Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, các công ty đầu tư vốn nhà nước còn gọi là quỹ đầu tư quốc gia (SWF) đã được thành lập hơn năm thập kỷ và những năm gần đây có sự tăngvọt về sốlượng cũng như quy mô. Với sự lớn mạnh không ngừng, hoạt động đầu tư của các SWF vào các doanh nghiệp mục tiêu đạt quy mô ngày càng lớn hơn, nên nhu cầu nghiên cứu về ảnhhưởng của đầu tưcủa SWF đến doanh nghiệp mục tiêu ngày càng cấp thiết hơn. Một số nghiên cứu đã cho thấy các SWF có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp mục tiêu, không những bổ sung vốn cần thiết cho quá trình hoạt động và phát triển, mà còn tác độngđến cơcấu quản trị và giá trị doanh nghiệp mục tiêu. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy chưa có kết quả thống nhất về tác động của sở hữu SWFđến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu, thể hiện sự phức tạp về khả năng tác động của SWF đối với doanh nghiệp mục tiêu. SWF ngoài nhiệm vụ đầu tư sinh lời còn là một cơ quan đại diện cho nhà nước. Do đó, tùy theo mục tiêu của nhà nước và sự tách bạch giữa nhiệm vụ bảo toàn, phát triển vốn nhà nước, thì mục tiêu là công cụ để điều chỉnh, điều tiết nền kinh tế, xã hội hoặc mục tiêu chính trị, mà tác độngcủa sở hữu của SWF đến doanh nghiệp mục tiêu sẽ khác nhau. Điều này dẫn đến thực tế cần đánh giáhiệu quả đầu tư của SWF không chỉ qua các thước đo về mặt tài chính, mà cần có cái nhìn toàn diện hơn thông qua bao gồm cả các thước đo về hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, đến nay cũng chưa có nghiên cứu nào phân tích cùng lúc về cả hai khía cạnh này.

Tại Việt Nam, với mục tiêu xây dựng nền kinhtế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước là nền tảng của nền kinh tế, kinh tế tưnhân là một động lực quan trọng. Tuy nhiên, về thực tiễn hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nhất là về đầu tư tài chính thì nhiều doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả chưa cao, nhiều đơn vị còn bị thua lỗ kéo dài ảnh hưởng đến vị thế, vai trò của Kinh tế nhànước. Cách thức tổ chức quản lý của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa theo kịp với cơ chế thị trường. Đảng và Nhà nước ta luôn hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết

2

kinh tế vĩ mô trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường, thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền, chuyên môn hoá trong quản lý nhà nước nhằm đảm bảo tính thống nhất xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong số các vấn đề đó có cơ chế tách bạch chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với doanh nghiệp và chức năng kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp. Để cải cách mô hình quản lý vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, Chínhphủ đãcho ra đời Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước nhằm một mặt đổi mới mô hình quản lý các DNNN, mặt khác nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính tại các DNNN.Vềmặt lý luận thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước SCIC hoạt độngtheo mô hình đầu tư của SWF là một minh chứng sống động cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động, vai trò của DNNN trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 15 năm thành lập và phát triển SCIC đã tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 1.075 doanh nghiệp, với tổng giá trị vốn nhà nước hơn 30.275 tỷ đồng (chiếm khoảng 2% tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp), trong đó có 24 tổng công ty và tập đoàn, 34 công ty trách nhiệm hữu hạn một, hai thành viên; tổng nguồn thucổtứccho nhà nướcgiai đoạn2006 – 2019củacác doanh nghiệp trong danh mục quản lý của SCIC đạt 38.813 tỷ đồng; cho thấy các nỗ

lực củachính phủ trong việc tách bạch chức năng quản lý hành chính nhà nước, đã từng bước xóa bỏ dần sự can thiệp hành chính của cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này, chuyển hình thức quản lý vốn nhà nước sang hình thức đầu tư, kinh doanh vốn, đặc biệt trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Năm 2020, doanh thu của SCIC đạt 7.945 tỷ đồng, bằng 115% kế hoạch. Lợi nhuận trước thuế ước đạt 6.588 tỷ đồng, bằng 136% kế hoạch; lợi nhuận sau thuế đạt 6.197tỷ đồng, bằng136% kế hoạch. Nộp ngân sách nhànước ước đạt 9.337 tỷ đồng, gấp 2,7 lần so với kế hoạch. Danh mục doanh nghiệp của SCIC còn 147 doanh nghiệp với giá trị vốn nhà nước hơn 39.000 tỷ đồng, trêntổng số vốn điều lệ là 120.000 tỷ đồng (báo cáo của SCIC năm 2020).

Mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định,thực tiễn hoạt động của SCIC còn nhiều tồn tại, hạn chế. Số vốn mặc dù tăng mạnh qua thời gian, nhưng trên thực

3

tế để sử dụng số vốn nhà nước này SCIC còn chịu rất nhiều ràng buộc từ cơ chế đầu tư hiện tại. Sốliệu chi tiết vềkết quảcác hoạt động đầu tư của SCIC cũng không được công bố ra công chúng, mà chỉ có một vài chỉ tiêu cơ bản được công khai, vìthế tính minh bạch khá hạn chế. Định hướng đầu tư của SCIC còn chưa ổn định, chưa xây dựng được danh mục đầu tư chuẩn về dài hạn.

Quy mô vốn do SCIC quản lý ngày càng tăng và thực tiễn tại Việt Nam cho thấy còn những tồn tại, vướng mắc, nên việc đánh giá vai trò của SCIC ở những doanh nghiệp mục tiêu sẽ mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng. Hơn nữa, với những bài học kinh nghiệm từ chiến lược đầu tư của một số SWF trên thế giới, SCIC có thể có được những cải tiến tốt hơn đối với mô hình đầu tư, nâng cao hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam. Hiện nay, chúng ta có thể tìm hiểu điển hình các mô hìnhđầu tưvốn lâu đời hơn như Temasek của Singapore, SASAC và SDIC của Trung Quốc,

Khazanah của Malaysia, Pháp… Nghiêncứu đúc kết chiến lược đầu tưvà hiệu quảđầu tưcủa các SWF có nhiều ý nghĩa thực tiễn đó là cung cấp bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm vềcác nhân tốảnh hưởng đến chiến lược cũng nhưhiệu quả đầu tưcủa các SWF. Cuối cùng, tiêu chíđánh giá hiệu quả của các SWF trước đây thường chỉ tập trung quanh các chỉ tiêu tài chính, trong khi các SWF có chủ sở hữu là chính phủ các nước, nên hiệu quả xã hội cũng cần được xem xétđể cócái nhìn toàn diện hơnvề hoạt độngcủa các SWF, trong đó có SCIC, tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc này. Một lần nữa, do SWF, trong đó có SCIC, là cơ quan quản lý và đầu tư vốn nhà nước, nên việc xem xét hiệu quả ở cả hai nhiệm vụ đầu tư (mặt tài chính) và nhiệm vụ xã hội là cần thiết. Rõ ràng, cần có sự đối sánh với các SWFở các quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc, để là rõ mô hình ở các quốc gia này cóxu hướng tách bạch giữa hai nhiệm vụ này hay không, và các SWF có khuynh hướng ưu tiên nhiệm vụ nào. Ngoài ra, việc các SWF khác tập trung quản lý phần vốn của nhà nước ở các ngành công nghiệp nào cũng giúp đưa ra các hàm ý chính trị xã hội quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả của SCIC. Mặt khác, quá trình vận hành của SCIC còn nhiều bất cập trong các hoạt động đầu tư, chiến lược đầu tư, không như

4

mong muốn ban đầu khi thành lập, đặc biệt là các vấn đề được nhìn nhận và giải quyết dưới gốc độ kinh tế chính trị.

Song song đó, việc phân tíchhiệu quả đầu tưcủa SCIC làvấn đề cần thiết đểđề xuất giải pháp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC, trong đóvấn đề sở hữu, tổ chức,phân phối có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chuyển đổi DNNN, khẳng định đây là mô hình, hướng đi phù hợp phù hợp với kinh tế thị trường. Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và kinh tế số phát triển mạnh mẽ thì kỳvọng SCIC ngày càng lớn hơn với vai trò nhà đầu tư vốn chiến lược của nhà nước, SCIC cần tối ưu hóa hiệu quả vốn đầu tư để tạo nền tảng cho phát triển, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Với các ý nghĩa quan trọng như trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư vàKinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam”làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Luận án phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của SCIC một cách toàn diện, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tưcủa SCIC.

Mục tiêu cụ thể: Luận án thực hiện với ba mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, xây dựng khung lý thuyết trong phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của SCIC, xác định các tiêu chí đánh giá hoạt động đầu tư của SCIC.

Thứ hai, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sở hữu của SCIC ở các doanh nghiệp mục tiêu trong nước tại Việt Nam, đây cũng là chiến lược đầu tư của SCIC.

Thứ ba, đưa ra các giải pháp quan trọng về sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp mục tiêu của SCIC, các giải pháp cấp doanh nghiệp và cấp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa SCIC.

5

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết ba mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Một là, cơ sở lý thuyết nào đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của SCIC? hiệu quả tài chính và phi tài chính của SCIC được đánh giá như thế nào?

Hai là, nhân tố nào ảnh hưởng đến mức sở hữu của SCIC ở các doanh nghiệp mục tiêu? SCIC có khuynh hướng đầu tư vào một doanh nghiệp mục tiêu với những đặc điểm gì và điều này có khác gì so với các SWF trên thế giới?

Ba là, những giải pháp nào nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tàinghiên cứu hiệu quả hoạt động đầu tư của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vivềkhông gian nghiên cứu: Luận ántậptrunglượckhảo các lýthuyết và nghiêncứuthực nghiệm có liên quanđếnhiệuquảhoạtđộngđầutưcủa Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước SCIC và các doanh nghiệp niêm yết mà SCIC đầu tư. Đồng thời, luận án đề cập đến kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.

Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận án đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tưcủa SCIC (hiệu quả tài chính và hiện quả phi tài chính) tại các doanh nghiệp trong nước nhận đầu tư của SCIC, luận án mở rộng phân tích hiệu quả đầu tư các SWF phi hàng hoá trên thế giới các quốc gia là Pháp, Malaysia, Singapore, Trung Quốc (do các SWF này cùng loại với SCIC) và các doanh nghiệp niêm yết mà các SWF đầu tư tương ứng.

Phạm vi vềthời gian nghiên cứu: Luận ánsửdụng dữliệucủacác doanh nghiệp niêm yết thời gian là từ 2008 đến năm 2018, mở rộng ra các SWF trên thế giới

6

các quốc gia là Pháp, Malaysia, Singapore, Trung Quốc. Dự báo xu hướng phát triển của SCIC từ đây đến năm 2025 tầm nhìn đến 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp tiếp cận về sở hữu, về chiến lược đầu tư và vai trò của SCIC trong nền kinhtế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa. Luận án sẽ sử dụng cả 2 phương pháp là phân tích định tính và định lượng,

4.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Với phân tích định tính, luận án sửdụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh từcác nghiên cứu trước cũng như các tài liệu, báo cáo chính thức từSWF, SCIC để xác định mục tiêu, cách thức hoạt động, hệ thống tổ chức, mô hìnhvàcách thức đầu tư của SWF, SCIC; xác định các yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến mức sở hữu. Ngoài ra, tác giả còn trình tiến hành thu thập số liệu trong các hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo của các doanh nghiệp mục tiêu thuộc SCIC và các báo cáo của SCIC để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của SCIC.

Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu nhằm kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của các yếu tố có thể tác động đến mức sở hữu của SCIC đến các doanh nghiệp mục tiêu. Cácđối tượng được phỏng vấn sâu là những chuyên gia, nhà khoa học, các nhà quản lý của SCIC và các doanh nghiệp mục tiêu.

Các phương pháp cụ thể: phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.

Bên cạnh đó sử dụng phân tích tác động của mức sở hữu của SWF đến hiệu quả của doanh nghiệp mục tiêu, nhằm đánh giá xu hướng ảnh hưởng của SWF đến hiệu quả doanh nghiệp. Điều này nhằm tạo cơ sở cho các so sánh, đối chiếu với kết quả định lượng.

7

4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Với mục tiêu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sở hữu của SCIC ở các DN mục tiêu Việt Nam:Sửdụng chủyếu phương pháp định lượng với dữliệu thu thập dữ liệu từ Thomson Reuters liên quan đến dữ liệu tài chính và sở hữu của các doanh nghiệp mục tiêu (là các doanh nghiệp nhận đầu tư của SWF), cấu trúc thành dữ liệu bảng và áp dụng hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sở hữu của các SWF ở các doanh nghiệp mục tiêu. Phương pháp định lượng ở đây là hồi quy đa biến System GMM. Ngoài ra, còn phân tích tương quan và thống kê mô

tả của các biến trong mô hình để hiểu hơn về mối quan hệ của các nhân tố đến mức sở hữu của SWF.

Với mục tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của đầu tư của SCIC: Sử dụngphương pháp phân tích định lượng, cụ thể là thu thập dữ liệu bảng gồm tình hình tài chính, mức sở hữu của SWF ở các công ty mục tiêu trong giai đoạn 2008 -2018. Sau đó, tác giả sửdụng hồi quy phân vị, trong đó tác động của các nhân tố đến hiệu quả của công ty mục tiêu được xác định ở từng mức cao và thấp của biến phụ thuộc.

Các kết quả nghiên cứu định tính và định lượng sẽ bổ trợ nhau, giúp đánh giá được hiệu quả của các SWF trong mẫu nghiên cứu so với các SWF trong các nghiên cứu khác, từ đó đưa ra các hàm ý phù hợp.

5. Những đóng góp khoa học mới của Luận án

Về khoa học, trên cơ sở tiếp cận và tổng hợp các lý thuyết về công ty đầu tư vốn nhà nước một cách có hệ thống, luận án xây dựng khung phân tích đánh giá hiệu quảhoạt động của công ty đầu tư vốn nhà nước, vai trò SCIC trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án mở rộng phần thảo luận phần lý thuyết về vai tròcủaSCIC đối với các mục tiêu tài chính, kinhtế xãhội.

Về phương pháp tiếp cận, luận án đóng góp thông qua xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cũng như đề xuất phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sở hữu của SCIC tại các doanh nghiệp mục tiêu. Thông qua các

8

giả thuyết nghiên cứu trên cơ sở liên kết các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết những tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động SCIC. Luận án so sánh hiệu quả đầu tư của SCIC và các SWF khác, điều này cũng sẽ giúp đưa ra những hàm ý về kinh tế chính trị liên quan đến đầu tư của SCIC.

Về mặt thực tiễn, luận án phân tích hiệu quả hoạt động của SCIC một cách cóhệthống thông qua việcsửdụng chuỗisốliệu thống kê môtả,so sánhđối chứng và phân tích tổng hợp dưới góc độ kinh tế chính trị, nhận diện được nhữngđiểmthành công và nhữngđiểmcòntồntạicùng nguyên nhân. Ngoài đánh giáhiệu quả tài chính, luận án cũng sử dụng bổ sung các chỉ số về hiệu quả xã hội nhưviệc làm, thu nhập, mức nộp thuế và đây một đóng góp quan trọng nhằm đánh giá một cách toàn diện hiệu quả của SCIC. Việc so sánh SCIC vàcác SWF trong cả hai phương diện hiệu quả sẽ giúp làm rõ các SWF ưu tiên phương diện nào, đây sẽ là cơsởkhoahọcđểđưara các hàmýtạiViệt Nam trong việcđịnhhướngcác hoạt động của SCIC.

Với kết quả nghiên cứu, tác giả kỳ vọng rằng luận án sẽ là một đóng góp có giá trị cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước, là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu.

6. Bố cục của Luận án

Bố cục của Luận án gồm: Mở đầu, 5 chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụlục. Nội dung của 5 chương bao gồm:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về công ty đầu tư vốn nhà nước

Chương 1 khảo cứu các nghiên cứu liên quan ở trong nước và ngoài nước vềhiệu quả hoạt động của công ty đầu tư vốn nhà nước (SWF), cụ thể là về các nhân tốảnh hưởng đến mức sở hữu của SWF, chiến lược lựa chọn các doanh nghiệp mục tiêu của các SWF. Từđó,tác giảtìm khoảng trống nghiên cứu, đồng thời kếthừa các nghiên cứu trước cả về lý thuyết và thực tiễn để nghiên cứu về SCIC.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động công tyđầu tưvốn nhà nước

9

Chương này thảo luận các lý thuyết nền trong luận án, trình bàycụthểcác khái niệm liên quan, các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư, ý nghĩa của các lý thuyết và sự liên hệ của các lý thuyết đến mô hình công ty đầu tư vốn nhà nước (SWF). Thảo luận sự liên quan của các lý thuyết trên đến thực tiễn mô hình đầu tư của SCIC. Đây là phần cơ sở lý thuyết quan trọng, cùng với tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm sẽ giúp xây dựng cơ sở các giả thuyết trong luận án, khung nghiên cứu của luận án.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng, gồm các mục về giả thuyết, lựa chọn mô hình, phương pháp phân tích định lượng mô hình và giới thiệu mô tả cơ sở dữ liệu. Giả thuyết được xây dựng từ chương lý thuyết và tổng quan. Môhình nghiên cứu gồm về các nhân tố ảnh hưởng đến sở hữu của các SWF ở doanh nghiệp mục tiêu và tác động của sở hữu, đầu tư này đến hiệu quả của các doanh nghiệp mục tiêu.

Chương 4: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của Tổng công tyĐầu tưvà Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

Luân án khái quát quá trình hình thành và phát triển của SCIC; vai trò, chức năng hoạt động kinh doanh vốn Nhà nước của SCIC; phân tích thực trạng sở hữu SCIC và các đặc điểm của doanh nghiệp; phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của SCIC và so sánh với các SWF khác trên thế giới, đưa ra những thành công, hạn chếtrong hiệu quả hoạt động của SCIC.

Chương 5: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

Chương 5 trình bày các cơ sở để đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của SCIC. Các cơ sở dựa trên định hướng của nhà nước, bài học kinh nghiệm từ một số SWF phi hàng hóa, các kết quả nghiên cứu của luận án. Dựa trên các cơ sở này, luận án cung cấp các giải pháp ở cấp doanh nghiệp và cấp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC

10

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TY ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC

1.1. Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về công ty đầu tư vốn nhà nước

Công ty đầu tư vốn nhà nước, trên thế giới gọi là Quỹ đầu tư quốc gia (SWF – Sovereign Wealth Fund), qua tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài liên quan đến đề tài, tác giả chia thành ba nhóm nội dung như sau:

1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sở hữu của SWF tại các doanh nghiệp mục tiêu

1.1.2. Các tác động từ đầu tư, hiệu quả hoạt động của SWF

1.1.3. Vấn đề minh bạch và cơ chế quản trị của SWF

Về vấn đề minh bạch, rất ít SWF tiết lộ thông tin về hoạt động và tình hình tài chính của họ, vì hầu hết trongsố họ có xu hướng không tiết lộ loại thông tin này. SWF hoạt động theo quy định bởi chính phủ của họ. Là chủ sở hữu duy nhất của các quỹ chịu trách nhiệm theo quy định riêng của mình, các chính phủ có xu hướng khá tự do liên quan đến việc xác định một cơ sở pháp lý điều hành. Do đó, quyết định duy

18

trì mức độ minh bạch được coi là quyết định tự nguyện chứ không phải là nghĩa vụ, do đó trách nhiệm giải trình và minh bạch khác nhau giữa các quỹ. Trong khi các quốc gia như Na Uy và Singapore nỗ lực nâng cao mức độ minh bạch SWF, thì hầu hết các SWF lớn nhất thế giới, đặc biệt là những SWF đến từ Trung Quốc và TrungĐông vẫn không tiết lộ mục tiêu của họ.

Aggarwal và cộng sự (2018) cũng nhấn mạnh về tính minh bạch kém của các SWF, nên thường mục tiêu của các khoản đầu tư bởi SWF cũng gây ra các nghi hoặc và quan ngại. Cácđộng cơmang tính chiến lược hoặc các động cơ không mang tính kinh tế của các khoản đầu tư SWF được giám sát bởi ban quản trị. Aggarwal và cộng sự (2018) sử dụng dữ liệu 49 SWF có quy mô lớn trên toàn cầu, và cho thấy văn hóa của từng quốc gia có ảnh hưởng đến cơ chế quản trị bên trong SWF. Cơ chế quản trịSWF thường kém hơn với các nền văn hóa có khoảng cách quyền lực là cao, tính cánhân cao và nữ quyền thấp, trong khi cơ chế sẽ tốt hơn với các nền văn hóa có tầm nhìn dài hạn và tránh các bất ổn.

Do SWF là các quỹ đầu tư thuộc sở hữu nhà nước với nguồn vốn khổng lồ, mục tiêu và hoạt động của các SWF đó không nên được giữ bí mật (Johnson, 2015). Về vấn đề này, nguyên tắc Santiago đã ra đời để khuyến khích các cơ chế quản trị tốt, có trách nhiệm và minh bạch giữa các SWF, nhằm thúc đẩy một môi trường cho phép hiểu biết sâu sắc hơn và sâu sắc hơn về các hoạt động SWF.

Sự gia tăng về số lượng và quy mô của SWF phản ánh tầm quan trọng rất lớncủacác quốc gia trong việc quản lý vàsởhữutàisảnquốctế,mộtphần làthông qua đầu tư vào các doanh nghiệp mục tiêu. Không những quan trọng ở vai trò góp vốn, sự tham gia của SWF còn có thể dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc quản trị doanh nghiệp mục tiêu, do việc các SWF có thể theo đuổi các mục tiêu chính trị khi mua cổ phần lớn, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp chiến lược (Megginson và Fotak, 2014).

Do đó, một xu hướng nghiên cứu khác tập trung vào khía cạnh quản trị của SWF đối với các doanh nghiệp mục tiêu. Chen, Harford và Li (2007) và Bortolotti và

 

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

cộng sự (2009) dự đoán SWF nước ngoài gặp khó khăn trong vai trò giám sát cũng như khó cókhảnăng tác động tích cực đến quản trịdoanh nghiệp của các doanh nghiệp mục tiêu. Các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là những nhà đầu tư có tầm ảnh hướng lớn như chính phủ nước ngoài và các tổ chức liên quan đến chính phủ, quan ngại phải đóng vai trò quản trị tích cực vì không muốn tạo ra sự phản đối chính trịhoặc phản ứng pháp lý. Ngoài ra, vai trò giám sát của các nhà đầu tư nước ngoài nhưvậy sẽ bị giảm thêm do họ khó thoái vốn nếu muốn thể hiện sự phản đối với ban quản trị doanh nghiệp mục tiêu, vì việc bán một lượng lớn cổ phiếu cũng có thể gây ra sựphẫn nộ giữa ban quản lý, cơ quan quản lý và người tham gia thị trường (Bortolotti và cộng sự, 2009).

Như vậy, khả năng đe dọa ban quản trị doanh nghiệp mục tiêu bằng cách rút lui như Parrino, Sias và Starks (2003) và Admati và Pfleiderer (2009) hoặc thểhiện qua việc bỏ phiếu (Del Guerico, Seery và Woitdke, 2008) đều khó khả thi với các SWFnướcngoài. Bortolotti và cộngsự(2009) dođócho rằng SWFnước ngoài là một trong những nhà đầu tư gặp nhiều hạn chế nhất, và các đầu tư xuyên biên giới sẽ có hiệu quả kém hơn so với các công ty khác cũng đầu tư vào cùng một doanh nghiệp mục tiêu.

Tuy nhiên, Dinc và Erel (2013) cho thấy điều ngược lại: các SWF nước ngoài nếu có các hành vi nào khác ngoài việc là nhà đầu tư thụ động sẽ gây ra các áp lực chính trị hoặc các phản đối về mặt pháp lý. Điều này là do SWF được sởhữu bởi chính quyền của một quốc gia khác. Nghiên cứu Miracky, Dyer, Fisher, Goldner, Lagarde và Pedrahita (2008) và Mechropouya, Huang và Barnett (2009) cho thấy thậm chí khi các SWF nắm phần sở hữu lớn, các quỹ này cũng hiếm khi can thiệp vào việc quản lý của các giám đốc.

Khảnăng quản trịdoanh nghiệp mục tiêu của SWF cũng gặp khó khăn do SWF có đội ngũ nhân viên nhỏ sovới lượngtài sản quản lý. Trong khi các quỹ SWF lớn nhất như GPFG và CIC có tổngsốnhân viên ít hơn 3.000 người, thì Fidelity

Investment cũng quản lý tài sản có giá trị tương đương nhưng có số nhân viên lênđến

20

38.000 người, hơn 10 lần nhân viên của SWF. Với đội ngũ nhân viên ít người, SWF sẽ không có đủ nguồn lực để giám sát và thực hiện chức năng quản trị trong các doanh nghiệp mà họ đầu tư (Megginson và cộng sự, 2013).

1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về công ty đầu tư vốn nhà nước

1.2.1. Cácyếu tốảnh hưởng đếnmức sở hữu của SCIC ở các doanh nghiệp mục tiêu

Các nghiêncứuvềSCIC kháhạnchếtạiViệt Nam, các nghiêncứuđịnh lượng xem xét sở hữu của SCIC theo lược khảo của tác giả là không nhiều và chủyếu chỉ có các mục tổng hợp báo cáo về hiệu quả đầu tư. Theo đó, các kết luận cho thấy danhmụcđầu tưcủaSCIC chưahợplý, tàisảnđượcđầutưchủyếulà tiết kiệm ởngân hàng, còn các khoảnđầutư vào các doanh nghiệpđượcđánh giá làmang hiệu quả thấp.

Theo Nguyễn Đức Thọ và cộng sự (2012) nhận định SCIC phù hợp nhất với loại hình quỹ phát triển SWF, mà điển hình là hỗ trợ các dự án kinh tế xã hội hoặc thúc đẩy các chính sách công nghiệp có thể nâng cao tăng trưởng sản lượng tiềm năng của quốc gia, vai trò của SCIC giống với vai trò của Ủy ban Giám sát và quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc (SASAC) mặc dù nó có thể khao khát giống với Temasek trong dài hạn, có thể đưa ra những suy luận về hiệu suất đầu tưcủaSCIC bằng cách phân tích hiệu suấtcủacác công tymụctiêutạothành một phần quan trọng trong danhmụcđầutưcủanó.Nổibậtnhất trongsốnày là Vinamilk, có hiệu suất mạnh mẽ và quan trọng trong danh mục đầu tư của SCIC. Trong trung hạn, khi chương trình cải cách SOE giảm xuống, SCIC giảm hiệu suất sẽ được đánh giá chủ yếu về hiệu suất của danh mục đầu tưcủa nó, lần lượt sẽ phụthuộc vào các quyết định danh mục đầu tư và khả năng của nó để giúp phát triển các doanh nghiệp mới hoặcđểgiúp mởrộng những cái hiện có vớiviệcsửdụng vốn nhà nước hợp lý.

Nghiên cứu về các lĩnh vực đầu tư của SCIC, Phạm Thị Hương (2016) cho thấy danh mục đầu tư của SCIC gồm công ty thuộc nhiều ngành nghề, quy mô (nhưng

21

đa số là công ty quy mô nhỏ) và có khó khăn về tài chính. SCIC quản lý danh mục đầu tưgồm các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh

tếnhư: dịch vụtài chính, năng lượng, công nghiệp, viễn thông, xây dựng, vận tải,

hàng tiêu dùng, y tế, công nghệ thông tin…; gồm các hoạt động như nhận chuyển giao phần vốn nhà nước, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhànước,thoái vốn nhà nước, quản trị doanh nghiệp, thực hiện vai tròcủa cổ đôngnhà nước và thực hiện đầu tưhiện hữu, đầu tư mới phần vốn nhà nước.

Nghiên cứu về lĩnh vực hoạt động, Trần Xuân Tú (2019) cho rằng SCIC cóthể sử dụng các nguồn vốn nói trên để đầu tư vào các DN thuộc mọi thành phần kinh tế (trừ các DNNN hoạt động công ích và DNNN an ninh quốc phòng). Cụ thể: Các DNNN có vốn Nhà nước đầu tư; Công ty TNHH một thành viên; Các DNNN như:

DNNN hoạt động độc lập thuộc các bộ, ngành, địa phương, kể cả các Công ty cổ phần từ các DNNN độc lập thuộc các bộ, ngành, địa phương có vốn nhà nước chiếm cổphần chi phối; các tổng công ty nhà nước và các DNNN thành viên Tổng công ty; các DN các thành phần kinh tế khác chưa có vốn nhà nước.

Về phương pháp nghiên cứu chiến lược đầu tư của SWF, SCIC, Đinh Ngọc Bảo (2016) sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, đã đánh giá được tác động của Quỹđầu tưquốc gia đến giá trị doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đầu tưcủa các SWF vào doanh nghiệp sẽ làm tăng giá cổ phiếu xoay quanh ngày thông tinđược côngbố ra thị trường. Điều này cũng có nghĩa rằng thị trường phản ứng tích cực với thông tin đầu tư của các SWF. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ rađược phản ứng của thị trường trong các điều kiện khác nhau (thị trường tài chính phát triển và thị trường đang phát triển như Việt Nam) đối với thông tin đầu tư của các SWF cũng có sự khác nhau. Nghiên cứu cũng đã phân tích được mối quan hệ thuận chiều của mức độ minh bạch trong công bố thông tin của các Quỹ đầu tư quốc gia và tỷ suất lợi tức của doanh nghiệp nhận vốn đầu tư từ các quỹ này. Điều này cho thấy mức độminh bạch của SWF càng cao, thị trường phản ứng với thông tin đầu tư của các SWF càng tích cực hay nói khác hơn, kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa mức độ công bố thông tin của các SWF và sự tăng giá của cổ phiếu doanh nghiệp

22

mà các SWF này đã đầu tư. Nghiên cứu thực nghiệm sẽ giúp cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các SWF cũng như chính phủ nhận biết được vai trò và tác động của SWF, từ đó sẽ có chiến lược thích hợp trong việc đầu tư cũng như thu hút vốn đầu tưnước ngoài từ những Quỹ này. Tác giả Trần Xuân Tú (2019) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như diễn giải, quy nạp, phân tích, tổng hợp để phản ánh vai tròcủa SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trên cả góc độvi mô và vĩ mô. Phương pháp phân tích tình huống được sử dụng để minh hoạ cho việc tái cấu trúc tài chính DN có vốn đầu tư nhà nước mà SCIC đang trực tiếp quản lý nghiên cứu thực trạng vai trò của SCIC trong hoạt động tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước trên góc độ đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DN và lànhà đầu tư chiến lược của nhà nước. Qua đó chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế

tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong việc phát huy vai trò của SCIC trong tái cấu trúc tài chính các DN có vốn đầu tư nhà nước.

Khi nghiên cứu về vai trò của SCIC trong chiến lược phát triển vốn nhà nước, với mong muốn của SCIC trở thành tập đoàn tài chính có quy mô lớn trong khu vực, nhàđầu tưchiến lược của chính phủ trong và ngoài nước; tập trung đầu tư có hiệu quả theo nguyên tắc thị trường vào các ngành, lĩnh vực then chốt, trọng yếu nhànước cần nắm giữ vốn. Một là, phát triển hoạt động tổng công ty nằm trong tổng thể, gắn liền và góp phần thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh đổi mới phương thức đầu tư vốn nhà nước, từng bước thực hiện thống nhất quyền và nghĩa vụ chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Hai là, tập trung đầu tư kinh doanh vốn vào các lĩnh vực then chốt, trọng yếu nhànước cần nắm giữ chi phối, góp phần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước;đồng thời phải đảm bảo hiệu quảtheo nguyên tắc thịtrường. Nguyễn Ngọc Sơn

(2012) cho rằng nhà nước thực hiện chức năng quản lý thông qua bộ máy hành chính, nhưng chừng đó thôi chưa đủ. Còn một công cụ khác không kém phần quan trọng đólà dùng nguồn lực tài chính, thông qua việc tham gia vốn vào các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Vấn đề còn lại là làm thế nào để vốn nhà nước thành một công cụ hữu hiệu tạo động lực cho nền kinh tế. Tác giả đưa ra một số ý kiến góp phần trả lời cho

23

câu hỏi trên là các quyết định đầu tư vốn nhà nước được thực hiện qua nhiều cấp khác nhau không bảo đảm tính kip thời, hiệu quả đầu tư vốn chưa cao. Đó là chưa nói đến chuyện, các quyết định đầu tư thường bị chi phối bởi các lợi ích cục bộ mà không phải lúc nào cũng đảm bảo tính khách quan. Để vốn nhà nước trở thành công cụ hữu hiệu của nền kinh tế, SCIC không chỉ phải sử dụng tốt nhất nguồn lực mình đang cómà hơn thế, cần phải biết đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào những lĩnh vực then chốt mà nhà nước không thể không có mặt. Bùi Đức Long (2016) cho rằngcần bổsung vốn vào các DN có vốn của SCIC, các dự án, ngành, lĩnh vực đem lại hiệu quảnền kinh tế khác theo các phương thức:đầu tưgóp vốn thành lập DN mới; góp vốn liên doanh, liên kết; mua một phần tài sản hoặc toàn bộ DN khác; đầu tư thông qua việc mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác. Trong khi đó, VõThanh Hà (2016) cho rằng SCIC cần quyết liệt thực hiện mục tiêu trong tổng thểchiến lược phát triển, gắn bó và đồng hành cùng DN để vốn nhànước đầu tưtại DNđược bảo toàn và phát triển. SCIC cũng cần chú trọng tập trung đầu tư vào các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không quan tâm hoặc khôngđủ nănglực đầu tư; nghiêncứu đầu tưvào những ngành mới có tính chất chiến lược quốc gia như sản phẩm khoa học công nghệ mới.

Cũng theo quan điểm này, nghiên cứu về SCIC của Dự án tăng cường năng

lực quản lý tài chính doanh nghiệp để triển khai thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước “Dự án Umbrella” (2017), là một trong những dự án hợp tác kỹ thuật giữa Bộ tài chính Việt Nam và Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), đã đưa ra bốn khuyến nghị: (1) Tách bạch quyền sở hữu nhà nước với các chức năng quản lý, (2) Cải tiến cơ chế quản trị doanh nghiệp tại các DNNN đã được cổ phần hóa, (3) Tăng cường nănglực đối với hoạt động đầu tưmới, và (4) Hỗ trợ xây dựng Bộ chỉ số Quản lý rủi ro (Bộ chỉ số QLRR).

Nghiên cứu về định hướng phát triển của SCIC, nghiên cứu của JICA (2014) thì SCIC nên chuyển từ “Người quản lý” sang “Nhà đầu tư”, bài học rút ra quá trình phát triển của Temasek Holdings có thể là một bài học hữu ích cho SCIC. Cụ thể, giai đoạn 1- Temasek bắt đầu với việc tiếp nhận vốn nhà nước trong các doanh nghiệp

24

khởi sự và liên doanh (năm 1974 – 1972). Giai đoạn 2- Temasek tiếp nhận các tập đoàn kinh tế như viễn thông, dịch vụ công ích khi mà các tập đoàn này đã phát triển

về quy mô và ổn định về lợi nhuận (năm 1992 – 2003). Giai đoạn 3 – Temasekđã chỉđịnh tổng giám đốc đầu tiên ngoài ngoài khu vực quốc doanh, thay đổi nhân sự lãnhđạo và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài (2003 đến nay). Cả SCIC và Temasek đều làcác công ty“đầutư và kinh doanh” vốn nhà nước, chứkhông phải là các công ty “quản lý”vốn nhà nước. Theođó,mục tiêu được đặt lên vị trí cao nhất của cả SCIC là đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất trongviệc đầu tưvà kinh doanh vốn nhà nước, chứ không phải là quản lý vốn.

Hội thảo vào khoa học về chiến lược phát triển của SCIC (2019), mục tiêu của SCIC là trở thànhtổ chức đầu tưtài chính chuyên nghiệp hàng đầu của chính phủ, với sứ mệnhthúc đẩy tiến trình cơ cấu lại, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhànước và nâng cao hiệu quảđầu tưkinh doanh vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Mục tiêu tổng quát giaiđoạn từ năm2020đến năm2025, SCIC phấn đấu thành tổ chức đầu tưtài chính chuyên nghiệp và hàng đầu với quy mô tổng tài sản đạt khoảng 79.000tỷđồngvà đến năm 2035, trở thành 1 trong 10 tập đoànđầu tưtài chính có quy mô vốn chủ sở hữu hàng đầu Việt Nam.

Các nghiên cứu trên cho thấy SCIC cần chủ động trong chiến lược đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, do vốn của SCIC phần lớn là vốn tiếp nhận từ các DN, nên vốn hoạt động bằng tiền có thể sử dụng cho đầu tư không nhiều, trong khi các dự án mà SCIC nghiên cứu đầu tư chủ yếu thuộc các lĩnh vực chiến lược quan trọng trong nền kinh tế, lại đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Làm thế nào để SCIC phải đóng vai trò là một nhà đầu tư chiến lược hiệu quả thông qua việc định hướng và xây dựng giá trị chiến lược, đóng vai trò tiên phong trong thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đểtrở thành các doanh nghiệp hiệu quả cao, kinh doanh trong lĩnh vực trọng điểm màchính phủ cần nắm giữ cổ phần sở hữu chi phối, đâylà vấn đề cần được nghiêncứu một cách thấu đáo.

25

1.2.2. Tác độngtừ đầu tư, hiệu quả hoạt độngcủa SCIC

Khi phân tích cơ chế quản lý, hoạt động đầu tư kinh doanh vốn nhà nước tại SCIC, Kim, Nam, & Cuong (2010), cho rằng vai trò củaSCIC cần được mởrộng trong tương lai, SCIC có thể nắm giữ quyền sở hữu trong các tập đoàn và tập đoàn kinh tế lớn nói chung, nếu có nhiều tổng công ty hay tập đoàn kinh tế ở xa, SCIC cũng có thể xem xét thành lập SCIC I, SCIC II và SCIC III. Điều này cũng có thể giải quyết vấn đề giám sát số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước ở xa. Khi các tổng công ty hoặc tập đoàn kinh tế nằm dưới sự kiểm soát của SCIC.

PhạmThịHương (2016),sửdụng phương pháp nghiêncứutổnghợpcác báo cáo của SCIC và kiểm toán nhà nước, từ đó đưa ra nhận định là hiệu quả hoạt động của SCIC chưa cao vì cơ chế chính sách thiếu cập nhật, thiếu vốn bằng tiền vàngườiđạidiện phầnvốnnhànướccũng như tình hình quản trị doanh nghiệp còn yếu. Về cơ chế quản trị doanh nghiệp, SCIC đóng vai trò như cổ đông tích cực thông quaủyquyềnngườiđạidiện, có tham giaýkiếntạicácđạihộicổđông, biểu quyết thông qua các phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này phùhợp với nhận định rằng SCIC phát huy vai trò quyền cổ đông năng động của nhànước, hỗ trợ tái cơ cấu nâng cao hiệu quả hoạt động và xử lý tồn tại của các doanh nghiệp SCIC có đầu tư. Tuy vậy, Phạm Thị Hương (2016), cho rằng trách nhiệm và địa vị pháp lý người đại diện phần vốn nhà nước tại DN chưa được rõ ràng, vàquyền lợi người đại diện chưa gắn kết với sự phát triển của doanh nghiệp. Đồng quan điểm trên, theo Phạm Phú Quốc (2015), cũng thảo luận về công ty quản lývốnnhànước,nhưngđốitượnglà công ty TNHH MTVcủathànhphốHồChíMinh (HFIC). Tác giả cho rằng HFIC đã có kết quả hoạt động khá tốt, nhưng một số tồn tại cần được khắc phục để có thể nâng cao hiệu quả hơn. Các giải pháp vềcơ chế nâng cấp quản lý phù hợp, thực hiện vai trò doanh nghiệp nhà nước, tăng mức đồng bộ và hệ thống của hệ thống luật pháp, cơ chế quản trị về quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong các công ty TNHH MTV chưa rõ ràng và thiếu tính minh bạch.

26

Cùng vấn đề này tác giả Trần Du Lịch (2013), nhận định rằng để kinh doanh vốn của Nhà nước theo mô hình công ty đầu tư tài chính nhà nước hiện nay (SCIC) cần đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình này, có thể cần tổ chức 3 tổng công ty quản lý kinh doanh vốn nhà nước theo mô hình công ty đầu tư tài chính, hoạt động như một công ty công cộng (Công ty đầu tư tài chính nhà nước của thành phố Hồ Chí Minh – HFIC – là một loại hình này, nhưng của địa phương). Nguyễn Ngọc Sơn (2012) cũng cho thấy, đầu tư vốn Nhà nước tại các DN còn dàn trải, chưa tập trung vào những lĩnh vực quan trọng, chiến lược mà Nhà nước cần chi phối. Mặt khác, công tác quản lý vốn còn nhiều đầu mối với nhiều cơ chế khác nhau, dẫn tới hiệu quả sử dụng vốn nhà nước chưa cao. Thực trạng sử dụng vốn nhà nước chưa hiệu quả là do bộ máy quản lý nhà nước đồng thời làbộ máy thực hiện quyền sở hữu nhà nước. Thống nhất với nghiên cứu trên, Lê Việt Hà(2015) cho rằng SCIC giống một công cụ thực hiện các chức năng của chính phủ hơn làmột cơ quan độc lập với các hoạt động quản lý nhà nước. Do số vốn nhà nước chuyển về ít mà SCIC vẫn tiếp tục thực hiện bán vốn nhà nước nên đang phải đối mặt với quy mô vốn nhà nước ngày càng thu hẹp. Bên cạnh đó cơ chế đầu tư vốn còn chịu bó buộc về cơ chế phải báo cáo các cơ quan cấp trên. Bài học rút ra từ các mô hình quản lý vốn nhà nước hiệu quả ở các nước Châu Á đó là sự tập trung cao độ về quy mô vốn về một đầu mối, quyền hạn được trao tương xứng với mục tiêu đề ra, không có sự can thiệp quásâu của cơ quan cấp bộ, cần tránh những can thiệp về chính trị. Theo Nguyễn Hồng Long (2019), SCIC trong thời gian qua có kết quả sản xuất, kinh doanh khả quan. Thoái vốn là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, thể hiện rõ vai trò của SCIC trong quátrình tái cơ cấu các DNNN. Lũy kế đến nay, SCIC đã tổ chức bán vốn tại 995 doanh nghiệp và bán quyền mua tại 19 doanh nghiệp với giá vốn hơn 11.000 tỷ đồng và thu vềhơn 47.000 tỷ đồng. Để chiến lược hoàn thành cần có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn đầy đủ. Cơ sở pháp lý đang còn thiếu, bởi SCIC là một doanh nghiệp đặc thù, khác với mọi tập đoàn, tổng công ty về cơ cấu tổ chức nên cần có các cơ sở pháp lý khác. Cơ sởthực tiễn là nguồn lực tài chính, SCIC đã có kinh nghiệm và thành quả nhất định trongđầu tư và kinh doanh vốn, do vậy có thể giao SCIC quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

trong việc thoái vốn… để chuẩn bị tốt về nguồn lực tài chính.

27

Vềhiệu quảhoạt động của các SWF, SCIC, Nguyễn Đức Thọvà cộng sự(2012) nhận định SCIC đã tuân thủ nhiệm vụ của mình (để giúp quản lý nhà nước vốn và để nâng cao hiệu quả sử dụng) chủ yếu bằng cách tạo điều kiện và thực hiện chương trình cải cách DNNN chính thức. Các dữ liệu có sẵn cho thấy vì SCIC thành lập, nó đã đóng một phần quan trọng trong việc thoái vốn nhà nước với số lượng lớn nhỏ các DNNN và việc đó đã giúp nhà nước có được mức giá hợp lý cho tài sản nhànước đã được bán cho các nhà đầu tư khác. Đến nay, SCIC đã trở thành một trong những doanh nghiệp lớn nhất các thực thể trong nền kinh tế, mặc dù nó vẫn rấtnhỏtheo tiêu chuẩn của SWFs khu vực. Đánh giá về hiệu quả hoạt động, tác giả Nguyễn Văn Trình, Trần Đức Trương (2013), về vấn đề hiệu quả hoạt động của các DNNN

không thể chỉ dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả tài chính như: Doanh thu, lợi nhuận…màphải dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội như chất lượng các hàng hóa vàdịch vụ tốt, giá cả phù hợp với khả năng chi trả của toàn xã hội trong từng thời điểm

cụ thể của trình độ phát triển kinh tế – xã hội, nộp ngân sách, giải quyết việc làm… Chỉ tiêu tài chính chỉ cần đảm bảo hạch toán đầy đủ, chính xác, trung thực các chi phí và doanh thu đảm bảo bù chi phí, không nên đặt nặng chỉ tiêu lợi nhuận. Nên tái cấu trúc lại SCIC trên cơ sở tăngcườngthẩm quyền, năng lực và tập trung toànbộ vốn tại các DNNN,kể cả tập đoàn,tổng công ty nhà nước cho SCIC quản lý. Tác giả NgôVăn Vũ (2016) khi nói về giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước cho rằng vai trò của chính phủ là nhà đầu tư chiến lược cần được tăng cường hơn nữa thông qua các hoạt động của SCIC, như một đại diện sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, SCIC cần phải làm cho lớn hơn và nỗ lực hiệu quả hơn trong quản lý của họ, đầu tưvà kinh doanh vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cảnền kinh tế nhà nước các nhóm và các tập đoàn nhà nước.

Theo tác giả Trần Xuân Tú (2019) cho rằng,để nângcao hiệu quả sử dụng vốn, SCIC cần phải có các chuỗi hành động từ khâu lập kế hoạch phân bổ tài sản, các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại DN có vốn đầu tư (quản trị vốn đầu tư), xác định các lĩnh vực đầu tư (ngành đầu tư chiến lược), tìm kiếm lựa chọn cơ hội đầu tư. SCICcần chủ độngchuẩn bị sẵn sàng tài liệu phục vụ cho công tác đánh giáhệ

28

số tín nhiệm SCIC để xúc tiến hợp tác với các tổ chức tài chính lớn trong và ngoài nước để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm trong việc huy động vốn. Kubo & Phan (2019), nghiên cứu ảnh hưởngcủa SWF đến hiệu suất của công ty mục tiêu bằng cách sửdụng dữ liệu về các công ty niêm yết ở Việt Nam. Cho thấy rằng quyền sở hữu nhànước của các công ty niêm yết có liên quan tích cực đến hiệu suất của công ty. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng tác động của sở hữu nhà nước khác nhau tùy thuộc vào loại sở hữu nhà nước. Các công ty hoạt động tốt nhất khi được kiểm soát bởi chủ sởhữu nhà nước dưới hình thức của SWF. Nghiên cứu cũng thấy rằng mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hiệu suất công ty là phi tuyến. Nhìn chung nghiên cứu đóng gópđáng kể vào sự phát triển của bằng chứng về tác động của sở hữu nhà nước, tác động của loại chủ sở hữu nhà nước và vai trò kiểm soát các cổ đông trong quản trị doanh nghiệp khuôn khổ. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ giới hạn đến hiệu quả tài tài chính của doanh nghiệp mục tiêu.

Từ các nghiên cứu trên, nhận thấy SCIC là công ty “đầu tư và kinh doanh” vốnnhànước,chứkhông phải là các công ty“quảnlý”vốnnhànước.Do đó, mục tiêu được đặt lên vị trí cao nhất của SCIC là đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất trong việc đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, chứ không phải là quản lývốn. Tuy nhiên thay vì đưavốncho SCICđầutư kinh doanh thì chúng ta lại chuyển các DN cổ phần hóa về cho SCIC quản lý thoáivốn để lấy tiền đầu tư. Do đó, về bản chất, chức năng chỉ tập trung cho đầu tư kinh doanh vốn nhà nước của SCIC đã không được đảm bảo, mà thay vào đó phải phân tán vào các chức năng như thoáivốnvàcổphần hóa. Ngoài ra, do SCICvẫnchưađượctách ra hoạt động độc lập mà còn phải chịu sự quản lý của nhà nước, nên hiệu quả đầu tư kinh doanh vốn của SCIC là chưa thực sự lớn.

1.2.3. Vấn đề minh bạch và cơ chế quản trị của SCIC

Nghiên cứu của Đinh Bảo Ngọc (2016), cho thấy tỷ suất lợi nhuận bất thường trung bình tích lũy (CAAR) của cổ phiếu doanh nghiệp mục tiêu nhận được đầu tưcủa các SWF có tính minh bạch thông tin cao hơn CAAR của các cổ phiếu mà SWF

29

ít minh bạch thông tin đầu tư. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Hương (2016) về cơ chếquản trịdoanh nghiệp, SCIC đóng vai trò nhưcổđông tích cực thông qua ủy quyền người đại diện, có tham gia ý kiến tại các đại hội cổ đông, biểu quyết thông qua các phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này phù hợp với nhận định

rằng SCIC phát huy vai trò quyền cổ đông năng động của nhà nước, hỗ trợ tái cơ cấu nâng cao hiệu quả hoạt động và xử lý tồn tại của các doanh nghiệp SCIC có đầu tư. Tuy vậy, Phạm Thị Hương (2016) cho rằng trách nhiệm và địa vị pháp lý người đại diện phần vốn nhà nước tại DN chưa được rõ ràng, và quyền lợi người đại diện chưa gắn kết với sự phát triển của doanh nghiệp.

Tác giả Lê Thị Thanh (2011) đã đúc kết các hiểu biết về công ty quản lý vốn nhà nước thành sách chuyên khảo. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ mang tính chất tổng hợp các văn bản pháp lý về cơchế hoạt động và đầu tưcủa công ty quản lývốn. Theo Lê Thị Thanh (2011), chủ sở hữu là chủ của các nguồn lực, trong doanh nghiệp họ là chủ sở hữu doanh nghiệp và các cổ đông. Hội đồng quản trị thường bao gồm các cổ đông lớn nắm cổ phiếu của doanh nghiệp, HĐQT là đại diện trực tiếp của chủ sở hữu doanh nghiệp. Còn người đại diện là người được ủy quyền (được thuê) của chủ sở hữu nguồn lực và được chủ sở hữu nguồn lực trao một số quyền quản lýnhất định đối với nguồn lực của chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu. Cụthể trong các doanh nghiệp, các giám đốc, quản lý và người làm công là người được ủy quyền (được thuê) để tối đa hóa lợi nhuận từ doanh nghiệp cho chủ sở hữu.

Bảng 1.1. Nhận xét chung về tổng quan các công trình nghiên cứu

Nghiên cứuSWF quốc tếSCIC tại Việt Nam
Chiến

lược đầu tư, mức sở hữu

1. Về chiến lược đầu tư

– Vềmụcđíchđầutư, Kotter và Lel (2009): SWF theo đuổi các mục đích phi tài chính, phục vụ các lợi ích mang tính

1. Về chiến lược đầu tư

– Về chiến lược đầu tư, Nguyễn Đức Thọ (2012) và cộng sự nhận định SCIC vai trò của SCIC giống với vai

30

của SWFchiếnlượctầmquốc gia. Trong khiđóChesterman (2008) cho rằngquỹmạo hiểm quan tâmđếnviệctốiđa hóa lợi nhuận.

– Về phạm vi đầu tư, Bernstein và cộng sự(2013) lập luận rằng SWF đầu tưtrong nước cao hơn.

– Về yếu tố tác động đến đầu tư,Shleifer và Vishny, (1994); Knill và cộng sự(2012a): Áp lực chính trị ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định đầu tư của SWF, quan hệ chính trị đóng một vai trò quan trọng trong các quyếtđịnhđầutư của SWFs. Trong khi đó Avendano vàSantiso (2009) cho rằng các quyếtđịnhđầu tư của SWF không bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.

2. Về quyết định mức sở hữu của SWF

-Vềlựa chọn doanh nghiệp mục tiêu đầu tư,Gangi và cộng sự (2018), quỹphi hàng hóa (non-commodity funds) thường chọn đầu tư vào các doanh nghiệp có hiệu quảtốt, phục vụmục đích phát triển của quốc gia. Fernandes

(2009) co rằng SWF chọn cổ phiếu của các công ty lớn và có lợi nhuận.

tròcủa Ủy ban Giám sát và quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc (SASAC)mặcdù nó cóthểmong muốn giống với Temasek trong dài hạn. Võ Thanh Hà (2016) cho rằng SCIC cần quyết liệt thực hiện mục tiêu trong tổng thểchiến lược phát triển, gắn bó và đồng hành cùng DN để vốn nhà nước đầu tư tại DN được bảo toàn và phát triển.

– Về phạm vi đầu tư, Phạm Thị Hương (2016) danh mục đầutư của SCIC

gồm công ty thuộc nhiều ngành nghề, quy mô (nhưng đa số là công ty quy mô nhỏ) và có khó khăn về tài chính. Trần Xuân Tú (2019) SCIC đầutưvào các DN thuộc mọi thành phần kinh tế (trừ các DNNN hoạt động công ích và DNNN an ninh quốc phòng). Nguyễn Ngọc Sơn (2012) dùng nguồn lực tài chính, thông qua việc tham gia vốn vào các doanh nghiệp trong nền kinh tế; đầu tư cótrọng tâm, trọng điểm vào những lĩnh vực then chốt mà nhà nước khôngthểkhông có mặt. Bùi Đức Long (2016) cho rằng cần bổ sung vốn vào các DN

31

– Về lựa chọn môi trường đầu tư, Candelon và cộng sự (2011), Chhaochharia và Laeven (2009): cho rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô, thể chếpháp lý vững chắc cũng có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của SWF.

– Về vai trò SWF tác động đến doanh nghiệp mục tiêu, Dewenter và cộng sự(2010) cho rằng SWF đóng vai trò tích cựctrong quyếtđịnh củacác công ty mụctiêu như quảntrịcác nguồn thu,đềxuất và chọn giámđốc.Trong khiđó, Fernandes (2009) cho rằng các

SWF không có mục tiêu kiểm soát các doanh nghiệp nhận đầu tư vốn. Nhiều nghiên cứu, các loại hình SWF khác nhau có chiến lược đầu tư khác nhau. Các SWF có xuhướngđầu tưđa dạngđể làm giảm rủi ro, cũng như theo lý do chính trị.

có vốncủa SCIC, các dựán, ngành, lĩnh vực đem lại hiệu quả nền kinh tế

–Vềphương pháp nghiên cứu, Đinh Ngọc Bảo (2016) sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, đã đánh giáđược tác động mức đều tư của Quỹđầu tư quốc gia đến giá trị doanh nghiệp. Chiến lược phát triển của SCIC (2019),Mụctiêu tổng quát giaiđoạn từ năm 2020 đến năm 2025, SCIC phấnđấuthànhtổchức đầutưtài chính chuyên nghiệp, hàngđầu,đếnnăm 2035,trởthành 1 trong 10 tậpđoànđầutư tài chính có quy môvốnchủsởhữu hàngđầuViệt Nam.

Các nghiên cứu chưa nhiều. SCIC đầu tư đa ngành nghề và quy mô, chủ yếu nắm giữ cổ phần ở cácdoanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tếViệt Nam.

Tác

động từđầu tư, hiệu quảhoạt

động

– Về tác động từ đầu tư, SWF làm giảm giá trị của DN mục tiêu: quan tâm đến các mục tiêu chính trị, thu hồi cổ đông thiểu số, có thểảnh hưởng đến chiến lược của DN mục tiêu. Tuy nhiên, cóSWF có thể tăng hiệu suất và giá trị của DN mục tiêu: giúp họ tiếp thị sản phẩmCác nghiên cứu chưa nhiều SCIC cóhiệu quả còn hạn chế

– Về tác động từ đầu tư, Kim, Nam, & Cuong (2010), SCIC cần được mởrộng trong tương lai, có thểxem xét thành lập SCIC I, SCIC II và SCIC III

32

của SWFtại thị trường, nới lỏng các hạn chế tài chính. SWF được kỳ vọng có tác động tích cực đến hiệu quả DN mục tiêu.

-Vềhiệuquả đầutư, theo Raymond (2008) khi một SWF đầu tư vào

doanh nghiệp mục tiêu có thể dẫn đến ba kết quả khác nhau: 1. SWF không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến một công ty. 2. có tác động ngắn hạn đến các công tymụctiêu. 3. Là giácổphiếucủacác công ty cóthểbịảnh hưởng dài hạn. Knill và cộng sự

(2012b), Park và cộng sự (2018) SWF có tác động làm biếnđộng trong suất sinh lời của doanh nghiệp mục tiêu trong khung thời gian 5 năm. Gangi vàcộng sự (2018), theo phạm vi và nguồn gốc của tài sản của SWF, kết quả này xác nhận sự không tương đồng của SWF về mặt chiến lược đầu tư.

– Về hiệu quả đầu tư, Phạm ThịHương (2016), là hiệu quả hoạt động củaSCIC chưa cao vì cơ chế chính sách thiếucậpnhật, thiếu vốn bằng tiền và người đại diện còn yếu.

Lê Việt Hà (2015) cho rằng SCIC giống một công cụ thực hiện các chức năng của chính phủ hơn là một cơ quanđộclậpvớicác hoạtđộng quản lý nhà nước.

Nguyễn Đức Thọ (2012), Nguyễn Hồng Long (2019), thời gian qua thoái vốn là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, thể hiện rõ vai tròcủa SCIC trong quá trình tái cơ cấu các DNNN.

Kubo & Phan (2019), cho thấy rằng quyền sở hữu nhà nước của các công ty niêm yết có liên quan tích cực đến hiệu suất của công ty.

33

–Vềphương pháp nghiên cứu, có 2 nhóm: nghiên cứu sự kiện (event study và sửdụng các phương pháp khác đểđánh giá tác động của các khoản đầu tưSWF. Các nghiên cứu định lượng:

Kotter và Lel (2011) gồm 417 khoản đầu tưcủaSWF. Megginson và cộng sự (2013), Megginson và Fotak (2015), Fernandes (2009), Anderloni vàVandone (2012), Bertoni và Lugo

(2014).

Vấn đềminh

bạch và cơ chếquản trịcủa SWF

– Vấn đềminh bạch: hầu hết SWF cóxu hướng không tiết lộloại thông tin, đặc biệt là những SWF đếntừTrung Quốc và Trung Đông vẫn không tiết lộmục tiêu của họ. Trong khi đó, Na Uy và Singapore nỗ lực nâng caomức độminh bạch SWF

– Cơ chếquản trị: Aggarwal và cộng sự (2018) tính minh bạch kém của các SWF, thấy văn hóa của từng quốc gia có ảnh hưởng đến cơ chế quản trị. Chen, Harford và Li (2007) và Bortolotti và cộng sự (2009) xu hướng nghiên cứu khác tập trung vào khía cạnh quảntrịcủaSWFđốivới các doanh nghiệp mục tiêu.

– Vấn đề minh bạch: Các nghiên cứu chưa nhiều. SCIC có cơ chế quản trịchưa minh bạch nhiều.

Đinh Bảo Ngọc (2016), trung bình tích lũy (CAAR) của cổ phiếu doanh nghiệp mục tiêu nhận được đầu tư của các SWF có tính minh bạch thông tin cao

– Cơ chế quản trị

Phạm ThịHương (2016) vềcơ chếquản trị doanh nghiệp, SCIC đóng vai trò như cổ đông tích cực thông quaủy quyền người đại diện. cho rằng trách nhiệm và địa vị pháp lý người đại diện phần vốn nhà nước tại DN chưa được rõ ràng, và quyềnlợingười đạidiện

34

– SWF có tácđộngđếnquảntrịcủa doanh nghiệp mục tiêu: Parrino, Sias và Starks (2003) và Admati và Pfleiderer (2009), cho rằng SWF có khả năng tác động ban quản trị doanh nghiệp mục tiêu bằng cách rút lui nhưhoặc thể hiện qua việc bỏ phiếu (Del Guerico, Seery và Woitdke, 2008). Dinc và Erel (2013) SWF là nhà đầu tưthụ động sẽ gây ra các áp lực chính trịhoặc các phản đối về mặt pháp lý

– SWF ít tácđộngđếnquảntrịcủa doanh nghiệp mục tiêu: Trong khi nghiên cứu Miracky, Dyer, Fisher, Goldner, Lagarde và Pedrahita (2008) và Mechropouya, Huang và Barnett

(2009) cho thấy thậm chí khi các SWF nắm phần sở hữu lớn, các quỹ này cũng hiếm khi can thiệp vào việc quản lý của các giám đốc.

chưa gắn kết với sựphát triển của doanh nghiệp

Theo Lê ThịThanh (2011), chủsởhữu là chủcủa các nguồn lực, trong doanh nghiệp họ là chủ sở hữu doanh nghiệp và các cổ đông. Hội đồng quản trịthường bao gồm các cổđông lớn nắm cổ phiếu của doanh nghiệp, HĐQT là đại diện trực tiếp của chủ sởhữu doanh nghiệp.

1.3. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài

Tổng quan các nghiên cứu về SWF trên thế giới đã những đóng góp có giá trị cho lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu đã chỉ ra SWF có tác động đáng kể đến các doanh nghiệp mục tiêu. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả không thống nhất về tácđộng của SWF đến giá trị doanh nghiệp mục tiêu, do đó, việc nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng đến mối quan hệ giữa SWF đến giá trị doanh nghiệp là cần thiết. Các khoảng trống nghiên cứu bao gồm:

35

Thứ nhất, trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là SCIC được cho là có khá non trẻ, nhưng các nghiên cứu về SCIC cho đến nay vẫn chưa nhiều và chưa có các nghiên cứu vận dụng các mô hình thống kê định lượng nhằm xem xét yếu tố nào giải thích được quyết định đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư của SCIC dựa trên phương pháp thống kêđịnh lượng. Các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tách bạch sở hữu nhà nước với sở hữu cụthể của SCIC, trong khi đặc thù SCIC là một SWF, nắm trong tay vốn nhà nước, thì động cơ đầu tư sẽ khác với sở hữu nhà nước về trung bình. Việc phân tích tác động đặc thùSCIC là cần thiết, cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến sở hữu của riêng SCIC ở các doanh nghiệp Việt Nam.

Các nghiên cứu liên hệ các bài học về chiến lược đầu tư và hiệu quả đầu tư của các SWF mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho Việt Nam, nhưng đến nay chỉ có nghiên cứu của Đinh Ngọc Bảo (2016) sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện để liên hệ bài học của các SWF đến Việt Nam, và Kubo và Việt (2019) sử dụng phương pháp dữ liệu bảng. Tuy nhiên, nghiên cứu của Đinh Ngọc Bảo (2016) sử dụng mẫu nhỏ, đặc biệt làmẫu liên quan đến Việt Nam (5 công ty mục tiêu) nên mức tin cậy có thể không cao. Trong khi đó, Kubo và Phan (2019) sử dụng mẫu dữ liệu cũ (2006 – 2010), và không có tính so sánh với các SWF quốc tế khác. Vì thế, vẫn cần nghiên cứu trong đó so sánh hiệu quả đầu tư và phân tích các đặc điểm chiến lược đầu tư của các SWF và so sánh trực tiếp với SCIC ở Việt Nam, sử dụng mẫu tương đối lớn hơn để đảm bảo tính tin cậy tốt hơn. Ngoài ra, luận án còn bổ sung phân tích tình hình tài chính của chính SCIC và một sốSWF phi hàng hóa để đưa ra nhận định về hiệu quả của các công ty này.

Thứ hai, SCIC được sở hữu bởi nhà nước nên ngoài nhiệm vụ tài chính còn có các nhiệm vụ xã hội, phục vụ mục tiêu chính trị hay chiến lược quốc gia, trongđócóvấnđềphân phối. Cácmụctiêu nàychủyếucóthểthực hiệnđốivớicác doanh nghiệp trong nước, mà không phải các doanh nghiệp ở quốc gia khác. Cho đến nay, theo lược khảo của tác giả, các nghiên cứu về hiệu quả của SWF, trong đócó SCICchỉxoay quanh hiệuquảđầutưthểhiện qua suất sinhlờitừcác doanh nghiệp nhận đầu tư mà không tách bạch giữa doanh nghiệp ở nơi SWF được thành

lậphay nơi SWFđầu tưvào. Các nghiêncứutrướcsửdụngmẫu gồmcác doanh

36

nghiệp trong và ngoài nước nên không tập trung đánh giá tác động riêng đến hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước. Hơn nữa, các SWF phục vụ cho lợi ích của quốc gia, trongđócó nhiệmvụhỗtrợphát triển vững mạnh doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là lý do nên tập trung nghiên cứu vào mẫu các doanh nghiệp trong nước,đâylà khoảng trống nghiêncứuquan trọng chưađượckhai thác trong các nghiên cứu trước đây.

Thứ ba, SCIC có các mục tiêu khác ngoài tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp tư nhân thì các chỉ tiêu về hiệu quả cần được đánh giá ngoài chỉ tiêu về tài chính. Tuy nhiên, theo lược khảo của tác giả, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào so sánh các tác động sử dụng một bộ các chỉ tiêu bao gồm cả mặt tài chính và các phương diện phi tài chính. Nghiên cứu về tác động đến doanh nghiệp mục tiêu sử dụng bộ chỉ tiêu toàn diện hơn sẽ mang lại nhiều hàm ý quan trọng và đây cũng là một khoảng trống nghiên cứu quan trọng mà các nghiên cứu trước vẫn chưa xem xét. Về mặt lý luận, việc so sánh SCIC và các SWF trong cả hai phương diện hiệu quả sẽ giúp làm rõ các SWF ưu tiên phương diện nào, đây sẽ là cơ sở khoa học để đưa ra các hàm ý về cả mặt kinh tế và chính trị tại Việt Nam trong việc định hướng các hoạt động của SCIC.

Từ tổng quan các nghiên cứu và những khoảng trống nghiên cứu trên, tác giảxác định hướng nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu này sẽ xem sát vai trò của SWF, SCIC với các doanh nghiệp mục tiêu thuộc chính quốc gia sở hữu nó. (Các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tách bạch sở hữu nhà nước với sở hữu cụ thể của SCIC, trong khi đặc thù SCIC là một SWF, nắm trong tay vốn nhà nước, thì động cơ đầu tư sẽ khác với sở hữu nhà nước về trung bình. Như vậy, nghiên cứu này xem xét tác động của sở hữu của SCIC đến hiệu quảcủa các doanh nghiệp tại Việt Nam cung cấp một cái nhìn mới về tác động của SWF đối với cá doanh nghiệp ở quốc gia sở hữu SWF và đây là hướng tiếp cận chưa được thực hiện trước đây).

Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của SWF, SCIC sử dụng bộ chỉ tiêu toàn diện hơn về tài chính và phi tài chính và sẽ mang lại nhiều hàm ý quan trọng.

37

Nghiên cứu này cũng so sánh chiến lược đầu tư và hiệu quả đầu tư của SCIC với các SWF trên thếgiới tương đồng tính chất (SWF phi hàng hoá), từđó sẽcó những hàm ý chính sách cho SCIC tại Việt Nam.

Với các hướng nghiên cứu trên, dưới gốc độ kinh tế chính trị, tác giả sẽ phân tích, đánh giá và hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC.

Tóm tắt chương 1

Chương này đã trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan về nguồn gốc, vai trò, mô hìnhđầutư và hiệu quảđầutư của các công ty quản lýquỹnhà nước (SWF). Mặt khác, chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu về mô hình đầu tư, hiệu quả đầu tưvà đặc điểm quan trọng liên quan đến SWF như tính minh bạch và cơchế quản trị của SWF. Qua tổng quan đã cho thấy sự phức tạp trong các đối tượng mà SWF phục vụ và các SWF có các tác động không thống nhất đến doanh nghiệp mục tiêu, có thể kết luận rằng cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể sử dụng các thước đo toàn diện hơn về hiệu quả của các SWF.

Luận án là nghiên cứu bước đầu xemxét cụ thể về tác động của đầu tưcủa SCIC đến hiệu quả doanh nghiệp mục tiêu, sẽ đóng góp cho nghiên cứu về sự khác biệt của SCIC và SWF khác và về tác động đến hiệu quả xã hội của các SWF. Dựa trên các kết quả thực nghiệm có được, các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quảtài chính của SCIC nhưng vẫn đảm bảo các lợi ích xã hội sẽ được đưa ra.

38

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Quỹ đầu tư quốc gia trên thế giới

Có nhiều định nghĩa cho công ty đầu tư vốn nhà nước, trên thế giới gọi là Quỹđầu tưquốc gia SWF (Sovereign Wealth Fund), nên không có định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn, sau đây là một số định nghĩa SWF: Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Quỹ đầu tư quốc gia là những quỹ đầu tư công thuộc quyền sở hữu và quản lýcủa Nhà nước, quản lývà đầu tưtài sản tài chính trong dài hạn, chiến lược đầu tưhướng đến nhữngmục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo “Nguyên tắc Santiago” của Diễn đàn

SWF quốc tế (IWG – International Working Group on SWF), Quỹ đầu tư quốc giađược định nghĩa như những quỹ đầu tư thuộc định chế công có mục tiêu hoạt động xác định rõ ràng của quốc gia đó.

Nhìn chung Quỹ này có những đặc điểm chính như sau: Quỹ đầu tư quốc gia (SWF) là quỹ do nhà nước sở hữu, đầu tư vào các tài sản thực và tài sản tài chính, như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, kim loại quý và các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹtư nhân. Ngoài các tài sản trong nước, các SWF có thể đầu tư trên khắp thế giới. Hầu hết các SWF được tài trợ bởi các nguồn thu từ xuất khẩu hàng hóa hoặc từ nguồn dựtrữ ngoại hối tại ngân hàng trung ương. Ngoài ra, cũng có các trường hợp SWF được tài trợ bằng các nguồn là thặng dư ngân sách chính phủ hoặc các nguồn quỹ hưu trí (Butt và cộng sự, 2008). Các nguồn dự trữ này được dành riêng cho mục đích đầu tưnhằm làm lợi cho nền kinh tế của một quốc gia và dân chúng. Tính từ năm 2005 chođến nay, có hơn 40 SWF được thành lập và số vốn được quản lý bởi các SWF trong năm 2019 lên đến hơn 3.400 tỷ USD (SWFI).

39

SWF đã hoạt động trên 5 thập kỷ, trong vài năm gần đây các SWF đã gia tăng mạnh về số lượng cũng như hoạt động đầu tư. SWF có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí: mục tiêu hoạt động, nguồn hình thành quỹ hay mức độ minh bạch. Theo tổ chức SWFI, mỗi SWF có mục tiêu riêng, nhưng nhìn chung có thểtóm thành một số mục tiêu sau: (1) Tài trợ cho các dự án xã hội hay kinh tế đểthúc đẩy tăng trưởng và giải quyết việc làm; (2) Tăng quyền lực chính trị cho các chính trị gia và tăng khả năng nhận phiếu bầu của cử tri; (3) Tạo điều kiện cho vốn tăng trưởng cho các doanh nghiệp trong nước; (4) Bảo vệ nền kinh tế khỏi sựbiếnđộngquámứcdo doanh thu hoặc xuất khẩu; (5) Cungcấpsựổn định chống biến động giá dầu.

Nếu căn cứvào nguồn hình thành quỹ, SWF có thểchia làm 2 loại. Trong nhóm đầu tiên là các quỹ có nguồn tài trợ từ doanh thu xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, đặc biệt là dầu khí và các quỹ có được tài sản của các quỹthông qua thuế thu được của chính phủ. Nhóm thứ hai bao gồm các quốc gia tài trợcho SWF của họ bằng cách cho phép SWF được quản lý một phần dự trữ ngoại hối như Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc. Đây cũng là lý do các quỹ này được gọi làcác quỹ đầu tư vốn nhà nước phi hàng hóa (non-commodity SWF). Về mức độ minh bạch, mức minh bạch của các quỹ đầu tư nhà nước khác nhau. Một số rất minh bạch và các quỹ này công bố thông tin về nắm giữ cổ phiếu vào mỗi quý, trong khi các quỹkhác không công bố thông tin này.

Một số quỹ quan trọng suất sinh lời hơn thanh khoản và do đó có thể chấp nhậnrủiro cao hơn so với cácQuỹ dựtrữ ngoại hối truyền thống (theo SWFI). Ngoài ra, mức độ rủi ro có thể được chấp nhận bởi SWF cũng sẽ khác nhau tùy theo quốc gia. Các quốc gia có quan ngại về thanh khoản chỉ đầu tư vào các công cụ nợ thanh khoản cao. Ngoài ra, SWF trong một số trường hợp có đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước.

40

Một cách khái quát SWF là những quỹ đầu tư thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước, đầu tư vào tài sản tài chính và chính sách đầu tư của SWF hướng đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô.

Tóm lại, từ nghiên cứu trên cho thấy SCIC ở Việt Nam có các đặc điểm làmột SWF phi hàng hóa (non-commodity SWF), đây là yếu tố quan trọng làm cơsở để tácgiả chọn các SWF trên thế có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam cùng loại để so sánh khi nghiên cứu với SCIC.

2.1.2. Công ty đầu tư vốn nhà nước ở Việt Nam

Theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổng công tyĐầu tưvà Kinh doanh vốn nhà nước SCIC. Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là một tổ chức kinh tế đặc biệt của nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và các luật khác có liên quan.

Công tyđầu tưvốn nhà nước huy động vốn thông qua các hình thức phát hành chứng khoán, bán thương phiếu của doanh nghiệp nhà nước, vay của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Đảm bảo hoạt động chu chuyển vốn của doanh nghiệp nhànước một cách linh hoạt gắn với kinh doanh tiền tệ trên cơ sở tham gia thị trường tài chính, tín dụng thị trường vốn, thị trường chứng khoán; tham gia thẩm định các dựán, công trình, tài sản được đầu tư bằng vốn nhà nước. Thực hiện chức năng tư vấn hỗ trợ, cung cấp thông tin nhằm phục vụ cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước.

Công ty đầu tư vốn nhà nước có các đặc điểm: là tổ chức tài chính, chủ sở hữu công ty là nhà nước, do nhà nước đầu tư vốn; công ty đầu tư tài chính nhà nước làmột doanh nghiệp nhà nước, được thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhànước; công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính; chức năng của công ty là kinh doanh vốn nhà nước và là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Đối tượng hoạt động của công ty là doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có phần vốn góp của nhà nước,

41

như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài (Lê Thị Thanh, 2006).

Vốn của công ty đầu tư vốn nhà nước gồm: vốn ngân sách nhà nước cấp, vốn nhà nước đang có tại các doanh nghiệp khác được giao cho công ty; vốn và lợi nhuận thu được từ vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa và giao cho công ty; vốn thu được từ việc bán tài sản nhà nước, bán doanh nghiệp nhà nước và các nguồn vốn khác, Phan Thị Bích Nguyệt (2003) cũng đồng với quan điểm trên, tuy nhiên bổ sung thêm cũng công ty đầu vốn nhà nước với mục đích đầu tư vốn vào doanh nghiệp của nhà nước làđể đảm bảo đồngvốn, không những được bảo toàn mà còn sinh

lợi, tăng thêm giá trị. Đối tượng đầu tư của công ty là doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có phần vốn góp của nhà nước, như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Công ty đầu tư vốn nhà nước có vai trò thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp nhànước,thực hiện các biện pháp giải quyếtvấnđềtài chính của doanh nghiệp nhà nước. Đưa việc đánh giá, định giá tài sản nhà nước theo đúng giá trị trên thị trường, tạo thuận lợi cho quá trình cải cách doanh nghiệp, đặc biệt là quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Công ty đầu tư tài chính nhà nước là một công cụ điều tiết tài chính của nhà nước với mục tiêu can thiệp, xử lý các khoản nợcủa doanh nghiệp, cũng như nợ của các tổ chức tín dụng quốc tế, nhằm tránh cuộc khủng hoảng có thể xảy ra. Công ty là tổ chức hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp phát triển. Công ty đầu tư tài chính nhà nước còn mang ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ chế quản lý tài chính gián tiếp đối với doanh nghiệp nhà nước. Qua đóhình thành phương thức tài chính đạt hiệu quả cao nhất, ngoài ra công ty còn góp phần tạo ra môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý thống nhất và bình đẳng. Vai trò quản lý vốn nhà nước của công ty đầu tư vốn nhà nước được thể hiện:

Thứ nhất, khắc phục tính quan liêu, phiền hà, cản trở, hạn chế các công việc kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

42

Thứ hai, hạn chế dần và xóa bỏ tính ỷ lại, dựa dẫm, thụ động của các doanh nghiệp nhà nước vào nhà nước.

Thứba, biến quan hệnhà nước với doanh nghiệp từcấp trên với cấp dưới, mang nặng tính chất xin – cho sang quan hệ giữa hai đối tác.

Thứ tư, doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình sắp xếp lại, chuyển đổisởhữudướicác hình thứccổphần hóa, liên doanh,hợpdoanhvớidoanh nghiệp các thành phần kinh tế khác. Các loại hình doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp này hoạt động theo các quy định của luật doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam.

Mô hình này ở Việt Nam là Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước SCIC là một dạng SWF hoạt động với tư cách là tổ chức kinh tế đặc biệt của Chính phủ, thực hiện hai chức năng chính: Một là tiếp nhận vàđại diện chủ sở hữu vốn Nhànước tại các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên và hai là thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, thay mặt nhà nước nắm giữ quyền sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, thông qua việc thực hiện quyền sở hữu vốn để tham gia vào các quyết sách quan trọng của doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước với tư cách chủ sở hữu theo pháp luật quy định; lựa chọn và quyết định các lĩnh vực đầu tư; thực hiện giám sát và kiểm tra các hạng mục đầu tư quan trọng, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước.

Tóm lại, mô hình công ty đầu tưvốn nhà nước để quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là quản lý vốn nhà nước đang có ở các doanh nghiệp, dựa trên nguyên tắc phân định tách quyền quản lý nhà nước khỏi quyền quản lý kinh doanh, tách quyền sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp với quyền sử dụng vốn nhà nước vào các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm vừa tạo lập cho doanh nghiệp nhà nước chủ động hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, vừa bảo đảm sự kiểm soát thích hợp của nhà nước để bảo vệ lợi ích của nhà nước vềvốn đầu tư tại doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển.

43

2.1.3. Doanh nghiệp mục tiêu

Theo Luật Doanh nghiệp 2020 “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50%vốn điều lệ, tổngsố cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này”. Như vậy, các doanh nghiệp thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ được xem là doanh nghiệp nhà nước: Trường hợp một Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹcủa tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹtrong nhóm công ty mẹ – công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Trường hợp hai: Doanh nghiệp có thành viên là Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổngsố cổ phần cóquyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ – công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Với định nghĩa doanh nghiệp nhà trên, thì định nghĩa doanh nghiệp mục tiêu (target firm) là doanh nghiệp có vốn đầu tư của SWF, SCIC; nghĩa là SWF, SCIC làmột trong nhữngcổđông của doanh nghiệp mục tiêu. Phầnvốnđầu tư của SWF,

SCIC có thể là từ kế thừa phần vốn của nhà nước trước đó đã có ở doanh nghiệp mục tiêu, hoặc do đầu tư, mua mới cổ phần tại doanh nghiệp mục tiêu. Vì vậy, việc nghiên cứu mức sở hữu của SWF, SCIC tại các doanh nghiệp mục tiêu về thực chất tươngđồng với việc nghiên cứu chiến lược đầu tư của SWF, SCIC, hay nói cách khác các nhân tốnào ảnh hưởng đến quyết định mức sởhữu của SWF, SCIC tại các doanh nghiệp mục tiêu.

44

2.2. Các lý thuyết về công ty đầu tư vốn nhà nước

SCIC Việt Nam hay các SWF ở các quốc gia mặc dù là một tổ chức có nhiều mụctiêu ngoài theomụctiêutốiđa hóalợinhuận, nhưngđâyvẫnlà hình thức kinh doanh và vẫn lấy mục tiêu tạo lợi nhuận làm một tiêu chí quan trọng. Do đó, các nền tảng lý thuyết áp dụng cho SWF là nền tảng lý thuyết được áp dụng trong kinh doanh và quản lý. Nội dung phần này sẽ trình bày các nhóm lý thuyết có liên quanđếnnguồn gốc,mụctiêu hay cơchếhoạtđộngcủaSWF. Đặcbiệt, các lýthuyết này cũng giải thíchđược tácđộngcủaSWFđếnthịtrường và các doanh nghiệp mục tiêu nhận đầu tư của SWF.

2.2.1. Lý thuyết về tích tụ và tập trung vốn của Karl Marx

Vấn đề tích tụ tưbản của C. Mác chỉ ra tích lũy tư bản, trong kinh tế chính trịMác – Lênin là việc biến một bộ phận giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác, nó đơn giản là sự hình thành tư bản, tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và tư nhân. Từ những lý luận đó, ta thấy về bản chất, sự vận hành của các tổ chức tài chính kinh doanh nói chung, của SWF, hay của công ty đầu tư vốn nhà nước nói riêng là sự vận động nhằm tăng giátrị, tăng thêm nguồn vốn nói chung. Nhu cầu tích tụ, tập trung tư bản là yêu cầu của tổ chức tín dụng nói chung, hay các công ty vốn nói riêng; tích tụ là sự tăng lên của vốn thông quađầu tưvà kinh doanh vốn, còn tập trung là sự tăng lên của vốn thông qua gom vốn, hùn vốn, từ nhiều chủ sở hữu vốn với các hình thức khác nhau.

Như vậy, thực chất của tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư. Nghiên cứu tích lũy và tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa có thể rút ra các kết luận: nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản; quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa, nhưng sự biến đổi đó không vi phạm quy luật giá trị,độnglực thúc đẩy tích lũy tưbảnlà quy luật giá trịthặng dư và cạnh tranh. Bên cạnh đó, để cạnh tranh trên thị trường, các chủ thể kinh doanh phải có số tư bản đầu tư đủ lớn, phải có quá trình tích tụ, tập trung tư bản.

45

Vốn là một yếu tố đầuvào không thể thiếu và rất quan trọng trong các hoạtđộng kinhtế, đểnền kinh tế tăng trưởng cao thì nhu cầu về vốn càng lớn và đòi hỏi phải sửdụng hiệu quả nguồn vốn đó, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhu cầu tích tụ và tập trung vốn ở Việt Nam hiện nay rất lớn, tuy nhiên quản lý vốn đang diễn ra hết sức phức tạp, donềnkinhtếthị trường của Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu đan xen nhau. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đang tiến hànhcổ phầnhóa doanh nghiệp phát huy mọi năng lực cũng nhưmọi khả năng quản lý của họ từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Từ thực trạng đó, việc Nhà nước phải thành lập những tổ chức tài chính củaNhà nước để nắm giữquyền chủ động dẫn dắt nềnkinh tế là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với quy luật và thực tiễn tại Việt Nam.

Lý thuyết này cho thấy sựcần thiết phải hình thành các SWF nói chung vàTổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước tại Việt Nam (SCIC) nói riêng đểthể hiện vai trò của Nhà nước, đúng với định hướng chung của Đảng và Nhànước Việt Nam. Quy luật tích lũy tư bản thể hiện vai trò của nó trong việc huy động vốn ởcác doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN.

2.2.2. Lý luận về vai trò kinh tế nhà nước và quan điểm về kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa

Lý luận của Karl Marx về vai trò kinh tế nhà nước. Theo quan điểm của Karl Marx nhà nước có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, vai trò của nhà nước được thể hiện qua việc tổ chức thực hiện quản lý toàn bộ nền kinh tế một cách toàn diện và có hiệu quả, trong mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá của nhân dân. Để quản lý nền kinh tế nhà nước phải sử dụng hệ thống công cụ, kế hoạch thống nhất, trong mọi mặt, mọi khâu từ quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm, kiểm tra chặt chẽ mức độ lao động và mức độ tiêu dùng. Karl Marx chủ trương quản lý nền kinh tếdưới góc độ vĩ môtừ hiện tượngđến bản chất, trong một nền kinh tế thì cần phải có sựcan thiệp của nhà nước. Khi nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường sẽ có rất nhiều

46

khuyết tật, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế tối đa những khuyết tật và phát huy cao độ những mặt tích cực của kinh tế phát triển. Theo Karl Marx, trong nền kinh thế theo thị trường sẽ bộc lộ những hạn chế nhất định, nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì nền kinh tế không hoạt động không cân đối, tạo nên sự bất công, không dung hoà được các mối quan hệ và lợi ích. Nhà nước phải thực hiện đồng thời nhiều chức năng, trong đó có vai trò quản lý kinh tế, vai trò điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô đảm bảo sự phát triển ổn định về nền kinh tế, chống lạm phát và khuynh hướng

tạo ra sự cân đối giữa các ngành nghề, cân đối giữa cung và cầu, điều tiết sự lưu thông hàng hoá và tiền tệ. Nhà nước đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển, nhà nước dùng các chính sách tiền tệ, tài chính, tài khoá và các biện pháp đưa khoa học kỹ thuật công nghệ vào nền kinh tế thúc đẩy sự nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Trong đó, vai trònhà nước trong chính sách tiền tệ rất quan trọng và đặc biệt quan trọng là không đểnguồn vốn nhà nước bị thất thoát. Do đó, nhà nước phải linh hoạt thích ứng, duy trì và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế. Trong bất kỳ một quốc gia nào đều nhất thiết phải có sự tham gia điều tiết của nhà nước, Việt Nam ta theo đang xây dựng củngcốvai trò nhà nước trong nền kinhtế,trongđó cóchính sách tiền tệ, vốn nhà nước, trên cơ sở khoa học, tôn trọng quy luật thị trường có sự quản lý, điều tiết của nhà nước.

Lý luận của Keynes về vai trò kinh tế nhà nước, theo Keynes nhà nước cần có kế hoạch kinh tế dài hạn, đầu tư trên quy mô lớn và thông qua đó như một công cụ sửdụng để can thiệp trong quá trình kinh tế. Keneys cho rằng nền kinh tế không thể tựcân đối được, muốn có sự cân đối không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải cần sự điều tiết của nhà nước. Nhà nước tham gia vào thị trường như là biện pháp đểduy trì cầu đầu tư thông qua những chương trình hỗ trợ tín dụng từ ngân sách nhànước bằng hình thức các đơn đặt hàng, các hoạt động hỗ trợ thu mua của nhà nước; những độngthái này nhằm ổn địnhnềnkinhtế,tạora môi trường kinh doanh, bìnhổn thịtrường; giúp các doanh nghiệp thu về lợi nhuận, tạo sự ổn định cho các doanh nghiệp. Nhà nước sử dụng hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, như là những công cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế. Mục đích nhằm thúc đẩy lòng tin, tạo sự lạc quan

47

và tích cực đầu tư của các doanh nhân. Ông đề xuất bổ sung khối lượng tiền vào lưu thông tăng gía cả hàng hóa, từ đó tăng phần lời triển vọng tăng hiệu quả giới đầu tư tưbản. Điều này có thể dẫn tới lạm phát, Tuy nhiên nhà nước có thể chủ động tạo ra lạm phát nếu kiểm soát được làm phát sẽ làm giảm lãi suất tăng giới hạn đầu tư tư bản. Đểtrang trải những khoản chi tiêu của nhànước bùđắp nhữngkhoản thâm hụt của nhà nước và mở rộng đầu tưcủa nhà nước.Theo Keynes, chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua công cụ chính sách tài khóa, bao gồm thuế và chi tiêu ngân sách. Keynes nhấn mạnh vấn đề chi ngân sách và cho rằng chính phủ nên cung ứng những kích thích ban đầu bằng những công trình kinh tế công cộng. Những công trình kinh tếcông cộng đó, một mặt tạo ra việc làm, mặt khác dẫn đến tăng cầu về tư liệu sản xuất, nó còn có thể dẫn đến sự xuất hiện của những hình thức hoạt động dịch vụ thu hút khối lượnglao động lớn, làm tăng hơn nữa số lượng việc làm, nhu cầu tiêu dùng của cá nhân có khả năng thanh toán tăng tạo lực đẩy, kích thích khu vực kinh tế tư nhân phát triển, tạo niềm tin cho doanh nghiệp trong kinh doanh, cách thức can thiệp của chính phủnhư vậy sẽ dẫn đến hiệu ứng cho nền kinh tế. Từ những quanđiểm vàcách lập luận của Keynes có thể khẳng định rằng, nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết. Vì vậy,để thúcđẩy sự pháttriển đều đặn,nhà nước phải trực tiếp can thiệp và điều tiết vào kinhtế.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa đặc sắc Trung Quốc và vai trò kinh tế nhà nước. Trải qua hơn 40 năm cải cách và mở cửa, thành tựu lớn nhất đến nay về mặt lý luận là Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng và làm rõ lý luận những vấn đề cơ bản về nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc. Đại hội XVđột phávào vấn đề cốt lõi của xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc là vấn đề sở hữu. Sở hữu là mặt chủ yếu có tính chất quyết định nhất trong quan hệ sản xuất, mà quan hệ sản xuất lại quyết định kinh tế thịtrường, cho nên sở hữu có tác động đến chế độ xã hội, cải cách doanh nghiệp nhànước. Đến Đại hội XVIII, Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu lên nội dung quan trọng nhất của hoàn thiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường. Chế độ công hữu là chủ thể, kinh tế nhiều sở hữu cùng phát triển,

48

đây là trụ cột quan trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc và là nền tảng của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, kiên trì địa vị chủ thể của kinh

tế công hữu, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đại hội XXIX chỉ rõ cải cách thể chế kinh tế phải lấy việc hoàn thiện chế độ quyền tài sản và sắp xếp theo hướng thị trường hóa các yếu tố sản xuất làm trọng điểm; hoàn thiện thể chế quản lývốn quốc hữu các loại, cải cách thể chế nhận quyền kinh doanh vốn quốc hữu, nhanh chóng tối ưu hóa bố cục, điều chỉnh kết cấu, sắp xếp lại mang tính chiến lược đối với kinh tế quốc hữu, thúc đẩy vốn quốc hữu được bảo tồn và tăng giá trị, phòng ngừa cóhiệu quả việc thất thoát vốn quốc hữu; đi sâu cải cách doanh nghiệp quốc hữu, phát triển kinh tế sở hữu hỗn hợp, bồi dưỡng một loạt doanh nghiệp tốp đầu thế giới có sức cạnh tranh toàn cầu. Như vậy, bàn tay hữu hình của nhà nước cũng đã phát huy tích cực, điều tiết vĩ mô của chính phủ thông qua chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính phủ tácđộngvào thị trường để khắc phục những khiếm khuyết mà kinhtếthị trường mang lại. Nghiên cứu thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, thấy rõ vấn đề được xây dựng trên cơ sở khoa học, tôn trong thực tiễn, tổng kết thực tiễn nâng lên thành lý luận rồi quay trở lại chỉ đạo thực tiễn là những bước đi tôn trọng qui luật khiến cho cải cách kinh tế ở Trung Quốc thành công. Đây là kinh nghiệm giúp Việt Nam bài học có giá trịtham khảo cho phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò kinh tế nhà nước và nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa. Tại Việt Nam, qua hơn 35 năm đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XIII, thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trên thực tế, đặc biệt phát triển các vấn đề chủ yếu như xác định rõ hơn bản chất và phương hướng, phương thức phát triển kinh tế thị trường cũng như xácđịnh lộ trình hiện thực hoá. Nguyễn Hồng Sơn (2017), Tư tưởng phát triển kinh tế thịtrường trong xây dựng chủ nghĩa xãhội được đề cập trongVăn kiện Đại hội VI của Đảng. Tại Đại hội VII, lần đầu tiênĐảngđưa ra kháiniệm “địnhhướng xãhội chủnghĩa” để nhấn mạnh đặc trưng của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trườngở

49

Việt Nam trong thời kỳ quá độ. Đến Đại hội XII tiếp tục làm rõ hơn những vấn đềcốt lõi về bản chất nền kinh tế thị trườngđịnhhướng XHCN ở nước ta: Nền kinhtếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hànhđầy đủ, đồng bộtheo các quy luật của kinh tếthịtrường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của đất nước.Báo cáo chính trị trìnhĐại hội XIII xácđịnhtrong nền kinhtế thị trường địnhhướngxã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cânđối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nguyễn Phú Trọng (2021) một đặc trưng cơbản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúcđẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khókhăn.

Tính định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho thể chế kinh tế thị trường ở nước ta khác với kinh tế thị trường khác, đó là việc quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội vừa đảm bảo sự phát triển bền vững, vừa thể hiện rõ định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, thực hiện mục tiêu phát triển con người. Yếu tố xã hội trong nền kinh tế thị trườngđịnhhướng Xãhội chủnghĩa, song song với đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thì đặc biệt quan tâm lànâng cao đời sống nhân dân, mô hình này hướng tới tự do và công bằng xã hội. Nhận thức của Đảng về nguồn lực và cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN cũng có sự thay đổi theo hướng phát triển, hiện đại đặc biệt làthị

50

trường tài chính, tiền tệ, thị trường vốn, trong đó có sự cần thiết ra đời mô hình công ty đầu tư vốn nhà nước.

Bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, vai trò kiến tạo của Nhànước cóý nghĩa quyết định, tạo độnglực quan trọng phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế. Trong đó, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước rất quan trọngđể tạo nên sức mạnhkinh

tế cho quốc gia, đó là các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, sử dụng các chương trìnhđầu tưtín dụng, vốn nhà nước để tạo điều kiện và hướng dẫn sự phát triển của các ngành, các địa phương và các thành phần kinh tế. Xác định vai trò DNNN trong nền kinh tế với yêu cầu phải hoạt động có hiệu quả từ đó góp phần tạo ra động lực phát triển cho chính DNNN và định hướng cho các loại hình doanh nghiệp khác, với mục đích cuối cùng là thúc đẩy nhanh hơn sự phát triển đất nước, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội. Mặc dù số lượng chiếm tỷ lệ rất nhỏ về số lượng trong khu vực doanh nghiệp, nhưng DNNN vẫn là nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, lượng tài sản khổng lồ DNNN nắm giữ chưa phát huy hết được hiệu quả. Trongđócó không ít doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, làm thất thoát vốn nhà nước, thậm chíđứng trước nguy cơ phá sản. Công ty đầu tư vốn nhà nước có vai trò thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, thực hiện các biện pháp giải quyết vấn đềtài chính của doanh nghiệp nhànước,là một công cụ điều tiết tài chính của nhà nước.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *