MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Dân chủ và pháp luật đã là những giá trị tiến bộ,văn minh của nhân loại trong lịch sử. Trong điều kiện hiện nay, quá trình dân chủ hóa và nhấn mạnh vai tròcủa pháp luật trở thành xu hướng phổ biến và tất yếu của xã hội quốc gia và xã hội toàn cầu [Huntington SP (1993, 2003); Amartya Sen (2002a, 2002b), Fukuyama F
(1989), O’donnell G (2001, 2004), Peerenboom R (2000)…] Đối với Việt Nam, dân chủ và pháp quyền đãđược đặt ra và làbiến đổi có tính chất quan trọng nhất trong lý luận và thực tế của cách mạng Việt Nam từ sau 1986 thể hiện trong cương lĩnh phát triển đất nước và Hiến pháp 1992 sửa đổi,
Mặc dù có sự thống nhất cao về giá trị tiến bộ của dân chủ và pháp luật nhưng nhận thức về dân chủ, pháp luật rất đa dạng và khác biệt kể cả trong lịch sử, hiện tại thậm chí trong tương lai khi người ta bắt đầu nói đến dân chủ trong không gianđiện tử. Từsựkhác biệt trong nhận thức về dân chủ và pháp luật, sự thực hiện dân chủ và pháp luật không chỉ là đa dạng mà còn là sự bất đồng, mâu thuẫn sâu sắc ởmọi nơi và mọi cấp độ về việc đánh giá cácđiều kiện thực hiện dân chủvà pháp luật trên trên thực tế để lựa chọn những cách thức thích hợp để thực hiện dân chủvà pháp luật. Nếu như nhận thức và thực hiện dân chủ và pháp luật rất đa dạng vàcòn nhiều bất đồngthì mối quan hệ giữa chúng ít nhất cũng bất đồngởmức độtươngtựbởi vì quan niệm về dân chủ và pháp luật khác nhau dẫn đến sự khác nhau trong nhận thức về nội dung, tính chất mối quan hệ giữa chúng. Trong nhận thức,
dân chủvà pháp luật là hai khái niệm khác nhau, nhưng trên thực tế,trong nhiều trường hợp, những hiện tượng, sự kiện diễn ra chúng ta không thể tách biệt dân chủvà pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.
Với cách tiếp cận chức năng, dân chủ và pháp luật cũng chính là những phương thức quản lý của nhà nước và xã hội và vì thế những phương thức này khôngthểtriệt tiêu và loại trừ lẫn nhau trongviệc đạt đến mục đích chung là giải phóng con người. Hơn nữa, nếu coi dân chủ và pháp luật là hai phương tiện tổ chức và quản lýxã hội nhằm giải phóng và phát triển con người thì chúng ta không thể chọn để sử dụng một trong hai mà phải chọn cả hai.Đồngthời, việc sửdụng hai phương tiện này khôngđược phép xungđột,triệt tiêu hiệu quả của chúng và ảnh hưởngchung đến sự phát triển bền vững của xã hội. Về mặt khách quan, dân chủ và pháp luật với tư cách là những giá trị tiếnbộ chúng không thể đốilập và triệt tiêu lẫn nhau vàmong muốn của nhân loại làsựhài hòa, thống nhất giữa dân chủ và pháp luật. Trong thực tế lịch sử, không phải lúc nàomốiquan hệ này cũng tốt đẹp. Việc thực hiện pháp luật đôi khi lại trói buộc và kìm hãm dân chủ và thực hiện dân chủ chưađồngbộ có thể dẫn đến sựphá vỡ trật tự pháp luật. Nếu thực hiện quá trình dân chủhóa nhà nước, xã hội và quản lý xã hội bằng pháp luật không có sự tương thích vàđồng bộ, thì thực hiện chúng trong mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại tích cực với nhau lại càng khó khăn hơn.
Đối với Việt Nam, chúng ta đã thực hiện dân chủ và thực hiện dân chủ bằng pháp luật hơn 60 năm và cũng nằm trong điều kiện phát triển dân chủ chung của thếgiới nhưng dường nhưkết quả đạt được chưa đángđể tựhào vì nhiều nơi, nhiều lúc vẫn còn hiện tượngmất dân chủ nghiêm trọng.Đồngthời, quá trình xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ,tiến bộđể quản lý xã hội cũng như hội nhập quốc tế vẫn cần phải cốgắng nhiều hơn. Nguyên nhân của vấn đề phải chăng xuất phát từnhận thức và thực hiện dân chủ và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng ?. Tín hiệu tích cực là Đảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ song song với việc thiết lập chế độ pháp quyền và điều này đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp 1992 sửa đổi. Tuy nhiên,tầmquan trọng của việc xác định tính chất, nội dung mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật vẫn chỉ mới bắt đầu hơn làmột kếtquả và việc thực hiện mối quan hệ này một cách toàn diện trên thực tế cần phải có sự tìm tòi khám phá nhiều hơn nữa.
Tóm lại, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật là sựcần thiết khách quan với những ai mong muốn thực hiện dân chủ và pháp luật. Với ý những ý nghĩa nhưtrên, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
2/ Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
3/ Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Chính vì tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa dânchủvà pháp luật như trên cho nên, mục đích của luận án tập trung phân tích khái niệm dân chủ và pháp luật,sựcần thiết của mối quan hệ giữa chúng, những hình thức biểu hiện quan trọng nhất và sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật và đối chiếu với việc thực hiện và những điều kiện đểthực hiện trên thực tế mối quan hệnàyởViệt Nam.Từđó đưa ra những giải pháp hoàn pháp lý căn bản nhằm hoàn thiện việc thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trên cơ sở các điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, các nhiệmvụ đặtra là phân tích khái niệm dân chủ, khái niệm pháp luật để có thể phân tích sự tương tác giữa chúng. Một nhiệmvụcũng rất quan trọng khác là xác định cho được những hình thức biểu hiện cơ bản vàtính chất của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Dựa vào hình thức biểu hiện cơ bản và nội dung tương tác giữa dân chủ và pháp luật, luận án đánh giá, nhận xét việc thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam trong những điều kiện lịch sử cụ thể và xác định những điều kiện hiện naycủaViệt Nam. Trên cơsởđó,đưa ra những kiếnnghị đểhoàn thiện việc thực hiện mối quan hệ giữa dân chủvà pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

4/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Dân chủ có thể được hiểu là những giá trị, phương thức tổ chức và quản lý,
những lý thuyết…Dân chủ cũng hiện diện ởnhiều bình diện khác nhau và được nhiều ngành khoa học nghiên cứu. Ví dụ, “dân chủ là một dòng triết học chính trị” là nội dung nghiên cứu của triết học; “dân chủ là một chỉnh thể hiện thực (nền dân chủ) hay một hiện thực chính trị” được nghiên cứu bởi chính trị học; “dân chủ cũng là một hiện thực kinh tế”,“hiện thực xã hội”và “trạngthái của hệ thống quan hệquốc tế” [11, tr.7-31]. Với sựđa dạngvề nộidung và phương pháp tiếp cận nhưtrên, luận án không thể giải quyết toàn bộ những vấn đề về dân chủ mà tập trung xem xét những nội dung cơ bản của dân chủ được thể hiện trong pháp luật và khoa học pháp lý có liên quan đến dân chủ. Với pháp luật,sựnghiên cứu tươngđối ổnđịnh và có nhiều sự tương đồng hơn so với khái niệm dân chủ. Tương tự như vậy, pháp luật có nhiều nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội, nên luận áncố gắng phân tích những nội dung nào của luật pháp mà có liên quan trực tiếp đến dân chủ. Có thể nói, phạm vi nghiên cứu của luận án về dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng là sự giao thoa giữa ngành khoa học chính trịvà khoa học pháp lý.
Dân chủ, pháp luật có điểmchung là chúng được xem xét như là những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, do vậy phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ là sựtiếp giáp giữa khoa học pháp lý và khoa học chính trị.Cụ thểhơn, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, lý luận chungvề nhà nước và pháp luật vàluật hiến pháp là vùng khảo sát nhiều nhất và trọng tâm nhất. Bởi vì, Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, luật hiến pháp có một nội dung rất quan trọng là việc tổchức và thực hiện quyền lực nhànước,thực hiện dân chủ. Trong lĩnh vực khoa học chính trị, những nội dung về dân chủ, quyền lực dân chủ liên quan chặt chẽ với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước sẽ được khảo sát nhiều hơn. Nói tóm lại, phạm vi nghiên cứu chính của luận án là nhữngvấn đềpháp lý về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước dân chủ.
Đối tượngnghiên cứu trung tâm của luận án chính là mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật với đặc trưng, nội dung tương tác giữa dân chủ và pháp luật, hình thức biểu hiện của mối quan hệ này. Dân chủ và pháp luật không thể là gì khác nếu
6
không là những vấn đề về nhà nước.Đềcập đến dân chủ tứclà đềcập đến quyền lực nhà nước cũng như nói đến pháp luật không thể không nói đến quyền lực nhànước trong lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vì vậy, sự thể hiện ra bên ngoài củađối tượngnghiên cứu chính của luận án là những phương thức pháp lý của việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực đó
một cách dân chủ. Tuy nhiên, dân chủvà pháp luật cũng như mối quan hệgiữa chúng phải tồn tại trong những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá nhất định. Vì thế, đối tượng nghiên cứu của luận án cũng là những điều kiện ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ này.
5/ Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơsởphương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác, luận án xem xét mối quan hệ một cách toàn diện giữa dân chủ và pháp luật. Trong nội dung mối quan hệ,luận án cũngđặt mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trong mối quan hệ biện chứng, xác định mối quan hệ một cách toàn diện theo nhiều chiều cạnh khác nhau, xác định vai trò qua lại của dân chủ với pháp luật. Việc phân tích mối quan hệ cũng được đặt trong những bối cảnh lịch sửvà theo những trình tự lôgích
lịch sửnhất định để đảm bảo tính hợp lý của phương pháp duy vậy lịch sửcủa chủnghĩa Mác. Luận án cũng xem xét mối quan hệgiữa dân chủvà pháp luật như là
một hiện tượngtrong mối quan hệvới các điều kiện kinh tế,xã hội, văn hoá… Những phương pháp nghiên cứu cụthểđược thực hiện trong luận án là phân tích,
tổng hợp, so sánh…nhằm thực hiện nhữngmụctiêu, nhiệmvụcụthểcủa luận án.Với đối tượngnghiên cứu là thể chế dân chủ và pháp luật, phương pháp tiếp cận và phân tích thể chế là phương pháp cần thiết, trongđó xem xét và phân tích mối quan hệ này với ba khía cạnh, luật chơi, cơ chế và tổ chức (10, tr.10). Tiếp cận thểchế nhà nước dân chủ, thể chế pháp lý, giúp nắm bắt và giải quyết về mặt lý thuyết cũng như thực tế mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
6/ Ý nghĩa khoa học của luận án
Về mặt lý thuyết, luận án đóng góp bằng việc hoàn thiện hơn cách các thức tiếp cận dân chủ theo từng cấp độ và xem xét dân chủ là một mối quan hệ về quyền lực mà ở đây là quan hệ về quyền lực Nhà nước.Đồngthời, luận án cũng hoàn thiện hơn nội dung khái niệm pháp luật với cách tiếp cận về bản chất của pháp luật như là
7
mốiquanhệ giữa mặtchủquan và khách quan. Ý nghĩa khoa họcthểhiện trong sựphân tích nội dung mối quan hệ, hình thức biểu hiện và sự cần thiết qua lại của dân chủ và pháp luật. Tức là luận án đã đặt ra và phân tích mối quan hệ hay sự tương tác giữa dân chủ và pháp luật một cách đầy đủ và toàn diện.
Trên cơsởđưa ra và phân tích những hình thức biểu hiện của mối quan hệgiữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam, luận án đã đánh giá sơbộmối quan hệ này và đưa ra những lý giải xuất phát từthực tế của Việt Nam. Cuối cùng, luận án đãmạnh dạn đưa ra những kiến nghị trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật tại Việt Nam về nhận thức cũng như bằng những giải pháp thực tiễn.
Như vậy, ý nghĩa khoa học của luận án (hay điểm mới khoa học) là việc tiếp cận dân chủ trong khoa học pháp lý và tiếp cận pháp luật trên tinh thần dân chủ.Ýnghĩa khoa học của luận án cũng thể hiện thông qu sự phân tíchmốiquan hệ giữa dân chủ và pháp luật trên lý thuyết cũng như trong thực tế của Việt Nam. Một cách cụ thể, luận án đóng góp bằng việc đặt ra yêu cầu việc xây dựng và thực hiện pháp luật một cách dân chủ và thực hiện dân chủ bằng pháp luật.
7/ Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận chung, luận án gồm 3 chương. Chương 1,Sựcần thiết, nội dung và hình thức mối quan hệgiữa dân chủ và pháp luật,gồmbốn mục. Mục 1, phân tíchsựcần thiết khách quan củamối quan hệgiữa dân chủ vàpháp luật. Mục 2, phân tích các hình thức biểu hiện của mối quan hệ.Mục 3, nội dung mốiquan hệgiữa dân chủ và pháp luật. Mục 4, phân tích những yếu tốtácđộngđến mốiquan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Chương 2, Thực trạng của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ởViệt Nam gồm 2 mục. Mục 1, Trình bày các giai phát triển mối quan hệ giữa dân chủ vàpháp luật ở Việt Nam từ 1945 cho đến nay. Mục 2, phân tích thực trạng và nguyên nhân mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3, Hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ởViệt Nam. Mục 1, xác định những nhu cầu hoàn thiện mối quan hệ.Mục 2, trình bày những nguyên tắctrong quá trình thực hiện mối quan hệ.Mục 3, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
8
Chương 1: SỰ CẦN THIẾT, NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT
1.1 Sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật
Mối quan hệ nói chungđược hiểu là “Sựgắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sựvật khác nhau, khiến sựvật này có biến đổi,thay đổi thì có thể tác độngđến sựvật kia” [17, tr. 771].Từđiển Oxford định nghĩa về mối quan hệ “Là cách mà người hoặc sựvật được liên kết với nhau. Là sựliên kết mang tính chất đápứng, đối lập hay ưu trội giữa những sự vật hiện tượng”[131, tr. 763]. Như vậy, cóthể hiểu mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật bao hàm vai trò và sự tương tác qua
lại giữa dân chủ và pháp luật.
Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật mang tính chất khách quan vì xét ởmột khía cạnh nhất định,tựthân dân chủ đã cần pháp luật vì dân chủ là phương thức tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước nên nó phảitồn tạitrong những hình thức pháp lý. Khó có thể tưởng tượng quyền lực nhà nước dân chủ lại không mang hình thức là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Đốivới các chế độchuyên chế, dù quyền lực tột đỉnh nhưng vẫn phải mượn đến pháp luậtthì chế độdân chủ cũng sẽ như vậy. Ví dụ,hầuhết các triều đại Trung Quốc phong kiến độc tôn Nho giáo, một tư tưởng vốn không trọng pháp luật nhưng các triều đại này vẫn củng cố chếđộchuyên chế của mình bằng pháp luật. Ở khía cạnh này, cũng có thể coi mối quan hệnày là mối quan hệ giữa yếu tố bên trong (quyền lực dân chủ của nhà nước) và yếu tố bên ngoài (pháp luật về tổ chức và thực hiện quyền lực đó). Ngược lại, muốn phản ánh quy luật khách quan, thể hiện ý chí nhân dân để có thểhợp với lẽ phảivàđược thực hiện một cách tự nguyện và hiệu quả trên thực tế, pháp luật cần được xây dựng và thực hiện một cách dân chủ. Như vậy, có thể nói,tựthân pháp luật đã cần dân chủ. Do vậy, dù muốn hay không, các thế lực cai trị không thể quyết định sự
tồn tại, phát triển của dân chủ và pháp luật cũng như mối quan hệ giữa chúng vì mối quan hệ giữa chúng có tính chất khách quan, quy luật.
Với sựtiến bộ của nhân loại, quá trình dân chủ hóa và sự vai trò và của pháp luật được coi là tất yếu khách quan và diễn ra trên phạm vi toàn cầu và mọimặt củađời sốngxã hội và được nhấn mạnh nhất trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực
9
nhà nước vì dân chủ và pháp luật đã được chấp nhận như là một giá trị nhân loại vàmang tính chất phổ biến [2, 16, 21]. Xu hướng khách quan này đã dẫn đến nhu cầu thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa dân chủ với pháp luật. Chính vì vậy, nguyên tắc thứ7 trong Tuyên bố về dân chủ của Tổ chức Nghị viện quốc tế tại Cairô năm 1997 cho rằng: “Dân chủ chỉ có thể có được trên nền tảng sự tối thượng của luật pháp vàsựthực hiện quyền con người. Trong một nhà nước dân chủ, không ai ởtrên luật pháp và mọi người bình đẳng trước pháp luật” [109, tr.5]. Ngược lại, pháp luật của xã hội văn minh, tiến bộ không thể không có nội dung và tính chất dân chủ. Nhưvậy,sựđan kết giữa dân chủ và pháp luật là một quá trình phát triển tất yếu từ thấpđến cao theo lịch sử phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, dân chủ và pháp luật hình thành trong xã hội loài người,được thực hiện bởi con người, cho nên mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật cũng là sựcần thiết và mang tính chất chủquan, thể hiện ý chí, mong muốn củacon người. Với tư cách là những phương thức tổ chức và quản lý xã hội, quản lý nhà nước, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng là sản phẩm nhận thức chủ quan và cũng là kết quả của hoạt động có chủ đích của con người. Tính chủ quan thể hiện ở việc kẻ cầm quyền cũng như xã hội có nhận thức về dân chủ, pháp luật và mối quan hệgiữa chúng hay không và ở mức độ nào. Quan trọng hơn, dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng được thực hiện với nhữngđộngcơ, mong muốn nhưthếnào trên thực tế cũng chính là một biểu hiện quan trọng của tính chất chủ quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Như vậy, không phải mọi hệ thống pháp luật đều có tính chất dân chủ vàkhông phải mọi chế độ dân chủ là có pháp luật hay dân chủ và pháp luật không luôn luôn tồn tại và gắn kếtchặt chẽ với nhau. Vídụ,trong lịch sử,có những thờikỳpháp luật xuất hiện nhưng chưa xuất hiện dân chủ (chế độ quân chủ chuyên chế) vàcó thời kỳ dân chủ hiện diện nhưng pháp luật không tồn tại (dân chủ nguyên thủy). Có nhữnghệ thống pháp luật được thực hiện triệt để nhưng nó bảo vệ cho chế độchuyên chế và có nền dân chủ tồn tại trong điều kiện không có một trật tự pháp luật, hỗn loạn. Nói chung, mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và pháp luật chỉ xuất hiện trong những điều kiện khách quan nhất định song song với nhận thức, mong muốn thực hiện của con người.
10
Thực hiện dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng một cách hiệuquảlà hiện thực mang tính khách quan và cũng là mong muốn chủ quan của mọi xã hội. Tuy nhiên, nội dung và tính chất của sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật một phần phụ thuộc vào khái niệm dân chủ và pháp luật được hiểu như thế nào. Bởi vì,sựkhác nhau trong cách tiếp cận về dân chủ và pháp luật sẽdẫn đếnsựkhác nhau về tính chất và nội dung của mối quan hệ và thực hiện mối quan hệ. Chính vìvậy, điều quan trọng trước hết là phải xác định khái niệm dân chủ và pháp luật.
1.1.1 Khái niệm dân chủ và pháp luật
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ
Về mặt lịchsử, thuật ngữ Demokratos (dân chủ) xuất pháttừHy Lạp cổđại, là từghép của hai từ Demos (bình dân, nhân dân) và Kratos (quyền lực, cai trị). Dân chủ từng được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân hay nhân dân cai trị. Theo đó, khái niệm dân chủ có thể được giản lược thành những mệnh đề khác nhau như: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì
dân…[11,15, 16, 21]. Không dân chủ hay đối lập với dân chủ là độc tài, chuyên chế mà trong đó quyền lực không thuộc về nhân dân và không chịu một sự hạn chếnào với mục đích cai trị, trấn áp nhân dân.
Khái niệm dân chủcho đếnnay được hiểu rất đa dạng.Dưới góc độgiai
cấp,“…chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau, thì không thể nói đến dân chủ thuần túy được,mà chỉcó thểnói đến dân chủ có tính chất giaicấp” [68, tr 304]. Tiếp cận dưới góc độ giá trị, dân chủ được xem là giá trịtiến bộ củaxã hội. Tiếp cận thể chế, dân chủ là chế độ xã hội, chế độ nhà nước,chế độ bầu cử.Tiếp cận chức năng, dân chủ được xem là một trong những phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực [103, tr.16]. Khái niệm dân chủ có thể phức tạp hơn khi cần phải trả
lời cho câu hỏi: ai là dân và làm chủ như thế nàovà đólà một trong những nguyên nhân dẫn đến sựđa dạngvề khái niệm dân chủ và từđódẫn đến khác nhau trong việc xác định điều kiện, cách thức để thực hiện dân chủ [153, tr.3-24]. Nhìn chung, sựbất đồngvề khái niệm dân chủ nhiều hơn là sự thống nhất.
Dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, các lý thuyết về dân chủ hiện nay cónhữngđiểmtươngđối thống nhất là: Thứnhất, các vấn đề trung tâm của các lý
11
thuyết về dân chủ đều đặt mục đích vì con người và cho rằng nhân dân có quyềntựchủ,tựquyết định số phận của mình và chính nhân dân biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chính họ cũng. Vì lý do đó, các lý thuyết về dân chủ cho rằng sự phát triển của dân chủ là tất yếu khách quan và nó là yếu tố hợp thành nội dung của tiến bộ
lịch sử. Ví dụ, các tác giả Việt Nam như Thái Ninh, Hoàng Chí Bảo…hay quốctếnhư Armatya Sen, Fukuyama, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung đều thống nhất về giá trị tiến bộ của dân chủ. Trên thực tế,giá trị tiến bộ của dân chủ đã được khẳng định trong những văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ Đại hội 6 đến nay [70].Thứhai, một trong những nội dung trọng tâm của những lý thuyết về dân chủ đề cập đến những vấn đề về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước màquyền lực này có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân và vì dân. Vì dân chủ có nội dung trọng tâm là về quyền lực nhà nước cho nên khái niệm dân chủcầnđược xem xét tập trung trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hay cách tiếp cận dân chủ ở đây là tiếp cận thể chế. Thể chế ở đây được hiểu là các cơ chế thực thi, các tổ chức và các quy tắc điều chỉnh [10, tr.12].
Dân chủ trong luận án được xem xét theo hai khía cạnh như sau: khía cạnh thứnhất, dân chủ trong luận án được xem là một dạng quan hệ về quyền lực. Quan hệ này diễn ra giữa những bên có hoặc có quyền lực nhiều hơn và kẻ không có hoặc có quyền lực ít hơn và là quan hệ về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Thực chất, nó là quan hệ về một “lượng” quyền lực không đổi,kẻ này được nhiều hơn cũng có nghĩa là kẻ khác sẽ ít hơn và mong muốn nhất là quyền lực ngày càng thuộc về toàn thể nhân dân. Dân chủ có thể là sựban tặng của giai cấp thốngtrịnhưng trước hết nó phải là kết quả đấu tranh của giai cấp bị trị.Về chủ thể,đây là quan hệgiữa nhà nước và công dân mà nội dung của quan hệ này là việc tham gia thực hiện và chế ngựquyền lực nhà nước khi bị lạm dụng (chế ngựđược hiểu là ngăn chặn tác hại và bắt phải phục tùng [17, tr. 145]). Đây là quan hệ bất cân xứng vì nhà nước có điều kiện để thực hiện quyền lực của mình và buộc các cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ, trong khi cá nhân phải dựa vào nhà nước để thực hiện quyền và cũng dựa vào nhà nướcđể buộc nhà nước thực hiện trách nhiệm. Quyền lực gắn bó rất chặt chẽ với sựphục tùng, nó lấy sựphục tùng làm tiền đề,cho nên quan hệ về quyền
lực giữa nhànước và công dân phải bao hàmsựphục tùng của công dân trước
12
quyền lực mang tính chất dân chủ của nhà nước và sự phục tùng của nhà nước trước quyền lực của nhân dân [7, tr.355]. Về nguyên tắc,sựtuân phục của nhà nước trước nhân dân là tuyệtđối và vô điều kiệntrong khi sự phục tùng của nhân dân với nhànước là có điều kiện và có giới hạn. Quan hệ này có thể diễn ra giữa đa số với thiểu số và nó đãtrởthành nguyên tắc giải quyết quan hệ về quyền lựchay là phương thức ra quyết định: “quyết định theo đasố”.Phương thức ra quyết định theo đa số, tôn trọng ý kiến thiểu số, không bạo lực để giải quyết xung đột dù không là một giải pháp cho mọi vấn đề nhưng là cần thiết và có tính thực tế, đặc biệt trong trường hợp không đạt được sựnhất trí tuyệt đối. Với phương thức này,mộtsố quanđiểm hiệnđại cho rằng sự di động (vận động) của đa số (Massive mobilization) là một yêu cầu của dân chủ bởi vì một đa số cố định dễ xâm phạm lợi ích của thiểu số [164, tr.167]. Hơn nữa, trên thực tế, xã hội luôn luôn phát triển và có tính mở cho nên cố định mộtđa số là trái với quy luật liên tục vận động và tính đa dạng của xã hội. Ở đây chúng ta cũngcầnphân biệt dân chủ cho đa sốvà nguyên tắcbiểu quyết theo đa số. Nguyên tắc biểu quyết theo đa số là một biểu hiện của dân chủ vì toàn thể,kể cảthiểu số, được tham gia bàn bạc, trao đổi và biểu quyết. Ngược lại, dân chủ cho đa số là quyền lực thuộc về đa số, thiểu số phải phục tùng.
Ở khía cạnh thứ hai của phương thức tiếp cận, dân chủ được phân chia thành các cấp độ từ thấpđến cao, căncứvào tính chất và khả năng đạt được mục đích của việc thực hiện quyền lực nhà nước bởi nhân dân. Dân chủ ởmức độ cao nhất lànhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước.Mức độ dânchủthấp hơn là cósựgiám sát, chế ngựquyền lực nhà nướcvớimục đích việc thực hiện quyền lực nhànước phảivì nhân dân. Mức độ dân chủ thứ ba, nhân dân phải có khả năng tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà thể hiện là các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Đây là cấp độ thấp nhất vì nó chưa cho chúng ta biết nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền lực hoặc chế ngự quyền lực nhà nước hay không. Sự tiếp cận theocấp độcũng tương đồng với việc nhìn nhận dân chủ như làmột quá trình phát triển từ thấp đến cao,từkhông dân chủ đến có dân chủ,từít dân chủ đến dânchủhơn. Nội dung vàýnghĩa của các cấp độnàysẽđược biện giải trong hình thức biểu hiện của dân chủ trong nội dung kế tiếp về các cơ chế dân chủ.
13
Như vậy, cách thức tiếp cận về dân chủ trong luận án theo “chiềudọc”tức lànhững cấpđộ từthấp đến cao gắn với thời gian của dân chủ ở khía cạnh thứ nhất vàtheo “chiều ngang”, dân chủ là mối quan hệ về quyền lực ở khía cạnh thứ hai. Nói cách khác,“lát cắt dọc”để quan sát tính thứbậc củacác phương thức thực hiện quyền lực nhà nước với thời gian và“lát cắtngang” để thấy tính chất và nội dung tương tác qua lại. Đương nhiên là quá trình phân tích về dân chủ cósựkếthợp cảhai phương pháp này.Đồngthời, tiếp cận dân chủ với tư cách là các phươngtổchức và quản lý như trên, phải xem xét nhữngđiềukiện, hoàn cảnh nào có thểtương thích với nó. Với cách tiếp cận như trên, khái niệm dân chủ có những hình thức thể hiện cơbảnnhư sau:
Thứnhất, một trong những hình thức biểu hiện của dân chủlà vấn đềvềnguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước. Với tư cách là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của dân chủ, nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để phân loại và đánh giá tính chất của chế độ. Chính vì ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, chuyên chế hay dân chủ phải bắt đầu từ hình thức đầu tiên này của dân chủ. Với chế độ chuyên chế, nếu không thể nhờ“Trời” để“Thiêntử” có thểcai trị thì cũng phải giả hiệu là nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước là của nhân dân.
Bản chất của quyền lực nhà nước là những yếu tố bên trong quyết định nhữngđặc điểm,khuynh hướngphát triển cơ bản của quyền lực nhà nước [49- tr.25]. Ví dụ, xu hướng phát triển của việc thực hiện quyền lực nhà nước là hướng đến tự do cho toàn thể và cho từng cá nhân công dân bị quyết định bởi chủ thể nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước. Nói cách khác, việc trả lời cho câu hỏi: quyền
lực nhà nước của ai, do ai và vì ai là một trong những nội dung quyết định đặcđiểm, khuynh hướng phát triển cơ bản của quyền lực nhà nước. Vì vậy, bản chất của quyền lực nhà nước dân chủ là quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Lịch sửđã cho thấy, quyền lực nhà nước có thể vì dân ởmức độ nào đó nhưng không có nguồn gốctừnhân dân và do dân thực hiện. Quyềnlựccó thể banđầu xuất phát từnhân dân nhưng cũng không do dân và vì dân (ví dụ,chế độ phát xítĐức quyềnlực ban đầu đạt được do bầucửdân chủ). Quyền lực do chính nhân dân thực hiện nhưng trong một số trường hợp, có thể không vì lợi ích thực sự của nhân
14
dân. Vì vậy, nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước dân chủ bao hàmsựliên kết chặt chẽ giữa ba nội dung: của dân, do dân và vì dân. Nói cách khác, nguồn gốc, phương thức và mục đích của việc thực hiện quyền lực nhà nước dân chủ phải dân chủ và phải có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Thứhai, các quyền dân chủ, một hình thức biểu hiện của dân chủ.
Dân chủ dưới hình thứcdễ nhận biết là các quyền dân chủ. Quyền là khảnăng hành động, không có những ràng buộc,cản trởvà đồng thời là chủ động thực hiện theo ý chí một cách tự do [17, tr.786]. Quyền dân chủ sẽ là quyền tự do không bị cản trởtừphía quyền lực nhà nước và quyền chủ động thực hiện những hành vi một cách tự do trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền chủđộngtham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước là một biểu hiện củaquyền dân chủ của công dân. Quyền dân chủ biểu hiện là quyền con người, quyền công dân là những quyềntựnhiên, sinh ra con người đã có và không thể chuyển dịch. Nhà nước không tạo ra quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm hạn chế những cản trở và tạo điều kiện cho quyền đó được thực hiện.
Có nhiều cách phân chia quyền dânchủvới những căncứkhác nhau, Cách phân chia trong luận án này kế thừa phương pháp phân chia hợp lý của một nghiên cứu về dân chủ trực tiếp theo góc độ pháp lý [25, tr.17-27). Trong luận án này, căn cứtheo mức độ dân chủ, loại quyền dân chủ thứnhất là quyền trực tiếp tham gia vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.Ở mức độ thứhai, dân chủ cần thiết phải là việc công dân có quyền thực hiện sựchế ngựsựlạmdụng quyền lực nhà nước nhằmđảmbảo quyền lực nhà nước không đi ngược lạilợi ích của nhân dân và vì nhân dân một cách tích cực.Mức độ thứ bacũng rất quan trọng là quyềnđược tồn tại nhưmột con người. Trước khi là công dân,cá nhân cần được đảmbảo là con người. Không thể có dân chủnếu chủ thể làm chủ đó chưa được đảm bảo làcon người. Quyền con người, quyền công dân phải có tính bình đẳngtrong việc tham gia và thực hiện quyền lực nhà nước. Không thể có dân chủ rộng rãi trong một xã hội mà có những người không được coi là công dân và/hoặc có nhiều hạng công dân khác nhau và cũng không thể có dân chủ trong một xã hội mà quyền con người không được bảo vệ. Ví dụ, nền dân chủ Aten cổ đại, mặc dù có phương thức tổ chức thực hiện quyền lực dân chủ trực tiếp nhưng nó chỉ dân chủ với số ít quý tộc chủ nô.
15
Về nguyên tắc, quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ. Quyền công dân phải gắn với nghĩavụ củacông dân. Nghĩa vụ tuân thủ của công dân chỉ phát sinh khi nguồn gốc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoặc ít nhất cũng phải cósựưng thuận kẻ bị trị đối việc hành xử quyền lực nhà nước của kẻ cai trị. Thực hiện quyền lực mà không có sự ưng thuận của kẻ bị trị là không dân chủvà nhân dân sẽ không có nghĩa vụ chính đáng để tuân thủ quyền lực đó. Trong quan hệ giữa công dân và nhànước,nếu nhân dân có quyền dân chủ thì nhà nước cótrách nhiệm thực hiện quyền đó. Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo thực hiện quyền dân chủvà phải tuân theo quyền lực của nhân dân. Quyền công dân không thể thiếu vai tròbảođảm thực hiện của nhà nước nhưng quyền công dân lại có thểbị đe dọa chính từ nhà nước.
Thứba, các cơ chế dân chủ, một biểu hiện của dân chủ
Dân chủ là vấn đề về nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước và các quyền dân chủ khôngđươngnhiên được hiện thực hóa, chúng cần phải đượcthực hiện theo một quá trình và với những cách thức nhất định. Cơ chế được hiểu là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện [17, tr.207]. Do vậy, cơchế dân chủ được xem là những phương thức, cách thức mà theo đó quá trình dân chủ được thực hiện. Cơ chế dân chủ được chia thành ba loại. Cơ chế bảo vệ quyền dân chủ, cơchế chếngự, kiểm soátsựlạmdụng quyền lực nhànước và cơ chế tham gia vào việctổchức thực hiện quyền lực nhà nước.
Cơ chế bảo vệ quyền dân chủ là sựngăn chặn lạmdụng quyền lựctừphía nhà nước và trách nhiệm bảo đảm thực hiện tích cực của nhà nước. Cách thức bảo vệ quyền dân chủ trước tiên là sựghi nhận và thực hiện những quyền dân chủ cơbản nhất và những cơchếthực hiện nó một cách công khai, trong những hình thức mạnh mẽ và “thiêng liêng” nhất. Đương nhiên,sựghi nhận này phải nhằm mục đích dân chủ chứkhông phải là sựcheđậy mục đích phi dân chủ. Bên cạnh việc ghi nhận quyền dân chủ như trên,cầncó sựbảo vệ nhằm tránhsựvi phạm quyền dân chủ mà sựbảo vệ khảthi nhất phải bằng một cơ quanxét xử độc lập,chuyên tráchđể hạn chế khả năng vi phạm quyền công dân. Mặt khác, vì chủ thể vi phạm có thểlà những cơ quan,tổ chức có thể có quyền lực nhà nước,cho nên cơ quan bảo vệ
16
phải có tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật dân chủ. Cơchếbảovệ không chỉ cótính chất thụ động, ngăn chặn vi phạm quyền dân chủ mà nó còn là cơ chế thực hiện quyền dân chủ một cách chủ động.Ví dụ quyền dân chủ thể hiện qua Chỉ số Phát triển con người mà nó đòi hỏi trách nhiệm tích cực không chỉ của Tòa án mà toàn bộ các cơ quan nhà nước khác (Báo cáo Phát triển của UNDP 2005 đánh giá về sựphát triển con người dựa trên chỉ sốphát triển con người mộtcách toàn diện bao gồm cả chỉ số tiếp cận pháp luật [61]). Ngoài ra, cơ chế bảo vệ quyền con người vàphát triển con người cần được thực hiện thông qua xã hội dân sự lành mạnh với sựđa dạng của các tổchức tựnguyện, nâng cao vốn con người,vốnđạo đức và vốn xãhội. Nhưng xét cho cùng, vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện các cơ chế dân chủ là quan trọng nhất. Cơ chế bảo vệ quyền dân chủ có nội dung chính làsựghi nhận và cách ghi nhận quyền dân chủ; bảo vệ bằng một cơ quan chuyên trách và bảo vệ quyền dân chủ bằng hiệu quả trong hoạt động của nhà nước. Những phương thức này phải trong mối liên hệ chặt chẽ và theo một quy trình nhất định nên nó cũng có thể được coi là một quá trình thực hiện quyền dân chủ.
Cơ chế dân chủ thứ hai là cơ chế chế ngự và kiểm soát quyền lực nhà nước. Lý do chế ngựquyền lực nhànước là bảođảmquyền lực của dân và vì dân khi quyền lựckhông do nhân dân trực tiếp thực hiện. Mặt khác, nó cũng xuất phát từtính chất độc quyền sử dụng vũ lực của nhà nước mà sự độc quyền này có nguy cơlạmdụng rất cao [136, tr.6]. Trong điều kiện hiện đại,không thể tưởng tượngmột chế độ được coi là dân chủ mà các công dân của nó lại không được bảo vệvà sựlạmdụng quyền lực của nhà nước không bị ngăn chặn. Người cầm quyền có thể cho rằngsựchế ngự quyền lực nhà nước sẽ làm giảm tính hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.Nhưngđiều mà xã hội có thể cốgắngđạt được trước tiên là sựngăn chặn một điều tồi tệ chắc chắn xảy ra (sựlạmquyền) trước khi cố gắng đạt đến mộtđiều tốt đẹp ở trạngthái tiềm năng (khả năng hiệu quả của quyền lực khi không bịchế ngự). Thực chất,sựchếngựquyềnlựckhông mâu thuẫn vớitính hiệu quảvìhiệu quả quản lý phải dựa trên tiêu chí có thực hiện đúng mục đích vì dân và do dân hay không.
Những phương thức chế ngựquyền lực đã được biết đến như: thuyết phân
quyền, chủ nghĩa lập hiến và Nhà nước pháp quyền [38]… Tuy nhiên, những
17
phương thức chế ngự quyền lực như trên có thể giảm giá trị khisựchế ngựquyền
lực không có mục đích dân chủ. Lúc này,sựchế ngựquyền lực có thể chỉ là những phương thức giải quyết tranh chấp trong nội bộ giai cấp thống trị mà thôi.Chế ngựquyền lực dù đóng một vai trò rất quan trọng nhưng nó không chỉ dừng lại ởmứcđộ thụ động là ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực. Bởi vì, không lạm quyền không có nghĩa là quyền lực sẽ phục vụ một cách tốt nhất cho lợi ích của nhân dân. Chế ngựquyền lực phải bao hàm cả tính trách nhiệm của quyền lực, nó buộc quyền lực nhà nước phải hoạt độnghiệu quả và tích cực hơn. Muốn chế ngựquyền lực nhànước một cách hiệu quả, cần phải có sự giám sát và kiểm tra việc thực hiện quyền
lực nhànước.Kết quả kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước sẽ cung cấp thông tin, tiêu chí đánh giá về sự thực hiện quyền lực nhà nước để việc chế ngựquyền lực nhà nước có hiệu quả hơn. Thực chất, giám sát cũng có thể là một cơ chế dân chủ nhưng nó không thể tách rời cơchếchế ngựquyền lực vì nó trởnên vônghĩa khi chủ thể giám sát, kiểm tra nhưng không thể khuất phục quyền lực.
Vấn đề đặt ra có tính chất nguyên tắc là quyền lực chỉ có thể bị chế ngự bởi quyền lực. Vì vậy,sựchế ngựquyền lực hiệu quả nhất phải do chính các cơ quan của nhà nước chế ngự lẫn nhau và sự chế ngự này phải mang tính chất và mục đích dân chủ.Sựchế ngựquyền lựccũng có thể được thực hiện bởi nhân dân mà biểu hiện ở nhiều hình thức như nhân dân giám sát các cơ quan nhà nước và bãi miễn các quan chức lạm quyền, khởi kiện và xét xửcác cơ quan nhà nước,phê phán, biểu
tình….Trường hợp thách thức có tính quyết liệt hơn là sự thay thế các cơ quan nhànước mất dân chủ một cách hòa bình. Tìnhthếkhông mong muốn nhưng vẫn có thểxảy ra là nhân dân khởi nghĩa, dùngbạo lực để lật đổ nhà nước bạo tànvà thiết lập nhà nước mới, tuy nhiên sự thách thức này rất ít khi xảy ra. Sự chế ngự quyền lực hay nói cụ thể hơn là ngăn ngừa lạm quyền đồng thời cần được tiến hành song song vớiviệc chống tình trạng vô chính phủ. Đây chính là mặt thứhai của sựchế ngựquyền lực, mặt thứhai của “thần Janus”. Quyền lực nhà nước được xây dựng trên sựlo ngại tình trạng lạmquyền và chủnghĩatựdo cực đoan có thể dẫn đến tình trạng vô chính phủ và “trạngthái tựnhiên” này không thể nuôi dưỡngchế độ dân chủ. Như vậy,sựchế ngựquyền lực phải có mục đích dân chủ, hiệu quả và phảiđược thực hiện đa dạng và thống nhất với các cơ chế dân chủ khác.
18
Có thể nói, cơchếchế ngựquyền lực là biểu hiện dân chủ ít nhiều mang tính chất thụ động vì chưa đảm bảo quyền tham giachủ độngcủa nhân dân nên được gọi là “dân chủ bảo vệ”[105]. Vì vậy cần phải có cơ chế tham gia và tham gia trực tiếp của nhân dân. Sự tham giacủanhân dân có ý nghĩa quan trọng bởi:thứnhất, nhân dân là người bỏ phiếu, nộp thuế và gánh chịu những tổn thất.Đặc biệt,tầng lớp lớp nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi khủng hoảng xảy ra do sự tha hóa của quyền lực. Nói chung, người bỏ phiếu và đóng thuế phải quyết định.Thứhai, nhân dân không có lý do gì phải nhận những gì không mong muốn và gánh chịu những rủi ro từ những quyết định mà nhân dân không được tham gia vào việc hình thành những quyết định đó. Thứ ba, sự tham gia sẽ đảm bảo thông tin đa chiều và trí tuệ tập thể, đảm bảo cho quá trình ra quyết định khách quan và hiệu quả hơn. Thứtư, sự tham gia đảm bảo hiệu quả thực hiện các quyết định cao hơn vì nhân dân chỉ thực hiện một cách tựnguyện và triệt đểhơn khi những quyết định đó có sựtham gia của họ. Thứ năm, tham gia và tham gia trực tiếp là cơhộiđể nhân dânthểhiện lợi ích của mình và giảm bớt khoảng cách ý chí của chính khách và ý chí của nhân dân cũng như buộc nhà nước có trách nhiệm giải trình và “lấy lòng” nhân dân khi nhân dân trực tiếp quyếtđịnh.Sự tham gia của nhân dân sẽ có thể có những hạn chế như quá trình ra quyết định chậm, tốn kém, thỏa hiệp nhưng sựbù đắp của những đặc tính ưu việt như trên vẫn trội hơn so với những hạn chế. Nhưvậy là sự
tham gia – một biểu hiện của dân chủ, có đủ các lý do,giá trị đạolý, chính trị cũng như kỹ thuật để thực hiện trên thực tế.
Sựtham gia trực tiếp vào việc thực hiện quyền lực nhà nước hay còn được gọi là dân chủ trực tiếp là một cơ chế quan trọng để thực hiện dân chủ. Quan điểm ủng hộ dân chủ trực tiếp cho rằng dân chủ trực tiếp có thể khắc phục những hạn chếcủa dân chủ gián tiếp khi nhân dân giảm lòng tin vào những người đại diện vàkhông hứng thú với mô hình truyền thống của dân chủ đại diện. Quan điểmphêphán cho rằng nó là suy yếu quyền lực đại diện và có thể đe dọa lợi ích thiểu sốcũng nhưcửtri ít có khả năng hiểu biết cần thiết để quyếtđịnh,đặc biệt trong những vấn đề phức tạp [105, 107]. Mặc dù có những chỉ trích, dân chủ trực tiếp vẫn cần được thực hiện trên thực tế vì không có gì có thể so sánh với việc chính nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước mà không phải thông qua bất cứ ai vì chính họ là
19
người ra quyết định, thực hiện quyết định cũng như trả giá cho việc thực hiện quyếtđịnh đó.Tuy nhiên, với tư cách làmộtphương thức tổ chức và thực hiện quyền lực, dân chủ trực tiếp cần có nhữngđiều kiện nhất định như:sựbảovệ thiểu số cũng nhưsựđảm bảo cho mộtđa số di động; văn hóa chính trị và sựdung thứ; vốn xã
hội,sựtin tưởng trong xã hội và một xã hội dân sự lành mạnh…
Sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước luôn được nhấn mạnh trongmột chế độ bầu cử. Bầu cửđược coi là cơ chế tham gia dân chủ có tính hiện thực trong các nhà nước hiện đại. Vì thế, Tổ chức Nghị viện Quốc tế đã khẳng định:
“Yếutố then chốtcủamột nềndân chủ làmột chế độbầu cửtựdo và trungthực” [109, tr.5]. Mặt khác, chế độbầu cửcũngđược coi là: “Phương thức chính thống thay đổi quyền lực nhà nước”; “Biện pháp xác định chương trình, chính sách hoạt
động và thay đổi chính sách khác nhau của nhà nước” [36, tr.347]. Bầu cửkhông chỉ là cơ chế tham gia mà nó có thể tạo điều kiện cho cơ chế giám sát và thách thức quyền lực hoạt động hiệu quả. Về tính chất,bầu cửbiểu hiện dân chủ ở mức độ cao nhất khi nó thể hiện quyền lực quyết định của cửtri trong việc lựachọn và trách nhiệmtổ chức thực hiện bầu cửlà của nhà nước.Về số lượngvà phạm vi, trong cùng một loại chính thể, đi bầu nhiều lần, nhiều loại cơ quan hơn đương nhiên là thểhiện mức độ dân chủ cao hơn. Trình tự, thủ tục và điều kiện của bầu cửcũng có ý nghĩa rất quan trọng với mức độ và tính chất dân chủ của bầu cử, cho nên về nguyên
tắc không tạo ra các yếu tố cản trởquyền lực quyết định của cửtri khi thực hiện trình tự thủ tục này. Việc đảm bảo bầu cửthực sựdân chủ phải là trách nhiệm pháp lý của nhànước.Tóm lại, các hình thức biểu hiện của dân chủ phản ánh những mứcđộ khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,đảmbảo và hỗ trợcho nhau trong hoạt độngchung của hệ thống chính trị và trong một môi trường kinh tế xã hội nhấtđịnh.
Có rất nhiềusựbất đồng về điều kiện cho một nền dân chủ tồntại và phát triển. Ví dụ,vềđiều kiện kinhtế,có những học giả cho rằng nền dân chủtựdo không hoàn toàn phù hợp với tăng trưởng kinh tế trongnềnkinh tế thịtrường màtiêu biểu là những học giả ủng hộ quan điểm về “những giá trị Châu Á”[2]. Ngược lại có những quan điểmcho rằngnềndân chủ cần có một điều kiện quan trọng lànềnkinh tế thị trường hiện đại [21, 140]. Thậm chí, những nghiên cứu mang tính
20
chất thực nghiệmđãchỉ ra những tiêu chuẩn kinh tế đối với sựhình thành, phát triển và sựổn định,bền vững của dân chủ, ví dụ như mức thu nhập bình quân đầu người là bao nhiêu thì hình thành nền dânchủvà ở mức nào thì dânchủ ở đósẽ ổnđịnh [70, tr.39] và sự liên quan giữa đầu tư nước ngoài và dân chủ [142, tr.29]. Dùcó nhiều bất đồng, các học giả đều thống nhất rằng, nền dân chủ hiện đại cần có một nền kinh tế ổn định và phát triển. Bên cạnh điều kiện kinh tế, các điều kiện xã hội khác cũng đóng vai trò rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của dân chủ. Giáo dục, tuyên truyền là một trong những điều kiện quan trọngđối với dân chủ vì hiểu biết dân chủ và ứng xử dân chủ là kết quả của việc giáo dục nhận thức.Từkết quảcủa giáo dục và nhận thức về dân chủ, lý tưởng dân chủ phải trở thành những cam kết có tính chất nguyên tắc để thực hiện.Sựdungthứnhững tư tưởng, quan điểm khác biệt, thậm chí đối lập rất cần thiết cho sựtồn tại củadân chủ. Vốn xã hội,vốnđạo đức và vốn con người cũng là những yếutố mà sựxuất hiện của nó sẽ tạo cơsởcho sự tồn tại và phát triển của dân chủ.
1.1.1.2 Khái niệm pháp luật
Khái niệm pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhận thức pháp lý vàđối với hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật. Cũng với ý nghĩa đó, việc trả lời cho câu hỏi bản chất của pháp luật là gì sẽ ảnh hưởngđến việc xác định mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ.
Sựkhác nhauvề quan điểm,trường phái tiếp cận về pháp luật dẫn đến sựkhác nhau vềkhái niệm pháp luật và bản chất pháp luật. Trường phái phápluật tựnhiên cho rằng bên cạnh pháp luật do nhà nước ban hành còn tồntại một thứpháp luật cao hơn, luật pháp của tựnhiên. Ngược lại, chủ nghĩa pháp lý thực định cho rằng pháp luật xuất phát từ nhà nước, là mệnhlệnh của nhà nước và được đảm bảo bằng các chế tài cưỡngbức [12, tr. 454].Từsựnhấn mạnh thái quá tính quy luật của pháp luật trong trường phái pháp luật tựnhiên dẫn đến việc phủ nhận hoặc ít nhất là không coi trọng tính chất chủ quan của pháp luật và coi những gì không phùhợp với quy luật tự nhiên với đạo lý không được coi là luật [141]. Trường phái pháp
luật thực định lại quá nhấn mạnh tính chất ý chí nhà nước của pháp luật so với quy luật khách quan của các quan hệ xã hội và cho rằng không thể có luật nào cao hơn luật của nhà nước [104, 112].
21
Bản chất của pháp luật chính là những những mặt, những yếu tố nội tại quyếtđịnh sựtồn tại và phát triển của pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt bản chất của pháp luật với bản chất giai cấp của pháp luật. Tác giảhoàn toànđồngý với quanđiểm“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xửsựdo nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, lànhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội” và cần chú ý đến những gì không phải là ý chí của giai cấp thống trị [59, tr.64]. Thực chất, bản chất giai cấp của pháp luật là sựthể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp trong xã hội mà mức độ thể hiện ý chígiai cấp phụ thuộc vào tương quan giữa các giai cấp trong các quan hệ giaicấp chứkhông phải chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Nếu pháp luật chỉ là ý chí của giai cấp thống trị (theo nghĩa nó đối lập với lợi ích giai cấp bị trị và toàn thể xã hội) nó sẽ là mệnh lệnh của kẻ cai trị đối với giai cấp bị trị chứkhông còn là pháp luật. Mặt khác, ý chí và lợi ích được thể hiện trong pháp luật không chỉ là ý chí mang tính chất giai cấp,đấu tranh giai cấp mà nó còn thể hiện ý chí chung, thống nhất của toàn bộ xã hội. Như vậy, một trong những mặt, những yếutốbên trong quyếtđịnh sựtồn tại và phát triển của pháp luật là những dạng biểu hiện ý chí chủ quancủa
con người – mặt chủ quan.
Pháp luật có tính chất chủ quan vì nó phản ánh nhận thức của con người. Tính chủ quan trước tiên phải và nên là ý chí của toàn thể nhân dân. Trongmột sốtrường hợp, khi tương quan giai cấp nghiêng về giai cấp thống trị,có thể sựthể hiệný chí của giai cấp thống trị nhiều hơn trong pháp luật nhưng pháp luật không luôn luôn chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Ý chí và ý chí thống nhất của xã hội trong pháp luật sẽ cao hơn ý chí củabất kỳ mộtnhóm nào trong xã hội. Vấnđề đặtra làcó hay không sự hiện diện ý chí thống nhất của toàn thể xã hội?. Nếu nhìn nhận xã hội một cách biện chứng, tức là thấyđược sựchiarẽ,mâu thuẫn trong xã hội vàcũng thấy được sựthống nhất trong xã hội thìsựhiện diện của tính thống nhất ý chícủa xã hội là hiện thực mà biểu hiện ở hai dạng. Thứ nhất: ý chí của nhân dân biểu hiện sựthống nhất về lợi ích chung của toàn bộ.Mức độ thứhai, xã hội vốn đa dạng về lợi ích và quan điểm mà có thể dẫn đếnsựxung đột lợi ích và ý chí. Vì thế, ý chícủa nhân dân chính là sự thống nhất ý chí về việc giải quyết các quan hệ xung đột một cách hòa bình. Nói cách khác, xã hội có hai trạng thái thống nhất và xung đột,
22
trong khi trạng thái thống nhất dễdàng dẫn đến sựthống nhất ý chí củatoàn thểnhân dân thì trạng thái xungđột cũng cần phải có sựthống nhất trong cách giải quyết xungđộthoà bình, nếu khôngbạolực sẽlà cách giải quyết dễxảyra. Nhưvậy, tính chất chủ quan trong pháp luật là sự thống nhất ý chí của xã hội, của toàn thểnhân dân (điều cần lưu ý ở đây là đề cập đến tính chủ quan của pháp luật không có nghĩa là phủ nhận tính giai cấp của pháp luật. Tính giai cấp chỉ là một bộ phận trong mặt chủ quan). Nếu nhìn nhận xã hội trên quan điểm giai cấp cộng hưởng với sựnhấn mạnh chia rẽ,xungđột giai cấp, có thể xuất hiện xu hướngthái quá tính mâu thuẫn mà không thấy được tính thống nhất, tính khách quan của pháp luật.
Pháp luật phải có tính khách quan tức là nó phải phản ánh các quy luật vậnđộngcủa các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnhvà sựphù hợp với các giá trị, chuẩn mực khách quan. Ví dụ, quy luật vận động của các quan hệ quyền lực trong các nhànước hiện đại là xu hướngdân chủ nên các quy định pháp luật về việc tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước phải phản ánh quy luật đó.Nếu nội dungcủapháp luật phản ánh “luậtcủa tựnhiên”,“luật của thượngđế”đôi khi cũng biểu hiện tính khách quan của pháp luật. Tính khách quan của pháp luật phải là kết quả nhận thức và quyền được nhận thức và phản ánh của nhân dân về các quy luật vận động khách quan của các quanhệ xãhội mà pháp luậtđiềuchỉnh chứ không phải là sự ápđặt từbên ngoài. Nếu áp đặt những giá trị, những tính chất cho pháp luật để cho rằng pháp luật phản ánh quy luật khách quan, có tính khách quan thì chính điềuđó cho thấy pháp luật chưa thực sự khách quan.
Với hai mặt, hai tính chất trên, bản chất củapháp luật phải là mối liên hệbiện chứng giữa hai mặt, hai tính chất khách quan và chủ quan. Quan điểm về pháp luật của Mác cũng đã phản ánh rất rõ hai mặt này:“Pháp luật phải lấy xã hội làm cơsở,pháp luật phải làsựbiểu hiện lợi ích và nhu cầu chung của xã hộido một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra..” và “Chỉ cần bộ luật không còn thích hợp với các quan hệ xã hội thì nó sẽ biến thành một xếp giấy lộn ngay”[7,
tập1, tr. 693]. Trên thực tế, trongmột số trườnghợp, sẽ có thể có những khác biệt hoặc mâu thuẫn giữa hai mặtkhách quan và chủ quan. Ví dụ,ý chíchủquan của nhân dân, của người làm luật chưa phản ánh đầy đủcác quy luật khách quan vào trong luật hoặc có thể quy luật khách quan được phản ánh vào trong luật pháp
23
nhưng chưa hoàn toàn là kết quả nhận thức của nhà làm luật. Đây là trường hợp rất nhạy cảm nhưng tuyệt đối nó không thể là cơsởcho việc quyết định thay cho nhân dân trong trường hợp nhân dân chưa nhận thức và phản ánh các quy luật khách quan vào trong luật pháp. Nguyên tắc giải quyết là tạo cơ chế ngăn ngừa và phát hiện sớm “những thảm họa”[2] do ý chí chủ quan của nhà làm luật, của nhân dân mà dân chủ có lẽ là giải pháp thích hợp nhất. Mặt khác, điều chắc chắn là ý chí của nhóm “siêu việt” cũng có thể mắc sai lầm. Sai lầm của nhân dân do nhân dân trả giá và sẽ
tốt hơn là sailầmcủa giai cấp bóc lột thống trị nhưng nhân dân phải chịu đựng.
Mối liên hệ giữa tính khách quan và chủ quan của pháp luật thể hiện là sựnhận thức chủ quan củanhân dân, nhà làm luật về các quy luật vậnđộng của các quan hệ xã hội.Vấn đềthực sự là tạo cơhộicho nhân dân và nhà làm luật có khảnăng tiếp cậngần hơn các quy luật vận động của các quan hệ xã hội. Nếu vấn đềthật sựphức tạp cần có sự trao đổi rộng rãi và sự phê phán chuyên nghiệp và có tính chất xây dựng tạosựđa dạng của thông tin đầu vào và những cơ hội cho nhân dân
lựa chọn và quyếtđịnh.Tóm lại, bản chất pháp luật phải được xem xét một cách biện chứng, thấy được sự thống nhất và mâu thuẫn giữa các mặt đối lậpbên trong của pháp luật, theo cách nhìn nhận như trên, hai mặt đốilậplà mặt chủ quan (bao gồm ýchí của toànthểvà các nhóm trong xã hội) và mặt khách quan (những quy luật vận động của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh) không nên chỉ nhấn mạnh mặt chủ quan hay khách quan.
1.1.2 Tại sao dân chủ cần pháp luật?
1.1.2.1 Pháp luật hợp pháp hóa cho quyền lực của nhà nước dân chủ
Quyền lực nhà nước có thể dựa trên sự sợ hãi và đàn áp bằng vũ lực,sựtôn sùng phẩm chất cá nhân của lãnh tụ hoặc niềm tin mù quáng vào thế lực thần thánh mà không dựa trên sự ưng thuận có tính lý trí, tính pháp lý củanhân dân. Sự tuân phục quyền lực nhà nước dựa trên những nền tảng như trên là tuyệt đối, không nghi ngờ và không kiểm soát vì không một tín đồ ngoan đạo lại có thể nghi ngờ và thách thức quyền lực của “Đấng tốicao” và cũng không thể nghi ngờ và thách thức quyền lực của lãnh đạo vốn có phẩm chất siêu việt [106, tr.89]. Quyền lực nhà nước và sựtuân phục như trên là không hợp lý, hợp pháp và không thể là quyền lực của nhà
24
nước dân chủ vì quyền lực nhà nước dân chủ không thể dựa trên bạo lực và sựsợhãi cũng như niềm tin mù quáng.
Quyền lực nhà nước dân chủ thể hiện ý chí của nhân dân hoặc chí ít cũng phải có được sựưng thuận của nhân dân và sự ưng thuận mang lại tính hợp lý, hợp pháp cho quyền lực nhà nước hay nói cách khác là quyền lực nhà nước dân chủ cầnđược pháp luật hợp pháp hóa. Tuy nhiên, nghịch lý đối với quyền lực nhà nước phi dân chủ hiện đại là: một mặt chúng muốn hợp pháp hóa quyền lực cai trị, mặt khác, chúng lại lo ngại trước tính minh bạch ổn định và tiên liệu trước của quyền lực khi nó mang hình thức pháp lý.
Quyền lựccủa nhà nước dân chủ phải có tính hợp lý và hợp pháp và biểu hiện là sựưng thuận một cách có lý trí của nhân dân. Tính chính đáng biểu hiện thông qua sự ưng thuận và chuyển giao quyền lực của nhân dân cho nhà nước phải bằng phương thức minh bạch và tiên liệu trước để tránh tình trạng ngụy tạo sự ưng thuận của nhân dân và đảm bảo trật tự các quan hệ quyền lực trong xã hội. Với yêu cầu đó,pháp luật là phương tiện thích hợp nhất thỏa mãn tính minh bạch,ổn định vàtiên liệu trước cho quá trình thiết lậpquyền lực nhà nước vốn thuộc vềnhân dân. Nói chung, tính hợp lý và hợp pháp của quyền lực nhà nước dân chủ phải được thể hiện bằng pháp luật và chỉ với pháp luật, tính chính đáng đó mới chắc chắn và bền vững. Chính vì vậy, ngay sau khi giành đượcchính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minhđã đặt ra nhiệm vụ cấp bách là tiến hành tổng tuyển cửvà “Nhà nước hợp pháp rađời,tư cách của nó, vị trí của nó trên thế giới, trong nước hoạt động có danh nghĩa, có hiệu lực và hiệu quả hơnmộtChính phủ lâm thời” [62, tr.117]. Khi quyền lực nhà nước dân chủ có tính hợppháp, nghĩa vụtuân phụctựnguyện quyền lựcnhànước dân chủ mới hình thành. Sự tuân phục quyền lực của nhà nước dân chủ làsự
tựtuân phục ý chí của nhân dân khi nó là nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ này có phạm vi và hiệu lực thực hiện cao hơn. Nếu coi dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân thì nhànước dân chủlà sựchuyển giao quyền lực từnhân dân cho nhà nước một cách có lý trí, khôngbị lừa dối và ép buộc và dân chủcũng làsựquản lý của nhànước được thực hiện một cách dân chủ. Sựchuyển giao và quản lýđócần mang hình thức pháp lý vì luật pháp có tính chất rõ ràng, chặt chẽ, côngbằng, từ đósẽ xácđịnh tính hợp lý, hợp phápcủanhà nướcdân chủ. Cólẽvì vậy mà chế độ chuyên
25
chế phải ngụy tạo tính hợp pháp của quyền lực nhà nướcthông qua hiến pháp vàpháp luật.
1.1.2.2 Pháp luật là phương tiện quan trọng để thực hiện dân chủ
Nói một cách đơn giản, pháp luật là con đường, cách thức qua đó dân chủ đi vào cuộc sống và thể hiện thông qua hoạt độngxây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Pháp luật với vai trò phương tiện sẽ hợp thức hóa quyền lực dân chủ để
quyền lực dân chủ trong một hình thức quyền lực mạnh nhất – quyền lực nhà nước. Tất nhiên là dân chủ sẽcó thể có nhiều “conđường” đểđi vào thực tếcuộc sống nhưng“con đường” nào làphổ biến nhất và hiệu quả nhất nếu không phải là pháp luật?. Giá trị ảnh hưởng của pháp luật tới dân chủ là khả năng thực hiện dân chủ vàsựđảmbảo thực hiện dân chủ với phạm vi rộng hơn, tính hiện thực cao hơn so với phong tục tập quán hoặc các quy tắc chính trị xã hội khác.
