlờichấtvấnnhưnglạichấp nhận cho người đại diện của đương sự được định đoạt tàisản là vượt quá thẩm
quyền đại diện…
3 Trần Vũ Toàn (2013), Luận văn Thạc sĩ Luật học “Người đại diện trong pháp luật TTDS hiện nay ở Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 77.
4 Trần Thị Hường (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học “Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDSVN”, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 59.
Về phương hướng và giải pháp hoàn thiện các bất cập, vướng mắc, các tác giả đưara một số kiến nghị như gộp khoản 1 và khoản 2 Điều 75 BLTTDS thành mộtđiềukhoản; sửa đổi, bổsung quyđịnhvềchỉđịnhngườiđạidiện trong TTDS đốivới ngườimất NLHVDS, bịhạnchếNLHVDS hoặc là ngườivắng mặt không có tin tức mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luậtcủahọthuộcmộttrong các trườnghợpquyđịnhtạikhoản 1Điều75 của BLTTDS 2004; quyđịnhyêucầuchỉđịnhngườiđạidiện quản lý tàisảncho người bị tuyên bố mất tích là một trong những yêu cầu về dân sự độc lập với yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Ngoài ra, để rõ ràng hơn về tư cách của người đại diện do Tòa án chỉ định là đại diện theo pháp luật hay là một dạng cụ thể của ngườiđạidiện theo pháp luật, có tácgiảcũng kiến nghịsửađổiĐiều73 BLTTDS năm 2004 theohướngquyđịnhngườiđạidiện theo pháp luật gồm người đại diện đương nhiên và người đại diện do TAchỉ định.Bên cạnh đó, các tác giả cũng kiến nghị quy định về chỉ định người đại diện của đương sự nếu cácđươngsựlà ngườikhông có NLHVDS, mấtNLHVDS, bịhạnchếNLHVDS hoặc người vắng mặt không có tin tức thì thẩm phán được giao giải quyết vụ án (nếu trước khi mở phiên toà) hoặc Hội đồng xét xử (nếu phiên toà đã mở) phải
chỉ định người đại diện của đương sự tham gia tố tụng tại Toà án… Đồng thời, các tác giả cũng đặt ra vấn đề về tiêu chuẩn người đại diện do Toà án chỉ định hay thủ tục chỉ định người đại diện để tránh những tranh chấp, phản đối nảy sinh từ việc chỉ định. Liên quan tới vấn đề đại diện theo uỷ quyền, các tác giả cũng đềxuất các giải phápvềviệc đạidiện theoủyquyền tham gia TTDS của hộgiađình5, vềbổsung quyđịnhxácđịnhgiá trịpháp lý của văn bản ủyquyền6, về
sửa đổiquyđịnhhình thức ủyquyền trong TTDS7, vềsửa đổiquyđịnhvềđại diện theo ủy quyền để giải quyết phần tài sản trong việc ly hôn, trong việc dân sự thuận tình ly hôn, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật8.
Nhìn chung, các nội dung về xác định người đại diện; phạm vi tham gia tố
tụng; quyền và nghĩa vụ tố tụng; chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý của người
5 Nguyễn Thị Nhã (2013), Luận văn Thạc sĩ Luật “Hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự ởViệt Nam hiện nay”, trang 84
6 Trần Thị Hường (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học “Người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDSVN”, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 64.
7 Nguyễn Duy Phương, “Hoàn thiện các quy định về đại diện theo ủy quyền trong TTDS”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 9/2015.
8 Lê Hùng Nhân (2012), Luận văn Thạc sĩ Luật học “Đại diện theo uỷ quyền trong TTDS Việt Nam”,Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 78.
đại diện đã được các tác giả trình bày khá đầy đủ theo quy định tương tự của mỗi giaiđoạn,mỗiBLTTDS. Tuy nhiên, có nhữngvấnđềđặtra,đềxuất nhưng vẫn chưa được tiếp thu. Mặt khác, thực tiễn cuộc sống luôn là minh chứng sống động chosựphù hợp/không phù hợp,vướngmắc,bấtcậpcủacác quyđịnhpháp luật điều chỉnh các vấn đề xã hội. Do đó, bên cạnh việc tiếp thu kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố, để có cái nhìn sâu hơn, tổng hợp, bao quát hơn, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu đan xen giữa các quy định chung của BLTTDS và các quyđịnh của luật chuyên ngành có liên quan như Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và một số văn bản pháp luật khác, đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện các quyđịnh pháp luậtvềngườiđạidiện của đương sự trong TTDS để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật có liên quan.
1.4. Định hướng nghiên cứu của luận án
Kế thừachọn lọc các kết quả nghiên cứu trên đây, luận án nghiên cứu vềngườiđạidiện của đương sự trong TTDS Việt Nam một cách sâu sắc,đầy đủ và toàn diện bảo đảm tính khoa học và tính hệ thống với những câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và kếtluận sơ bộmộtsốvấnđề,thông qua 07 (bảy) câu hỏinghiên cứu sau đây:
1.4.1. Những vấn đềlý luận vềngười đạidiện củađươngsự trong TTDS Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 1: Kháiniệm, đặcđiểm của người đạidiện của đương sự trong TTDS? Mối quan hệ giữa đương sự- người đại diện của đương sự- Tòaán trong TTDS?
Giảthuyết nghiêncứu1: Khái niệm, đặcđiểm của người đạidiện củađương sự trong TTDS đã được nêu ra trong một số công trình nghiên cứu có liên quan song vẫn chưa thực sự đầy đủ, toàn diện, vẫn còn có một số quan điểm tiếp cận, nghiên cứu khác nhau.
Kếtquả nghiên cứu 1: NCSsẽluận giải rõ hơn khái niệm, đặcđiểm của ngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS. Luận giải cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa đương sự – ngườiđại diện của đương sự- Tòa án trong TTDS.
Câu hỏi nghiên cứu 2: Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về người đại diện của đương sự trong TTDS?
Giả thuyết nghiên cứu 2: Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về người đạidiện của đương sự trong TTDS đã được nêu ra trong một số công
trình nghiên cứu có liên quan. Tuy nhiên, cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy địnhvềngười đạidiện củađươngsự trong TTDS vẫn chưađượcluận giải cụ thể trên cơ sở các lý thuyết đã được thế giới thừa nhận.
Kết quả nghiên cứu 2: NCS sẽ luận giải để làm rõ cơ sở khoa học của việc quy định về người đạidiện theo pháp luật trong TTDS dựa trên các học thuyết đã được thế giới thừa nhận như: Học thuyết bảo đảm quyền tiếp cận công lý, học thuyết về tự do ý chí, học thuyết về bảo đảm công bằng xã hội và học thuyết vềnhà nước và pháp luật.
Câu hỏi nghiên cứu 3: Nội dung pháp luậtvề người đạidiện của đương sựtrong TTDS?
Giả thuyết nghiên cứu 3: Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật nước ngoài vàpháp luật TTDS Việt Nam về người đạidiện của đương sự,luận án sẽ chỉ ra những nội dung pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS.
Kếtquảnghiêncứu3: Luận án sẽchỉra nhữngnộidung pháp luậtvềngườiđạidiệncủađươngsựtrong TTDS như: Xácđịnhngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS, căncứphát sinh, phạm vi tham gia tốtụng, quyền vànghĩa vụtốtụng của ngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS, chấm dứtđại diện và hậu quả của chấm dứt đại diện trong TTDS.
1.4.2. Những vấn đềvềthực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện vềngười đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luậtcủađương sự trong TTDS Việt Nam và thực tiễn thực hiện, bao gồm các nội dung về xácđịnh người đạidiện theo pháp luật của đương sự trong TTDS, phạm vi tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấm dứt và hậu quả chấm dứt người đại diện theo pháp luật của đương sự trong TTDS ?
Giảthuyết nghiêncứu4: Luận ánsẽđánh giá toàn diện quyđịnhcủa BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, LuậtĐấtđai năm 2013 và các vănbảnpháp luật khác cóliên quan và thực tiễn thực hiệnvềngườiđạidiện theo pháp luậtcủađương sự trong TTDS.
Kết quả nghiên cứu 4: Luận văn sẽ chỉ ra những điểm mới và những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật hiện hành về người đại diện của đương sự trong TTDS, đặc biệt là xác định người đại diện cho người chưa thành niên, đại diện cho
hộgia đình, dònghọđốivớicác tranh chấp liên quanđếnđấtđai,đạidiện cho người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; xácđịnh phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật đối với phần về tài sản trong vụ án ly hôn và các tranh chấp về tài sản gắn liền với nhân thân khác gắn liền với tài sản; chỉ ra những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật về quyền vànghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong TTDS, đặc biệt là quyền hòa giải trong vụ án ly hôn; chỉ ra những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật về chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý đối với người đại diện theo pháp luật trong TTDS.
Câuhỏinghiên cứu5: Thực trạng pháp luậtvề ngườiđạidiện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS Việt Nam và thực tiễn thực hiện, bao gồm các nội dung về xácđịnh ngườiđạidiện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS, phạm vi tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ tố tụng, chấm dứt và hậu quả chấm dứt ngườiđại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS ?
Giảthuyết nghiêncứu5: Luận ánsẽđánh giá toàn diện quyđịnhcủa BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan và thực tiễn thực hiện về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong TTDS.
Kết quả nghiên cứu 5: Luận văn sẽ chỉ ra những điểm mới và những điểm cònhạnchếbấtcậpcủa pháp luật hiện hànhvềngườiđạidiện theo ủyquyền trong TTDS, đặc biệt là các hình thức ủyquyền như giấy ủyquyền, ủyquyền thường xuyên và ủy quyền theo vụ việc trong doanh nghiệp; chỉ ra những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật về người đại diện theo pháp luật trong TTDS,đặc biệt là xác định phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện theo ủy quyền đối với các vụ án liên quan đến quyền nhân thân như các vụ án về HN&GĐ, đối với phần về tài sản trong vụ án ly hôn và các tranh chấp về tài sản gắn liền với nhân thân khácgắnliềnvớitài sản, các việc tuyênbốmấttích hoặc đã chết, tuyênbốmộtngườilà mấthoặc hạnchếNLHVDS, tuyên bốmộtngườilà cókhó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; chỉ ra những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền trong TTDS và về mối liên hệ giữa việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đương sự và người đại diện theo ủy quyền trong quá trình TTDS; chỉ ra những điểm còn hạn chế bất cập của pháp luật về chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lýđối với người đại diện theo ủy quyền trong TTDS.
1.4.3. Những vấn đề vềđịnhhướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trongtố tụngdân sự Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu 6: Định hướng hoàn thiện pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong TTDS Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu 6: Trên cơ sở tiếp thu các kết quả nghiên cứu của các công trìnhđã công bố, nghiêncứunộidung chương 1, 2, 3 và mục 4.1 Chương 4, luận ánsẽluận giải địnhhướnghoàn thiện pháp luậtvề ngườiđại diện của đương sự trong TTDS Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu 6: Định hướng hoàn thiện phápluật về người đại diện của đương sự trong TTDS Việt Nam phải giải quyết được các vấn đề như: Pháp luậtvềngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS phảiđảm bảotínhđồngbộ, thống nhất, khả thi giữa các quy định của pháp luật TTDS với pháp luật nội dung như BLDS năm 2015, Luật HN&GĐ, Luật Doanh nghiệp; Pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong TTDS phải bảo đảm việc bảo vệ tốt nhất các quyền và lợiích hợppháp của đươngsự; Pháp luậtvềngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS phải giải quyếtđược mốiquanhệgiữa đươngsự-ngườiđạidiện của đương sự- Tòa án trong quá trình TTDS; Pháp luậtvềngườiđạidiện của đương sự trong TTDS phải khắc phục được những hạn chế, bất cập của pháp luật TTDS và những khó khăn vướngmắc trong quá trình thực hiện pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong TTDS.
Câu hỏi nghiên cứu7: Giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề người đạidiện của đương sự trong TTDS Việt Nam?
Giảthuyết nghiêncứu7: Luận án nghiêncứuviệc hoàn thiện pháp luậtvềngười đại diện của đương sự trong TTDS trên cơ sở việc nghiên cứu những vấn đềlý luận về người đại diện của đương sự trong TTDS, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong TTDS.
Kếtquảnghiên cứu7: Các giải pháp hoàn thiện pháp luậtvềngườiđại diện của đương sự trong TTDS Việt Nam tập trung vào những vấn đề như: Hoàn thiện pháp luật về xácđịnh người đạidiện của đươngsựtrong TTDS, phạm vi tham gia tốtụng, quyền và nghĩa vụtốtụng của ngườiđạidiện của đương sựtrong TTDS, về hình thức ủy quyền và những trường hợp không được làm người đại diện của đương sự trong TTDS.
KẾTLUẬN CHƯƠNG 1
Thời gian qua, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật TTDS Việt Nam nói riêng đã có những bước hoàn thiện đáng kể. Sự phát triển có thểthấy rõtừ PLTTGQCVADS năm 1989đếnBLTTDS năm 2004, BLTTDSsửađổi năm 2011 và mới nhất là BLTTDS năm 2015.
Qua các vănbảnluật, các vấn đề được điều chỉnh ngày càngđược mởrộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ xã hội, trong đó có vấn đềvề người đạidiện củađương sự.Chế định đại diện từ những quy định khái quát
ở BLTTDS năm 2004 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong BLTTDS sửa đổi năm 2011 và mới nhất là ở BLTTDS năm 2015.
Mặc dù những nghiên cứuvềngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS chưa thực sựnhiều nhưng cũngđã có nhữngkếtquảnhấtđịnhvềmặtlý luận, thực trạng và thực tiễn thực hiện. Qua việc nghiêncứutổng quátvềngườiđại diện của đương sự trong TTDS nói chung và TTDS Việt Nam nói riêng cho thấy vịtrí, vai trò và tầmquan trọng của hoạtđộngđạidiệnđốivớiviệc bảovệquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ việc dân sự.
Quyđịnhcủa pháp luật TTDS Việt Nam vềvấnđềngườiđạidiện của đươngsựtrong TTDS đã ngày càngbắtkịpxuthếvà sựphát triểncủaxã hội nhưng cũng còn những vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện. Vì vậy, việc nghiên cứumộtcách toàn diện, chuyên sâuvềcácvấnđềlý luận liên quanđếnngười đạidiện của đươngsựtrong TTDS cũng như nghiêncứuthực trạng, thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật hiện hành liên quan tới vấn đề này vẫn rất cần thiết làm tiền đề cho việc bổ sung, hoàn thiện các chế định pháp luật.
CHƯƠNG 2
NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1. Khái niệm,đặc điểmngườiđại diện củađương sự trongtốtụng dân sự
2.1.1. Kháiniệm người đại diện củađương sự trongtốtụng dân sự
Đểhiểu rõ khái niệm “ngườiđạidiệncủađươngsựtrong TTDS Việt Nam” cần làm rõ một số khái niệm liên quan như: TTDS, đương sự trong TTDS, đại diện.
– Quan niệm về TTDS:
Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án vàthi hành án dânsự9. Giáo trình Luật TTDS củatrườngĐạihọcLuật Hà Nội cũng có quan điểm tương tự: “Trong khoa học pháp lý, trình tự do pháp luật quyđịnhcho việc giải quyếtvụviệc dânsựvà thi hành án dânsựđược gọilàTTDS“10. Với quan niệm này thì TTDS bao gồm cả trình tự, thủ tục giải quyết vụviệc dânsựvà thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, quanđiểm khác lạicho rằng, TTDS chỉbao gồm trình tự, thủtục giải quyếtvụviệc dânsựtại toà án màkhông bao gồm thủtục thi hành án dân sự. Tốtụng là quá trình tiến hành giải quyết cácvụán theo quyđịnhcủa pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giaiđoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất vàxétxửlà giaiđoạncuối cùng của quá trìnhtốtụng cho nên bản án, quyếtđịnh của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng.11
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, NCS không luận giải về vấn đề thi hành án dân sựcó phải là mộtgiaiđoạncủa TTDS hay không, cũng không nghiêncứuvềngườiđạidiện của đương sựtrong thi hành án dân sựmà chỉnghiên cứu vềngườiđạidiện của đươngsựtrong quá trìnhtốtụng diễn ra tại Tòa án. Theo đó, TTDS trong phạm vi nghiên cứu của luận án là quá trình giải
9 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr785 10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật TTDS, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.11
11 Thử bàn mấy vấn đề lí luận về thi hành án. http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/16
quyết tranh chấp, yêu cầu dân sự tại tòa án. Quá trình này bắt đầu từ khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức và kết thúc khi Tòa án giải quyết xong vụ việc (khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành và không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hay kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm).
Ở Việt Nam, trước BLTTDS năm 2004, thủ tục TTDS được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (viết tắt làPLTTGQCVADS), theo đó, TTDS là trình tự thủ tục giải quyết các vụ án dân sự(theo nghĩa hẹp), các vụ án về HN&GĐ tại tòa án. Thủ tục TTDS được phân biệt với thủ tục tố tụng kinh tế (thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế) được quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (viết tắt làPLTTGQCVAKT) vàthủtục lao động(thủ tục giải quyết các vụán lao động) được quyđịnhtạiPháp lệnhThủtục giải quyết các tranh chấp lao độngnăm 1996 (viết tắt là PLTTGQCTCLĐ). BLTTDS năm 2004 đã nhập các thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, vụ việc HN&GĐ, vụ việc kinh doanh, thương mại, vụviệc lao động thành một thủ tục chung, gọi là thủ tục TTDS (thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng), bao gồm thủ tục giải quyết vụ án dânsự vàthủ tục giải quyết việc dân sự.
– Quan niệm về đương sự trong TTDS:
Trong khoa học pháp lý, đương sự được hiểu là “cá nhân, pháp nhân, hộgia đình, tổ hợp tác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình”12.
Trong lĩnh vực dân sự, quyền, lợi ích của các bên được xem như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự. Tranh chấp pháp lý sẽ không thể xuất hiện, nếu không có yêucầukhởi kiệncủacác bên13. Khởi kiện là hành viđầutiên của các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơsởpháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS14. Việc xem xét, thụ lý yêu cầu khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dânsự của các chủ thể đã được phápluật ghi
12 Từđiểnthuật ngữLuật học (1999),(Luật Dânsự,Luật HN&GĐ, Luật TTDS),trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, tr 194.
13 Cambridge Studies in International and Comparative law (2000), On Civil Procedure, J.A.Jolowicz; p70.
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, HàNội; tr 241.
nhận15. Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc dân sự sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụcủacácchủthểtham gia vào quá trình TTDS và các cá nhân, cơ quan,tổchức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự trở thành nhữngngườitham gia TTDS vàđượcgọilàđươngsự.Hay nói cách khác,đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự được tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự. Quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các đương sựchính là đối tượng mà Tòa án xem xét, giải quyết. Thông thường, các đương sựtham gia vào quá trình tòa án giải quyết các vụ việc dânsự để bảo vệ quyền và
lợiíchhợppháp của chính mình. Bên cạnhđó,trongmộtsốtrường hợp, cómột số chủ thể không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, họ không có quyền, lợi ích, nghĩa vụ liên quan trực tiếp tới vụ việc cụ thể đangđược giải quyết. Tuy nhiên, xuất pháttừchức năng của mình, các cơ quan,tổchức này có thẩm quyền và trách nhiệm đứng ra khởi kiện vụ án dânsự để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước, lợi ích của những người yếu thế trong xã hội. Bản chất việc khởi kiệncủanhữngchủthểnày là khởi kiện vìlợiích chung của toàn xãhộivàbảovệlợiíchcủanhữngngườiyếuthế. Trong những trường hợpnày, pháp luật TTDS củamộtsốnướcvà Việt Nam xácđịnhtư cách tố
tụng của các chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung là nguyên đơn trong vụ án dân sự16. Dođó,cóthểthấy,đươngsựtrongvụviệc dânsựlàngườitham giatố
tụngđểbảovệquyền,lợiíchhợpphápcủamình hoặc bảovệlợiích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
Tuy nhiên, tùy theo yêu cầu, địa vịpháp lý của đươngsựtrongvụviệc dân sự mà đương sự có các tư cách pháp lý khác nhau, bao gồm: đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong việc dân sự. Trong đó, đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
– Quan niệm về đại diện:
TheoTừđiểnTiếng Việt thì“đạidiện làsựthaymặtcho cá nhân, tập thể”17. Theo Từ điển Luật học thì “đại diện là việc một người, một cơ quan, tổ
15 Nguyễn Công Bình (2006), Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội; tr20.
16 Khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
17 Viện Ngôn ngữ học (2018), Từ điển Tiếng Việt ( GS. Hoàng Phê chủ biên), Nxb Hồng Đức; tr 351.
chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Người đại diện là người nhân danh và vì các lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện”18. Với cách hiểu này thìđạidiện là mộtquan hệpháp luật, trongđócó hai bênchủthểlà ngườiđại diện và người được đại diện, nội dung của quan hệ này là người được đại diện sẽnhân danh người đại diện để thực hiện một công việc nhất định không vi phạm điều pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực dân sự, người đại diện không phải là người thế quyền của người được đại diện mà chỉ là người “đóng thế”đương sự, thực hiện thay đương sự các quyền và nghĩa vụ của người được đại diện. Sự xuất hiện của người đại diện không làm chấm dứt mối quan hệgiữa người được đại diện và người thứ ba.
Pháp luật dân sự của các nước trên thế giới có nhiều cách hiểu và định nghĩavềđạidiện khác nhau. Pháp luật Anh giải thích thuậtngữđạidiện “agency”đượcsửdụngđểchỉmốiquanhệtồn tạikhimộtngườicó thẩm quyền hoặc năng lực để tạo lập mối quan hệ pháp lý giữa một người giữ vai trò làngườiđượcđạidiện vàngườithứba. Và nóđượcgiải thích thêm làquan hệ đại diện xuất hiện bất kỳ khi nàomột người, được gọilà người đại diện “agent”,có thẩm quyền hànhđộngnhân danhngườikhác,đượcgọilàngườiđượcđạidiện“principal”, và bằng lòng hànhđộngnhư vậy. Tương
tự, Luận thuyết về đại diện (lần thứ hai) của Hoa Kỳ định nghĩa: Đại diện làquanhệủythác phát sinhtừviệc biểulộsựưng thuậnbởimộtngườivới một người khác mà người sau này hành động nhân danh và phụ thuộc vào sựkiểm soátcủangườitrướcvàsựưng thuậnbởingườisau hànhđộngnhưvậy. Theo pháp luật Hoa Kỳ, chế định đại diện có đặc điểm sau: Thứ nhất, làmộtquanhệưng thuận mà trongđóngườiđạidiệnđồngýhay ít nhất bằng lòng hành động dưới sự chỉ dẫn hay kiểm soát của người được đại diện; Thứhai, là một quan hệ ủy thác mà theo đó người đại diện đồng ý hành động cho và nhân danh người được đại diện19. Như vậy, đại diện trong dân sự là việc ngườiđạidiện nhân danh và vìlợiíchcủangườiđượcđạidiện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
18 Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr .225.
19 Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ Luật So sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2009.
– Khái niệm về đại diện trong TTDS:
Quan hệ đại diện trong TTDS xuất hiện do nhu cầu từ thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Trong TTDS, đối vớicá nhân, trongmộtsố trường hợp, vìcác lý do và hoàn cảnh khác nhau không thể trực tiếp tham gia tố tụng nên cần thiết phải có ngườithay mặthọthực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng. Qua nghiên cứu cho thấy, các nước theo hệ thống common law chủ yếu quy định vềđại diện do tòa án chỉ định cho trẻ em và người khuyết tật hoặc mất NLHVDS, tên gọi cũng khác nhau, ở Anh gọi là “litigation friend”, ở Mỹ gọi là “guardian
ad litem”, ở Úc gọi là “litigation representative”, “case guardian”….
“Litigation friend” là người được tòa án chỉ định, đóng vai trò là người đại diện cho đương sự hoặc người giám hộ trẻ em, người khuyết tật không có ai khác bảo vệquyềnlợicho họ; “litigation friend” cũng có thểđược kêugọican thiệp vàbảo vệ quyền lợi của trẻ em. Anh ta có thể được bổ nhiệm ủy thác tư pháp trong các thủtụctốtụng liên quanđếntranh chấp…20. Thuậtngữ“litigation friend” cũng được sử dụng trong luật để chỉ sự chỉ định của tòa án đối với một bên đểthay mặt cho một bên khác như trẻ em hoặc người lớn mất năng lực,người được coi là không có khả năngđại diệncho mình. Mộtcá nhân hoạt động trong khảnăng này thườngđược gọilà người đạidiện trong cácthủtục tốtụngđó;ởScotland, “guardian ad litem”là thuật ngữ tương đương. Thuậtngữnày không cònđược sửdụngởAnh và xứWales kểtừkhi sửa đổiĐạoluậtTrẻem năm 1989, thay vào đó đã thiết lập vaitrò của “child guardian” – người đại diện cho trẻ em. Chính xác hơn, thuật ngữ ” guardian ad litem” vẫn được sử dụng trong tố
tụng Luật tư nhân theo quy tắc 9.5 nhưng chỉ có ở đó. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, khibắtđầudựa trênhệthống pháp luật tiếng Anh, tiếptụcsửdụng thuật ngữ”guardian ad lite ” và “attorney ad litem“.Hệthống pháp lýtạiCộng hòa Ireland cũng sử dụng thuật ngữ “guardian ad litem”. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong vụ kiện tài sản, trong đó một người có thể được chỉ định tham gia
tố tụngthay mặt cho người nhận di sản trong thủ tục tố tụng tại tòa án, khi người nhận di sản không thể hoặc không muốn tham gia tố tụng.21
Một người có thể được chỉ định làm người đại diện cho đương sự để đưa ra quyết định về một vụ kiện ở tòa án cho một người trưởng thành thiếu năng lực
20 www.oxfordreference.com/search?q=litigation friend 21 https://en.m.wikipedia.org/wiki/Ad_litem
hành viđể quảnlývụán của chínhhọ dùcó/không có luật sư hoặc chotrẻem dưới 18 tuổi trong bất kỳ vụ án dân sự, vụ án liên quan đến gia đình. Một người có thểđăngký đểtrởthànhngười đạidiện của đươngsựhoặc được tòa án chỉđịnh nếu cóngười liên quan tới vụ án yêu cầu chỉ định người đại diện cho đương sự trong vụ án. Tòa án sẽ kiểm tra xemngười đócó phù hợp để trở thành người đạidiện chođươngsựhay không? Tòa án có thểchỉđịnh ngườiđạidiện ngay khi vụ án bắt đầu hoặc bất cứ thời điểm nào của quá trình tố tụng. Khi không cóai phù hợp, sẵn sàng và có thể trở thành người đại diện của đương sự, tòa án cóthể yêu cầu luật sư chính thức tham gia tố tụng. Khi người được đại diện đủ 18 tuổi hoặc một người trưởng thành phục hồi NLHVDS, người đại diện của đương sự có thể nộp đơnđể chấm dứt tư cách người đại diện. Bên cạnh đó, người đại diện của đương sự có thể được thay thế bởi tòa án nếu người đó không thực hiện đúng nghĩa vụcủa mình.Ngườiđạidiện của đương sựsẽthaymặtđươngsựtham gia tố tụng22. Đối với đại diện của pháp nhân và đại diện theo ủy quyền thìthông thường các nước theohệthống common lawsẽdo luật sư vừa làmđại diện cho đương sự vừa bảo vệ cho đương sự chứ không tách thành hai tư cách tố
tụng là người đại diện của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như trong TTDS của Việt Nam.
BLTTDS của Liên bang Nga năm 2003 quy định công dân có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện tham gia tố tụng. Việc tham gia tố tụng của người đại diện không cản trở việc tham gia tố tụng của đương sự. Người đại diện trong TTDS bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật là người bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người không có NLHVDS hoặc người bị hạn chế NLHVDS, là người nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự. Người đại diện theo ủy quyền là người tham gia TTDS trên cơ sở văn bản ủy quyền và cócác quyền, nghĩa vụ trong phạm vi ủy quyền. Tòa án chỉ định luật sư làm người đại diện cho bị đơn trong trường hợp bị đơn không có người đại diện, không rõnơi sinh sống của bị đơn hoặc trong những trường hợp luật liên bang quy định23.
BLTTDS của Pháp không có mục quyđịnhriêngvềngườiđạidiện của đương sự mà quy định rải rácở một số điều luật khácnhau. Các bên đương sự
22 https://www.gov.uk/litigation-friend
23 Bộ luật TTDS của Liên bang Nga (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội; Điều 48- 54.
tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS Pháp bao gồm đương sự và người đại diện hợp pháp của họ. Người đại diện hợp pháp của đương sự bao gồm đại diệnhợppháp của ngườimất NLHVDS, không có NLHVDS và đạidiện của pháp nhân, bao gồm cảcơ quan Nhànướcvà các côngsởtựquản24. Bên cạnhđó, đương sựcũng cóthểủyquyền cho người khác tham gia tố tụngthực hiện mọi hành vi tố tụng nhân danh người ủy quyền. Pháp luật TTDS của Pháp cũng có sự phân biệt giữa người đại diện ủy quyền và người trợ giúp tại tòa án (người thực hiện cả quyền hạn, nhiệm vụ tư vấn cho đương sự và biện hộ chođương sựmà không ràng buộc họ). Người đại diện của đương sự bao hàm cả nhiệm vụ trợgiúp, trừ khi có quy định hoặc thỏa thuận khác. Người nào muốn đại diện hoặc trợ giúp cho một bên đương sự phải chứng minh mình là người đã được đương sựủyquyền hoặc trợgiúp. Tuy nhiên luật sư bào chữa hoặc luật sư đạidiện khôngcầnphải chứng minhđiềunày. Tên và tư cách của ngườiđạidiện phải được thông báo cho thẩm phán qua thư ký tòa án. BLTTDS Pháp cũng quy định về điều kiện và các trườnghợp chấm dứt đại diện25.
Như vậy, cóthểthấy, mặc dù pháp luật của cácnước quyđịnhkhông hoàn toàn giống nhau, song trong trườnghợp đươngsựlà người không đủ khảnăngtựmình thực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng như ngườichưa thành
niên, ngườimất NLHVDS, ngườicó nhược điểmvềthểchất hoặc tinhthần… pháp luật các nước đều dự liệu trước chủ thể đại diện cho đương sự và người nàyđược gọilàngườiđạidiện theo pháp luật. Đốivớipháp nhân là mộtchủthểnhân tạonên việc tham gia vào các quanhệdân sự, tham gia TTDS của pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của ngườicó thẩm quyền nhân danh pháp nhân theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc điều lệ của pháp nhân cũngđượcgọilà người đạidiện theo pháp luật. Trong trườnghợpđương sự là người đủ năng lực hành vi TTDS nhưng do sức khỏe, điều kiện công tác, vị trí địa lý, trình độ năng lực hoặc do chính ý chí của cá nhân không muốn trực tiếp tham gia tốtụng nênủyquyền chongườikhác nhân danh mình thực hiện các quyền và nghĩa vụtốtụng của đương sựđược gọilà đạidiện theo ủy quyền. Tuy nhiên, đối với các quan hệ nhân thân là quan hệ không được chuyển giao nên cá nhân khôngthểủyquyền chongườikhácđạidiện thay mình như
24 Bộ luật TTDS của Cộng hòa Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Điều 197 – 198. 25 Bộ luật TTDS của Cộng hòa Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Điều 411- 420.
quanhệvềnhân thân (hôn nhân, lậpdi chúc, nhận con nuôi…).Đâylà những quan hệ pháp luật dân sự có tính đặc thù cần phải được xác lập, thực hiện bằng chính ý chí của chínhchủthểcủa quan hệ dânsựđó nênvấn đềủy quyền cho người khác đại diện thay mình tham gia vào quan hệ dân sự không đặt ra. Nhưvậy, quanhệđạidiệnđược xáclậptheo quyđịnhcủa pháp luật hoặc theoủy quyền dựa trên ý chí của người có quyền.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