Pháp luật cũng là phương tiện hạn chế sựlạmdụng quyền lực để đảmbảo quyền lực thực sựcó tính chất dân chủ.Sựchặt chẽ về mặt hình thức, tính công bằng, bình đẳng của pháp luật có ý nghĩa đối với việc thực hiện quyền dân chủ của công dân và có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế sựlạmquyền của nhà nước, buộc nhà nước thực hiện dân chủ bằng trách nhiệm pháp lý. Nói cách khác, pháp luật không chỉ có giá trị trong việc“vận chuyển” dân chủ,pháp luật còn có giá trị
rất cao trong việc thực hiện dân chủ. Tóm lại, dân chủ là những yêucầu về việc tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực dân chủ phải bị kiểm soát tránh sựtha hoá đồng thời ràng buộc trách nhiệm thực hiện tích cực. Những yêu cầu này chỉcó thể thực hiện được khi có sự điều chỉnh bằng pháp luật mà vai trò này sẽ thể hiện trong phần phân tích về nội dungsựtác động của pháp luật đến dân chủ. Ngược lại,điều chỉnh các quan hệ trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bằng
những quy tắc phi pháp lý khác như tôn giáo,đạo đức,tập quán…đã cho thấy nhiều bài học về sựtha hóa quyền lực trong lịch sử.
1.1.3 Tại sao pháp luật cần dân chủ?
1.1.3.1 Dân chủ tạo tính chính đáng cho pháp luật
Tính chính của pháp luật được hiểu là hợp với lẽ phải [17, tr.156] hoặc sựưng thuậncủa kẻ bị trị[106, tr.95]. Pháp luật có tính chính đáng phụ thuộc vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật theo phương thức nào và phản ánh ý chí của ai. Vì
26
vậy, pháp luật trong chế độ quân chủ là ý chí của “đấng tối cao” nên hợp với lẽ phải và phần nào được tín đồ ưng thuận. Trongđiều kiện hiện đại,tính chính đáng của pháp luật phải thể hiện ý chí chủ động, duy lý của nhân dân và thể hiện trong những thuộc tính cơbản củapháp luật.
Tính quy phạm phổ biến,được hiểu là sựtác động phổ quát của pháp luật lên mọi quan hệ xã hội và với mọi chủ thể. Tính phổ biến là sự tác động của pháp luật mang tính chất khách quan lên các quan hệ xã hội bởi vì pháp luật là sự tổng kết các quy luật vận độngcủa các quan hệ xã hội. Hay nói theo cách nói của Mác,“pháp luật do phương thức sản xuất nhất định sản sinh ra” và vì thế nó “phải thích hợp với các quan hệ xã hội” [7, tập 1 tr. 693]. Mặt khác,sựtác động mang tính chất phổbiến vì nó thể hiện ý chí của toàn thể xã hội hoặc chí ít nó cũng dựa trên sựưng thuận của xã hội. Tính quy phạm phổ biến, do vậy xuất pháp từ mặt chủ quan, pháp luật tác động phổ biến nó phù hợp với ý chí của nhân dân. Về mặt khách quan, tính phổ biến dựa trên sự phản ánh đúng quy luật vận động của các quan hệ xã hội. Hai yêu cầu này phải có mối liênhệ chặtchẽvà thống nhất. Tuy nhiên, tính phổ biến có được trên cơsởdân chủ bằng hình thức tham gia là lý tưởng nhất vì nó đòi hỏi sựphản ánh quy luật khách quan và sựtham gia mới có thể phản ánh ý chí của nhân dân. Nói cách khác, trí tuệ tập thể, sự đa dạng thông tin, tính cạnh tranh và mở rộng lựa chọn sẽ mang lại tính chất khách quan cho pháp luật bằng phương thức dân chủ. Với tính khách quan có được từ phương thức dân chủ và sự tham gia và thể hiện ýchí chủ quan của nhân dân làm cơsởcho sựtác độngphổ biến của pháp luật hay tính phổ biến được xác lập.
Trong một số trường hợp, giai cấp thống trị có thể phản ánh quy luật khách quan và phản ánh lợi ích của toàn thể nhân dân vàđôikhi sự tham gia của nhân dân chưa phản ánh đúng các quy luật vận độngkhách quan của các quan hệ xã hội màpháp luật điều chỉnh.Cả hai trường hợp này ít nhiều đều có thể mang lại tính phổbiến cho pháp luật nhưng chúng chưa ởmức độ cao nhất. Ngay cả những gì được coi là hợp đạo lý, hợp lòng dân trong pháp luật cũng phải xuất phát từ nhân dân, làkếtquả nhận thức chung của nhân dânchứkhông thể làsựgiải thích,sựban ơn của giai cấp thống trị và những quyết định pháp lý của nhân dân có thể vẫn có rủi ro giống như việc ra quyết định bởi giai cấp thống trị nhưng chắc chắn không bị lạm
27
dụng bởi kẻ nắm quyền lực. Ví dụ,chính sách quân điền (nhà vua chia ruộng cho nông dân trong thời kỳ phong kiến) phần nào thể hiện lợi ích của người lao động vàphản ánh quy luật trong quan hệ sản xuất nông nghiệp nhưng không thể coi những quy định pháp lýđó có tính dânchủ. Như vậy,mộttrong những đặc trưng quan trọng nhất của pháp luật, tính phổ biến của pháp luật khó có thể có được nếu không bằng phương thức dân chủ và mang tính chất dân chủ. Nếu không có dân chủ, pháp luật tác động phổ quát và luôn đúng khi nó mệnh danh là ý chí của Đấng tối cao.
Tính xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật gắnbó mậtthiết với dân chủvà khi tính xác định chặt chẽ xuất phát từ dân chủ, pháp luật trởnên “hợp với lẽphải”.Tính xác định chặt chẽ vềmặt hình thức có thểhiểu là rõ ràng, chỉ có một nghĩa hay pháp luật phải rõ ràng và có thể xác định được, có thể tiên liệu trước vàổn định.Quy luật khách quan và ý chí chủ quan của toàn thể nhân dân cần được xácđịnh,có thể tiên liệutrước hậu quả củahành vi pháp lý và cũng phải ổn định, thống nhất và có hiệu lực thực hiện cao nhất.Vềcơ bản, tính xác định chặt chẽ về hình thức đảmbảopháp luật không thể bị hiểu sai,bị lạm dụng và thay đổi.Nói cách khác, tính xác định chặt chẽ về hình thức đảm bảo ý chí của nhân dân và ngăn ngừa sựvi phạm khi pháp luật được áp dụng bởi nhà nước.Tính chặt chẽ vềmặt hình thức của pháp luật có thể đối nghịch với nhà nước chuyên chế bởi vì nó ngăn ngừa sựtùy tiện của nhà nước khi thực hiện pháp luật. Trong xã hội không có dân chủ vàpháp quyền, các cá nhân sẽ không tiên liệu trước được hành vi pháp lý của mình vàcủa người cai trị vì thiếu tính chất này của pháp luật. Khi có một mức độ dân chủ nhất định thì pháp luật có thể có tính chặt chẽ về mặt hình thức vì thuộc tính này là
kết quả của việc sử dụng pháp luật để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Nếu pháp luật chặt chẽ về mặt hình thức nhưng không hạn chế sự tùy tiện của người có quyền lực mà chỉ chặt chẽ với kẻbị trịthì nó là pháp luật chuyên chế, khắc nghiệt mà thôi và tính chặt chẽ về mặt hình thức của pháp luật sẽ nguy hiểm khi nóphục vụ cho quyền lực chuyên chế vì nó sẽ giúp duy trì sựổn định của quyền lực chuyên chế. Như vậy, tính xác định chặt chẽvề mặthình thức của pháp luật gắn bóvới dân chủ vì nó là biểu hiện của việc thực hiện sựchế ngựlạm dụng quyền lực nhà nước bằng pháp luật và vì mục đích của sự xác định chặt chẽ về mặt hình thức của pháp luật phải hướngđến một trật tựdân chủ.
28
Pháp luật cần dân chủ vì sự đảm bảo thực hiện bằng nhà nước của pháp luật không thể thiếu tính chất và theo phương thức dân chủ. Tính đảmbảo thực hiện pháp luật bằng nhà nước là việc thực hiện pháp luật sẽ được đảm bảo bằng khả năng sửdụng vũ lực một cách độc quyền của nhànước [136, tr.6]. Tính đảmbảo thực hiện pháp luật bằng nhà nước cũng có nghĩa là trách nhiệm thực hiện pháp luật của nhà nước.Vì pháp luật được đảm bảo bằng sựcưỡng chế củanhà nước và việc độc quyền sử dụng vũ lực của nhà nước nên nó có khả năng gây rủi ro cao khi quyền lực này bị lạm dụng. Vì vậy,sựcưỡngchế này phải là cưỡng chế có tính chất và cómụcđích dân chủ hay quyềnlựcnhà nước đảm bảo thực hiện pháp luật phải làquyền lực dân chủ và bằng nhà nước dân chủ. Thực hiện pháp luật phải cần tích cực chủ độngnênsựđảmbảo thực hiện pháp luật phải được coi là trách nhiệmchứkhông chỉ coi là quyền của nhà nước. Nếu thực hiện pháp luật mà là quyền của nhànước,nhà nước sẽ lựa chọn thực hiện những luật nào thuận lợi cho mình và không tích cực,chủ độngthực hiện những luật khác. Trách nhiệm của nhà nước trong việcđảmbảo thực hiện pháp luật chính là một biểu hiện của dân chủ hay nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm tích cực thực hiện pháp luật chính là nhà nước dân chủ. Nói một cách đơn giản, cưỡng chế bằng nhà nước để thực hiện pháp luật sẽ không chínhđáng khi nó không theo cách thức và mục đích dân chủ. Như vậy, dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân cần phải được hợp pháp hóa bằng pháp luật và pháp luật với thuộc tính tác động phổ biến, chặt chẽ về hình thức và được đảm bảo thực hiện bằng sựđộc quyền sửdụng vũ lực sẽ rất nguy hiểm nếu không gắn bó mật thiết với dân chủ.
Vì pháp luật bắt buộc với tất cảmọi ngườivà được đảmbảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước nên kẻ cai trị chuyên chế tìm cách hạn chế ý chí chung của xãhội, biến ý chí của mình thành ý chí của pháp luật và ngụy trang dưới dạng ý chícủa “Thượngđế” hay những dạng ý chí “siêuviệt” khác. Pháp luật của sựchuyên chế càngtệ hại hơn khi nó đồngthời kết hợp vớisựchuyên chế của pháp luật. Trong lịch sử, ví dụ điển hình ở Trung Quốc với sự cai trị chuyên chế của Tần Thủy Hoàng càng tàn khốc hơn khi nó thực hiện triệt để tưtưởngPháp trị. Quyền lực của nhà vua không có giới hạn, luật pháp đượcđảmbảo thực hiện tuyệt đối,trong trường hợp này tự do của kẻ bị trị không tồn tại.Dườngnhư có mối liên hệ khăng
29
khítgiữa sựcai trị chuyên chế với sự chuyên chế của pháp luật. Quyền lực thống trịsẽ nhanh chóngsửdụng luật phápđể củng cố quyền lực của mình hơn làđể phát triển xã hội. Pháp luật do vậy sẽ có tính trừng phạt,cưỡngbách hơn là tạo cơsởcho sựphát triển và được thực hiện một cách tự nguyện. Sự cai trị chuyên chế gắn với sựchuyên chế của pháp luật sẽ là lựccản cho sựtiến bộ và phát triển của xã hội. Trong xã hội hiện đại,chế độ chuyên chế cũng không khác biệt nhiều với chế độphong kiến bởi vì nó cũngsửdụng pháp luật như là một côngcụ cai trị. Nói cách khác, luật pháp thiếu dân chủ và không phản ánh ý chí của nhân dân cho nên nó chỉ là côngcụđểthực hiện sựcai trị chuyên chếđối với nhân dân. Vì vậy, pháp luật gắn với cưỡngchế mà ít được thực hiện một cách tự nguyện. Về mặt nguyên tắc, cai trị chuyên chế sẽ kéo theo xu hướng gia tăng việc giải quyết các quan hệ khác trong
xã hội bằng bạo lực và hậu quả là sựbất ổn xã hội. Vì pháp luật thiếu dân chủ sẽ không đảm bảo cho sự tồn tại một cách chính đáng của dân chủ, nên chế độ chuyên chế hiện đại bên cạnh việc sửdụng pháp luật, chúng nhấn mạnh những công cụ tưtưởngkhác nhưsựđộc tônvề mặt tư tưởng, tiêu diệt đối lập nhằm thực hiện sựđồngnhất xã hội mà ví dụ rõ nhất là chế độ phát xít Đức. Tóm lại, pháp luật cần dân chủ bởi vì tính chính đáng thể hiện trong những thuộc tính cơbản nhất của nó được kiến tạo và bảo đảmbằng dân chủ trong khi chế độ chuyên chế phải dùng vũ lực cưỡngbức,nhờ“Trời” hoặc mượn vỏ bọc pháp luật để biện hộ cho tính chính đáng của pháp luật.
1.1.3.2 Luật pháp cần được xây dựng và thực hiện theo cách thức dân chủ
Pháp luật tùy thuộc vào dân chủ vì quyền lực dân chủ trong việc xây dựng vàthực hiện pháp luật có ảnhhưởng rấtlớn toàn bộ xã hội. Đặc trưng quan trọng nhất của quyền lực pháp lý của nhà nước là độc quyền sử dụng vũ lực. Vì vậy, quyền lực pháp lýđó phải được thực hiện một cách dân chủ và với mục đích dân chủ. Nội dung của pháp luật phản ánh ý chí chí của nhân dân và bảo vệ lợi ích của nhân dân nên bản thân nó đã là một giá trị dân chủ và chính nó cũng cần dân chủ. Cách thức xây dựng và thực hiện pháp luật sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phản ánh ý chínhân dân vào pháp luật và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, cách thức xây dựng và thực hiện pháp luật phải được tiến hành một cách dân chủ, theo mô thức dân chủ. Xây dựng và thực hiện pháp luật theo cách thức dân chủ có thể chưa hẳn là thể hiện
30
trực tiếp ý chí của nhân dân nhưng nếu theo cách thức dân chủ sự lạm dụng quyền lực trong xây dựng và thực hiện pháp luật có thể bị hạn chế.
Hơn nữa, chúng ta cũng quan tâmđến sựtuân thủ pháp luật của công dân với tư cách là người chịu tác động của quyền lực pháp lý. Nhân dân thấy cần phải tôn trọng và thực hiện pháp luật dân chủ vì nó vừa là phương tiện và làkết quảcủa sựthể hiện ý chí của mình. Đương nhiên,sựtuân thủ pháp luật còn chịu ảnh hưởng
của những yếu tố văn hóa, truyền thống…nhưng dân chủ trong việc xây dựng vàthực hiện pháp luật được coi là yếu tố quan trọng nhất để tuân chủ pháp luật triệt để. Sự tuân thủ pháp luật triệt để và tự nguyện của nhân dân một phần bắt nguồn từ nội dung của pháp luật phản ánh ý chí và lợi ích của nhân dân, mặt khác nó bắt nguồn từviệc xây dựng và thực hiện pháp luật một cách dân chủ. Hoạt động pháp lý được tiến hành một cách dân chủ thể hiện trong quy trình, cách thức xây dựng và thực
hiện pháp luật mà ở đó nhân dân được tham gia, được giám sát…Chính vì nhân dân trởthành “mộtphần”trong hoạt động pháp lý nên khả năng tôn trọng và tự nguyện thực hiện pháp luật sẽ cao hơn. Chính vì vậy, pháp luật cần đến dân chủ vì chỉ bằng phương thức dân chủ quyền lực pháp lý mới có được thực hiện trên thực tế với một hiệu quả cao hơn. Nếu bản thân pháp luật không thể gắn kết với dân chủ và giai cấp thống trị chia rẽ dân chủ với pháp luật, chắc chắn dân chủ sẽ khó có thể phát triển, pháp luật đó cũngdần trởthành mệnh lệnh cai trị.
Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luậtđã phản ánh tính thống nhất, tương thích, hài hòa bởi sự gắn kết như trên. Sự gắn kết đó còn thể hiện trong sự tương tác qua lại giữa chúng và trongsựchia sẻ mục đích chung là tiến bộ xã hội và giải phóng con người. Mục đích quan trọng nhất của dân chủ là giải phóng con người khỏi những ràng buộc, cản trởtừnhiều yếu tốbên trong như nhận thức, thói
quen….và từ những yếu tố hạn chế dân chủ từ bên ngoài,đặc biệt là từphía quyền lực nhà nước.Hơn nữa, dân chủcũng giải phóng con người bằng việc kiến thiết những cơ chế để họ trực tiếp tham gia vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhànước.Giải phóng con người cũng là mục đích của pháp luật vì pháp luật nhằm kiến tạotrật tựpháp lý, đem lại tự do, công bằng và công lý, tránh “trạng thái tự nhiên” mà ở đó con người ứng xử bằng bạo lực, ngắn ngủi và hỗn loạn. Hơn nữa, công lývà tự do mà pháp luật mang lại cũng hướng tới việc tổ chức và thực hiện quyền lực
31
nhà nước. Như vậy, pháp luật và dân chủ đều có chung mục đích nên mối quan hệnày có đặc trưng quan trọng là sựthống nhất mà thể hiện ởđây là thống nhất vềmục đích.Sựthống nhất và tương thích giữa dân chủ và pháp luật cũng thể hiện trong sự tương tác về chức năng giữa dân chủ và pháp luật. Dânchủ sẽ được thực hiện bằng những phương tiện khác nhau nhưng trongđó pháp luật là một trong những phương tiện quan trọng nhất bởi tính phổ biến và hiệu lực thực hiện của nó. Mặt khác, việc xây dựng và thực hiện pháp luật phải theo những cách thức, phương pháp dân chủ. Vì vậy, với chức năng tương tác qua lại và chặt chẽ như trên, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật có tính thống nhất về tương tác chức năng.Sựthống nhất của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật cũng xuất phát từ vai trò của chúng trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và trong tổ chức và quản lý xãhội. Xét theo giá trị của sự tác động qua lại, vai trò quan trọng nhất của pháp luật làcông cụ quản lý xã hội, vì vậy nó có thể được dùng với những mục đích khác nhau và điềunày phục thuộc vào giai cấp, tầng lớp nào nắm quyền lực nhà nước. Do vậy,
sựbiến đổi của dân chủ với tư cách là một phương thức tổ chức và thực hiện quyền
lực nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ dẫn đến sựbiến đổi của pháp luật. Mặt khác, dân chủ và pháp luật đều nói đến quyền lực, trong khi dân chủnói đến bản chất của quyền lực thì pháp luậtđềcập đến hình thức của việc thực hiện quyền lực qua ba mặt cơ bản là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lực dân chủ trong các hoạt động pháp lý do vậy, sẽ thống nhất với luật pháp mà nó xây dựng và thực hiện.
Sựcần thiết qua lại giữa dân chủ và pháp luật cũng xuất phát từtầmquan trọng của mốiquan hệ giữa chúng. Dân chủ có thể được coi như là mộtcách thức và mụcđích của việctổ chứcvà thực hiện quyền lực nhà nước, theo đó quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Pháp luật là hình thức của việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước dân chủ, theo đó, quyền lực nhànước thể hiện dưới dạng các hoạt độngpháp lý cơ bản của nhà nước và pháp luật cũng là cơsởcho việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhànước.Vì vậy, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật mang tính chất là mối quan hệ về việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nướcvà chúng gắn kết với nhau một mặt cũng vì chúng tương tác với nhau trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, mặt khác vì sự
32
tùy thuộc qua lại một cách hữu cơ giữa dân chủ và pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, thực hiện dân chủ và pháp luật là hai vấn đề ưu tiên trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, thậm chí nó còn được coi là những yếu tố quan trọng trong tổchức và quản lý xã hội nói chung [2, 21, 162]. Trong điều kiện toàn cầu hóa,vì sựđa dạng của các quan hệ nên không thể điều chỉnh các quan hệ bằng tập quán truyền thống vốn đa dạng theo từng xã hội và nền văn hóa khác nhau. Pháp luật, do vậy làphương tiện tổ chức và quản lý xã hội một cách văn minh nhất trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Mặt khác,tựdo và bình đẳng là giá trị tiến bộ của nhân loại là gì nếu không phải là tham gia và thực hiện quyền lực nhà nước và chế ngự sức mạnh của
“Thủy quái” (Leviathan –Thomas Hobbes). Vì thế, dân chủ và pháp luật là hai phương tiện quan trọng để quản lý xã hội và quản lý nhà nước. Hơn nữa, trongđiều kiện hiện nay, không thể chỉ sử dụng hoặc pháp luật hoặc dân chủ mà phảisửdụng cả hai trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cũng như quản lý xã hội. Dân chủ và pháp luật đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhànước hiệnđạimột phần vì chúng là hai phương thức tổ chức và quản lý nhà nước và xã hội, chúng không thể đối lập, triệt tiêu hiệu quả lẫn nhau và hiệu quả chung. Dân chủ, kinh tếthị trường và pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng và ngày càngđược thừa nhận rộng rãi. Dân chủ và kinh tế thị trườngđược ví như“hai bánh xe của cỗ xe” thìcó thể “trục” của hai bánh xe đó chính là pháp luật [21, tr.24]. Nói một cách khác, dân chủ và pháp luật không chỉ quan trọng bởi chính tầm quan trọng của từng yếu
tố mà sựquan trọng còn được nhân lên bởi sựgắn kết về nhiều mặt giữa chúng. Chính vì vậy,bảnthân mốiquan hệgiữa dân chủ và pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước hiện đại và đây là cơsởcho sự cần thiết khách quan của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Tuy nhiên, cho đến nay, tiếp tục tồntạisựkhông tương thích giữa dân chủvà pháp luật. Điều này bắt nguồn từnộidung dân chủ trong pháp luật chưa được ghi nhận hoặc ghi nhận chưa toàn diện và đồng bộ. Sự bất tương xứng của nội dung dân chủ trong pháp luật càng làm cho mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật xung đột với nhau trong quá trình thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật dân chủ trên thực tế. Trong một số trường hợp,sựhạn chế trong nội bộ hệ thống pháp luật cũng làm trầm trọng thêm sự không tương thích giữa dân chủ và pháp luật.Kết quả của
33
sựbất tương xứng giữa dân chủ và pháp luật đã hạn chế quá trình thực hiện dân chủvà cũng hạn chế quá trình hoàn thiện các thể chế pháp lý. Vì vậy, sự thống nhất, hài hòa giữa dân chủ và pháp luật trong mối quan hệ giữa chúng cần được coi như là xu hướngphát triển nói chungcủathời đại và cũng là mong muốn chủ quan của con người.
1.2 Hình thức biểu hiện của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật
Hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật là căn cứ cơbảnđểnhận biết và đánh giá chúng trên thực tế. Nếu xem xét một cách tách biệt, dân chủvà pháp luật có những biểu hiện riêng và có thể không liên quan đến nhau. Vì vậy, biểu hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật phải là những vấn đề mà hiện diện nhưlà kết quả của sựtác động qua lại giữa dân chủ và pháp luật. Biểu hiện của mối quan hệ là nội dung dân chủ trong hiến pháp, luật có nội dung quy định trực tiếp vềquyền, cơ chế dân chủ và dân chủ trong hoạtđộngxây dựng và thực hiện pháp luật. 1.2.1 Hiến pháp, hình thức biểu hiện trọng tâm của mối quan hệ giữa dân chủ vàpháp luật
Căn cứ theo hình thức biểu hiện thể chế của dân chủ, nội dung dân chủ của hiến pháp bao gồm vấn đề về nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước, các quyền dân chủ và các cơ chế dân chủ.
Thứnhất, nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước trong hiến pháp.
“Tính chất nhà nước làvấnđề cănbản của hiến pháp,đólà vấn đề nội dung giai cấp của chính quyền” (34, tr.118-142). Có thể nói, vấn đề về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước trong hiến phápđược coi là nội dungđầu tiên và cơbản nhất của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Chuyên chế hay dân chủ bắtđầu từngay từ nội dung này của hiến pháp. Với những nước hiến pháp không thành văn,nộidung này cũng phải được ghi nhận trong các quy tắc pháp lý hiến tínhdưới dạng tập quán. Xét về mặt lịch sử, vấn đề bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhànước được thể hiện trong hiến pháp làkết quả sựxuất hiện cách mạng tưsảnvà dân chủ tư sản nên nó là một trong những biểu hiện quan trọng của mối quan hệ này.
Hiện nay, hầu hết các nước đều tuyên bố quyền lực nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, chúng ta phải dựa trên cách thức quy định về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nướcđểđánh giá tính chất dân chủ của hiến pháp vớiba
34
mức độ cơbản. Nếu quyền lực nhà nước từ“Đấngtối cao”và vì lợi ích của kẻ đượcủy thác, sẽ không có mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật vì ở đó không có dân chủ,ởđó nhân dân là những thần dân, thuộc dân chỉcó nghĩa vụtuân phục tuyệtđối.Mức độ thứhai, có ghi nhận nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng hiến pháp đồngthời ghi nhận sựbất bình đẳnggiữa các công dân (ví dụ nô lệ) hoặc bị hạn chế bằng những trình tự, thủ tục pháp lý phức tạp hoặc không cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nội dung này trên thực tế. Thể hiện mức độdân chủ cao nhất khi nội dung về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước dân chủ được ghi nhận một cách rộng rãi nhất trong hiến pháp. Ví dụ,Hiến pháp 1946, điều 1 quy định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Vấn đề nguồn gốcvà bản chấtđược quy định trong hiến phápđược coi làdân chủ một cách đầy đủhơn khi nội dung này được minh định bởi chính nhân dân thông qua thủ tục phúc quyết hiến pháp. Dân chủ thể hiện trong nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước nếuở mức độcao cần phải do chính nhân dân ấn định trực tiếp chứ không phải làsựxácđịnh củabất kỳ ai. Vấn đềvề nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước có liên hệ chặt chẽ với tính tối cao của hiến pháp. Tính tối cao của hiến pháp một phần xuất phát từ nội dung của nó ghi nhận vấn đề về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước. vì tính tối cao của hiến pháp là một trong những nội dung quan trọng của chế độ pháp quyền nên có thể nói, dân chủ luôn gắn với nhà nước pháp quyền hay sự tối thượng của hiến pháp và pháp luật.
Thứhai, các quyền dân chủ trong hiến pháp
Dân là chủ và làm chủ phải tích cực và chủ động cho nên dân chủ xéttừphía cá nhân công dân có biểu hiện quan trọng nhất là các quyền dân chủ. Các quyền dân chủ của công dân phải tồn tại dưới hình thức là quyền pháp lý vì nó đòi hỏi trách nhiệm thực hiện tích cực của nhà nước và trách nhiệm của công dân trong một trật
tựpháp lý dân chủ.
Trongđiều kiện hiện nay, bảo vệ quyền con người là một nội dung cốt lõi củadân chủ vì phải là con người mới cóthểtrở thành công dân nhưng không thể cótư cách công dân mà chưa được đối xửnhư con người. Nhân loại tiến bộ sẽ lên án việc không tôn trọng quyền con người và nhà nước sẽ phải đối đầuvới toàn thể
35
nhân loại nếu nó không tôn trọng quyền con người nhưng nó ít bịthách thức hơn nếu chưa tôn trọng quyền của công dân của nó. Nếu như con người mà nhà nước không tôn trọng thì không có gì đảm bảo nó tôn trọng công dân với tư cách là con người. Quyền con người không đặt ra nghĩa vụ pháp lý của con người nhưng quyền công dân phải gắn với nghĩa vụ pháp lý của công dân. Nếu chưa tách biệt quyền con người và quyền công dân, có thể không thấy rõ tính chất thiêng liêng của quyền con người và biểu hiện của sựnhấn mạnh nghĩa vụ cá nhân hơn trách nhiệm của nhànước.Hơn nữa, việc thực hiện quyền con người không chỉ là trách nhiệm của nhànước mà nó còn là trách nhiệm của toàn thể xã hội. Có thể nói, trong điều kiện hiện nay, việc không quyđịnhquyền con người hoặc quy định không rõ ràng quyền này là biểu hiện mức độ dân chủ chưa cao trong hiến pháp.
Thiếu một số quyền nhất định hoặc các quyền được quy định không đồng bộhoặc không thực tế là biểu hiện thiếu dân chủ trong hiến pháp. Tuy nhiên, chođến nay,số lượngnhững quyền dân chủ cơ bản hầu như không có sự khác biệt trong các hiến pháp. Sự khác biệt thể hiện trong cách thức quy định về nguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước trong hiến pháp, cụ thể hóa trong luật và tổ chức thực hiện trên thực tế. Ví dụ, việc không quy định rõ trách nhiệm thực hiện tích cực quyền dân chủcủa nhà nước, không ngăn ngừa khả năng vi phạm quyền dân chủ từ phía nhànước và đưa những quyền dân chủ không có khả năng thực hiện vào hiến pháp cho thấy mức độ dân chủ trong hiến pháp còn hạn chế. Làm cho hiến pháp không khả thi hoặc không thực hiện hiến pháp là một biểu hiện của sựthiếu dân chủ. Nói cách khác, muốn hạn chế trách nhiệm của nhà nước, muốn hạn chế dân chủ hãy làm cho các quyền dân chủ trong hiến pháp trở nên vô hiệu.
Thứba, các cơ chế dân chủ trong hiến pháp
Căn cứ theo mục đích và cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ chế dân chủ được chia thành cơ chế bảo vệ quyền dân chủ, cơchế chế ngựquyền lực, cơ chế tham gia dân chủ và cơ chế bảo vệ hiến pháp. Việc phân chia thành các cơ chế dân chủ dựa trên tính chất dân chủ của từng cơchế và sựphân chia này có tính tươngđối vì các cơ chế này có mối liên hệ rất chặt chẽvề vai trò vàchức năng mà rất khó phân định trên thực tế.
36
Các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền dân chủ trong hiến pháp là những cơchếlàsựbảođảm có tính chất hiến pháp đối với quá trình hiện thực hóa quyền dân chủ. Nếu có ghi nhận quyền dân chủ mà chưa tổ chức thực hiện được trên thực tế thì ít nhất phải có cơ chế bảo vệ những quyền này khỏisựvi phạm. Để bảo vệ quyền dân chủ khỏisựvi phạm, một trong những cơ chế pháp lý quan trọng nhất chính là bảo vệ bằng Tòa án. Yêu cầu quan trọng để Tòa án có thể bảo vệ quyền dân chủ là Tòa án phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nếu Tòa án khôngđộc lập,tức là Tòa án xét xử theo sự chi phối từ bên ngoài thì quyền dân chủ của công dân sẽ không được bảo vệ khỏisựvi phạm của các cơ quan nhà nước.Sự độc lập củatư pháp dựa trên khả năng giảm thiểu ảnh hưởng từ bên ngoài cũng nhưkhảnăng “đềkháng” từ bên trong của nó, tức là năng lực tựđộc lập củatư pháp. Đây là yêu cầu quan trọng trong việc thiết kế mối quan hệ giữa tư pháp với các cơ quan,tổ chức khác và tổchức bộ máy, thẩm quyền của chính hệ thống tư pháp. Cơchế bảo vệ bằngtư pháp phải toàn diện bởi vì quyền con người, quyền công dân bị vi phạm không chỉ từphía các công dân khác mà khả năng lớn hơn từphía nhànước và có thểxảy ra trong mọi lĩnh vực. Vì thế, thẩm quyền của Tòa án phải bao hàm tất cả những tranh chấp và vi phạm pháp luật mà khôngbị giới hạn, vì ởlĩnh vực nào Tòa án không thể xét xử, ở đó pháp luậtkhó có thể được bảo vệ.
Hiến pháp cũng phải mở rộng hơn các cơ chế bảo vệ quyền dân chủ bằng các cơ chế hành chính, kinh tế khác nhưng trong những cơ chế trên, cơ chế tư phápđóng vai trò quan trọng hơn vì bản chất của tư pháp là độc lập và là sự phán quyết của pháp luật mang tính chất trung lập và có giá trị cuối cùng và có hiệu lực thực hiện cao hơn so với những cách giải quyết bằng thủ tục hành chính và các thủ tục khác. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý là Tòa án chỉ bảo vệ pháp luật nhưng pháp luật có dân chủ hay không chưa được nêu ra ở đây. Ngay kể cả việc bảo vệ quyền dân chủ trong pháp luật cũng không có nghĩa là pháp luật đó có nội dung và tính chất dân chủ toàn diện vì đôi khi quyền dân chủ mà tòa án bảo vệ là quyền dân chủ cắt xén và giả hiệu. Chính vì vậy, cơ chế bảo vệ quyền dân chủ phải có mối liên hệ chặt chẽvới các cơ chế dân chủ khác và các biểu hiện khác của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
37
Cơ chế pháp lý tham gia dân chủ của công dân thể hiện dân chủ trong hiến pháp ởmức độ cao nhất và có tính chất chủ độnghơn so với các cơ chế dân chủ khác. Lấy ý kiến của nhân dân là mứcđộ tham gia dân chủ và hiến pháp cần quyđịnh quyền, cơ chế lấy ý kiến của nhân dân. Lấy ý kiến của nhân dân thể hiện mứcđộ dân chủ hạn chếbởi vì nó không phải là sựquyết định cuối cùng mà chỉ là sựphản ánh một cách thụ động của nhân dân. Dù chưa được coi là nhân dân có quyền
lực để quyết định nhưng việc lấy ý kiến của nhân dân vẫn còn dân chủ hơn là không quan tâm đến ý kiến của nhân dân.
Về cơ chế bầucử,nhìn chung,bầucửtrong hiến pháp nói chung làphổthông, bình đẳng và phiếu kín và tự do. Nội dung của chế độ bầu cử trong hiến pháp rất ngắn gọn và chỉ mang tính chất nguyên tắc cho nên nội dung dân chủ trong luật bầu cửthể hiện tính chất dân chủ nhiều hơn là nội dung bầu cử trong hiến pháp. Vai trò của bầu cử đặc biệt quan trọng và thiết thực trong điều kiện hiện nay bởi vì bầu cửlà con đường kiến thiết chế độ đại diện và nó cũng chính là phương thức để thực hiện cơ chế dân chủ khác, ví dụ cơ chế giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước.
Cơ chế dân chủ tham gia quan trọng nhất trong hiến pháp chính là tham gia trực tiếp là biểu hiện rất quan trọng của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật đó là phúc quyết toàn dân. Phúc quyết hiến pháp được coi là nội dung dân chủ quan trọng nhất vì nó cũng gắn với nội dung dân chủ cơ bản nhất của hiến pháp là vấn đề vềnguồngốcvà bản chất của quyền lực nhà nước và nó cũng xác định tính tối cao của hiến pháp với tư cách làsựthể hiện trực tiếp ý chí của nhân dân. Sự tham gia trực tiếp vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong hiến pháp là rộng rãi hơn nếu nó quy định cơ chế vậnđộngbãi miễn các quan chức trong bộ máy nhànước từcửtri và do cửtri.Đồngthời, quy định về quyền và cơ chế đưa ra sáng quyền lập pháp cũng được coi là biểu hiện mức độ dân chủ rất cao trong hiến pháp tuy nó đòi hỏi nhữngđiều kiện nhất định.Ở bình diện rộng nhất,sựtham gia vào một xã hội dân sự lành mạnh và tham gia của nhân dân thông qua các tổ chức xã hộiđa dạng được coi là tiền đề quan trọng cho sự tham của nhân dân vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.Sựtham gia này cũng thể hiện mức độ dân chủcủa hiến pháp và cũng cần được xác định trong hiến pháp, ví dụ trong chế độ chính trị, kinh tế, xã hội.
38
Cơ chế pháp lý giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước trong hiến pháp có ýnghĩa quan trọng bởi vì sựtham gia trực tiếp của nhân dân rất khó thực hiện và vìcơ chế bảo vệ có tính chất thụ động nên đây là cơ chế hiện thực nhất trong việc thực hiện dân chủ, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng. Đặc biệt, trong hầu hết các nhànước hiện đại,hình thức thực hiện quyền lựcđại diện là rất phổbiến, cho nên có quan điểm cho rằng sự giám sát và chế ngự quyền lực là căn cứchủ yếu để đánh giádân chủ [74]. Điều cần lưu ý là giám sát chỉ là hoạt động theo dõi và kiểm tra, cho nên giám sát cần phải gắnliền với sựchế ngựquyền lực nhànước.Sự giám sát vàchế ngựđược thực hiện bởi chính các cơ quan nhà nước với nhau là một trong những nội dung quan trọng nhất trong mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước vàđây cũng là nội dung dân chủ quan trọng trong nội dung dân chủ của hiến pháp. Cóquan điểm coi trọng lý thuyết phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước mà điển hình nhất là cơ chế kìm chế đối trọng. Thật ra, một trong những mục đích dân chủlà thực hiện cơ chế giám sát, chế ngự quyền lực bởi chính các cơ quan nhà nước với nhau còn phân quyền hay không chỉ là một trong những phương thức thực hiện sựgiám sát,chế ngựquyền lực nhà nước mà thôi. Hơn nữa, việc áp dụng cơ chế phân quyền theo lý thuyết tam quyền phân lập nhằm thực hiện sựchế ngựquyền lực nhànước nếu được quy địnhtrong hiến pháp phải gắnvới điều kiện chính trị – xã hội nhất định. Ví dụ, cơ chế phân quyền triệt để theo mô hình của Mỹ tương thích với chế độ đảng phái “lỏng lẻo”. Ngược lại,chế độ phân quyền không triệt để như Anh thích hợp với chếđộ đảngphái chặt chẽ [103, 106].Cả hai mô hình này đều phải dựa trên một nền tảng là sự tối thượng của pháp luật và hiến pháp là cao nhất.Điều cần nói là cơ chế chế ngựbởi chính các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cácđảngphái với nhau vẫn cần phải có cơchếvà giải quyết vàđược phán xétbởi
“trọng tài” cao nhất – nhân dân. Nhân dân sẽ là chủ thể ra quyết định cuối cùng cho sựchế ước lẫnnhau giữa các cơ quan nhànước bằngviệc mỗi 4 hay 5 năm một lần, bằng bầu cử dân chủ. Cơchế chếngự quyền lực cũng có thể được thực hiện theo cơchế phân chia thẩm quyền theo cấp và nó có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện
xã hội có sự đa dạngvề địa lý,văn hóa, chủngtộc…Hơn thế,quá trình thực hiện phi tập trung hóa (decentralization) hay thực hiện việc ra quyết định đa cấp cũngđược coi là một biểu hiện dân chủ trong nhà nước hiện đại [122].
39
Bên cạnhsựgiám sát và chế ngự giữa các cơ quan nhà nước,vẫn cần có sựgiám sát, chế ngự quyền lực bởi nhân dân với các cơ quan nhà nước thông qua các phương tiện truyền thông, giám sát của cử tri với đại biểu, giám sát thông qua các tổchức chính trị và xã hội.Sựchế ngựquyền lực bởi nhân dân biểu hiện trong hiến pháp là quyền biểu tình, quyền bất tín nhiệm các quan chức thông qua việc bỏ phiếu phúc quyết của cử tri và khả năng thay đổi chính quyền một cách hòa bình được quy định trong luật. Trong mọi trường hợp, nhân dân đều có sự thách thức cuối cùng làkhởi nghĩa lật đổ nhà nướcbạo tàn bằng dù hình thức này rất hiếm khi được quyđịnh trong hiến pháp. Xét trong điềukiện thực tại, cơchếgiám sát vàchếngựquyền lực nhà nước trong hiến pháp có thể được coi là một chuẩn mực quan trọng nhất để xem xét và đánh giá nội dung, tính chất mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Không tồn tại cơ chế giám sát, chế ngựquyền lực nhà nướctrong hiến pháp, khó có thể chấp nhận là một chế độ dân chủ,trừphi quyền lực đó được chính nhân dân thực hiện hoặc được “thánh thần” thực hiện nên không cần phải giám sát và chếngự.
Nếu cơ chế này được quy định nhưng không mang mục đích, tính chất dân chủ hoặc quy định nhưng không được thực hiện trên thực tế, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật có thể được coi là có sự không tương thích. Cơ chế giám sát, chế ngựquyền lực trong hiến pháp thể hiện tính chất dân chủ khi: (1) Giám sát quyền
lực đi kèm với sựchế ngựquyền lực, vì giám sát chỉ là kiểm tra theo dõi chứ chưa có trách nhiệm bắt buộc. (2)Chế ngựquyền lực,đặc biệtlà sự chếngự giữa các cơquan nhà nước với nhaucầnđượcquy địnhvà có mụcđích dân chủ đểkhông làphương tiện thỏa hiệp trong nội bộ giai cấp thống trị. (3) Nhất thiết có cơchếgiám sát và chế ngự quyền lực của nhân dân, bằng chính nhân dân.
Tính tối cao của hiến pháp và cơ chế bảo hiến là sựthể hiện nội dung dân chủ trong hiến pháp. Tính tối cao của hiến pháp xuất phát từ những lý do như sau:
thứnhất, xét về mặt ý chí, tính tối cao của hiến pháp vì nó là văn bản thể hiện ý chícủa toàn thể nhân dân bởi vì nó là sựthể hiện quyền lực quyết định trực tiếp của nhân dân thông qua thủtục phúc quyết hiến pháp. Trong nhữngnước hiến pháp không phải do nhân dân phúc quyết, tức là chưa phải là bản văn thể hiện ý chí của nhân dân vẫn có thể được coi là những nước dân chủ trong điều kiện có một truyền
40
thống văn hóa pháp lý –chính trị dân chủ lâu đời và hiến pháp được coi là sựtựràng buộc trước pháp luật của cơ quan lập hiến.Thứhai, trong hai hình thức thể hiện quyền lực nhân dân, cơ quan đại diện có thể lạm quyền nhưng hiến pháp không có khả năng này và hiến pháp ngăn chặn sựtha hóa của quyền lực nhà nước.Cơ quan đại diện theo nhiệm kỳvà chỉ quyết định một sốvấnđề nhấtđịnhthì hiến pháp là sự thể hiện trực tiếp ý chí và quyền lực của nhân dân và là chiếc “van” an toàn khi “khế ước” này bị vi phạm.Thứba, với thủ tục thông quavà sửa đổihiến pháp một cáchđặc biệtcho thấysựbảo vệ tính tối cao và là sự thể hiện tính chất tối cao của nó.Thứtư, vì nội dung của hiến pháp quy định những vấn đề căn bản nhất và có giá trị pháp lý cao nhất cho nên tính tối cao xuất phát từ nội dung ý chí của nóvà nó cũng xuất phát từ tính chất hệ thống thứ bậc của pháp luật. Vì hiến pháp thểhiện ý chí nhân dân, hiến pháp có thể cao hơn tất cả các cơ quan nhà nước, nội dung của nó ghi nhận những vấn đề quan trọng nhất nên tính tối cao của hiến pháp chính là một biểu hiện của dân chủ. Bản thân hiến pháp đã là một biểu hiện dân chủ trước khi nội dung của nó quy định về dân chủ.
Nếu như hiến pháp có tính tối cao vì nó thể hiện quyền lực của nhân dân thìyêu cầu bảo vệ tính tối cao của hiến pháp cũng là một biểu hiện của dân chủ. Với tưcách là một đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, hiến pháp cần phải được bảo vệđể tránh sựvi phạm, đồng thời hiến pháp cũng cần được bảo vệ vì nó thể hiện ý chícủa nhân dân, quyền lực của nhân dân. Với ý nghĩa này,bảovệ hiếnpháp cũng cónghĩa là bảo vệ dân chủ.
Chức năng bảo hiến trên thế giới hiện nay theo mô hình thứnhất, giao cho Tòa án tối cao và thuộc hệ thống tòa án ởnhữngnước như Ôxtrâylia,Mỹ,Ấn độ, Canađa.Thứhai, thiết lập một Tòa án hay Hội đồngbảo hiến tách biệt khỏi hệthống Tòa án mà hiện mô hình này phổbiến ởcác nước Châu Âu nhưĐức,Ý, Pháp. Thông thường, với các nước có hiến pháp thành văn, cơchếbảo hiếnđược thiết lập với vai trò của Tòa án hiến pháp hoặc hội đồng bảo hiến. Với nhữngnước hiến pháp không thành văn, cơ chế bảo hiến dựa vào tập quán và dư luận chính trịmà nước Anh là một ví dụ điển hình nhất. Phương thức bảo hiến làsựkếthợp giữa phương thức mang tính chất pháp lý và phương thức mang tính chất chính trị. Bảo vệ bằng tòa án là thể hiện xu hướng bảo vệ mang tính chất pháp lý, ngược lại, bảo
41
vệ bằng một hộiđồng bảo hiếnthiên về tính chất chính trị hơn. Tuy nhiên, dù chức năng bảo hiến giao cho tòa án tối cao hayhội đồngbảo hiến, yêu cầu quan trọng đặt ra là cơ quan bảo hiến phải độc lập và chỉ tuân theo hiến pháp, kể cả hiến pháp đó làmột “đạo luật đặc biệt” của lập pháp hay là bản văn pháp lý chính trị do chính nhân dân phúc quyết. Nếu hiến pháp là sự thể hiện ý chí và quyền lực của nhân dân một cách trực tiếp bằng bỏ phiếu phúc quyết, cơ chế bảo hiến đương nhiên là sự thể hiện dân chủ. Trong một số trường hợp, dù hiến pháp không phải là bản văn trực tiếpthểhiện quyền lực của nhân dân, ý chí của nhân dân nhưng với cơchếbảo hiến nghiêm ngặt, nó cũng biểu hiện một mức độ dân chủ nhất định vì cơchế bảohiến cản trởsựvô độ của việc thực hiện quyền lực của các cơ quan nhà nướckể cả cơ quan lập pháp dù quyền sửa, đổi hiến pháp thuộc về cơ quan lập pháp. Nói chung, nhà nước không thể dễ dàng sửa hiến pháp để xóa bỏ những trở ngại vì nó sẽ bị giảm sút uy tín và tính chính đáng để cai trị.
Thủ tục thông qua và sửa đổi hiến pháp cũng có thể được coi là một phương thức bảo vệ tính tối cao của hiến pháp.Nếu quy định một thủ tục đặc biệt để đề nghịsửa đổi hiến pháp và dự thảo phải do nhân dân bỏ phiếu quyết định có thể giảm bớt khả năng tùy tiện của các lực lượng chuyên chế. Kể cả thủ tục sửa đổi hiến pháp với quy tắc 2/3 của cơ quan lập pháp cũng không thể cho phép bất cứmột lực lượngnào dễ dàng thay đổi chế độ chính trị. Xét ở phạm vi rộng hơn, việc thay đổi hiến pháp là một diễn biến chính trị quan trọng cho nên nó có được sự chú ý của toàn thể nhân dân và thậm chí dư luận quốc tế vì vậy, việc đổi mới hiến pháp theo hướng dân chủvà pháp quyền sẽ thuận lợi hơn là xu hướngngược lại. Các cơ chế bảo hiến theo nghĩa rộng bao gồm sựbảo vệ từnhững vi phạm hiến pháp và bảo vệ bằng trình tựthủ tục sửa đổi hiến pháp có vai trò nhất định đối với việc bảo vệ tính tối cao của hiến pháp nói riêng và dân chủ nói chung. Cơ chế bảo vệ bằng việc xem xét tính hợp hiến giúp ngăn cản sự vi phạm hiến pháp thì cơchế bảovệ hiến pháp bằngthủ
tục, trình tự, điều kiện sửa đổi hiến pháp sẽ góp phần bảo vệ chính cơ chế xem xét tính hợp hiến. Tóm lại, các cơ chế dân chủ có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất vàhỗ trợnhau. Ví dụ,trong cơchếgiám sát chế ngựquyền lực để đảmtính trách nhiệm tích cực của cơ quan nhà nước cần được hỗ trợbởi trình tựthủ tục tố tụng hành chính, chỉ khi bị kiện thì cơ quan nhà nước mới có thể tích cực hơn.
42
Với những phân tích như trên, một trong những biểu hiện tập trung của dân chủ trong pháp luật chính là nội dung dân chủ của hiến pháp. Tuy nhiên,đểnhững nộidung dân chủ trong hiến pháp thể hiện dân chủ và thể hiện sựthống nhất mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật thì những nội dung dân chủ trong hiến pháp cầnđảmbảo hai yêu cầu quan trọng: (1) Đầy đủvà toàn diện với các nội dung nhưnguồn gốc và bản chất quyền lực nhà nước, các quyền và các cơ chế dân chủ trong hiến pháp. (2) Các nội dung dân chủ này có sựđồngbộ và thống nhất với nhau. Vídụ,cơ chế giám sát,chế ngựquyền lực nhà nước đồngbộ với cơ chế tham gia nói chungvà với chế độ bầu cử.
Tóm lại, có thểnói, nội dung dân chủ củahiến pháp và chính hiến pháp làbiểu hiện tập trung nhất mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật vì năm lý do sauđây: Một là, xét về mặt lịch sử, sự ra đời của hiến pháp biểu hiệnsựđấu tranh của nhân dân với các chế độ chuyên quyền bằng những văn bảnhiến tính hoặc bằng hiến pháp [53]. Sau này, chủ nghĩa lập hiến cho rằng nội dung chính của hiến pháp là ngăn ngừa sựchuyên chế của nhà nước và đã xác định vai trò dân chủ của hiến pháp hiện đại [103]. Dân chủ trước hết phải chốnglại sựchuyên chế của nhà vua vàsau đó là sự chuyên chế của nhà nước bằng hiến pháp và pháp luật. Với Việt Nam, mộttrong những mục đích đấutranh của cách mạng Việt Nam thể hiện trong tưtưởngcủa Hồ Chí Minh và đã trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách sau khi
giành chính quyền là: “…Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độthực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tựdo dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” [62, tr.97]. Quan điểm trên đã cho thấy sựtồntại của hiến pháp nhưlà một dấu hiệu của dân chủ và hơn thế, nó cũng thể hiện mục đích đấu tranh của phong trào cách mạng dân chủ là có hiến pháp.
Hai là, một trong những nội dung của hiến pháp là dân chủvàđược nhiều học giả chấp nhận đó là: “Hiến pháp gắn liền với dân chủ. Một hình thức chứa đựng của dân chủ. Trong chế độ phong kiến và chiếm hữu nô lệ không có hiến pháp theo nghĩa như hiện nay ” [36, tr.29]. Dù hiến pháp hiện đại có nhiều nội dung mới nhưng nội dung căn bản nhất của hiến pháp qua mọi thời kỳ là gì nếu không phải làdân chủ và nhằmmụcđích dân chủ. Chính vì vậy mà có quan điểm rất hợp lý khi
43
cho rằng: “Vì vậy, có thểnói rằng, hiến pháp là bản văn khẳngđịnh việc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” [36, tr.16].
Ba là, xét về tính chất pháp lý, hiến pháp là luật có vị trí và hiệu lực pháp lý cao nhất quy định về dân chủ. Các văn bản pháp luật khác cũng có thể quy định vềdân chủ nhưng nó xuất phát từhiến pháp, phù hợp với hiến pháp và có chức năng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nội dung dân chủ vốn đã được quy định trong hiến pháp. Vì vậy, xét theo tính chất pháp lý của dân chủ trong hiến pháp, có thể nói dân chủ trong hiến pháp là dân chủ có tính pháp lý cao nhất hay đó là sự thể hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Bốn là,sựtồn tại của hiến pháp là một biểu hiện của dân chủ và cũng là một căn cứ và tiêu chí đánh giá sự tồn tại và tính chất của dân chủ. Tuy nhiên, có thể có những hiến pháp không thực tế,giả tạo nhằm che đậy sựcai trị dân chủ nhưng chính việc phải che đậy quyền lực chuyên chế bằng một hiến pháp mang tính chất hình thức đó cũng cho chúng ta thấy: (1) Hiến pháp là một biểu hiện của dân chủ ít nhất là về mặt hình thức. Chính vì vậy, những chế độ chuyên chế ngụy trang bằng một hiến pháp và ngụy tạo dân chủtừhiến pháp. (2) Dù chế độchuyên chếđược che đậy bằng một hiến pháp, có thể nóichế độđó cómột mức độdân chủ nhấtđịnh dù là rất thấp vì hiến pháp chỉ mang tính chất hình thức nhưng cũng đã cho thấy làchế độ chuyên chế đó đã phải lo sợ sức mạnh của nhân dân nên phải “ngụy trang” bằng một hiến pháp.
Năm là, xét về mặt chức năng, hiến pháp là một văn bản pháp lý nhằm thực hiện dân chủ. Thực hiện dân chủtừhiến pháp cũng như thực hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật có lẽ trong hiến pháp và bắt đầu từ hiến pháp. Thực hiện toàn diện mối quan hệ bắt đầutừhiến pháp cũng như các lực lượngcai trị chuyênchếtrongđiều kiện hiện đại cần thực hiện những dàn xếp từnội dung dân chủ trong hiến pháp. Nói một cách ngắn gọn, dân chủ hay mỉa mai dân chủ,sựtôn trọng hay coi thường pháp luật diễn ra chính trong hiến pháp và từ hiến pháp. Chính vì thế,ởmộtmức độnhất định, thông qua tính chất và mức độ của nội dung dân chủ trong hiến pháp, mức độ thực hiện hiến pháp, chúng ta có thể đánh giá tính chất, vị trí vai trò và sự tác động qua lại giữa dân chủ và pháp luật.
44
1.2.2 Các luật có nội dung quy định trực tiếp về quyền và cơ chế dânchủ
Dân chủ trong các văn bản luật đóng vai trò cụ thể và hiện thực hóa nội dung dân chủ trong hiến pháp.Nếunộidung dân chủ trong hiến phápchưa được cụ thểhóa bằng luật, mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật gần như không tồn tại trên thực tế.Dân chủ trong luật phải đầy đủ,đồngbộ và thống nhất nội dung dân chủtrong hiến pháp. Căn cứvào nội dung và tính chất dân chủ cơ bản của các luật, chúng ta có thể chia thành các nhóm sau: nhóm các luậtcụ thểhóa những quyđịnh về quyền và cơchếtham gia dânchủtrong hiến pháp, ví dụ luật bầu cử, trưng cầu
dân ý, phúc quyết toàn dân…Nhóm thứ hai là những luật chứa đựng nội dung giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước.Ví dụquy định về kiểm tra giám sát giữa các cơquan nhà nước trong luật về tổ chức bộ máy nhà nước; luật về biểu tình cụ thể hóa quyền và cơchếgiám sát, chế ngựquyền lực của nhân dân. Nhómthứba, những luật về trình tự, thủ tục (luật hình thức) bảo vệ quyền dân chủ. Nhóm này có vai tròkhá quan trọng vì nó không những thực hiện sựbảo vệ quyền dân chủ mà nó cònđóng vai trò tổ chức thực hiện những luật có nội dung dân chủ khác.
Thứ nhất, các luật có nội dung về quyền và cơ chế tham gia dân chủ
Lấyý kiến nhân dân là mộtnội dung dân chủ quan trọng mà cầnđược pháp luật quy định.Nếu trong hiến pháp, nội dung này chỉ có tính nguyên tắc thì trong văn bản luật, cần cụ thể hóa trên tinh thần quy định của hiến pháp. Việc quy định trình tự, thủ tục lấy ý kiến của nhân dân trong luật có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện chưa thể thực hiện dân chủ trực tiếp. Dù nhân dân chưa trực tiếp quyết định nhưng việc luật thiết kế cơchế lấyý kiếncủanhân dân cũng được coi là biểu hiện của mốiquan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Tuy nhiên, Luật về trưng cầu ý kiến của nhân dân chỉ là giải pháp tạmthời và nên chuyển tiếp sang hình thức phúc quyết của nhân dân.
Hiến pháp chỉ có thể quy định nguyên tắc chung của chế độ bầu cửlà phổ thông, bình đẳng, phiếu kín và có thể là tự do nhưng những khái niệm này được giải thích và thể chế hóa như thế nào lại ảnh hưởng đến nội dung dân chủ của hiến pháp, thậm chí ảnh hưởng đến cả nền dân chủ nói chung. Chính vì vậy, nội dung chế độbầu cửtrong hiến pháp được cụ thể hóa trong luật là biểu hiện rất quan trọng mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.Về mặt nguyên tắc, bầu cửlà dân chủ khi nó
45
được coi là quan hệ về quyền lực giữa cử tri và nhữngngười được ủy quyềnvà kết quả bầu cửthực sựlà sựlựa chọn của nhân dân với tư cách là mộtthể thống nhất chứkhông phải là sựlựa chọn của tổngsố cửtri vì nhân dân không đơn thuần là
tổngsố cửtri. Quyền lực của tập thể phải là kết quả của hành vi tập thể có sự thống nhất về ý chí chứ không phải là tổng số lựa chọn của các cá nhân một cách riêng rẽ. Cửtri phải được lựa chọn con người đại diện với “tài”,“đức” và quan trọng hơn phải được lựa chọn đườnglối cai trị đất nước. Căn cứ lựa chọn đức và tài của ứng cửviên là cần thiết nhưng nó cần phải thể hiện bằng đường lối cai trị để nhân dân giám sát và đườnglối này phải được đảmbảo bằng một uy tín của đảngchính trị. Sự lựa chọn của cửtri sẽ có ý nghĩa hơn khi họ được lựa chọn con người đại diện vàđồngthời là sựlựa chọn đườnglốicai trị của đảngvì đảng của ứng cửviên vừa đảm bảo cho khả năng hiện thực hóa “lời hứa” và giám sát đảng viên để đảm bảo uy tín của đảngtrong kỳ bầu cử tới. Mặt khác, tiêu chí để lựa chọn phải định tính và định lượngđể có thể dựa trên tiêu chí này để lựachọn và kiểm soát người được trao quyền. Vì thế, căn cứlựa chọn thực sựphải là đườnglốicai trị, cương lĩnh hànhđộngcủa ứng viên vì đường lối đó là một trong những hình thức thể hiện “tài,đức” và cũng là phương tiện để đánh giá và kiểm soát các ứng viên.
Vì cửtri khó có khả năng đánh giá những “lời hứa” của ứng viên,của đảng phái trong tranh cửvì chúng chưa được thực hiện và do những chương trình hànhđộngnày đòi hỏi chuyên môn và hiểu biết. Do đó, cần có cơ chế thẩmđịnh để chọnđườnglối tốt hơn và cũng phải có sự chỉ trích, phê phán cảnh báo về những đường lối phi hiện thực, lừa dối. Chính vì vậy bầu cử cần phải có tính chất cạnh tranh vàphải là cạnh tranh giữa các đối thủ chuyên nghiệp ngang tầm, ngangsức để sựlựa chọn của cửtri có ý nghĩa. Việc xây dựng nhữngđườnglối, cương lĩnh cũng nhưchỉ trích nhữngđườnglối khác đòi hỏi trí tuệ tập thể và tính chuyên nghiệp mà các cá nhân công dân không đủ thông tin và sự chuyên nghiệp để thực hiện. Vì thế, cácứngcửviên độc lập ít có cơ hội thắng cử,đặc biệt trong những vị trí cao nhất. Tranh cử là ứng viên thể hiện sự hơn hẳn so với đối thủ, thể hiện trách nhiệm thực hiện cam kết tranh cử và quan trọng hơn làthể hiện sựtích cực chứng minh giátrịcủa mình trước cử tri chứ không phải làcửtri phải lựa chọn đánh giá ứng viên. Dân chủ phải là ứngviên cần cửtri chứkhông phải là cửtri phải chọn ứng viên. Nói
46
chung, thiếu tính cạnh tranh trong tranh cử là tước bỏ quyền tự do lựa chọncủa cửtri mà họ lẽ ra phải có như là quyền của “thượng đế” trên thị trường. Thậm chí, vai trò của cử tri còn cao hơn vai trò của “thượng đế” trên thị trường, bởi vì khách hàng trong thị trường chỉ quyết định trên khả năng tài chính của họ,nhưngcửtri quyết định không chỉ vì họ có quyền về tài chính (thuế) mà họ còn đóng góp sức mạnh chính trị (lá phiếu). Với cửtri,sựtựdo và quyền lực của sựlựa chọn giảm tương ứngvới số lần lựachọn, hoặc không làlựachọn khi chỉcó mộtứng viên. Đương nhiên là mục đích, cách thức của sự lựa chọn đa dạng cũng tăng khả năng dân chủ. Ví dụ,chọn một đạidiện chung cho đất nước (Tổng thống) và lựa chọnmột tập thể
(tập thể),bầu đại diện ở địa phươngvà bầu đại diện cho toàn thể quốc gia, bầu theo
nhiệm kỳ của một phần ba các đại biểu của cơ quan đại diện….
Bầu cửcũng làsựcó thể được xem một “luậtchơi” của cácđối thủchínhtrịtrong việc nắm quyền lực nhà nước. Nhân dân trong trường hợp này đóng vai trò làtrọng tài cho “cuộc chơi” đó. Cơchế bầu cửgiúp cho nhân dân quyết định kẻ thắng người thua chứkhông phải là các đối thủ quyết định hoặc dàn xếp, quyết định ai thắng ai thua. Đồng thời, tôn trọngkết quả bầu cửlà một thái độ, văn hóa chính trịdân chủ nhưng cũng là một yếu tố ràng buộc và là văn minh ứng xử dân chủ. Nhìn chung, nội dung chế độbầucửđược cụ thể hóa trong luật có mức độdân chủ cao hơn khi khả năng lựa chọn của cửtri được mởrộng hơnvề đối tượng, cách thức phạm vi của sự lựa chọn.
Luật thể hiện sự tham gia trực tiếp của nhân dân có mức độ và tính chất dân chủ là cao là luật về sự tham gia trực tiếp vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bằng bỏ phiếu – phúc quyết toàn dân. Trên cơsởquy định mang tính chất nguyên tắc của hiến pháp, Luật phải thiết kếcho nhân dân có quyền phúc quyết những vấn đề quan trọng và có quyền bất tín nhiệm những quan chức do chính dân bầu với điều kiện tiên quyết là có sự tự do thông tin và minh bạch của chính quyền. Theo phương thức thực hiện, có ba hình thức pháp lý phổ biến của dân chủ trực tiếp như sau: (1) Phúc quyết toàn dân (Referendum) là việc nhân dân quyết định về một vấn đề quan trọng bằngbỏphiếu. Có hai hình thức chính, phúc quyết mang tính chất bắt buộcđược quy địnhtrong luật với nhữngvấnđề nhấtđịnh và kếtquả cótính chất bắt buộc. Phúc quyết lựa chọn là việc nhà nước có quyền đưa ra một vấn
47
đề để phúc quyết và kết quả phúc quyết có thể bắt buộc hoặc không bắt buộc. (2) Vận độngtrưng cầu từnhân dân về sáng quyền lập pháp (Citizen initiatives). Nhân dân đưa ra kiến nghị sửa đổi luật bằng việc thu được mộtsố lượng nhấtđịnh chữký, thôngthường, đạt được số chữký theo luật định thì yêu cầu này phải được thực hiện và nhà nước sẽ tiến hành thủ tục để cử tri bỏ phiếu cho vấn đề đó.Cửtri
có thể đưa ra dự thảo chi tiết hoặc nhà nước phải soạn thảo chi tiết dựa trên những vấn đề mang tính chất nguyên tắc của cử tri đưa ra. (3)Vậnđộngbãi nhiệm (Recall) là việc vận động trong nhân dânđể đạtđược mộtsố chữký nhấtđịnh kiến nghị đểtiến hành bỏ phiếu phế truất những chức vụ dân cử. Tuy phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp này gần như chỉ thực hiện ởtầmđịa phương và rất dễ bị lạmdụng nhưng nó có ý nghĩa dân chủ rất lớn đối với nhân dân [169]. Tóm lại, trên đây là các luật có nội dung tham gia dân chủ cơ bản nhất. Những luật này không nhữngthểhiện đầy đủ và thống nhất với nội dung dân chủ trong hiến pháp mà nó phải đồng bộ với nhau. Những nội dung dân chủ này cũng phải thực hiệnvới mộtlộ trình nhấtđịnh và gắn với điều kiện cụ thể.
Thứhai, cơ chế và quyền giám sát, chế ngự quyền lực nhà nước trong luật Giám sát và chếngựquyền lực nhànước được thực hiện bởi chính các cơ
quan nhà nước với nhau đóng vai trò rất quan trọng trong nội dung dân chủ của các luật về tổchứcbộ máy nhànước.Chức năng giám sát, vàchếngựquyền lực của của Quốc hội hoặc Nghị viện là phổ biến trong các hình thức chính thể dân chủ bởi tính chất dân chủ đạidiện củanó. Trên cơsởđó,các luật vềtổ chức bộmáy nhànước thiết kế cơchếchế ngự quyền lực của cơ quan nàyđối với cơquan hành pháp và tư pháp. Thông thường, cơ chế pháp lý cho sự giám sát là phê chuẩn, bổ nhiệm; xét xửquan chức cao cấp; phê chuẩn dựtoán ngân sách, chương trình hành động; bất tín nhiệm Chính phủ; giải tán Chính phủ. Nhìn chung, cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân là Nghị viện hay Quốc hội có vị trí ưu trội hơn so với cơ quan hành pháp. Chính vì đảm nhiệm khá nhiều vai trò và ưu thế hơn so với các hệ thống khác cho nên sự chế ngự quyền lực nhà nước cũng diễn ra ngay trong lòng cơ quan lập pháp bằng việc phân chia thành hai viện nhằm hạn chế khả năng chi phối cơ quanđại diện và lạm dụng quyền lực trong cơ quan này. Về nguyên tắc, dânchủlà thẩm quyền của cơ nhà nướcđi kèm với khảnăng giám sát với chính cơ quan đó.Hiệu
48
quả của sựgiám sát và chế ngự quyền lực phụ thuộc vào cách thức,sựđa dạng vàtính thống nhất của các hình thức giám sát. Luật hóa cơ chế giám sát không chỉ quyđịnh sựđa dạng trong cách thức giám sát mà cần phải đồng bộ với các cơ chế khác, ví dụ giám sát chính trị của đảng phái có liên hệ mật thiết vớigiám sát pháp lý.
Sựchế ngựcủa cơ quan hành pháp với lập pháp thông thường bằng cơchếphủ quyết luật của cơ quan lập pháp,đệ trình nguyên thủ quốc gia để giải tán cơquan đại diện.Sựchế ngựquyền lựccủa hành pháp với tư pháp chủ yếu thể hiện qua việc bổ nhiệm thẩm phán. Tuy nhiên, xét về lý thuyết chức năng chủ yếu của cơquan này là thi hành pháp luật và chấp hành cơ quan đại diện của nhân dân cho nên vai trò chế ngự của nó là rất hạn chế. Mặt khác, vì là cơ quan điều hành, quản lý cho nên hành pháp có nguy cơ cao nhất trong việc va chạm với lợi ích của nhân dân, vìvậy, hoạt động của nó thường bị giám sát,chế ngựhơn là đi chế ngự và giám sát.
Tư pháp có thể chế ngựquyền lập pháp và hành pháp bằng quyền kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp. Nhưng quyền này là quyền mang tính chất thụ động vì nókhông bắt buộc hành pháp, lập pháp thực hiện một hoạt động nào đó mà chỉ có thểngăn chặn sựvi phạm hiến pháp, pháp luật.Sựchế ngựcủa Tư pháp là thụ động xuất phát từ vai trò bảo vệ pháp luật chứ không phải là chức năng tổ chức thực hiện pháp luật của nó. Tuy nhiên, phương thức chế ngự bằng Tư pháp lại tỏ ra rất quan trọng trongđiều kiện hiện đại mà thể hiện chủ yếu trong vai trò bảo vệ hiến pháp thông qua cơ chế bảo hiến.
Một hình thức thể hiệnsự chế ngự củamột bộ phận nhân dân là Luật về biểu tình. Luật biểu tình thể hiện tính chất dân chủ của pháp luật và nó đóng vai trò làphương tiện giữtrật tựvà bảo vệ dân chủ. Bởi vì biểu tình làsự phản đốicủa một nhóm tạo điều kiện cho nhóm này công khai phản đối nhà nước một cách hợp pháp, không bạo lực.Sự phản đối nàygiúp nhà nước xem lại việc làm của mình. Quyền biều tình được quy định trong hiến pháp nhưng thực hiện quyền này như thế nào phụ thuộc vào các thức mà nó được cụ thể hóa trong nội dung của luật. Trong điều kiện thích hợp, luậtcần cụthể hóa cơchếđể cửtri vận động và bãi miễn các chức vụtrongbộmáy nhà nước.Để đảm bảo chosựgiám sát pháp lý như trên có tính hiện thực,sựgiám theo nghĩa rộng bao hàm tựdo thông tin,tựdo báo chí, ngôn
49
luận,tựdo lập hội cầnđược quy định trong luật và đồngbộ với những hình thức giám sát trên.
Thứba, các luật thủ tục (luật hình thức) bảo vệ quyền dân chủ
Hiến pháp chỉ có thể quy định về nguyên tắc các cơ chế bảo vệ quyền dân chủ nhưng trình tự, thủ tục thực hiện cơ chế này có ý nghĩa quan trọng đối với dân chủnói chung và bảo vệ quyền dân chủ nói riêng. Các luật về trình tự thủ tục (tố tụng) nói chung phải thống nhất vàđồngbộ với luật nội dungvề dân chủ thể mà hiện trong yêu cầu làsựbình đẳng, tính chất cạnh tranh (tranh tụng), tính minh bạch vàkhảnăng đảm bảo thực hiện. Những yêu cầu như trên trong luật chínhlà sựcụthểhóa những nguyên tắc quan trọng nhất của hiến pháp về cơ chế bảo vệ quyền dân chủ.
Để đảmbảosựcông bằng và tính cạnh tranh, Luật cụ thể hóa quyềnđược kiện,được hỗ trợpháp lý của công dân trong tố tụng, đặc biệt trong tranh chấp giữa công dân vớicơ quan nhà nước,phía cơ quan nhà nước có cơsởvật chất, có bộmáy đồ sộ để thực hiện chức năng của mình trong khi đó cá nhân không có được sựhậu thuẫn như vậy. Tính minh bạch của thủ tục tố tụng là nâng cao trách nhiệm pháp lý của các bên và nâng cao khả năng tham gia và tự bảo vệ của công dân.Khảnăng thực đảm bảo thực hiện các phán quyết trong tranh chấp là một đảm bảo quan trọng cho quyền dân chủ của công dân trong quá trình tố tụng.
Bên cạnh phương thức bảo vệ quyền dân chủ theo thủ tục tư pháp, các phương thức bảo vệ quyền công dân theo thủ tục hành chính như khiếu nại, tố cáo, trung gian hòa giải cũng đóng vai trò nhấtđịnh trong việc bảo vệ quyền dân chủ. Trong một số trường hợp, phương thức bảo vệ bằng thủtục hành chính tỏ ra quan trọng vì người dân biết nhiều đến cơ quan hành chính vì cơ quan này hàng ngày tiếp xúc với người dân. Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trung gian hòa giải cũng đóng vai trò nhất định đối với mục đích bảo vệ quyền con người và quyền công dân khi các bên dù có tranh chấp nhưng vẫn muốn tiếp tục duy trì quan hệ lâu dài và trong điều kiện truyền thống văn hóa pháp lý nhất định. Khả năngđảm bảodân chủ trong luật tố tụng vừa là yếu tố tác động rất quan trọng và cũng là sự đảm bảo cho các luật có nội dung dân chủ khác được thực hiện. Ví dụ,luật về tố tụng hành chính tácđộngtới luật có nội dung về quyền dân chủ vì nó đảmbảo quyền dân chủ bằng sự
50
thách thức, cạnh tranh trongbộmáy nhà nước đối với việc thực hiện và bảo vệquyền dân chủ của công dân bởi chính các công dân và các cơ quan nhà nước.
1.2.3 Dân chủ trong hoạt động xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật
Mặt biểu hiện thứ hai của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật là sự biểu hiện dân chủ trong các hoạt độngpháp lý.Ở một góc độ nhất định,nếu nội dung dân chủ trong pháp luật được phân tích ở trên nhưlà sựbiểu hiện trạng thái “tĩnh” của mối quan hệ thì dân chủ trong hoạt độngpháp lý là sựbiểu hiện tính chất “động” của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Nói cách khác, với biểu hiện cơbản là nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước, các quyền và các cơ chế dân chủ, dân chủ là một nội dungcủapháp luật và cũng làsựthểhiện mối quan hệ ra bên ngoài để nắm bắt thì ngược lại, pháp luật biểu hiện là hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật thì hình thức biểu hiện củamối quan hệ có mặt thứhai là dân chủtrong các hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật hay các hoạt động pháp lý.
1.2.3.1 Dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật
Hoạt độngxây dựng pháp luật đã xuất hiện cùngvới sựra đời của pháp luật nhưng hoạt độngxây dựng pháp luật một cách dân chủ thì chỉ khi dân chủ xuất hiện. Như vậy, những phương thức xây dựng pháp luật có tính chất dân chủ và theo cách thức dân chủchính là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong các hoạt động pháp lý. Xuất phát từ yêu cầu của hoạt động xây dựng pháp luật, các cách thức xây dựng pháp luật mang tính chất dân chủ nên đảm bảo mục đích là thể hiện ý chí của nhân dân và các quy luậtvận động củacác quan hệ xã hội.Để đảm bảosựthể hiện trực tiếp và đầy đủnhất ý chí của nhân dân, sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào hoạt độngxây dựng pháp luật là phương thức đảmbảo tốt nhất.Nếunhân dân không thể luôn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật thìnhân dân vẫn có thể tham gia trực tiếp vào việc xây dựng một đạo luật cơ bản nhất, hiến pháp bằng hình thức phúc quyết và mộtsố vấn đề quan trọng khác với hình thức tham gia bằng việc bỏ phiếu quyết định theo những phương án đươc lựa chọn nhất định. Theo phạm vi của hoạt động xây dựng pháp luật, nếu nhân dân không thểtham gia đối với việc xây dựng các văn bản trung ương thì sựtham gia ởđịa phương, ở cơsởlà rất thiết thực. Trong trường hợp nhân dân không trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, việc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân và tranh
51
luận rộng rãi trên các phương tiện thông tin là cần thiết và cũng mang tính chất dân chủ bởi vì nó thể hiện sự giám sát của nhân dân với việc xây dựng pháp luật.
Nếu việc tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của nhân dân vào hoạtđộng xây dựng pháp luật có những hạnchế về điều kiện,kỹ thuật thì việc nâng cao hiệu quả củacơ quan lậppháp là giải pháp khả thi và hiện thực hơn cảtrong quátrình dân chủ hóa hoạt động xây dựng pháp luật. Yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo dân chủ trong hoạt động lập pháp của cơ quan đại diện là phải có cơ chế kiểm soát quyền lực lập pháp của cơ quan này và nâng cao trách nhiệm của nó trước nhân dân. Sự kiểm soát và chế ngự cơ quan đại diện khôngchỉnhằm mục đích hạn chếsựlạm quyền, vô trách nhiệm mà còn nâng cao hiệu quả hoạt độngmột cách tích cực của nó. Tuy giám sát, chế ngự quyền lực của cơ quan đại diện là cơ chế rất quan trọng trong hoạt động lập pháp nhưng mức độ và tính chất của sự tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật, mức độ thể hiện ý chí của nhân dân và hiệu quả hoạt động của cơ quan lập pháp chính là những biểu hiện quan trọng nhất của dân chủ trong hoạtđộngxây dựng pháp luật.
1.2.3.2 Dân chủ trong hoạt động thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật theo phương thức dân chủ và nhằm mục đích dân chủđược coi là sự biểu hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật bởi vì mối quan hệgiữa dân chủ và pháp luật không chỉ là những nội dung dân chủ trong pháp luật màcòn phải là sự thực hiện những nội dung đó trên thực tế. Hoạt động thực hiện pháp luật, đặc biệt là áp dụng pháp luật chủ yếu do những cơ quan nhà nước thực hiện rấtđa dạng, phức tạp là diễn ra liên tục ởmọi cấpđộ.Hoạt độngnày cũng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với cá nhân, công dân và khó có thể đảmbảo cho sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào hoạt động thực hiện pháp luật. Vì vậy, phương thức thực hiện pháp luật có tính chất dân chủ khi nó có cơ chế chế ngự vàgiám sát quyền lực nhà nước trong hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhànước. Yêu cầu cơ bản của việc giám sát và chếngựhoạt động thực hiện pháp luật làđảmbảo tính hợp pháp và ngăn ngừa sự vi phạm. Hơn thế, nó còn phải đảm bảo cho sựthực hiện pháp luật dân chủ một cách tích cực và chủ động.
Trong việc thi hành pháp luật, nội dung, cách thức và tính chất của sựchếngựquyền lực nhà nước chính là sự hiện thực hóa cơ chế chế ngự quyền lực với tư
52
cách là một nội dung dân chủ trong quy định của pháp luật. Nói cách khác, cơchếchế ngự quyền lực trong luật là biểu hiện dân chủ trong pháp luật thì thực hiện nótrên thực tế lại là sự biểu hiện dân chủ trong hoạt động pháp lý. Hoạt động giám sát, chế ngựquyền lực trong lĩnh vực này phải được thực hiện thường xuyên, đa dạng và có tính thách thức nhất định. Ví dụ,ở ViệtNam, hoạt động chất vấn Chính phủcủa Quốc hội được coi là một biểu hiện dân chủ trong hoạt động thực hiện pháp luật nhưng cần có cơ chế bất tín nhiệm và phải thường xuyên có sự điều trần, giải trình của các cơ quan Hành pháp trước Quốc hội hoặc Ủy ban của Quốc hội.
Ở phạm vi rộng hơn,sựchế ngựthể hiện là việc hình thành xã hội dân sựlành mạnh, đóng vai trò đối trọngvớinhà nước,đảm bảo dân chủ [97]. Trong chừng mực nhất định phải có sự tácđộng từbên ngoài thông qua các tổ chức quốc
tế và pháp luật quốc tế đối với việc bảo vệ và thực hiện dân chủ trong những nhànước nhất định.Sự thể hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật ở đây là sự hiện diện và hoạt độnghiểu quảcủa cơ chế giám sát và chế ngựquyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp. Thực hiện cơchế chế ngựquyền lực nhà nước trong pháp luật cũng phải đồngbộ,thống nhất với các cơ chế dân chủkhác và trong các điều kiện kinh tế- xã hội nhấtđịnh.Vídụ,muốn giám sát, chế ngựsựthực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước hiệu quả, cần thực hiện sựtựdo thông tin, minh bạch của chính phủ và điều kiện kinh tế, kỹ thuật cho phép.
Với tư cách là hình thức biểu hiện mối quanhệ,dân chủ trong hoạt động thực hiện pháp luật nên bao hàm cả cách thức, tính chất của việc thực hiện nội dung dân chủ trong hiến pháp và pháp luật. Việc thực hiện nội dung dân chủ trong hiến pháp và pháp luật là một biểu hiện của mốiquan hệ giữa dân chủ và pháp luật nhưng việc thực hiện nó theo cách thức và với tính chất dân chủ hay không cũng chính là sự thể hiện những mức độ dân chủ trong hoạt động pháp lý. Hơn nữa, thực hiện nội dung dân chủ trong pháp luật trên thực tế cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết và đánh giá mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật. Vídụ,dụ dân chủđược quy định rất rộng rãi trong nội dung của hiến pháp và pháp luật nhưng nóđược thực hiện rất hạn chế và thực hiện một cách có lựa chọn là biểu hiện của sựkhông tương thích giữa dân chủ và pháp luật.
53
1.2.3.3 Dân chủ trong hoạt động bảovệ pháp luật
Hoạt động bảo vệ pháp luật thường được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước mà trọng tâm là hệ thống Tư pháp được coi là biểu hiện của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.Vềnguyên tắc, cơ quan bảo vệ pháp luật phải cósựđộc lậpnhấtđịnh đối với các cơquan có khả năng vi phạm và chỉ tuân theo pháp luật. Yêu cầu của sựđộc lập là đểbảo vệ pháp luật chứkhông phải là độc lập để vi phạm pháp luật. Vì vậy, cơ quan bảo vệ pháp luật tuân theo pháp luật chính là biểu hiện của dân chủ vì pháp luật chính là biểu hiện ý chí của nhân dân. Cơ quan bảo vệ pháp luật cũng có thể vi phạm pháp luật, cho nên sự chế ngự của các cơ quan khác là phương tiện ngăn ngừa sự vi phạm này.
Sựtham gia của nhân dân vào hoạt độngbảovệ pháp luật là rất hạn chế vìtính chuyên môn và theo vụ việc cụ thể. Cho nên,sựđộc lập củacơ quan bảo vệpháp luật mà cụ thể là Tòa án và sự chế ngự giữa các cơ quan nhà nước là phương thức dân chủ hữu hiện hơn cả.Hơn nữa, hiệu quả hoạt độngvà phạm vi cần được bảo vệ bởi Tòa án là không thể bị giới hạn. Ví dụ,thẩm quyền xét xửcủa Tòa án không thể bị giới hạn với bất cứmột lý do gì ngoài lý do dân chủ vì phạm vi nào của pháp luật về dân chủ không được bảo vệ, ở đó chưa thể hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Để đảmbảo dân chủ trong hoạt động bảo vệ pháp luật trong trường hợp tham gia và trực tiếp tham gia là hạn chế, yêu cầu đặt ra là thủ tục, trình tự phải được quyđịnh rõ ràng, có tính chất và với mục dân chủ. Hơn thế,hoạt động bảovệ pháp luật trên thực tế phải công khai, minh bạch (tất nhiên có ngoại lệ) và đảmbảo sựbìnhđẳng giữa các bên tham gia và tính cạnh tranh trong tố tụng. Tuy nhiên,sựdân chủtrong lĩnh vực bảo vệ pháp luật đóng vai trò quan trọng hơn cả là bảo vệ hiến pháp, dù nó là ý chí của nhân dân hay làđạo luật cơ bản của nhà nước.Dân chủ trong phạm vi này trước tiên là phải có cơ chế bảo hiến được quy định bằng luật, sau đó phải thực hiện những điều kiện cho cơ chế nàyhoạt độngmột cách hiệu quả.
Nhìn chung, các loại hoạt động này đều có thể thực hiện và kết hợp thực hiện các phương thức dân chủ ởmức độ nhất địnhvà sựnhấn mạnh tùy theo tính chất của từng loại hoạt động.Mặt khác, các loại hoạt độngnày đều phải có điều kiện mang tính chất dân chủ là minh bạch, công khai và có sựtranh luận và tham gia
54
thông qua các phương tiện thông tin rộng rãi và tựdo. Hơn nữa, các phương thức dân chủ được thực hiện trong ba lĩnh vực trên bắt buộc phải mang mục đích dân chủthì mới có thể là sự biểu hiện mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
Tóm lại, các phương thức dân chủ cơ bản như tham gia,chế ngựvà bảo vệthích hợp đối với từng loại hoạt động pháp lý nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế, cần kết hợp các phương thức này trong một loại hoạt độngnhất định và các loại hoạtđộngpháp lý nói chung. Việc thực hiện những phương thức dân chủ này với những mức độ,mục đích thực hiện khác nhau cũng là những căn cứđể đánh giá sựthểhiện và tính chất của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật.
1.3 Nội dung mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật
Căn cứvào khái niệm,đặc điểmcủa mối quan hệ nói chung và mối quan hệgiữa dân chủ và pháp luật nói riêng, nội dung mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật là vai trò tác động qua lại giữa dân chủ và pháp luật và giátrị của sựtác động đó. Nếu như hình thức biểu hiện của mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật giúp chúng ta nhận biết và đánh giá mối quan hệ trên thực tế thì nội dung mối quan hệgiúp chúng ta nắm bắt được cơ chế tác động qua lại và giá trị của sự tác động qua
lại của dân chủ và pháp luật.
1.3.1 Dân chủ là sức sống của pháp luật
Trong điều kiện hiện nay, pháp luật tồn tại và phát triển phụ thuộc vào sự tácđộngmạnh mẽ của dân chủ.Sựtác động này thể hiện qua vai trò phương tiện, nội dung và mục đích của dân chủ đối với pháp luật.
1.3.1.1 Với vai trò là phương thức ra quyết định,dân chủ ảnh hưởng đếnsức sống của các quyết định pháp lý
Lập pháp là một trong những quá trình ra quyết định pháp lý quan trọng nhất. Vì vậy dân chủ trong quá trình nàycầnđảmbảo đúng theo phương thức dân chủ thực sựvà làkết quả củaquá trình trao đổi bàn bạc, cân nhắc của những ngườiđại diện cho nhân dân. Hơn nữa, hoạt độngxây dựng pháp luật không chỉ bó hẹp trong hoạt động của cơ quan đại diện mà nó cần mở rộng sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào hoạt động này cũng như cơ chế và điều kiện cho sự tham gia đó cần hoạt động hiệu quả. Trong việc ra các quyết định pháp lý, phương thức dân chủ vềcơ bản theo quy tắc đa số quyết định và tôn trọng thiểu số nhưng cần đảm bảo cho
55
sựbiến đổi của đa số và đảm bảo tính đại diện của thiểu số trong cơ quan ra quyếtđịnh pháp lý. Hoạtđộngthực hiện pháp luật cũng biểu hiện là mộtquá trình hình thành các quyết định pháp lý và do vậy nó cần được thực hiện theo phươngthức dân chủ. Ngược lại, phía chịu ảnh hưởngcủa việc ra quyết định trong hoạt độngthực hiện pháp luật sẽ tôn trọng các quyết địnhpháp lý và thực hiện triệt để và tựnguyện hơn khi những quyết định áp dụngđối với họcó tính chất dân chủ, theo trình tự dân chủ. Nhìn bề ngoài, quyết định pháp lý của hoạt động bảo vệ pháp luật được đảmbảo thực hiện mà ít chịu ảnh hưởngtừviệc phương thức ra quyết định này có dân chủ hay không. Trên thực tế, quyết định pháp lý của Tòa án cũng có ảnh hưởng nhất định đếnhệ thống pháp luật, sự thực hiện pháp luật và ý thức pháp luật nếu như nó được thực hiện một cách dân chủ và theo trình tự, thủ tục dân chủ.
Dân chủ cũng chính là phương thức giải quyết các xung đột pháp lý một cách hòa bình, chấp nhận lợi ích đối lập và chia sẻ lợi ích. Xét đến cùng, pháp luật dân chủ mang lại một lợi ích lớn hơn mà không thể thay thế đólà trật tựdân chủ của pháp luật mà vì lợi ích chung này chủ thể tôn trọng luật pháp.Điều này đặc biệt quan trọng trongđiều kiện nền kinh tế đa lợiích và dẫn đến sựđa dạng chính trịtrong xãhội mà từđó những xung đột cần phải được giải quyết trên cơsởpháp luật nhưng phải mang tính chất dân chủ. Với vai trò là phương thức giải quyết các xung đột pháp lý, dân chủ được nhấn mạnh hơn trong việc tuân thủ quyền lực hơn làphương thức hành xử quyền lực. Với cách thức giải quyết các quan hệ xung đột một cách dân chủ, tôn trọng lợi ích của các bên và là sự phản ánh ý chí của các bên cho nên sự chấp nhận kết quả giải quyết mang tính chất tự nguyện và trong trật tự. Các xungđột,kể cả xung đột pháp lý nếu không được giải quyết theo phương thức dân chủ, khả năng bạo lực cũng nhưsựbất mãn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội. Có quan điểm cho rằng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền nhưng thiếu nội dung dân chủ sẽ có xu hướng hình thành một xã hội kiện tụng và tăng chi phí giao dịch, giảm hiệu quả đầu tư [22, tr.116].
Khi xây dựng các quyết định pháp lý, phương thức dân chủ có thể ảnh hưởng đến mức độđạt được mục đíchvà hiệu quả của việc ra quyết định này. Với vai tròlà phương thức ra quyết định pháp lý, dân chủ đòi hỏi thời gian, tiền bạc và sự dung thứgiữa các bên tham gia vào việc giải quyết tranh chấp hoặc ra quyết định pháp lý.
56
Chính vì yêu cầu này, có thể dân chủ được xem là sựcản trởđối với pháp luật nhưngsựchuyên chế không thể thay thế cho dân chủ trong hoạt độngpháp lý với bất cứlý do gì.Cầnlưu ý là thực hiện dân chủ trong hoạt động pháp lý cần có điều kiện nhất định, nhưng những điều kiện này không phải là sự tác động tiêu cực của dân chủ đếnpháp luật. Có thể có quan điểm cho rằng việc xây dựng pháp luậtthểhiện ý chí toàn dân và do vậy sẽ có khả năng xungđộtvới nhu cầu phản ánh các quy luật vận động của các quan hệ xã hội.Mặcdù sựý chí của nhân dân không phải lúc nào cũng phản ánh những quy luật vận động của các quan hệ xã hội trong pháp luật nhưng nó không thể là căn cứđưa ý chí của kẻ cai trịthành luật. Bởi vì,sựchênh giữa ý chí của nhân dân với các quy luật cũng lại là một quy luật và khả năng sai lầm của nhân dân và của kẻ cai trị trong việc phản ánh các quy luật khách quanđều có thể xảy ra nhưng gánh chịu hậu quả là lại chỉ có nhân dân.
Với vai trò phương thức cho các hoạt động pháp lý, dân chủcó thể bịcho lànhững cơ chế, thủ tục tốn kém về mặt vật chất, mất thời gian và khó có thể đạt được
sựnhất trí cao… Tuy nhiên, không mất mát nào có thể so sánh với mất dân chủ vìdân chủ là một trong những biểu hiện cao nhất của những giá trị mà con người hướngtới là tựdo trong lĩnh vực chính trị. Trongđiều kiện hiện nay, hoạt động pháp lý không thể tách rời phương thức dân chủ trừ phi pháp luật là mệnh lệnh cai trị và thực hiệnsựcai trị chuyên chế. Như vậy,sựbiến đổi của dân chủ với vai tròlà phương thức ra quyết định pháp lý sẽ làm pháp luật thay đổi ở mức độ nhất định. Ví dụ,phương thức xây dựng và thực hiện pháp luật biến đổi theo hướngdân chủ hơn,hoạt độngpháp lý sẽ hiệu quả hơn và ngược lại.
1.3.1.2 Dân chủ là một trong những mục đích quan trọng pháp luật
Xây dựng và thực hiện pháp luật được xem như là một hoạt độngcó lý trícủa con người, do đó nó phải có mục đích. Mục đích của pháp luật là một trong những yếu tố quyết định sựtồn tại và sựvận độngcủa pháp luật và phản ánh bản chất của pháp luật. Mục đích chung nhất của pháp luật là thiết lập một trậttựpháp lý.Trật tựpháp lý nào được thiết lập nếu không phải là trật tự tự do, dân chủ. Xét về mặt chủquan, pháp luật là kết quả ý chí của ai thì mục đích củanó sẽtrước tiên vì quyền lực và lợi ích của chủ thể đó. Pháp luật là ý chí của toàn thể nhân dân, do vậy mục đích của pháp luật đó phải thể hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân. Nói
57
cách khác, pháp luật là ý chí của nhân dân nên pháp luật phải có mục đích vì lợi ích của nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân và do nhân dân. Vì vậy, mục đích dân chủ của pháp luật so sánh tương quan với các mục đích khác của pháp luật được coi là mục đích có tầm quan trọng nhất và có tính chất quyết định nhất. Ngược lại, pháp luật không phải là ý chí của nhân dân nên nó không có mục đích dân chủ, hoặc pháp luật có mục đích dân chủ hạn chế,tức là dân chủ ở đó bịhạn chế.
Mục đích dân chủ của pháp luật phải chi phối các giai đoạn của quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật,dân chủ cần đạt được là gì, ở mức độnào sẽ chi phối phương thức xây dựng và thực hiện pháp luật. Dân chủ khi là mục đích của pháp luật, nó phải là mục đích thống nhất và toàn diện của pháp luật. Ví dụ,trong hoạtđộng pháp lý, mục đích dân chủ được ghi nhận và thực hiện trong hiến pháp và các văn bản phápluật cụthể. Theo phạm vi, mục đích dân chủđược đặtra ở cơsởcũng nhưởcấp cao hơn, dân chủ trong pháp luật kinh tế cũng tương xứng với dânchủ
trong chính trị…Rõ ràng là, pháp luật ghi nhận và thực hiện được mục đích dân chủlà pháp luật tiến bộ.Sựtiến bộ này thể hiện trong nội dung và tính chất của pháp luật và trong hoạt độngxây dựng và thực hiện pháp luật. Nếu mục đích dân chủkhông được ghi nhận và thực hiện một cách thống nhất và toàn diện hoặc nếu mụcđích dân chủ bị thu hẹp so với các mục đích khác, pháp luật và dân chủđã bị tha hóa.
Với vai trò là mục đích của pháp luật, dân chủ có ảnh hưởngrất lớn đến việc lựa chọn phương tiện pháp lý đểđạt được mục đích dân chủ.Chẳng hạn, nếu muốn thực hiện một nềndân chủ bằng việc tham gia của nhân dân vào công việc nhà
nước, cầnphải có các phương tiện pháp lý và chúng phải đáp ứng cho mục đích này. Ngược lại, thực hiện dân chủ hạn chế, việc xây dựng pháp luật có thể có nội dung dân chủ nhưng không tổ chức thực hiện pháp luật hoặc thực hiện hạn chế. Mục đích dân chủ thay đổi sẽ dẫnđến sựthay đổi trong nội dung pháp luật và sựthực hiện pháp luật. Khi dân chủ thay đổi về nội dung và tính chất chắc chắndẫnđến sự thayđổi nhất định trong quy định pháp luật và sự thực hiện pháp luật dân chủ. Có thể có quan điểm cho rằng mục đích của pháp luật làtrật tựdân chủ mà trật tự này khó cóthể đạt được và do vậy nó làm cho pháp luật thiếu tính hiện thực và do vậy có thểcho rằng dân chủ ảnh hưởng tiêu cực đến pháp luật. Tuy nhiên,điều chú ý làmục
58
đích dân chủvà việc thực hiện dân chủ nói chung và trong lĩnh vực pháp lý nói riêng là một quá trình từ thấp đến cao,từít hơn cho đến nhiều hơn.Vấn đề ở đây là việc đặt ra mục đích chưa phù hợp chứkhông phải là dân chủ không phù hợp với pháp luật.Vả lại,dân chủ không phải làsựhoàn hảo và là mục đích cuối cùng của nhân loại, nó chỉ là một mục đích nhỏ đểđạtđến mục đích lớn hơn là giải phóng con người. Như vậy,sự biến đổi của mụcđích dân chủ trong pháp luật sẽ tác động đến nhữngphương thức pháp lý để đạt được mục đích đó.
1.3.1.3 Dân chủ là một trong những nội dung quan trọng nhất của pháp luật
Pháp luật có biểu hiện là những quy tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội,đặc biệt là các quanhệ về việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nên nội dung của sựđiều chỉnh đó phải mang tính chất dân chủ. Nội dung của các quy phạm pháp luật,đặc biệt là các quy phạm điều chỉnh quan hệ về quyền lực sẽ thể hiện quyền
lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Dân chủ khi trở thành nội dung quan trọng của pháp luật, thực hiện dân chủ được đảmbảo và bắt buộc phải thực hiện. Mặt khác, mục đích của việc thực hiện pháp luật chính là một trật tự pháp lýnhưng không thể có mộttrật tựpháp lý chuyên chế và tàn khốc. Nội dung của một trật tựpháp lý được thiết lập phải là một trật tựpháp lý dân chủ và sức sống của pháp luật phụ thuộc rất lớn vào nội dungcủanó.
Khi dân chủ là một nội dung quan trọng của pháp luật, yêu cầu đặt ra là pháp luật phải quy định dân chủ một cách đầy đủ và toàn diện. Trước tiên pháp luật cần quy định nguồn gốc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguồn gốc này có thểmang tính thực tế, ví dụ các chính thể quân chủ đại nghị hiện đại vẫn khẳng định vai trò của nhà vua nhưng nguồngốc củaquyền lực nhà nước bắt nguồntừdân thông qua bầu cửhoặc dân có thể phúc quyết hình thức chính thểnên vẫn có thể nói những nhà nước đó có dân chủ.Thứhai, nội dung của pháp luật cần có quy định vềcác quyền dân chủ,đặcbiệt là quyền con người và quyền cơ bản của công dân vàtiến tới quy định quyền tham gia và tham gia trực tiếp vào việc thực hiện quyền lực nhà nước của công dân.Thứba, pháp luậtcầnquy định các cơchếdân chủ để đảm bảo quyền dân chủ và nguồn gốc,bảnchất quyền lực nhànước củanhân dân và vìnhân dân. Mặt khác,nộidung dân chủ của pháp luật phải là: nhànước có trách nhiệm chính thực hiện những nội dung dân chủ. nhà nước không thể trì hoãn và
59
buộc phải thực hiệnvà đảm bảocho những nội dung dânchủ được thực hiện.Nói một cách ngắn gọn, nếu dân chủ là nội dung của pháp luật, thực hiện dân chủ sẽ trởthành trách nhiệm pháp lý của nhà nước và là quyền của công dân. Pháp luật cũngđược hiểu dưới dạngcác hoạt động và theo nghĩa này, nội dung các hoạt động pháp lý thực chất là hoạt động có nội dung dân chủ, tức là do nhân dân thực hiện hoặc nhân dân giám sát việc thực hiện. Dân chủ cũng là một quá trình phát triển từ thấpđến cao,từchếđộ chưa có dân chủ và ít dân chủ đến chếđộ dân chủ hơn. Trong trường hợp này, nội dung dân chủ của pháp luật sẽ ngày càngđược mởrộng theo các quá trình dân chủ đó.
Nếu dân chủ đóng vai trò nội dung, theo đó pháp luật sẽ là một trong những hình thức biểu hiện sự tồn tại của dân chủ. Trong các hình thức tồn tại của dân chủ, hình thức pháp lý có tính xác định,phổ quát,ổn định và được đảmbảo thực hiện. Sự phát triển của dân chủ cũng có thể bắt nguồn từ hình thức tập quán, truyền thống dân chủ trở thành những nội dung dân chủ trong pháp luật. Như vậy, dân chủ là một trong những nội dung quan trọng nhất của pháp luật, nội dungđó là các mức độ,các biểu hiện của dân chủ. Nội dung của pháp luật mang tính chất dân chủ cũng là trách nhiệm của nhà nước và là quyền của công dân. Dân chủ khi là nội dung của pháp luật, nó bắt buộc phải được thực hiện. Dân chủ là nội dung của pháp luật tức là nó
đóng vai trò quyếtđịnh yếu tốhình thức – pháp luật. Sự tác động này khó có thể làtác động tiêu cực khi dân chủ được coi là giá trị tiến bộ của xã hội và được thiết lập phù hợp với điềukiện xã hộicụ thể. Với vai trò là nội dung quan trọng nhất của pháp luật, các quy định của pháp luật về dân chủ được coi là một trong những tiêu chí đánh giá về tính chất tiến bộ của pháp luật.Sự ảnh hưởngnếu được coi là “tiêu cực” ở đây chỉ có thể là sựchênh lệnh giữa sự đòi hỏi thực hiện dân chủ quá cao đối với điều kiện thực tại của xã hội và sựlựa chọn phương thức dân chủ không thích hợp với truyền thống và điều kiện thể chế.
Cho đến nay, rất khó tìm được quan điểm chothấy sựtác động tiêu cực của dân chủ đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật, tất nhiên là dân chủ được hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó. Những quan điểm chỉ trích dân chủ nhấn mạnh đến cách thức và điềukiện đểthực hiện dân chủ chứ không phải là chính dân chủ không phùhợp trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Có quan điểm cho rằng đa số, và đa
60
số nghèo đói, dốt nát không thể nhận thứcđược các quy luật khách quan và phảnánh nó vào nội dung của pháp luật nhưng lại rất nhạy cảm với những vấn đề về lợiích và thường hay nóng vội,dễ bịlôi cuốn hoặc có quan điểm cho rằng“Quyền pháp lý về tài sảnsẽ bị đe dọatrước một chếđộ mà quyềnlực thuộc vềđa sốnghèođói” [84, tr.95]. Tuy nhiên, đây là cách tiếp cận về dân chủ trên cơsởsựphân chia xã hội thành đẳngcấp trái với quan điểmhiện đại là con người ta sinh ra là bìnhđẳngvề quyền. Việc cho rằng dân chủ là đa số nghèo đói quyết định là đánh đồng dân chủ với đa số và dân chủ với nghèo đói. Như vậy, dân chủ tác động tiêu cực đến pháp luật khi dân chủ được hiểu theo nghĩa hẹp (ví dụ dân chủ là đa số quyết định).Điều này càng khẳngđịnh thêmsựcần thiết của việc nhận thức đúngđắn về dân chủ cũng như vai trò tích cực của nó với pháp luật. Nói chung, dân chủ với nghĩađầy đủ nhất,khôngthể có sựtác động tiêu cực đối với xã hội nói chung và pháp luật nói riêng mà chỉ có sự nhận thức chưa đúng về thế nào là dân chủ cũng nhưsựthực hiện chưa phù hợp với điều kiện xã hội và điều kiện pháp luật dẫn đến sự hiểu lầm là dân chủ tác độngtiêu cực đối với sựphát triển của xã hội và pháp luật.
Những vai trò như trên của dân chủ trong mối quan hệ với pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ. Pháp luật có mục đích dân chủ phải thực hiện bằng những phương thức dân chủ và phải thể hiện qua nội dung của pháp luật. Pháp luật có nội dung dân chủ phải có mục đích dân chủ và phải được thực hiện bằng phương pháp dân chủ. Dân chủ đóng vai trò là phương thức của pháp luật cũng phải có mục đích dân chủvà phải trở thành nội dung của pháp luật. Thiếu nội dung, mục đích và phương thức dân chủ trong pháp luật, pháp luật có thể là pháp luật chuyên chế.
Với những vai trò như trên, dân chủ đã tác động và mang lại sức sống cho pháp luật. Cũng dựa trên vai trò và sự tác động đó, dân chủ là phương tiện đánh giápháp luật. Chúng ta có thể có nhiều tiêu chí, thước đo để đánh giá pháp luật nhưng dân chủ là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá nội dung, tính chất và sựphát triển của pháp luật. Pháp luật không có mục đích, tính chất dân chủ vàkhông có mối liên hệ tích cực với dânchủcó thể được coi là pháp luật chuyên chế, bạo ngược. Pháp luật như vậy chỉ được coi là mệnh lệnh cai trị chứ không thể coi làpháp luật theo nghĩa đầy đủ nhất vì nó thuần túy là ý chí chủ quan củagiai cấp thống trị. Vì thế, các học giả trường phái luậttựnhiên cho rằng luật không có công
61
lý không phải là luật [166]. Nói đến luật pháp là nói đến những giá trị công bằng, tựdo mà nó mang lại, nhưng công bằngvà tựdo quan trọng nhất chính là công bằng và tựdo trong lĩnh vực chính trị, đó lại là dân chủ.
Đánh giá pháp luật bằng những tiêu chí dân chủ một mặt dựa trên nội dung dân chủ và pháp luật cóđầy đủvà đồng bộ hay không. Mặt khác, trong hoạt động thực hiện pháp luật, trách nhiệm thực hiện và đảm bảo thực hiện pháp luật dân chủlà căn cứ đánh giá có tính chất thực tế nhất mức độ dân chủ của hoạt động thực hiện pháp luật. Nếu xem xét pháp luật dưới dạng các hoạt động pháp lý, căn cứ đánh giásẽ là những phương thức và mục đích của các hoạt động pháp lý. Dựa trên căn cứnày, hoạt động pháp lý được coi là tiến bộnếunó theo những phương thức dânchủvà mục đích dân chủ và ngược lại. Không thể chỉ đánh giá pháp luật qua nội dung
dân chủ và việc thực hiện pháp luật trên thựctế,cần phải đánh giá pháp luật qua cách thức dân chủ mà nó được thực hiện trên thực tế.Những căn cứđánh giá này cần được sửdụngđồngbộ khi đánh giá pháp luật.
1.3.2 Pháp luật là phương tiện và đại lượng của dân chủ1
Về cơbản, trong sự tương tác qua lại giữa dân chủ và pháp luật, dân chủ đôi khi đóng vai trò ưu trội hơn vì dân chủ gắn liền với vai trò chính là nội dung của việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Trong khi đó, pháp luật thường hiện diện với tư cách là hình thức của việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nói chung và thực hiện quyền lực nhà nước dân chủ nói riêng. Vai trò tác độngcủa pháp luật chủ yếu thể hiện là phương tiện thực hiện dân chủ, là sựvận hành của quyền lực dânchủvà là mục đích của dân chủ.
1.3.2.1 Pháp luật là phương tiện cho việc thực hiện dân chủ
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN CHỦ VÀ PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY

