Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Nghiêncứusinhđã lựa chọnvấn đề“Hoànthiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ xuất phát từ một số lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, việc bảo vệ môi trường (BVMT) được thực hiện bởi nhiều cá nhân, tổchức vàđượcNhànướcquản lý thông qua các côngcụkhác nhau. Trong thực tiễn những nămvừaqua, các côngcụhành chính, hìnhsựđượcsửdụngchủyếu hơn, rộng hơn. Thực tế này xuất phát từ đặc điểm kinh tế, xã hội của đất nước trong thời kỳ kinh tế tập trung cũng như trong quá trình đổi mới để chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó các biện pháp tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao ý thức cộng đồng đối với hoạt động BVMT cũng được đẩy mạnh. Do nhiều lý do nên công cụ kinh tế ít được sử dụng hơn và thực tế chỉ mới xuất hiện trong pháp luật và chính sách của Việt Nam trong thập kỷ vừa qua. Mỗi công cụ có những ưu, nhược điểm riêng song có thể nhận thấy rằng vai trò của các công cụ kinh tế (mà thuế làmộtbộphận) ngày càngđược chútrọng bởi hiệuquảcủa chúng đối với việc BVMT, xét ở cả khía cạnh quản lý của cơ quan nhà nước lẫnở khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp và cá nhân1.
Các công cụ hành chính, hình sự mặc dù có khả năng kiềm chế tác động tiêu cực của các chủ thểđến môitrường nhưng không có khả năngbù đắpcác chi phímà xã hội đã phải bỏ ra để khắc phục những thiệt hại đối với môi trường. Ngoài ra, các công cụ hành chính chỉ đảm bảo việc tác động đến môi trường trong tiêu chuẩn cho phép mà không khuyến khích các chủ thể có những điều chỉnh về nhận thức vàhành vi nhằmcảithiện tình hình (nhưđổimớicông nghệ thân thiện hơnvớimôi trường,hạnchếsửdụng các nguyênvậtliệu gâyônhiễm môi trườngđểsảnxuất các sản phẩm sạch hơn, …)2. Việc lạm dụng các công cụ tác động có tính chất công
1 Chu Hoa (2006), “Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01-2006, tr. 66-71.
2 Trần Vũ Hải (2009), “Một số vấn đề về việc ban hành Luật thuế môi trường ở Việt Nam”,
Tạp chí Luật học số 04 – 2009, tr. 23-30.
quyền, coi nhẹ các công cụ có tính chất kinh tế dễ dẫn đến thất bại trong BVMT ởViệt Nam3.
Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy bên cạnh các công cụ hành chính, hình sựvà các biện pháp tuyên truyền mang tính giáo dục, khuyến nghị, các công cụ kinh tếđangđượcsửdụngphổbiến baogồmthuế môi trường, phí môi trường, quotaônhiễm (hay còn gọi là giấy phép chuyển nhượng quyền được thải), hệ thống đặt cọc
– hoàn trả, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services, viết tắt làPES), nhãn môi trường.4
ỞViệt Nam, nhưđãnêu trên, các côngcụkinhtếbắtđầuđượcbiếtđếnvàđượcáp dụng trong lĩnhvựcBVMT. Tuy nhiên, hiệuquảvàđộbaophủcủacác công cụ này chưa cao. Việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số phí thu được còn thấp. Một số thành phố lớn chưa thực hiện triệtđể công tác thu phí. Một số địa phương chậm cấp phép sử dụng nguồn nước dẫn đến các Sở Tài nguyên và môi trường không có căn cứ để tính và thu phí BVMT đối với nước thải. Việc xác định các đối tượng gây ô nhiễm chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các thành phần gâyônhiễm. Phí BVMTđốivớichất thảirắnhầunhư chưa triển khai. Quota ô nhiễm chưa được áp dụng phổ biến do chưa có các hướng dẫn, quyđịnh cụ thể5. Chi trả dịch vụ hệ sinh thái mới được áp dụng thí điểm6.
3Chu Hoa (2006), Tlđd.
4 Tình hình áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên thế giới: Phí sử dụng môi trường: 100% các nước áp dụng, trợ giá: 65%, thuế môi trường: 40%, phí gây ồn: 50% (theo Chu Hoa trong bài viết đã trích dẫn ở footnote 1).
5Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Tlđd, Chương 9, tiểu mục 9.4.5.
6Huỳnh Thị Mai, “Chi trả dịch vụ hệ sinh thái – Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học”,Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp số 21 (137) – 2008.
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services, PES) hay chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services, PES) là côngcụkinhtế,sửdụngđểnhữngngườiđược hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Bản chất của nó là cơ chế khuyến khích và mang lại lợi ích cho cộng đồng, cung cấp dịch vụ hệ sinh thái, nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Mục tiêu của PES là i) tăng cường hoặc tạo thị trường giá cả cho các dịch vụhệ sinh thái bằng cách lượng giá kinh tế của chúng; ii) tạo nguồn tài chính bền vững để bảo tồn; iii) nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của dịch vụ sinh thái; iv) cải thiện sinh kế của người cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn xã hội.
Một số dự án nghiên cứu, đánh giá tiềm năng và thí điểm các mô hình PES ở Việt Nam bướcđầu được đề xuất thực hiện: dự án tạo nguồn hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ vùng đầu nguồn hồ TrịAn do Quỹ bảo tồn hoang dã thế giới (WWF) tổ chức thực hiện; dự án chi trả dịch vụ môi trường -ứng dụng tại khu vực ven biển do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức thực hiện; dự án xây dựng cơ chế chi trả cho hấp thụ carbon trong lâm nghiệp, thí điểm tại huyện Cao Phong,
Cácsắcthuế có liên quanđếnmôi trườngđượcquyđịnhrảirác trong nhiều văn bản luật như: Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuếsửdụngđấtnông nghiệp, Luật thuếsửdụngđấtphi nông nghiệp, Luật thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu. Nhìn chung, các sắc thuế trên không có mục tiêu chính là BVMT mà chỉ quy định những chính sách ưu đãi (hoặc chính sách không khuyến khích) nhất định đối với đối tượng chịu thuế thuộc diện thân thiện (hoặc không thân thiện) với môi trường. Sự manh mún của các quy định pháp luật về thuế liên quanđến môi trường (trước khi Luật thuế BVMT được ban hành) dẫn đến sự thiếu tầm bao quát của pháp luật thuế trong lĩnh vực này, số thu rất thấp nên nguồn tài chínhđầutư cho công tác BVMT cònhạnchế7. Luật thuế BVMTđượcQuốchộiban hành ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 được coi là bước tiến lớn trong việc luật hóa công cụ kinh tế áp dụng đối với hoạt động BVMT8.
Thứ hai, hậu quả của ô nhiễm môi trường là những tác động tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tếvà ảnh hưởng xấu đến các hệ sinh thái tự nhiên. Theo đánh giá của Ngân hàng thếgiới (WB), Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên đến 5,5% GDP mỗi năm. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của Cục Y tế, Bộ Giao thông vận tải, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí đối với dân nội thành Hà Nội ước tính là66,33 triệu USD/năm, đối với dân nội thành thành phố Hồ Chí Minh là 70,96 triệu USD/năm9.
Tuy nhiên, môi trường thường lâm vào “bi kịch tài sản chung”10. Mặc dù hầu hết tài nguyên thiên nhiên là đối tượng trao đổi trên thị trường nhưng giá của những
tỉnh Hòa Bình, nguồn tài chính bền vững của dự án sẽ gồm nguồn thu bán lâm sản và thương mại tínchỉcarbon chothịtrường quốctế,do Trung tâm nghiêncứuSinh thái và môi trường rừng
(RCFEE) – Viện khoa học Lâm nghiệp tổ chức thực hiện.
7 Tỉ lệ chi ngân sách cho môi trường năm 2010 chỉ đạt xấp xỉ 0,4% GDP. Trong khi đó, ởTrung Quốc và các nước ASEAN, đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm là 1% GDP, ở các nướcphát triển thường chiếm 2-3% GDP. So bình quân đầu người tỉ lệ chi môi trường từ nguồn ngân sách chỉ đạt 4,5 USD/người năm 2010. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trên thế giới (chỉ bằng khoảng 5% so với mức trung bình). Xem: Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Tlđd, Chương 9, tiểu mục 9.3.1.
8Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Tlđd, Chương 9, tiểu mục 9.4.5. 9Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Tlđd,phần Lời nói đầu.
10 Thuật ngữ này biểu trưng cho sự xuống cấp của môi trường do nhiều người sử dụng một tài nguyên chung được tiếp cận tự do, mỗi người đều có thể đến khai thác theo kiểu “ai đến trướcđược hưởng trước”. Từng cá nhân chỉ tính đến những chi phí và lợi nhuận riêng mà không tính đến
giao dịch này được xác định rất thấp, điều đó dẫn đến việc khai thác quá mức các tài nguyên này. Đốivới mộtsố sảnphẩm môi trường, như không khí và tiếngồn,thìkhông có thị trường và do đó không có giá cả. Chính vì vậy, cộng đồng và cá nhân thường xem cácsảnphẩm này là miễn phíđểrồi“mạnhaingườiấydùng”. Chất lượng không khí là tài nguyên chung được chia sẻ với các thế hệ tương lai và hiệuứng nhà kính là hệ quả của việc đánh giá thấp những chi phí mà các thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu do hành vi của chúng ta hôm nay11. Xuất phát từ những đặc thùtrên của môi trường, việc buộc các chủ thể phải tính đến yếu tố ngoại tác12 trước khi ra các quyết định là rất cần thiết nhằm nâng cao ý thức tiết kiệm khi khai thác môi trường. Để “sửa chữa” những tác động tiêu cực do sự hiện diện của ngoại tác gây ra, có nhiều loại công cụ được sử dụng, trong đó thuế môi trường là công cụ đang được “ưa chuộng” ở nhiều quốc gia.
Khôngthểnằmngoài dòng chảy chungcủathếgiới vàđểgóp phần gìngiữnguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đangdầncạnkiệtcủadân tộc, các côngcụBVMT nói chung vàhệthống pháp luật thuế môi trường nói riêng của nước ta cần được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện.
Thứ ba, trong quá trình điều hành nền kinh tế vĩ mô, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđếnvấnđềmôi trường. Phát triểnbềnvững luônđượccoi là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảođảmquốc phòng, an ninh và trậttựan toàn xãhội13.Đểthực hiệnđượcmụctiêu trên, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải rà soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý môi trường, trong đó có pháp luật thuế môi trường,từđóđềxuấtsửađổi,bổsung, hoàn thiệnhệthống chính sách,
những chi phí xã hội phải gánh chịu do họ giả định rằng hành động của mình không có ảnh hưởngđến tài nguyên chung. (Xem: Philippe Bontems và Gilles Rotillon, người dịch Nguyễn Đôn Phước (2008), Kinh tế học môi trường, Nxb Trẻ, tr. 29-30).
11Philippe Bontems và Gilles Rotillon, người dịch Nguyễn Đôn Phước (2008), Tlđd, tr. 36. 12Ngoại tác (externality) là một thuật ngữ kinh tế, chỉ một tình thế trong đó những quyết định
của mộttác nhân kinh tế tác động đến một tác nhân khác ở bên ngoài thị trường. Ngoại tác phát sinh từ chênh lệch giữa những chi phí tư, được các tác nhân kinh tế tính đến vào lúc ra quyết định, và những chi phí xã hội mà những quyết định này buộc cộng đồng phải gánh chịu. Xem: Philippe Bontems và Gilles Rotillon, người dịch Nguyễn Đôn Phước (2008), Tlđd, tr. 93-94.
13Quyếtđịnhsố432/2012/QĐ-TTg ngày 12/04/2012củaThủtướngchínhphủphê duyệt
Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
pháp luật môi trường, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thứtư, trongbốicảnh Việt Nam phảicắtgiảm thuế suấtcủanhiềusắcthuếtheo các camkếtquốctế,việc nghiêncứuxây dựnghệthống pháp luật thuế môi trường sẽ là giải pháp hữu hiệu đảm bảo ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Về lâu dài, thuế môi trường có thể là nguồn thu đáng kể của ngân quỹ, được sự ủng hộ của người dân hơn các sắc thuế khác không chỉ vì mục tiêu của nó là BVMT màcòn ở lý do là việc thu thuế dựa trên “hành vi xấu” (gây ô nhiễm môi trường) chứkhông dựa trên “hành vi tốt” (như sản xuất, kinh doanh hay tạo thu nhập, …)14.
Thứ năm, do mới xuất hiện, chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn nên các khía cạnh pháp lý của việc áp dụng công cụ thuế đối với hoạt động BVMT còn đểngỏ, chưa được làm rõ. Những vấn đề này nếu được nhận diện và phân tích đầy đủsẽ có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động xây dựng pháp luật cũng như xây dựng chính sách.
Vớiđềtài“Hoànthiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệuquảthựchiện ởViệt Nam”, nghiêncứusinh hy vọngsẽmang những quan điểm khoa họcvà nhữngđềxuất phù hợp, có giátrịcho việc hình thànhmộtcách nhìn mới, những chính sách và pháp luật có thể thúc đẩy mục tiêu BVMT thông qua việc áp dụng các công cụ kinh tế nói chung và công cụ thuế nói riêng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài trên với mục đích là trong phạm vi của công trình nghiên cứu xây dựng luận án tiến sĩ luật học, phân tích, làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về thuế môi trường và pháp luật thuế môi trường; đánh giá thực trạng lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuếmôi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam.
Đểđạtđượcmụcđích trên, trong quá trình triển khai nghiêncứuđềtài, các nhiệm vụ sau đây cần được thực hiện:
14 Trần Vũ Hải (2009), Tlđd.
– Đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứuvềchủđềpháp luật thuế môi trường ở Việt Nam và thế giới, từ đó xác định định hướng nghiên cứu của luận án, xây dựng câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu.
– Nhận diện và phân tích các khía cạnh kinh tế, pháp lý của công cụ thuế môi trường.
– Nghiên cứu các trường phái, học thuyết khác nhau để xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật thuế môi trường.
– Nghiên cứu, đánh giá tính hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành liên quanđếnviệc áp dụng côngcụthuế môi trường trên cơsởlý luậnđãđượcxây dựng.
– Nghiên cứu, tham khảo các nguyên tắc, cách thức, phương pháp xây dựng pháp luật thuế môi trường của một số nước trên thế giới, đặc biệt là cách tiếp cận vàxử lý các vấn đề về thuế.
– Trên cơ sở các nghiên cứu trên, xác định các yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, đối tượng tập trung nghiên cứu của luậnán là các quan hệ pháp luật thuế môi trường và các quan hệ pháp luật khác liên quanđến việc nâng cao hiệu quả thực hiện công cụ thuế môi trường, xét ở cả hai góc độ:
(i) thực trạng pháp luật nhìn từ mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, từ những quan điểm lý luận về tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật; (ii) tình hình thực hiện pháp luật trên thực tế.
Trên cơ sở việc xác định mục đích và đối tượng nghiên cứu như trên, phạm vi nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật thuế môi trường và các quy định pháp luật khác có liên quan đến việc nâng cao hiệu quả thực hiện công cụ thuế môi trường, bao gồm cả các quy định hướng dẫn của các cơ quan chức năng, pháp luật về lĩnh vực này của một số nước trên thế giới được chọn lọc căn cứ vào những tiêu chí về sự tương đồng, về tính đại diện.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đềtài luận áncủanghiêncứusinhđượcthực hiện trên cơsởphương pháp
luậncủaChủnghĩa Mác–Lenin và tưtưởngHồChí Minhvềnhànướcvà pháp luật. Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng sử dụng các phương pháp khá thông dụng trong nghiêncứuluậthọcnhư: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp bình luận. Phương pháp phân tích được sửdụngđểlàm rõ các khía cạnh lý luận và thực tiễncủacác quy phạm pháp luật. Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm làm sáng tỏ những điểm tương đồng vàkhác biệt trong quy định pháp luật thuế môi trường của Việt Nam và các quốc gia khác. Phương pháp tổng hợp và phương pháp bình luận được sử dụng để đánh giáưu điểm, nhược điểm của quy phạm pháp luật, đưa ra kết luận, quan điểm, đề xuất hoàn thiện pháp luật thuế môi trường.
Ngoài ra, do đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu có liên quan đến lợi ích kinh tếcủa nhiều chủ thể (người nộp thuế, cơ quan thu thuế, nhà nước, đối tượng thụ hưởng thuế,ngườichịu thuế) nên phương pháp kinhtếhọcpháp luậtsẽđượcsửdụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
5. Những đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu luận án đóng góp những điểm mới sau:
Thứ nhất, luận án phân tích, làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cơ bản vềthuế môi trường và pháp luật thuế môi trường baogồmkhái niệm,đặcđiểmcủa thuế môi trường, nguyên tắc,cấutrúc và cácyếutốchi phối pháp luật thuế môi trường.
Thứhai, luận án xây dựnghệtiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường bao gồm tiêu chí về bảo vệ môi trường, tiêu chí hiệu quả kinh tế, tiêu chí đơn giản, tiêu chí ổnđịnhtương đối, tiêu chí công bằng xã hội. Bên cạnhđó,luận án cũng xácđịnhcác tiêu chí đánh giámứcđộhoàn thiệncủalĩnh vực pháp luật này.
Thứba, trên cơsởnhững tiêu chívềhiệuquảthực hiện pháp luật thuế môi trường, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, so sánh luật, phương pháp thu thập thông tin, luận án đánh giá thực trạng lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam. Bên cạnh những kết quả tích cực, pháp luật thuế môi trường của Việt Nam vẫn còn nhiều bất
cập. i) Quyđịnhvềđốitượngchịu thuế BVMT còn hẹp; thẩm quyềncủa Ủyban ThườngvụQuốchộitrong việc xácđịnhđốitượngchịu thuế chưa phùhợpvới Hiến pháp năm 2013; nhiều quyđịnhvềđốitượngchịu thuế,ngườinộpthuếBVMT, thuế tài nguyên chưa đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ với pháp luật về thuốc bảo vệ thực vật, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước; v.v. ii) Quy định vềcăncứtính thuế môi trường còn chưa phùhợpvớithônglệquốctế;thuế suất thuế BVMTđốivớitúi ni lông, than, thuốcbảovệthựcvậtchưahợplý; phương thức đánh thuế tiêu thụ đặc biệt không đạt hiệu quả cao trong việc hướng dẫn tiêu dùng, v.v. iii) Quy định về thủ tục hành chính thuế môi trường chưa đạt được những kết quả tích cực về khía cạnh BVMT; chi phí quản lý thuế rất cao; tính ổn định của pháp luật quản lý thuế chưa đạt được mục tiêu đề ra. iv) Quyđịnhvề giám sát vàbảo đảm sự tuân thủ pháp luật thuế môi trường chưa được thực hiện nghiêm, thiếu quy định về cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan liên quan trong việc quản lý thu thuế BVMT, thuế tài nguyên.
Thứ tư, luận án phân tích các yêucầu đốivớiviệc hoàn thiện pháp luật thuếmôi trường ở Việt Nam, từ đó kiến nghị những giải pháp khắc phục các hạn chế của lĩnh vực pháp luật này, hướng tới mục tiêu thúc đẩy việc áp dụng sâu rộng công cụthuế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật thuế môi trường, đánh giá tươngđốitoàn diện thực trạng pháp luật thuế môi trườngởViệt Namvớiyêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện. Vì vậy, luận án góp phần bổ sung tri thức khoa học pháp lý về thuế môi trường.
Kết quả nghiên cứu luận án có tính ứng dụng trong thực tiễn. Một là, luận án kiến nghị những giải pháp có căn cứ khoa học góp phần hoàn thiện pháp luật thuếmôi trường ở Việt Nam. Hai là, luận án đóng góp vào hệ thống khoa học pháp lý đểcơ quan quản lý thuế,ngườinộp thuế và cácchủthểkhác áp dụng pháp luật thuếmôi trường một cách hiệu quả.
PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài
Bắt đầu được áp dụng ở các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, thuế môi trường là đề tài được nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, bao gồm các công trình trong nước và nước ngoài. Đề tài “Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam” kế thừa những kết quả nghiên cứuđó và tiếp tục phát triển theo một hướng mới.
1.1. Những kết quả nghiên cứu lý luận về pháp luật thuế môi trường
1.2. Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật thuế môi trường vànhững giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam
1.3. Đánh giá những vấn đề được nghiên cứu từ mục tiêu của luận án
.
2. Định hướng nghiên cứu của luận án
2.1. Phương pháp luận và giả thuyết nghiên cứu
Phương pháp luận được hiểu theo hai nghĩa: (i) lý thuyết về phương pháp, (ii) hệthống các phương pháp17. Trong phần tổng quan này, phương pháp luậnđược hiểu theo nghĩa thứ hai.
Đểhoàn thành luận án,dướigiácđộkhái quát, luận ánđượctiếpcậntheo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu.Đốivớitừngnộidungcụthể,hệthống các phương phápđượcsửdụng bao gồm: phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luậthọcvà phương pháp lịch sử.
Giả thuyết nghiên cứu (hypothesis) là một kết luận giả định về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa ra để chứng minh hoặc bác bỏ18. Giả thuyết nghiên cứu làcâu trả lời tạm thời cho câu hỏi nghiên cứu cụ thể19.
Với vấn đề“Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quảthực hiện ở Việt Nam”, người viết nêu ra một số câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu sau:
– Câu hỏi 1: Thuế môi trường là gì?
Giảthuyết 1: Thuế môi trường baogồmcácsắcthuế có liên quanđếnviệc BVMT.
17 Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb. Giáo dục Việt Nam, tr. 34.
18 Vũ Cao Đàm (2011), Sđd, tr.60.
19 Gordon Mace, Francois Petry (2013), Cẩm nang xây dựng dự án nghiên cứu trong khoa
học xã hội, Nxb. Tri thức, tr. 79 – 93.
Giả thuyết 2: Thuế môi trường bao gồm các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu chính là BVMT.
Dựkiếnkếtquảnghiên cứu:dựkiến giải quyết câuhỏinghiêncứunày tại Chương 1củaluận án. Chương 1 phân tíchđịnhnghĩa, cácđặcđiểm,vai trò của thuế môi trường, luận giảicụthể sắc thuế nào ở Việt Nam được phân loại là thuếmôi trường.
– Câu hỏi 2: Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam có được hiểu tương tự như thuế môi trường (environmental tax hay green tax) của các nước khác trên thế giới?
Giả thuyết 1: Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam được hiểu tương tự như thuế môi trường (environmental tax hay green tax) của các nước khác trên thế giới.
Giả thuyết 2: Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam có nội hàm hẹp hơn nhiều so với pháp luật thuế môi trường của các quốc gia khác.
Dựkiếnkếtquảnghiên cứu:dựkiến giải quyết câuhỏinghiêncứusố2 tại Chương 1 và Chương 2 của luận án. Chương 1 cung cấp cơ sở lý luận về pháp luật thuế môi trường, Chương 2 đánh giá cụ thể những ưu điểm và hạn chế của pháp luật thuế môi trườngởViệt Nam trên cơsởso sánhvớilĩnhvựcpháp luật nàyởcác quốc gia khác.
– Câu hỏi 3: Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trườngở Việt Nam, giải pháp nào là cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay?
Giảthuyết 1: Khắc phục cácbấtcậpcủapháp luật thuế môi trường là giải pháp cần thực hiện ngay.
Giả thuyết 2: Đối với mỗi sắc thuế môi trường, giải pháp cần thực hiện là khác nhau để đạt được hiệu quả.
Dựkiếnkếtquảnghiên cứu:dựkiến giải quyết câuhỏinghiêncứusố3 tại Chương 2 và Chương 3 của luận án. Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật thuếmôi trườngcủaViệt NamtạiChương 2, Chương 3 phân tích các yêucầuvà giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện.
2.2. Một số đề xuất nghiên cứu cụ thể
Trên cơ sở đánh giá những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án và các giả thuyết đã được xây dựng trên đây, có thể đưa ra một số đề xuất nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu các quan điểm lý luận về thuế môi trường và pháp luật thuế môi trường.
Thứ hai, nghiên cứu các vấn đề lý luận về hiệu quả pháp luật thuế môi trường, về tiêu chí và chỉ số đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật điều chỉnh thuếmôi trường.
Thứ ba, đánh giá tính hiệu quả của pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam hiện nay,cụthểlà: đánh giá các quyđịnhpháp luậtvềđốitượngchịu thuế,đốitượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, quản lý thuế và các tác động kinh tế – xã hội của thuếmôi trường.
Thứtư, nghiêncứucác giải pháp có căncứkhoahọcnhằm góp phần hoàn thiện pháp luật thuế môi trườngởViệt Nam,cụthểlà: xácđịnhnhững yêu cầu,định hướng cơ bản cho việc hoàn thiện pháp luật thuế môi trường, từ đó xây dựng các giải phápcụthểđểkhắc phục cáchạnchế,bấtcậpvà nâng cao hiệuquảáp dụng thuế môi trường ở Việt Nam.
2.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Công trình này được nghiên cứu dựa trên những lý thuyết sau:
– Lý thuyết về phát triển bền vững. Phát triển bền vững (sustainable development) được định nghĩa như một sự phát triển cho phép thỏa mãn những nhu cầu hiện nay mà không làm phương hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ mai sau20. Qua định nghĩa này, có thể thấy được yếu tố cơ bản của phát triển bềnvững là quyền phát triển vàsựcầnthiết phải chăm sóc môi trường. Nói cách khác, kinh tế – xã hội – môi trường là ba mặt của sự phát triển, có tác động lẫn nhau và nếu duy trìđược sự cân đốigiữa chúng thìtạora được sự phát triển bền vững. Phát triển kinhtế,phát triển xãhộilàmụctiêu, nhiệmvụhàngđầucủacácthểnhân, pháp nhân, của mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại nhằm đáp ứng các
20 Philippe Bontems và Gilles Rotillon, người dịch Nguyễn Đôn Phước (2008), Kinh tế học môi trường, Nxb. Trẻ, tr. 164.
nhu cầu hiện tại, còn BVMT là yếu tố quyết định mức độ ảnh hưởng đến khả năngđáp ứngnhu cầu của các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững phảilà sự đồng tiến
hóacủatựnhiên và xãhộidướihình thức chỉnhthểtựnhiên–xã hội, trongđónhững tiến bộ xã hội trong mỗi bước đi không gây tác hại cho môi trường và là cơsở bảo tồn cho cả sinh thái và nhân loại.21
– Lý thuyết về tăng trưởng xanh (green growth). Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiêncứuvà áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triểnhệthống cơsởhạtầng hiệnđạiđểsửdụng hiệuquảtài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhàkính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững.22
– Các lý thuyếtvềthuế.TừthếkỷXVIIIđếnnay, córấtnhiều lý thuyếtvềthuế đã hình thành, từ các luận thuyết không tưởng về thuế đến tư tưởng về một xãhội không có thuế, trong đó, lý thuyết thuế – đoàn kết được phổ biến và chấp nhận rộng rãi hơn cả. Lý thuyết này, một mặt, cho rằng cần phải tính đến khả năng đóng góp của người nộp thuế và thiết lập tính lũy tiến của thuế,mặtkhác, coi thuế nhưmột công cụ phân phối lại và bình quân hóa. Thuế là biểu tượng đoàn kết giữa các nhóm người trong xã hội. Chính với tư cách là phương tiện tương trợ mà thuế khẳngđịnh rõ nhất tính chính đáng của mình.23
– Lý thuyết về sự phù hợp giữa pháp luật và yêu cầu cuộc sống với tư cách làbiểu hiệncủamốiquanhệgiữa cơsở hạtầng và kiến trúc thượng tầng. Cơsởhạtầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống nhất biện chứngvớinhau, trongđócơsởhạtầng đóng vai trò quyếtđịnhđốivớikiến trúc thượng tầng. Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương
21 Viện Khoa học pháp lý (2012), Lê Hồng Hạnh (chủ nhiệm), Đề tài Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, tr.17 – 18.
22 Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/09/2012 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
23 Michael Bouvier (2005), Nhập môn luật thuế đại cương và lý thuyết thuế, Nxb. Chính trị
quốc gia, tr. 285 – 345.
ứng với nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất củacơ sởhạ tầng quyết định. Ngược lại, kiến trúc thượng tầng cũng có tác động mạnh mẽ đến cơ sởhạ tầng, tác động này có thể là ngược chiều hoặc cùng chiều.24
– Lý thuyếtvềkinhtếhọcpháp luật hay kinhtếluật (law and economics). Kinh tế luật nghiên cứu cách sử dụng kinh tế học để đánh giá hiệu quả của các quyđịnh pháp luật. Kinh tế luật cung cấp lý thuyết dự đoán hành vi xem các quan hệ xãhội thay đổi như thế nào khi pháp luật thay đổi.25 Với sự bổ trợ của các kiến thức kinh tế, môn kinh tế luật dự đoán sự thay đổi trong hành vi của chủ thể pháp luật dướitácđộngcủacác quy phạm pháp lý như sau: khi tham giabấtkỳhoạtđộng nào, mỗi chủ thể đều nhằm tối đa hóa lợi ích của mình, bởi vậy các chủ thể luôn cóxuhướnglựachọn việc chấp hành những quyđịnhnào cólợinhất chobảnthân. Các chủ thể cũng sẽ lựa chọn việc không tuân thủ luật nếu trách nhiệm của họ do vi phạm luậtnhỏhơn nhữnglợiíchhọthuđượctừviệc vi phạm luật. Khi quyđịnh luật tạo ra “hiệu ứng ngược” như vậy thì rõ ràng quy định đó không hiệu quả.26
2.4. Nội dung chính của luận án Luận án có nội dung chính như sau:
– Chương 1 có tiêu đề “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệuquảthực hiệnởViệt Nam”. Chương nàyđượcchia thànhbốnphần chính: phần 1.1 nghiêncứulý luậnvềthuế môi trường; phần 1.2 nghiêncứucác nguyên tắc,cấutrúc và cácyếutốchi phối pháp luật thuế môi trường; phần 1.3 nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hiệu quả của pháp luật thuếmôi trường; phần 1.4 nghiên cứu các tiêu chí xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật thuế môi trường.
– Chương 2 có tiêu đề “Đánh giá thực trạng pháp luật thuế môi trường ở Việt Namvớiyêucầunâng cao hiệuquảthựchiện”.Chương nàygồmcó hai phần chính: phần 2.1 đánh giá thực trạng pháp luật về nội dung thuế môi trường với yêu
24 Bộ Giáo dục và đào tạo, Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui (đồng chủ biên), Giáo
trình Triết học Mác – Lênin, Nxb. Giáo dục, tr. 154 – 157.
25 Lê Nết (2006), Kinh tế luật, Nxb. Tri thức, tr. 12 – 14.
26 Đặng Kim Phương (2011), Pháp luật ngân hàng điều chỉnh dịch vụ cung cấp vốn cho khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, tr. 35.

cầu nâng cao hiệu quả thực hiện; phần 2.2 đánh giá thực trạng pháp luật về quản lýthuế môi trường với yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện.
– Chương 3 có tiêu đề “Một số yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuếmôi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam”. Chương này được chia thành hai phần chính: phần 3.1 xác định các yêu cầuđốivớiviệc hoàn thiện pháp luật thuế môi trườngở ViệtNam; phần 3.2đềxuấtmột sốgiải phápcụthểnhằm nâng cao hiệu quả thực thiện pháp luật về thuế môi trường ở Việt Nam.
Kết luận phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.Đềtài“Hoànthiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệuquảthực hiện ở Việt Nam” là đề tài có tính mới, chưa được nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học. Tuy nhiên, từng khía cạnhcủađềtàiđãđượcmộtsốcông trình nghiên cứu đề cập ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào nhiệm vụ nghiên cứu của công trình đó.
2. Một số kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có giá trị kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tổng thể về thuế môi trường ở Việt Nam dưới góc độ khoa học pháp lý. Nhiều vấn đề lýluận về pháp luật thuế môi trường chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, thực trạng pháp luật hiện hành về thuế môi trường chưa được phân tích thấu đáo.
3. Từ những đánh giá về kết quả nghiên cứu, người viết xác định định hướng nghiêncứucủa luận án.Nộidung chínhcủaluận ángồmcó ba chương, trongđóchương đầu nghiên cứu lý luận về pháp luật thuế môi trường và lý luận về tính hiệu quảcủacác quyđịnhpháp luật trong lĩnhvựcnày, hai chương sau đánh giá tính hiệuquảcủapháp luật thuế môi trườngởViệt Nam hiện nay vàđềxuất các giải pháp có căncứkhoahọcnhằm góp phần hoàn thiện pháp luật thuế môi trườngởViệt Nam.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
1.1. Một số vấn đề lý luận về thuế môi trường 1.1.1. Sự phát triển của thuế môi trường
Sự ra đời của thuế môi trường có thể xuất phát từ chủ nghĩa môi trường ở thếkỷ XVIII, XIX và hoạt động BVMT với tư cách là công cụ ngăn ngừa và cải thiện
những thảm họa xã hội. Arthur C. Pigou (1877 – 1959) đã có ảnh hưởng đến sự phát triển ý tưởng về thuế môi trường gắn với kinh tế học phúc lợi, vì vậy sắc thuế này cònđượcgọilà thuế Pigou (tiếng Anh là Pigouvian tax).27 Nguyêntắcđánh thuếPigou là: “Mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm có giá trịbằng chi phí ngoại tác do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tốiưu xã hội”28.
Ngoại tác là sự tác động ra bên ngoài của đối tượng này lên chi phí hoặc lợiích của đối tượng thứ ba mà không qua giao dịch và không được phản ánh qua giácả29. Ngoại tác baogồmngoại tác tíchcựcvà ngoại tác tiêu cực.Ônhiễm môi trường là một dạng của ngoại tác tiêu cực. Chi phí phát sinh do ô nhiễm môi trường (ví dụ: chi phí y tế vì các bệnh mà ô nhiễm gây ra) không được chủ thể gây ô nhiễm tính vào giá thành sản phẩm mà buộc xã hội (đối tượng thứ ba) phải gánh chịu. Ônhiễm tối ưu là tối ưu về mặt kinh tế và phải chấp nhận rằng ô nhiễm tối ưu không có nghĩa là ô nhiễm bằng không. Ô nhiễm tối ưu tại mức sản lượng tối ưu tức là tại mức sản lượng đó, sản xuất tạo ra mức ô nhiễm tối ưu đối với xã hội30. Thuế môi trường là công cụ nội hóa chi phí ngoại tác do ô nhiễm môi trường gây ra, mức thuếphảiđủđểbùđắpnhữngtổnthấtcủaônhiễm,từđótácđộngđếnchủthểgâyônhiễm: buộc chủ thể gây ô nhiễm phải điều chỉnh hoạt động của mình về mức sản lượng tối ưu xã hội.
27 John F. McEldowney and David Salter (2016), Environmental taxation in the UK : the Climate Change Levy and policy making, Denning Law Journal, p.4.
28 Bùi Đường Nghiêu chủ biên (2006), Thuế môi trường, Nxb. Tài chính, tr. 45. 29 Đặng Văn Thanh (2013), Ngoại tác, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
30 Bùi Đường Nghiêu chủ biên (2006), sđd, tr. 42 – 53.
Pháp là quốc giađầutiên áp dụng thuế môi trường trong lĩnhvựcquản lýnướcvào năm 1959 nhằmnỗlựcgiải quyếtvấnđềônhiễm. Vào năm 1971, thuếmôi trường được sử dụng để đối phó với nạn ô nhiễm nước thải ở Hà Lan và Đức. Các nhà kinh tế học đã đi tiên phong trong việc phát triển thuế môi trường ở Hoa Kỳ vào những năm 1960. Thuế môi trường được chấp nhận ở Nhật vào năm 1974để bồi thường cho những nạn nhân của ô nhiễm.31
Trong những năm gần đây, để giải quyết vấn đề môi trường, công cụ định giácarbon thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia quốc tế và thuế môi trườngđượccoi là trung tâmcủacuộccảicáchhệthống thuế đang diễn raởnhiều quốc gia32. Cải cách thuế môi trường đề cập đến sự thay đổi trong hệ thống thuế quốc gia, chuyển gánh nặng thuế đánh vào các chức năng kinhtế,thườngđượcgọilà“cái tốt” như lao động (thuế thu nhập cá nhân), vốn (thuế thu nhập doanh nghiệp), tiêu dùng (thuế giátrịgia tăng và các loại thuế gián thu khác), sang đánh thuế vào những hành vi gây áp lực lên môi trường và việc sử dụng tài nguyên, thường được gọi là “cái xấu”33. Trong những năm 1990, các nước Tây Bắc châu Âu đã thực hiện những bước đầu tiên về cải cách thuế môi trường, nói khái quát là, thực hiện tái cấu trúchệthống thuếđểthúcđẩycácmụctiêu môi trườngmộtcách hiệuquảhơn. Phong trào cải cách thuế môi trường đã lan rộng rất nhanhtớicác nước khác nhưHà Lan, Anh,Đức,và hiện nayđượccân nhắcmộtcách nghiêm túcởcácnướcđang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Nam Phi, Thái Lan vàTunisia34.
Việt Nam đang trong quá trình tăng trưởng, phát triển nhanh để theo kịp các quốc gia tiên tiến nên việc sử dụng khối lượng lớn tài nguyên thiên nhiên là không thểtránh khỏi. Việt Nam cũng là thành viêncủanhiềuđiềuướcquốctếvềmôi
31 John F. McEldowney and David Salter (2016), Environmental taxation in the UK: the Climate Change Levy and policy making, Denning Law Journal, p.4.
32 John F. McEldowney and David Salter (2016), Environmental taxation in the UK: the Climate Change Levy and policy making, Denning Law Journal, p.5.
33 Withana, S., ten Brink, P., Kretschmer, B., Mazza, L., Hjerp, P., Sauter, R., (2013) Evaluation of environmental tax reforms: International experiences, A report by the Institute for European Environmental Policy (IEEP) for the State Secretariat for Economic Affairs (SECO) and the Federal Finance Administration (FFA) of Switzerland. Final report. Brussels, p.1.
34 Dirk Heine, John Norregaard, and Ian W.H. Parry (2012), Environmental tax reform:
Principles from theory and practice to date, IMF working paper, p.4. A
trường. Chính vì vậy, BVMT luônđược Đảngvà Nhà nước xácđịnhlà một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổnđịnh chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta35. Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ rõ những hạn chế trong việc chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác BVMT, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hànhđộng cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc BVMT; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với BVMT, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinhtếmà ít quan tâm việc BVMT; nguồnlựcđầutư cho BVMTcủaNhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém, phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm36. Vì vậy, Đảng đã xác định các nhiệm vụ cụthể, đẩymạnh các giải pháp BVMT, trong đó tăngcườngnguồn lực tài chính cho công tác BVMT là một nhiệm vụ quan trọng.
Trướckhi Luật Thuế BVMT năm 2010đượcban hành, chính sách tài chính trong lĩnh vực môi trường chủ yếu tập trung vào Quỹ BVMT, các loại phí BVMT. Tuy nhiên, hiệuquảvàđộbaophủcủacác côngcụnày chưa cao. Việc thu phíBVMT đối với nước thải công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số phí thu được còn thấp.Mộtsốthànhphốlớnchưa thực hiện triệtđểcông tác thu phí.Mộtsốđịa phương chậmcấpphépsửdụng nguồnnướcdẫnđếncácSởTài nguyên và môi trường không có căn cứ để tính và thu phí BVMT đối với nước thải. Việc xác định cácđốitượnggâyônhiễm chưađầyđủ,chưa bao quáthếtcác thành phần gâyônhiễm. Phí BVMTđốivớichất thảirắnhầunhư chưa triển khai. Quotaônhiễm chưa được áp dụng phổ biến do chưa có các hướng dẫn, quy định cụ thể37. Chi trảdịch vụ hệ sinh thái chưa được triển khai rộng rãi38.
35 Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
36 Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
37 Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam (Chương 9, tiểu mục 9.4.5).
38 HuỳnhThịMai (2008), “Chitrảdịchvụhệsinh thái–Giải phápbảotồnđa dạng sinh
học”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21 (137) – 2008.
Ngoài ra, trước thời điểm ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010, các sắc thuếcó liên quanđếnmôi trườngđượcquyđịnhrảirác trong nhiều vănbảnluật như:
Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật thuếsửdụngđấtphi nông nghiệp, Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu. Nhìn chung, các sắc thuế trên không có mục tiêu chính là BVMT mà chỉquy định những chính sách ưu đãi (hoặc chính sách không khuyến khích) nhất địnhđối với đối tượng chịu thuế thuộc diện thân thiện (hoặc không thân thiện) với môi trường. Sự manh mún của các quy định pháp luật về thuế liên quan đến môi trường (trước năm 2010) dẫn đến sự thiếu tầm bao quát của pháp luật thuế trong lĩnh vực này, số thu rất thấp nên nguồn tài chính đầu tư cho công tác BVMT còn hạn chế39.
Vì vậy, song song với việc ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010, việc hoàn thiện Luật Thuế tài nguyên, Luật Thuế tiêuthụđặcbiệt theohướngtăng cường chức năng BVMT, đang là hướng tiếp cận phùhợpxuhướngchungcủathếgiới, nâng cao vai trò của công cụ kinh tế trong lĩnh vực BVMT.
1.1.2. Định nghĩa thuế môi trường
Môi trường được hiểu là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo cótác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật40. Môi trường bao gồm hai hệ thống cơ bản41:
– Hệ thống môi trườngtựnhiêngồmcácyếutốđượchình thành,tồntạivàphát triển theo các quy luật tự nhiên như: đất, nước, không khí, động thực vật, khíhậu, ánh sáng, địa hình, …
– Hệ thống môi trường vật chất nhân tạo bao gồm các yếu tố do con người tạo ra như nhà cửa,đườngxá,cầucống, các cảnh quan kiến trúc, di tích lịchsửvăn hóa, …
39 Tỉ lệ chi ngân sách cho môi trường năm 2010 chỉ đạt xấp xỉ 0,4% GDP. Trong khi đó, ởTrung Quốc và các nước ASEAN, đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm là 1% GDP, ở các nướcphát triển thường chiếm 2-3% GDP. So bình quân đầu người tỉ lệ chi môi trường từ nguồn ngân sách chỉ đạt 4,5 USD/người năm 2010. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trên thế giới (chỉ bằng khoảng 5% so với mức trung bình). Xem: Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam (Chương 9, tiểu mục 9.3.1).
40 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. 41 Bùi Đường Nghiêu chủ biên (2006), Sđd, tr. 10-11.
Thuếđượcđịnhnghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Cách tiếpcậncổđiển nhất về thuế, đó là “thuế là một khoản trích nộp bằng tiền do các cá nhân công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực, có tính chất bắt buộc và không có đối khoản để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu côngcộng”.Mặc dùchưa thực sự hoàn hảo (do những biến đổi của xã hội), định nghĩa này vẫn được sửdụng rộng rãi vì đã nêu được những yếu tố cơ bản ngay từ thuở ban đầu tạo nên bản chất của thuế, nhất là tính chất bắt buộc.42
Thuật ngữ thuế môi trường được nhiều tài liệu gọi là thuế sinh thái (ecological tax) hay thuế xanh (green tax). Thuật ngữ này được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau và không có một định nghĩa chính xác duy nhất về thuế môi trường43. Trên thếgiới, có hai cách tiếp cận thông dụng về thuế môi trường.
Thứ nhất, Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) đã đưa ra một định nghĩa vềthuế môi trường theo cách tiếp cận thống kê như sau: “Một loại thuế được xếp vào loại thuế môi trường nếu căn cứ tính thuế là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng minh sẽ gây ra một tác độngcó hại đặc biệtđến môi trường”. Theo định nghĩa này, có thể gộp tất cả các loại thuế năng lượng vàgiao thông vào thuế môi trường (nhưng không có thuế giá trị gia tăng)44. Cùng với Eurostat, OECD sử dụng thuật ngữ thuế liên quan đến môi trường (environmentally related taxes, viết tắt là ERT) và định nghĩa thuế liên quan đến môi trường là những khoản thanh toán bắt buộc, một chiều cho chính phủ, áp dụng trên cơ sở được cho làcó liên quan cụ thể đến môi trường45.
Cùng quanđiểmvớiOECD và Eurostat, Văn phòng thống kê Vương quốc Anh (the UK’s Office for National Statistics, viếttắtlà ONS) cho rằng: thuế môi trường là loại thuế có căn cứ tính thuế dựa trên một đơn vị vật chất, hoặc đại diện cho nó, đãđượcchứng minh có tácđộngtiêucựcđếnmôi trường. Như vậy,định
42 Michel Bouvier (2005), Nhập môn luật thuế đại cương và lý thuyết thuế, Nxb. Chính trịquốc gia, tr. 28.
43Ben Etheridge (IFS and UCL) and Andrew Leicester (IFS), Environmental taxation, source: https://www.ifs.org.uk/budgets/gb2007/07chap11.pdf
44 Tổng cục Môi trường – Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), Báo cáo Thuế bảo vệ môi trường: kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam, tr. 8.
45 Kai Schlegelmilch (2015), Kinh nghiệm quốctếvềkinhtếxanh và chính sách tài khóa xanh, Tài liệu hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế về tài khóa xanh”, Bộ Tài chính.
nghĩa thuế môi trường của ONS cũng tương tự như của Eurostat và OECD, đều dựa trên tác động của thuế đối với việc BVMT.46
CácnướcOECD (và đasốcác quốc gia khác) không ban hànhmộtđạoluật riêng về thuế môi trường mà có những sắc thuế độc lập đối với từng loại chất gây ônhiễm như: thuế carbon, thuế ôtô, thuế nhiên liệu, thuế điện, … Trong pháp luật môi trường của OECD cũng không có sự phân biệt giữa thuế và phí, tất cả các khoản thu có tính chất bắt buộc áp dụng cho các chủthểcókhảnăng tácđộngtiêucựcđến môi trường đều được gọi là environmental taxes.
Còn theo cách tiếpcậncủapháp luật Việt Nam hiện nay, thuế và phí cósựkhác biệt nhất định. Phí là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phímà Nhà nước đã bỏ ra khi cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho các chủ thể trong xãhội, trong khi đó, thuế không có tính đối giá và không đối khoản, tức là khoản thuếphải nộp không nhất thiết phải tương xứng với những lợi ích mà chủ thể nộp thuếđược hưởng, và nguồn thu từ thuế cũng không cần dành cho một mục tiêu nhất định nhưđốivớiphí. Trong nhiều trường hợp, khoản thu phí môi trườngđôikhitỏra kém hiệu quả, do những chi phí xã hội bỏ rađể bùđắpnhững tổn hại môi trường (bao gồm những thiệt hại trực tiếp và gián tiếp) thường lớn hơn khoản phí mà các chủ thể tác động tiêu cực đến môi trường đã nộp. Không những thế, việc trả phí đểtác động tiêu cực đến môi trường không khuyến khích các chủ thể này có cách xửsựtíchcựchơn, màngượclại,họcảmthấy có quyền tácđộngnhiều hơn sau khi chấp nhận đóng phí nhiều hơn.47 (Xem thêm Phụ lục 1 phân biệt thuế môi trường vàphí môi trường).
Bộ Tài chính Vương quốc Anh (HM Treasury) đưa ra cách tiếp cận thứ hai vềthuế môi trường. Theo đó, các tiêu chí để xác định một sắc thuế có phải là thuế môi trường hay không, bao gồm: (i) Sắc thuế đó phải liên kết với những mục tiêu về môi trường của Chính phủ; (ii) Mục tiêu chủ yếu của sắc thuế đó là khuyến khích hành vi tíchcực đối vớimôi trường; (iii) Sắc thuế phảiđược thiếtkế liên quanđếncác mục tiêu môi trường, ví dụ như hành vi gây ô nhiễm càng nhiều thì mức thuế càng
46 John F. McEldowney and David Salter (2016), Environmental taxation in the UK: the Climate Change Levy and policy making, Denning Law Journal, p.6.
47 Trần Vũ Hải (2009), “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam”,
Tạp chí Luật học số 04 – 2009, tr. 23 – 30.
cao. Năm loại thuế môi trường theo HM Treasury là thuế biến đổi khí hậu, thuế vật liệu trộn (Aggregate levy), thuế chôn rác, hệ thống chuyển nhượng quyền phát thải (the EUETS) và camkếtgiảm phát thải carbon.Điềucầnlưuýlà HM Treasury khôngxếpthuế nhiên liệu và thuếđốivớihành khách các hãng hàng không vào thuế môi trường, trong khi ONS và cáctổchức quốctếlạicoiđólà cácsắcthuếmôi trường. Định nghĩa thuế xanh của HM Treasury cũng phụ thuộc nhiều vào cách thiếtkếchính sách môi trườngcủaChính phủ, chưadựatrênbảnchấtcủasắc thuế.48
Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng có những quan điểm khác nhau về thuếmôi trường. TácgiảTrần VũHải(2009)địnhnghĩa thuế môi trường theo nghĩa rộng là toànbộcác khoản thuế màchủthểnộpthuế phải đóng góp liên quanđến việc tác động đến môi trường thông qua hành vi của mình. Dưới giác độ này, thuếmôi trường được hiểu là thuế liên quan đến môi trường, bao gồm các loại thuế nhưthuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như ô tô, thuốc lá), thuế thu nhập doanh nghiệp (ví dụ: sử dụng công nghệ sạch, khai thác tài nguyên quý hiếm), v.v. Theo nghĩa hẹp, thuế môi trường được hiểu là một loại thuếriêng biệt, được Quốc hội ban hành dưới hình thức Luật hoặc Pháp lệnh, điều chỉnh quan hệ thuế giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêucực đếnmôi trường49. Quan điểm này của tác giả Trần Vũ Hải được đưa ra trước khi ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010 với mục đích đóng góp ý kiến cho quá trình xây dựng dự ánLuật Thuế BVMT. Vì vậy, quanđiểmnày thiênvềpháp luậtthực địnhcủa Việt Nam nhiều hơn là khoa học pháp lý về thuế môi trường.
Luật Thuế BVMT năm 2010địnhnghĩa: Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sauđâygọichung là hàng hóa) khi sử dụng gây tácđộng xấuđếnmôi trường50. Có thể thấy rằng luật thực định của nước ta đã đưa rađịnh nghĩa khá hẹp về thuế BVMT: sắc thuế này chỉ đánh vào quá trình sử dụng các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, không đánh vào quá trình sản xuất hay quá trình
48 John F. McEldowney and David Salter (2016), Environmental taxation in the UK : the Climate Change Levy and policy making, Denning Law Journal, p.6, 7.
49 Trần Vũ Hải (2009), “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam”,
Tạp chí Luật học số 04 – 2009, tr. 23 – 30.
50 Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010.
xử lý khi hàng hóa trở thành chất thải. Nếu như thuế môi trường của đa số các quốc gia được coi là tập hợp của các sắc thuế có liên quan đến môi trường thì ở Việt Nam thuế môi trường làmộtsắcthuếđộclập,đượcban hànhdướihình thứcmộtđạo luật.
Như vậy, tùy thuộc vàomụcđích và nhiệmvụnghiêncứucụthểcủatừng công trình mà các học giả có những cách tiếp cận khác nhau đối với thuật ngữ thuếmôi trường.
Trong cuốn luận án này, thuế môi trường (hay còngọithuế xanh, thuế sinh thái)đượchiểu là cácsắcthuế có căncứtính thuế liên quan trực tiếpđếnmôi trường và có mục tiêu chính là BVMT.
Vớicách tiếp cận này, trong hệ thống thuế của Việt Nam, các sắc thuế được xếp vào loại thuế môi trường bao gồm: thuế tài nguyên ban hành theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009, thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 và thuếtiêu thụ đặc biệt ban hành theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008. Các sắc thuếkhác như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế sửdụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, … không phải là thuế môi trường. Một số quy định của các sắc thuế này cũng có liên quan đến môi trường (vídụ: dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên cây xanh; dịch vụ tang lễ thuộcđối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng51) nhưng đó chỉ là các quy định mang tính ngoại lệ, vấn đề BVMT chỉ được lồng ghép trong một số quy định pháp lý chứ chưa phải là mục tiêu chính của các sắc thuế này.
Sở dĩ thuế tiêu thụ đặc biệt thuộc nhóm thuế môi trường là bởi: đối tượng chịu thuế tiêuthụđặcbiệt thường là những hàng hóa, dịchvụxaxỉ(như tàu bay, du thuyền, dịch vụ kinh doanh vũ trường,…) hoặc không phải là hàng hóa, dịch vụ thiết yếu(như vàng mã, bài lá, kinh doanhđặtcược,…) hoặc khisửdụng gâyônhiễm môi trường (như thuốc lá, xăng, dịch vụ kinh doanh golf,…) hoặc gây hại cho sức khỏe conngười(nhưrượu,bia, kinh doanh trò chơiđiệntử,…). Những hàng hóa, dịchvụnày khôngđượckhuyến khích tiêu dùng, vì vậy, các quốc gia thường áp mức thuế “đặc biệt” lên các sản phẩm này nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát và
51 Khoản 11 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013 vànăm 2016).
hướng dẫn tiêu dùng. Ở khía cạnh này, thuế tiêu thụ đặc biệt còn được gọi là “thuếđánh vàotộilỗi”(tiếng Anh là sin taxes)52. Mức thuế suấtđốivớitừng loại hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có sự phân hóa rõ nét, thểhiện “thái độ” rõ ràng của Nhà nước đối với các sản phẩm gây hại cho môi trường và sức khỏe con người, ví dụ: xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi chạy bằng năng lượng sinh học có mức thuế suất bằng 50% mức thuế suất của xe ôtô cùng loại chạy bằng xăng thông thường53.
Có ý kiến cho rằng, thuế tài nguyên không phải là thuế môi trường vì thuế tài nguyên cómộtchức năng quan trọng: theo quyđịnhcủapháp luật Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, do vậy việc khai thác tài nguyên do các tổ chức, cá nhân tiến hành cần phải nộp thuế như làmộtcáchđểchia sẻ phần lợi ích từ giá trị tài nguyên được khai thác cho cácmụcđích chi tiêu công cộng. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên có thể không ảnh hưởng nhiều đến môi trường nếu được tiến hành một cách khoa học, hợp lý. Căn cứtính thuế tài nguyên được dựa vào giá trị tài nguyên được khai thác chứ không phải những tác động của hoạt động khai thác tài nguyên đến môi trường54.
Tuy nhiên, theongườiviết, trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy kiệt, thực trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở không ít các địa điểm khai thác tài nguyên thìcầnphải xem xétlạiquanđiểmnày.Điểmb Khoản 3Điều7 Luật Thuế tài nguyên năm 2009 quy định một trong những nguyên tắc để xác định thuế suất thuế tài nguyên là: góp phần quản lý nhà nước đối với tài nguyên; bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên. Qua điều luật này có thể thấy rằng, nhà làm luật đã có những thay đổi trong tư duy so với Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998, chưa hẳn đã đặt mục tiêu “chia sẻ lợi ích từ tài nguyên” lên trên mục tiêu môi trường. Thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Luật Thuế tài nguyên năm 2009 đã được xây dựng trên cơ sở đảm bảo (coi trọng) vấn đề bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên – nguồn tài sản quý giá của đất nước. Bên cạnh đó, cũng phải
52 Source: https://investinganswers.com/dictionary/e/excise-tax accessed date 17/5/2019.
53 Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và 2016). 54 Trần Vũ Hải (2009), “Một số vấn đề về việc ban hành luật thuế môi trường ở Việt Nam”,
Tạp chí Luật học số 04 – 2009, tr. 23 – 30.
khẳngđịnhrằng: thuế BVMT (ban hành theo Luật Thuế BVMT 2010) khôngthểthay thế thuế tài nguyên mặc dù có cùng mục tiêu bởi hai sắc thuế này có phạm viđiều chỉnh khác nhau.
Các tổ chức quốc tế như OECD, Eurostat và đa số các quốc gia khác cũng đều phân loại thuế tài nguyên và thuế tiêuthụđặcbiệt vào nhóm thuế môi trường.55Điềunàythểhiện: nhận thứcvềvấnđềmôi trườngcủacác quốc gia ngày càngđược nâng cao và các quốc gia đều có xu hướng bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên của đất nước mình.
1.1.3. Đặc điểm của thuế môi trường
Thuế môi trường có những đặc điểm chung mang tính bản chất của thuế như:
là một khoản trích nộp bằng tiền, một khoản đóng góp bắt buộc được nộp không cóđối khoản trực tiếp, được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công cộng. Bên cạnhđó, thuế môi trường còn có những đặc thù đúng như tên gọi của nó, đặc thù đầu tiênđó là mục tiêu BVMT. Đặc điểm này sẽ chi phối đến cách thiết kế thuế môi trường cũng nhưhầuhếtcácvấnđềkhác liên quanđếnthuế môi trường (vídụ:sửdụng nguồn thu thuế). Điều đó có nghĩa là các quy định pháp lý về thuế môi trường cũng như việc triển khai thực hiện sắc thuế này đều phải hướng tới mục tiêu gìn giữ môi trường.Tấtnhiên, ngoàimụctiêu trên, thuế môi trường cũng có nhữngmụctiêu khác (như: tăng thu ngân sách,đảmbảocông bằng xã hội, …) nhưng môi trường phảiđược xác địnhlà mục tiêu chính yếu, quan trọng nhất. Mọi thiếtkế thuếmôi trường không đạt được mục tiêu chính này đều được xem như chưa hiệu quả.
Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, vì nguyên nhân mang tính chính trị và (hoặc) nguyên nhân kinh tế, mục tiêu BVMT của thuế xanh đôi khi chưa được đặt lên hàngđầu. Thụy Điển, một đất nước có hệ thống thuế môi trường được xem là phát triển, cũng không thể xem nhẹ mục tiêu tăng thu ngân sách của thuế môi trường. Mục tiêu này thậm chí cònđượcưu tiên hơncảmụctiêu hiệuquảvềmặtmôi trường. Các
55 Có thể tìm hiểu cách phân loại thuế môi trường của OECD, Eurostat và các quốc gia khác tạiđịachỉ:http://www.oecd.org/environment/environmentaltaxation.htm hoặc https://ec.europa.eu/ eurostat/ web/environment/environmental-taxes
loại thuế môi trường không thể được chấp nhận về mặt chính trị nếu không đảm bảoổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước.56
Thứhai,đặctrưng tiếp theocủathuế môi trường làvềđốitượngchịu thuế.Đối tượng chịu thuế môi trường là các dịch vụ, hàng hóa khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường hoặc là hành vi xả thải các chất độc hại ra môi trường hoặc là hành vi khai thác các tài nguyên thiên nhiên gây ảnh hưởng đến môi trường.
Đặc điểm trên của thuế môi trường cho phép phân biệt sắc thuế này với thuếtài sản, thuế thu nhập và thuế tiêu dùng. Thuế tài sản có đối tượng chịu thuế là một tài sản cụ thể do chủ thể nộp thuế là tổ chức, cá nhân sẽ hoặc đã xác lập quyền sởhữu đối với tài sản chịu thuế; thuế thu nhập đánh vào thu nhập của cá nhân, tổ chức nhằm điều tiết một phần thu nhập của các chủ thể này, đảm bảo công bằng xã hội; thuế tiêu dùng đánh vào phần thu nhập được đem ra tiêu dùng thông qua việc mua hàng hóa hay dịchvụ,dovậythuế này còngọilà thuế hàng hóa hay thuế bán hàng.57 Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng một hệ thống thuế đa dạngđể bao quát các nguồn thu và tăng tính bổ trợ lẫn nhau giữa các sắc thuế.
Cần phải nhấn mạnh rằng sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối. Thuế môi trường có thể được thiết kế với tính chất của thuế tiêu dùng khi đánh vào các hàng hóa, dịch vụ (có tác động xấu đến môi trường) được đem ra tiêu dùng (ví dụ: thuếBVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam), thuế môi trường cũng cóthểmang dángdấpcủathuế thu nhập khi đánh trực tiếp vào túi tiền của ngườicó hành vi gâyônhiễm môi trường (vídụ:thuếtắcnghẽn giao thôngởLondon, Vương quốc Anh).
Thứ ba, một đặc điểm khác của thuế môi trường, đó là: sắc thuế này có thể làthuế trực thu hoặc thuế gián thu tùy theo ý chí của nhà làm luật. Thuế gián thu làloại thuế mà về lý thuyết, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế không phải gánh chịu khoản thuế đã nộp (tức là chủ thể nộp thuế không thực sự mất một phần thu nhập vì khoản thuế này)58. Thuế trực thu là loại thuế mà chủ thể nộp thuế cũng đồng thời là chủ thể
56 Bùi Đường Nghiêu chủ biên (2006), Thuế môi trường, Nxb. Tài chính, tr. 172.
57 Phạm Nguyệt Thảo (2007), Pháp luậtvềthuế tàisảnở ViệtNam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 2, 3. Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Nxb. Tư pháp, tr. 198, 211, 212.
58 Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Sđd, tr. 197.
gánh chịu thuế (nghĩa là chủ thể nộp thuế sẽ mất một phần thu nhập của chính mình vì thuế)59. Nói một cách đơn giản hơn, sự phân biệt thuế trực thu và thuế gián thu phụ thuộc vào gánh nặng thuế có thực sự nhằm vào người nộp thuế hay không. Vídụ: thuế BVMT được ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam làthuế gián thu, khoản thuế này sẽ được tính vào giá bán hàng hóa nên mặc dù người nộpthuế làchủthểsảnxuất, kinh doanh nhưngngườichịu thuếlạilàngườitiêu dùng60. Ngược lại, thuế tắc nghẽn giao thông ở London, Vương quốc Anh là thuếtrực thu:ngườiđiềukhiển phương tiện giao thông cá nhân vào thời giantừ7giờsángđến 6 giờ tốitừthứ Haiđến thứ Sáuhàng tuần phải nộp 11,5 bảng Anh mỗi ngày61.
Đa số các nước đang phát triển lựa chọn phương án thiết kế thuế xanh là thuếgián thu vì quản lý thuế gián thu đơn giản, ít tốn kém hơn quản lý thuế trực thu, tuy nhiên thuế trực thu sẽ đảm bảo công bằng hơn thuế gián thu.
Thứtư,đốivớimộtsốsắcthuế môi trường, việc xácđịnhmứcthuếđòihỏi phải có trìnhđộchuyên môn sâuvềlĩnhvựcmôi trường vàsựhỗtrợcủacác phương tiệnkỹthuật hiệnđại.Chẳng hạn,đểđolườnglượngchất thảiđộchại (NOx, SO2, HCFC, …) mà một nhà máy thải ra môi trường làm căn cứ tính thuế thìviệc sử dụng các thiết bị quan trắc môi trường là không thể thiếu. Đặc điểm này của thuế môi trường đã buộc nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, lựa chọn cách thiếtkếthuế môi trường đơn giản (ví dụ: quyđịnhđốitượng chịu thuếchỉlà các hàng hóa có thể đođếmđượcbằng các biện pháp thông thường). Cách làm này đem lại lợi ích là giản tiện trong công tác hành thu thuế, tiết kiệm chi phíquản lý nhưng khôngđảmbảođượctính toàn diện, tính công bằngcủathuế môi trường, thậm chí cách làm này có thể dẫn đến việc đi ngược lại mục tiêu BVMT của sắc thuế này.
Thứ năm, thuế môi trường có tính đa dạng cao và tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia mà mỗi nước xây dựng cho mình một hệthống thuế môi trường mang những nétđặctrưng riêng.Hầuhếtcác quốc gia
59 Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Sđd, tr. 222. 60 Khoản 1 Điều 2 và Điều 5 Luật Thuế BVMT năm 2010.
61https://tfl.gov.uk/modes/driving/congestion-charge access date: 14/05/2017.
trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển đều có hệ thống thuế môi trường tươngđối chặt chẽ dưới nhiều hình thức khác nhau như thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, thuế đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ônhiễm, v.v.62 Các nước OECD đã đặt ra 375 loại thuế môi trường và 250 loại phí, lệphí môi trường63. Việc đa dạng hóa các sắc thuế môi trường có tác dụng bao quátđược nhiều đối tượng gây ô nhiễm, đồng thời tránh gây áp lực tâm lý cho người nộp thuế về gánh nặng thuế.
1.1.4. Phân loại thuế môi trường
Cácsắcthuế môi trườngrấtđa dạng. Cùngvớisựphát triển kinhtế,xã hội, khoa học và công nghệ, dự báo số lượng các sắc thuế môi trường sẽ không ngừng tăng lên. Việc phân loại thuế môi trường cũng có nhiều cách khác nhau, song về cơbản, có hai cách phân loại chính như sau:
Căn cứ vào lĩnh vực đánh thuế, thuế môi trường được phân loại thành:
– Thuế năng lượng: đánh vào các loại năng lượng sử dụng cho động cơ xe cộ hoặc dùng cho mục đích sưởi ấm và làm mát. Cách đánh thuế dựa trên cơ sở sốlượng. Do vậy, tiền thuế phải nộp tương ứng với số lượng năng lượng được tiêu thụnhân với thuế suất tuyệt đối trênmột đơnvịsốlượng. Số lượng hoặc trọng lượng của năng lượng bị đánh thuế là số lượng hoặc trọng lượng thực tế nhập khẩu hoặc tiêu thụ trong kỳ tính thuế.
– Thuế giao thông: đánh vào đối tượng đăng ký sử dụng phương tiện giao
thông. Đối tượng tính thuế là các phương tiện đi lại như ô tô, xe máy, xe tải… Cơsở tính thuế dựa trên tiêu chí ảnh hưởng môi trường như tiêu chuẩn về chất thải. Nócó thể kết hợp với một chỉ tiêu truyền thống như trọng lượng hoặc thể tích (cm³).
– Thuế tài nguyên: là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ chức, cá nhân. Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không phải hành visửdụng tài nguyên thiên nhiên). Phầnlớnđốitượngchịu thuế tài nguyên là tài nguyên khoáng sản, như:
62 Trần Vũ Hải (2009), Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công, Sđd, tr. 200.
63 Ngân hàng thế giới (2012), Tăng trưởng xanh cho mọi người: con đường hướng tới phát triển bền vững, tr. 53.
khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên và nước khoáng.
Dựa vào đối tượng gây ô nhiễm, thuế môi trường bao gồm:
– Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: đánh vào các chất thải gây ô nhiễm
môi trường nước (như BOD – nhu cầu ôxy sinh hóa, COD – nhu cầu ôxy hóa học,
TSS – hàm lượng cặn lơ lửng, kim loại nặng…), khí quyển (như SO2, NOx, carbon,
CFC…),đất(như rác thải, phân bón…), hoặc tiếngồn(như máy bay và các loại
độngcơ…)ảnhhưởngtớimôi trường xung quanh. Thuế đánh vào nguồn gâyônhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng các chất gây ô nhiễm.
– Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: được áp dụng đối với những loại sảnphẩm gây táchạitớimôi trườngmộtkhi chúngđượcsửdụng trong các quátrìnhsảnxuất, tiêu dùng hay hủybỏchúng. Ví dụ như các sản phẩm có chứa kim loại nặng, PVC (nhựa nhiệt dẻo), CFC, các nguyên liệu chứa carbon và
sulphat…Thuế đánh vàosảnphẩm gâyônhiễmđượcxácđịnhtrên cơsởkhối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ.
– Thuế đánh vào người sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm: thuế đánh vào ngườisửdụng phương tiện, máy mócxảkhíđộcra môi trường, thuế đánh vào thuốc lá, thuế đánh vào việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, thuế đánh vào cácđối tượng thải khí S02 hoặc BOD ra môi trường.
Với hai cách phân loại trên đây, có thể thấy rằng hiện nay, Việt Nam mới chỉcó hai loại thuế môi trường,đólà thuế tài nguyên (ban hành theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009) và thuế đánh vào người sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm (bao gồm thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010, thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành theo Luật Thuế tiêuthụđặcbiệt năm 2009).Đểđánh vào nguồn gâyônhiễm, nhà làm luật Việt Nam xây dựng hệ thống các phí, lệ phí và giá dịch vụ như:
phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với khí thải, dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt, …64Như vậy, “dư địa” đểtiếp tục nghiên cứu bổ sung thêm các loại thuế, phí môi trường ở nước ta còn khálớn nhằm hoàn thiện hệ thống tài chính trong lĩnh vực BVMT.
64 Xem Phụ lục số 01 và 02 Luật Phí và lệ phí năm 2015.
1.1.5. Vai trò của thuế môi trường
Để quản lý và BVMT, những công cụ thường được sử dụng như: công cụ hành chính, hình sự, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật và công cụ giáo dục truyền thông về môi trường. Mặc dù không có công cụ đơn lẻ nào có thể được coi là công cụ tốt nhất để giải quyết các thách thức về môi trường, nhưng các nước OECD đang có xu hướng ngày càng tăng trong việc sử dụng công cụ thuế liên quan đến môi trường65.Điều này có thể được lý giải xuất phát từ ưu điểm của công cụ kinh tế, trong đó cócông cụ thuế, đối với lĩnh vực BVMT. Các công cụ hành chính, hình sự mặc dù cókhả năng kiềm chế tác động tiêu cực của các chủ thể đến môi trường nhưng không có khả năng bù đắp các chi phí mà xã hội đã phải bỏ ra để khắc phục những thiệt hại đối với môi trường. Ngoài ra, các công cụ hành chính chỉ đảm bảo việc tác độngđến môi trường trong tiêu chuẩn cho phép mà không khuyến khích các chủ thể cónhữngđiềuchỉnhvềnhận thức và hành vi nhằmcảithiện tình hình (nhưđổimới công nghệ thân thiện hơn với môi trường, hạn chế sử dụng các nguyên vật liệu gâyônhiễm môi trườngđểsản xuất các sản phẩm sạch hơn, …)66. Việc lạm dụng các công cụ tác động có tính chất công quyền, coi nhẹ các công cụ có tính chất kinh tếdễ dẫn đến thất bại trong BVMT ở Việt Nam67.
Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy bên cạnh các công cụ hành chính, hình sựvà các biện pháp tuyên truyền mang tính giáo dục, khuyến nghị, các công cụ kinh tếđangđượcsửdụngphổbiến baogồmthuế môi trường, phí môi trường, quotaônhiễm (hay còn gọi là giấy phép chuyển nhượng quyền được thải), hệ thống đặt cọc
– hoàn trả, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services, viết tắt làPES), nhãn môi trường.68
Đánh vào các đối tượng gây tác động xấu đến môi trường, về mặt lý luận, vai trò của thuế môi trường được thể hiện ở các khía cạnh sau:
65Organisation for economic co-operation and development (2011), Taxation, Innovation and the Environment, A policy brief, p. 1.
66 Trần Vũ Hải (2009), Tlđd, tr. 23-30.
67 Chu Hoa (2006), “Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01-2006, tr. 66-71.
68 Tình hình áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên thế giới: Phí sử dụng môi trường: 100% các nước áp dụng, trợ giá: 65%, thuế môi trường: 40%, phí gây ồn: 50% (theo Chu Hoa trong bài viết đã trích dẫn).
Một là, thuế môi trường góp phần tăng cường trách nhiệm, nâng cao nhận thức BVMT của tổ chức và cá nhân. Tác động tích cực này của thuế môi trường có thểđược lý giải như sau:
Hậu quả của ô nhiễm môi trường là những tác động tiêu cực tới sức khỏe cộngđồng,sảnxuất nông nghiệp, gây ra những thiệthạikhôngnhỏvềkinhtếvà ảnh hưởngxấuđếncáchệsinh tháitựnhiên. Theo đánh giácủaNgân hàngthếgiới (WB), Việt Nam cóthểphải chịutổnthất doônhiễm môi trường lênđến5,5% GDP mỗi năm. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của Cục Y tế, Bộ Giao thông vận tải, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí đối với dân nội thành Hà Nội ước tính là66,33 triệu USD/năm, đối với dân nội thành thành phố Hồ Chí Minh là 70,96 triệu USD/năm69. Tuy nhiên, môi trường thường lâm vào “bi kịch tài sản chung”70. Mặc dù hầu hết tài nguyên thiên nhiên là đối tượng trao đổi trên thị trường nhưng giá của những giao dịch này được xác định rất thấp, điều đó dẫn đến việc khai thác quá mức các tài nguyên này.Đốivớimột sốsảnphẩm môi trường, như không khí và tiếngồn, thì không có thị trường và do đó không có giá cả. Chính vì vậy, cộng đồng và cánhân thường xem cácsảnphẩm này là miễn phíđểrồi“mạnhaingườiấydùng”. Chất lượng không khí là tài nguyên chung được chia sẻ với các thế hệ tương lai vàhiệu ứng nhà kính là hệ quả của việc đánh giá thấp những chi phí mà các thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu do hành vi của chúng ta hôm nay71. Xuất phát từ những đặc thù trên của môi trường, việc buộc các chủ thể phải tính đến yếu tố ngoại tác trước khi ra các quyết định là rất cần thiết nhằm nâng cao ý thức tiết kiệm khi khai thác môi trường.
Để “sửa chữa” những tác động tiêu cực do sự hiện diện của ngoại tác gây ra, thuế môi trường sẽ nội hóa các chi phí ngoại tác vào giá thành sản phẩm hàng hóa khiến cho giá cả hàng hóa phản ánh đầy đủ hơn những chi phí mà xã hội phải bỏ rađể khắc phục ô nhiễm môi trường. Bằng cách này, nguyên tắc “người gây ô nhiễm
69 Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam (phần Lời nói đầu).
70 Khái niệm này chỉ thực tài nguyên chung được tiếp cận, khai thác theo kiểu “ai đến trướcđượchưởngtrước”,thiếu kiểm soát. (Xem: Philippe Bontems và Gilles Rotillon,ngườidịch Nguyễn Đôn Phước, Kinh tế học môi trường, Nxb Trẻ, 2008, tr. 29-30).
71 Philippe Bontems và Gilles Rotillon (2008), người dịch Nguyễn Đôn Phước, Sđd, tr. 36.
phải trả tiền” (the polluter pays principle, viết tắt là PPP) được thực hiện. Với thuếmôi trườngđượccộng vào giá hàng hóa, cácchủthểgâyônhiễm và cácchủthểliên đới phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ72. Người tiêu dùng cũngsẽphải cân nhắc khilựachọn các hàng hóa ít gâyônhiễm môi trường với giá cao hơn ở mức hợp lý hoặc sử dụng tiết kiệm hơn các sản phẩm gâyô nhiễm. Thông qua đó, việc BVMT gắn kết chặt chẽ với quyền lợi của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp.
Hai là, thuế môi trường có tác động khuyến khích cải tiến, đổi mới công nghệtheohướngthân thiện hơnvớimôi trường. Xétvềkhía cạnh lý luận, thuế môi trường làm cho giá nhiên liệu tăng,từđósẽthúcđẩyviệc nghiêncứutìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điềuđó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới. Ví dụ, Mỹ có thuế đánh vào HCFC đã giúp khuyến khích phát triển các sản phẩm hóa học thaythếvà sauđóđượcxuất khẩu. ThuếcủaThụyĐiểnđánh vàodầudiesel cósulfur đã giúp thúc đẩy phát triển các loại dầu mới, ít ô nhiễm hơn. Như vậy, thuếmôi trường cóthểgiúp dịch chuyểnnềnkinhtếtheohướngsửdụng có hiệuquảhơn đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá các sản phẩm tựnhiên. Thuế môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng nếu biết sử dụng công cụ này một cách hiệu quả.73
Ba là, thuế môi trường góp phần tăng thu NSNN. Thuế BVMT được ban hành góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam theo hướng toàn diện, bao quát các hoạt động kinh tế – xã hội, đa dạng các sắc thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó, tỉ lệ ngân quỹ được trích lập để chi cho công tác BVMT, thực hiện chính sách kinh tế – xã hội cũng tăng lên.
Trướckhi Luật Thuế BVMT năm 2010đượcban hành, các loại phí BVMT như phí xăng, dầu, phí BVMT đối chất thải rắn, phí BVMT đối với hoạt động khai
thác khoáng sản, phí BVMTđốivớinướcthải,…cũng góp phần huyđộngđóng góp tài chính của những đối tượng xả thải mà không tự mình xử lý chất thải, hỗ trợ
72 Nguyễn Lâm Trâm Anh và Võ Trung Tín (2014), “Thuế bảo vệ môi trường – Hình thức thực hiện nguyêntắc“ngườigâyônhiễm phảitrảtiền”trong pháp luật môitrường”,TạpchíNghiên cứu Lập pháp, số 16/2014.
73 Bùi Đường Nghiêu (2006), Sđd, tr. 73.
thêm chi phí làm sạch môi trường. Tuy nhiên, nguồn thutừphí cònrấthạnchế. Tổng thu các khoản phí BVMT năm 2008 là 1.224tỷ đồng.Nếu tính cả số thutừphí xăng dầu 9.000 tỷ đồng/năm thì tổng số thu là 10.224 tỷ đồng/năm. Hàng năm, Nhà nước dành 1% tổng chi ngân sách nhànước(tươngđương4.000 tỷđồng)đểchisựnghiệp BVMT. Trong khi nhucầutài chính cho BVMTrấtlớn. Tính riêng nhu cầu cho các đề án tổng thể cải tạo môi trường và chương trình xử lý ô nhiễm ởcác làng nghề, khu công nghiệp vào khoảng 17.678 tỷ đồng/năm.Nếutính cả nhu cầuđầutư xử lý chất thải sinh hoạttạicác khu vực dân cư tập trung,đầu tưphục hồimôi trường trong khai thác khoáng sản, trồng rừng và tái trồng rừng,bảotồn thiên nhiên và đa dạng sinh học thì nhu cầu tài chính cho BVMT của Việt Nam hiện nay là rất lớn.
Đốivớicácsắcthuế có liên quanđếnmôi trường (như thuế thu nhập doanh
nghiệp, …), mục tiêu BVMT chỉ là mục tiêu lồng ghép chứ không phải là mục tiêu chính. Vì vậy, việc khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường, khuyến khích đầu tư vào các dự án làm sạch môi trường, không thu thuế nhập khẩu hoặc thu mức thuế suất thấp khi mua các sản phẩm, thiết bị liên quan đến hoạt động BVMT chỉ góp một phần nào đó vào mục tiêu BVMT chứ chưa tác động trực tiếpđếnhành vi tiêu dùng và hoạtđộngsảnxuất cácsảnphẩm gây tácđộngxấuđến môi trường.74
Thuế môi trường thu vào các sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường sẽgóp phần khắc phụcđượcnhữngnhượcđiểmtrêncủahệthống thuế hiện hành. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các hiệp định thương mạitựdođượcký kết, nhiềusắcthuế phảicắtgiảm thuế suất, nhiều ưuđãithuếquan được thực thi, thuế môi trường được kỳ vọng sẽ là giải pháp hữu hiệu đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân quỹ.
1.2. Nguyên tắc, cấu trúc và các yếu tố chi phối pháp luật thuế môi trường 1.2.1. Các nguyên tắc của pháp luật thuế môi trường
Kinh nghiệm xây dựng chính sách thuế ở nhiều nước cho thấy, việc thiết kế hệthống pháp luật thuế như thế nào để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, bao giờ cũng
74 Thuyết minh chi tiết dự án Luật Thuế bảo vệ môi trường tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII.
gắnliềnvớicác nguyêntắcđánh thuế. Nói cách khác, các nguyêntắcđánh thuếluôn được xem là một phần không thể thiếu trong cấu trúc hoàn chỉnh củamột hệthống pháp luật thuế. Các nguyên tắc này vừa là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện chính sách thuế, vừa là nền tảng cho việc thể chếhóa bằng pháp luật đối với hệ thống thuế quốc gia.75 Theo Michel Bouvier (2005), nguyên tắc đánh thuế bao gồm các nguyên tắc hiến định và các nguyên tắc không cótính hiến định. Các nguyêntắchiếnđịnhbao gồm: nguyêntắcluậtđịnhcủathuế, nguyên tắc bình đẳng trước thuế, nguyên tắc tự do, nguyên tắc về sự cần thiết của thuế, nguyên tắc niênđộ của thuế,nguyên tắc đánh thuế theo khả năngcủangười nộp thuế, nguyên tắc lũy tiến của thuế, nguyên tắc tôn trọng quyền được tự vệ của người nộp thuế. Các nguyên tắc không có tính hiến định như: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc không có hiệu lực hồi tố của Luật thuế, nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc thẩm quyền liên đới của cơ quan thuế.76
Pháp luật thuế môi trường là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế, vì vậy, pháp luật thuế môi trường cần tuân thủ các nguyên tắc cơbản củapháp luật thuế. Bên cạnhđó,pháp luật thuế môi trường cầnđảm bảocác nguyêntắc đặc thùsau:
nguyên tắc phát triển bền vững và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Do mục tiêu và dung lượng có giới hạn của luận án, người viết xin chỉ tập trung phân tích các nguyên tắc pháp lý đặc thù của thuế môi trường.
1.2.1.1. Nguyên tắc phát triển bền vững
Phát triển thường được hiểu là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Khái niệm phát triển bao gồm một số nội dung:
i) Phát triển cóthểlàmộtquá trìnhtựthân, không cósựtácđộngcủacon người, đó là những biến đổi, phát triển của tự nhiên. Phát triển cũng có thể là một quá trình nhân tạo, do con người tác động vào các yếu tố tự nhiên để làm cho biến
75 Nguyễn Văn Tuyến (2007), “Bản chất của thuế và mô hình hệ thống pháp luật thuế hoàn hảo”, Chuyên đề của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Thị Ánh Vân (chủ nhiệm đề tài), Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007, tr. 66-85.
76 Michael Bouvier (2005), Sđd, tr. 59-86. PhạmThịGiang Thu (chủ nhiệmđềtài), Viện
Khoa học pháp lý (2013), Pháp luật tài chính công Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện,
Đề tài khoa học cấp Bộ, tr. 7 – 10.
đổi. Trong đời sống xã hội, phát triển với ý nghĩa là sự biến đổi do tác động của con người là phổ biến, bởi con người luôn luôn tìm cách tạo ra sự phát triển để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của mình.
ii)Mọisựvật, hiệntượngđềucóthểởtrongsựbiếnđổihayđượclàm cho biếnđổi.Dođó,quá trình phát triểnđượcdiễn raởmọimặt: phát triểntựnhiên,
phát triển kinh tế, phát triển văn hóa xã hội, phát triển an ninh quốc phòng, …77
Những tai họa thiên nhiên (mưa axit, lỗ thủng tầng ozon, hiệu ứng nhà kính,
…) mà con người phải gánh chịu đã làm trỗi dậy ý thức về BVMT, điều này đượcđánh dấu bởi Hội nghị thế giới đầu tiên về môi trường ở Stockholm năm 1972. Khái niệm phát triển bền vững cũng ra đời từ khi con người nhận thức được mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường. Hoạt động phát triển có tác động mạnh mẽ đến môi trườngvớibiểu hiện: môi trường tự nhiênđược cảitạo tích cực, phục vụ cho nhu cầu của con người, đồng thời cũng mang lại nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Ngược lại, suy thoái, ô nhiễm môi trường cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Chính những mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển đãdẫn đến sự xuất hiện các quan niệm và các lý thuyết khác nhau về phát triển.
Một là, lý thuyết đình chỉ tăng trưởng có nội dung làm cho tăng trưởng kinh tếbằng không (0) hoặc mang giá trị âm (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của tráiđất.
Hai là, lý thuyết về phát triển bền vững có nội dung khuyến khích phát triển kếthợphài hòavớivấnđềbảovệ,táitạomôi trườngđểngăn chặnsựsuy thoái, thảm họa môi trường.
Được đề xuất trong Báo cáo Bruntland năm 198778 của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển, khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) đượcđịnhnghĩa nhưmộtsựphát triển cho phép thỏa mãn những nhucầuhiện nay màkhông làm phương hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ mai sau79. Luật BVMT năm 2014tạiKhoản 4Điều3 cũngđưara khái niệm phát triểnbền
77 Lê Hồng Hạnh (chủ nhiệm), Viện Khoa học pháp lý (2012), Đề tài Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư, tr.15.
78 Báo cáo này còn được gọi là Bản báo cáo về tương lai chung của chúng ta (Our common future report).
79 Philippe Bontems và Gilles Rotillon, người dịch Nguyễn Đôn Phước (2008), Sđd, tr. 164.
vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khảnăng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT. Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được yếu tố cơ bản của phát triển bền vững là quyền phát triển vàsự cần thiết phải chăm sóc môi trường. Nói cách khác, kinh tế – xã hội – môi trường là ba mặt của sự phát triển, có tác động lẫn nhau và nếu duy trì được sự cân đối giữa chúng thì tạo ra được sự phát triển bền vững. Phát triển kinh tế, phát triển xã hội làmục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của các thể nhân, pháp nhân, của mỗi quốc gia cũng nhưcủatoàn nhân loại nhằmđápứngcác nhucầuhiện tại, còn BVMT làyếutốquyếtđịnhmứcđộảnhhưởngđếnkhảnăngđápứngnhucầucủacácthếhệmai sau. Phát triển kinh tế không được hủy hoại văn hóa, tạo ra bất công xã hội, gia tăng cách biệt giàu nghèo và tàn phá môi trường. Các chính sách phát triển kinh tế, quy
hoạch vùng và đô thị, khai thác tài nguyên, … vì thế phải được thiết kế trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn, có xét đầy đủ đến các khía cạnh kinh tế – văn hóa, xã hội – môi trường, sao chosựphát triểncủangày hôm nay phải là tiềnđềchosựphát triển của ngày mai, chứ không phảilà sựtàn phá, hủy hoại và tai ương mà thếhệsau phải gánh chịu. Phát triển bền vững phải là sự đồng tiến hóa của tự nhiên và xã
hội dưới hình thức chỉnh thể tự nhiên – xã hội, trong đó những tiến bộ xã hội trong mỗi bước đi không gây tác hại cho môi trường và là cơ sở bảo tồn cho cả sinh thái và nhân loại.80
Việt Nam đang trong quá trình tăngtốcđểphát triển theokịpcác quốc gia trong khuvựcvàthếgiới nên nhucầusửdụng khốilượnglớntài nguyên thiên nhiên là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, chúng ta không thể tăng trưởng bằng mọi giá, không thể để lại cho con cháu một đất nước với môi trường bị hủy hoại, của cải nghèo nàn. Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ xác định các quan điểm chỉ đạo về phát triển bền vững như sau:
i) Phát triểnbềnvững là yêucầuxuyên suốt trong quá trình phát triểnđất nước; kếthợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinhtế vớiphát triển xãhội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo
80 Lê Hồng Hạnh (chủ nhiệm, 2012), Tlđd, tr.17, 18.
đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vữngchắc độc lập, chủquyền quốc gia. Việc xây dựng, thực hiện các chiếnlược,chính sách,kếhoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.
ii) Phát triểnbềnvững làsựnghiệpcủatoànĐảng,toàn dân, cáccấpchính quyền, cácbộ,ngành vàđịaphươngcủacác cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể, xãhội, các cộngđồngdân cư vàmỗingườidân. Huyđộngmọinguồnlựchội, tăng cuờng sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và các bên liên quan nhằmđảmbảothực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
iii) Conngườilà trung tâmcủaphát triểnbềnvững. Phát haytốiđa nhântốcon người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bên vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh xây dựngnềnkinhtếđộclậptựchủvàchủđộnghộinhập quốctếđểphát triển bền vững đất nước.
iv) Tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bìnhđẳngđểphát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung vàđượctham gia, đóng góp vàhưởnglợi,tạora những nền tảngvậtchất, tri thức và văn hóatốtđẹpcho những thế hệ mai sau. Không để ai bị bỏ lại phía sau, tiếp cận những đối tượng khótiếpcậnnhất trước, baogồmtrẻem,phụnữ,ngườicao tuổi,ngườinghèo, người khuyết tật, đồng bào vùng cóđiều kiệnkinh tế – xãhộikhó khăn, vùng biên giới, hải đảo và những đối tượng dễ bị tổn thương khác.
v) Khoahọcvà công nghệ,đặcbiệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vàchuyển đổi số quốc gia sẽ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước. Công nghệ hiệnđại,mạch và thấn thiện với môi truờng cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất.
Đểthực hiện nguyêntắcphát triểnbềnvững, pháp luật thuế môi trườngcầnđáp ứng các yêu cầu sau:
– Thiếtkếthuế môi trườngcầnhợplýđểthuế môi trường thựcsựtrởthành công cụ điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng giảm dần hoặc hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường.
– Tác động phân phối và tái phân phối của thuế môi trường là vấn đề cần đượcđặc biệt chú trọng. Nghiên cứu của OECD (2007) chỉ ra rằng một số loại thuế xanh có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa thiết yếu như: điện, xăng, dầu, phương tiện giao thông cá nhân, … có tác động lũy thoái lên thu nhập của các hộ gia đình.Hộgia đình thu nhập thấp có xu hướng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn hộ gia đình khágiảvìhọphải dành phầnlớnthu nhậpcủamìnhđểchitrảcho các hàng hóa thiết yếu này. Như vậy, tỉ lệ nộp thuế môi trường so với thu nhập của các gia đình nghèo sẽ cao hơn các gia đình khá giả, trong khi các gia đình khá giả lại thường sửdụng nhiều hàng hóa thiết yếu hơn các gia đình nghèo.81 Rõ ràng là những gia đình giàu có tiêu thụ điện, sử dụng ô tô riêng nhiều hơn những gia đình nghèo nhưng sốthuế môi trường họ phải nộp chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng thu nhập của họ.
Để giảm bớt những hạn chế do tác động tái phân phối thu nhập của thuế môi trường, song song với việc ban hành luật thuế môi trường cần xây dựng các chính sách an sinh xã hội đảm bảo công bằng cho người nghèo.
– Hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế và BVMT là một yêu cầu quan trọngđốivớichính sách thuế môi trường. Cóthểthấy làkhảnăng cạnh tranhcủacác ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực khi thuếmôi trườngđượcáp dụng.Đặcbiệt là khi cácnướckhác không áp dụngsắcthuếnày thì hàng hóa nhập khẩu từ các nước đó sẽ có lợi thế hơn so với hàng hóa cùng loại ở trong nước phải chịu thuế môi trường.
1.2.1.2. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Nguyêntắcngườigâyônhiễm phảitrảtiền (tiếng Anh là the Polluter pays principle, viết tắt là PPP) xuất hiện lần đầu tiên trong khuyến nghị của OECD năm 1972: “Nguyêntắcđượcsửdụngđểphânbổchi phícủacông tác phòng chốngônhiễm và chi phí cho các biện pháp kiểm soátônhiễm,đểkhuyến khíchsửdụng
81 OECD (2007), The political economy of environmentally related taxes, policy brief. Source
http://home.cergeei.cz/richmanova/UPCES/OECD_Policy_Brief_The%20political%20Economy% 20of%20Environmentally%20Related%20Taxes.pdf Access date: 03/6/2017
hợp lý các nguồn tài nguyên khan hiếm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và để tránh biến dạng trong thươngmạivàđầutư quốctế,là nguyêntắcngườigâyônhiễm phải trả tiền”.82 Theo nguyên tắc này, người gây ô nhiễm phải chịu chi phí cho các biện pháp phòng chống, kiểm soátônhiễm do công quyền quyếtđịnhnhằmđảm bảomôi trườngởtrong tình trạng cóthểchấp nhậnđược.Nói cách khác, chi phíthực hiện các biện pháp nêu trên phải được phản ánh trong giá cả hàng hóa, dịch vụgây ra ô nhiễm. Các biện pháp này cũng không thể được Chính phủ hay cộng đồng xãhộitrợcấpbởitrợcấpcho hành vi gâyônhiễmsẽgây nên biến dạng trong thương mại và đầu tư quốc tế.83
PPP ra đời xuất phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại hàng hóađặc biệt84, thường được gọi là hàng hóa công, nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Có thể lấy một ví dụ đơn giản: Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa, nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn “sử dụng” công viên. Thị trường tưnhân thường không cung cấp loại hàng hóa mang tính chất công cộng vì khó có thểbắtmọingườitrảtiền khisửdụng hàng hóa này. Vì vậy, Nhànướccầnphải vào cuộcđểbuộc cácchủthểphảitrảtiền khi khai thác,sửdụng môi trường, sauđóNhà nước sẽ dùng số tiền này để tài trợ cho các dự án BVMT.85
Ngoài ra, PPP còn được xây dựng dựa trên một luận điểm quan trọng của kinh tế học pháp luật, đó là “con người duy lợi”: con người luôn có xu hướng lựa chọn cách hànhxửcólợinhất cho mình. Khi phảitrảtiền cho việc gâyônhiễm, con người sẽ cân nhắc lựa chọn gây ô nhiễm ít đi để số tiền phải trả sẽ ít đi tương ứng hoặc lựa chọn cách làm khác không gây ô nhiễm để không phải trả tiền. Đánh vào
82 Nguyễn Lâm Trâm Anh, Võ Trung Tín (2014), “Thuế bảo vệ môi trường – Hình thức thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong pháp luật môi trường”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 16 (272) – 2014, tr. 37.
83 Jonathan Remy Nash, Too much market? Conflict between tradable pollution allowances and the Polluter pays principle, Havard Environmental Law Review. Source:
https://heinonline.org/ HOL/Page?handle
=hein.journals/helr24&div=16&start_page=465&collection=journals&set_as_cursor=0&men_tab= srchresults# Access date: 27/5/2017.
84 Nguyễn Lâm Trâm Anh, Võ Trung Tín (2014), Tlđd, tr. 36.
85Jo Beth Mertens (2003), Taxes and public goods, Chương trình giảng dạy kinh tếFulbright.
lợi ích kinh tế của con người là trực tiếp tác động đến cách hành xử của con ngườiđối với môi trường, đó là ý nghĩa thiết thực của PPP.
Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1972 cho đến nay nội dung của PPPđã được hiểu theo nghĩa rộng hơn: người gây ô nhiễm không chỉ phải chịu các chi phí phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm mà còn phải có trách nhiệm chi trả cho việc khắc phục các thiệthạimôi trường. Kiểm soátônhiễm cũngđượcmởrộng hơn, không chỉ là kiểm soát ô nhiễm tại nguồn mà còn là kiểm soát ô nhiễm toàn bộ vòngđờisảnphẩm.Ônhiễm không phảichỉlà các thiệthạithựctếxảyra mà còn bao gồm cả những nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn trong các hành vi có khả năng gây tổn hại cho môi trường. Vì vậy, PPP cóthểđượchiểu là nguyêntắcbao quát toànbộtrách nhiệm môi trường của người gây ô nhiễm.86
Hiện nay, PPP đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế về môi trường, PPP cũng giữ vai trò quan trọng trong chính sách và pháp luật môi trường của Cộng đồng chung Châu Âu (EC). Năm 1992 Hội nghị Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro đã đưa ra Tuyên bố chung về môi trường và phát triển, trong đó PPP được xácđịnhlà côngcụcủahệthống pháp lý quốctếnhằmmụctiêu phát triển bền vững.87 Nhiều quốc gia đã nội hóa PPP trong pháp luật nước mình, như Luật không khí sạch (the Clean Air Act 1970), Luật nước sạch (the Clean Water Act 1977), Đạo luậtvềTrách nhiệm pháp lý,BồiThường và Phảnứngtoàn diệnvềmôi trường
(Comprehensive Environmental Response, Compensation, and Liability Act 1980 –CERCLA) của Hoa Kỳ, Luật Quản lý môi trường quốc gia của Nam Phi, Luật Bảo vệmôi trường năm 1995củaBangladesh, Luật Môi trường năm 1992củaThái Lan…88
PPP là một nguyên tắc kinh tế trong lĩnh vực môi trường, vì vậy, các công cụthực hiện PPP chủ yếu là các công cụ kinh tế như: thuế, phí môi trường, ký quỹ, đặt
86 European Commission (2012), Principles of EU Environmental Law, The Polluter pays principle, Workshop on EU Legislation, Cooperation with national judges and prosecutors in the field of EU Environmental Law.
87 Tuyên bố chung về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc được gọi tắt là Tuyên bốRio.
88 Jonathan Remy Nash, Too much market? Conflict between tradable pollution allowances and the Polluter pays principle, Havard Environmental Law Review; Nguyễn Lâm Trâm Anh, VõTrung Tín (2014), Tlđd, tr. 37, 38.
cọc–hoàn trả,hệthống quyền phát thải cóthểchuyển nhượng,… Như vậy, thuếmôi trường là một trong những công cụ thực hiện PPP. Để đảm bảo PPP, pháp luật thuế môi trường cần thể hiện những nội dung sau:
-Mứcthuế môi trườngđốivớitừngsảnphẩm gâyônhiễm phải phản ánhđược mức độ tác động đến môi trường của sản phẩm đó, nghĩa là mức thuế phải đủđể bù đắp các chi phí xã hội bỏ ra để khắc phục những tổn hại môi trường mà sản phẩm gây ra.
– Phạm vi đối tượng chịu thuế môi trường cần mở rộng nhiều nhất đến mức cóthể được để bao quát các đối tượng gây ô nhiễm.
-Chủthể(thựcsự)chịu thuế môi trường phải làchủthểcó hành vi gây tácđộng xấu cho môi trường. Điều này liên quan đến vấn đề “chuyển thuế”, một chủ đềđã được nhiều học giả bàn luận. Chuyển thuế là “hiện tượng mà một người phải nộp thuế cho Nhà nước, nhưng lại chuyển thuế đó cho người thứ ba, và đối tượng này,đến lượt mình, cũng có thể lại chuyển thuế sang cho người khác nữa; theo cách này, người nộp thuế được Luật chỉ định chỉ phải ứng trước tiền thuế và sau đó được hoàn lại từ những người không có mối liên hệ gì với cơ quan thuế, nhưng lại thực sự chịu thuế”.89 Do đó, nhà làm luật cần thiết kế thuế môi trường sao cho chủ thể chịu thuếphải là chủ thể thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường thì mới đảm bảo mục tiêuđiều tiết của sắc thuế này.
1.2.2. Cấu trúc pháp luật thuế môi trường
Pháp luật thuế môi trường có thể được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh các quanhệxã hội phát sinh giữa ngườinộpthuếvớicơ quan quản lýthuế và cácchủthểkhác có liên quan trong quá trình hành thu thuế môi trường. Xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hành thu thuế môi trường, nhà làm luậtsẽdựliệu các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh tương ứng. Vì vậy, có thể phân tích cấu trúc pháp luật thuế môi trường dựa trên các quanhệxãhộiphát sinh trong lĩnhvựcnày. Hoặcmộtcách tiếpcậnkhác, thông dụng hơn, theo cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung của các nướcđều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của
89 Michael Bouvier (2005), Sđd, tr. 59-86.
cácsắcthuế tronghệthống thuế; các quyđịnhvềhình thứctổchức vàđảmbảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế.90 Cấu trúc pháp luật thuế môi trường cũng tuân theo mô tuýp trên của hệ thống pháp luật thuế.
1.2.2.1. Các quy định về nội dung pháp luật thuế môi trường
Các quyđịnh vềnội dung pháp luật thuế môi trường thực chất là những quyđịnh nhằm xác định ai là người nộp thuế, họ phải nộp thuế cho những sự kiện nào, hành vi nào và mức thuế phải nộp là bao nhiêu. Đó là những quy định về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế và căn cứ tính thuế.
– Quy định về đối tượng chịu thuế môi trường
Đốitượngchịu thuế môi trường là các hàng hóa, dịchvụgâyônhiễm môi trường hoặc là hành vi gây tác động xấu đến môi trường (như xả thải ra môi trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên, …). Tùy thuộc vào khả năng quản lý thuế của từng quốc gia mà phạm vi đối tượng chịu thuế sẽ được pháp luật quy định rộng hay hẹp. Thông thường,ởcác nước phát triển, luật thuế môi trường bao quátđượchầuhết các đối tượng gây ô nhiễm bởi cơ quan quản lý thuế của các nước này nhận được sựhỗ trợ hữu hiệu từ các phương tiện khoa học công nghệ tiên tiến, người dân có nhận thức cao về BVMT và thuế môi trường cũng đã được áp dụng trong một thời gian tương đối dài so với các nước đang phát triển. Ngược lại, thuế môi trường chỉ mới xuất hiệnởcácnướcđang phát triển trong những nămgầnđâynênhầunhưchỉđược áp dụng mang tính “thử nghiệm” trên một số đối tượng nhất định (phổ biến làáp dụng với xăng, dầu, than đá, thuốc lá).
– Quy định về người nộp thuế môi trường
Pháp luật các quốc gia thường quy định người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân sảnxuất, kinh doanh các hàng hóa, dịchvụchịu thuế hoặc cácchủthểthực hiện hành vi gây tác động xấu đến môi trường. Nhìn chung, quy định về người nộp thuếthường hướng đến việc đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý thu thuế.
– Quy định về căn cứ tính thuế môi trường
Theo Herrara Molina (2012), căn cứ tính thuế môi trường chỉ ra những nguyên nhân gây tácđộngxấuđếnmôi trường màsắcthuế nàyhướngđếnviệchạnchế
90 Nguyễn Văn Tuyến (2007), Tlđd, tr. 64-85.
những nguyên nhân đó xảy ra. Căn cứ tính thuế được đo lường bằng đơn vị tiền tệ(ví dụ: giá của phương tiện giao thông) hoặc bằng đơn vị hàng hóa bị đánh thuế (vídụ: thể tích năng lượng hóa thạch được sản xuất ra) và có thể được phân biệt với sựkiện pháp lý phát sinh nghĩavụthuế.91 Theo TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007), quyđịnh về căn cứ tính thuế chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thuế cụ thể cho một chủ thể nộp thuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế.92
Pháp luật thuế môi trường các quốc gia thường quy định căn cứ tính thuế bao gồm số lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc hàm lượng chất gây ô nhiễm và thuế suất (hầu hếtđềuquy định thuế suất tuyệtđối).Đâylà lựa chọn của nhiều quốc gia khi xây dựng cơ sở tính thuế môi trường vì cách quy định này giúp tiết giảm chi phí quản lývà thể hiện được “thái độ” của Nhà nước đối với từng đối tượng gây ô nhiễm.
1.2.2.2. Các quy định pháp luật về quản lý thuế môi trường
Theo TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007), các quyđịnhvềhình thứctổchức vàđảm bảo thực hiện luật thuế thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuếvà quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng nhất,tấtcảcác quyđịnhliên quanđếnhoạtđộngnàyđềucóthểđược gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào quanđiểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế.93 TS. Nguyễn Thị Thương Huyền (2008) cho rằng: pháp luật thuế bao gồm pháp luật vật chất hay còn gọi pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi pháp luật hình thức, trongđópháp luậtnộidung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế.94
91Herrera Molina, P.M., (2012) Design options and their rationales, in Milne., J., E., Andersen, M., S., (eds.) (2012) Handbook of Research on Environmental Taxation, Edward Elgar Publishing Limited, Cheltenham/Massachusetts.
92 Nguyễn Văn Tuyến (2007), “Bản chất của thuế và mô hình hệ thống pháp luật thuế hoàn hảo”, tlđd, tr. 64-85.
93 Nguyễn Văn Tuyến (2007), tlđd, tr. 64-85.
94 Nguyễn Thị Thương Huyền (2008), “Luật quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 19-2008, tr. 51-55.
Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện luật thuế môi trường cũng tương tự như pháp luật quản lý thuế nói chung, bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau đây:
– Các quy định về thủ tục hành chính thuế môi trường bao gồm: đăng ký, kêkhai, tính thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quyết toán thuế, miễn, giảm thuế, truy thu vàhoàn thuế, xóa nợ tiền thuế, …
Đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu và hoàn thuế,
… là những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuếcủa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước đây, theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, các hoạtđộngnày thườngđượcthực hiện bằng các quyếtđịnhhoặc hành vi hành chínhđơnphươngcủaNhànướcvàbấtchấp tháiđộcủangườinộpthuế.95 Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX nhiều nước đã chuyển sang áp dụng cơchế tự khai, tự nộp thuế. Cơ chế tự khai, tự nộp thuế được xây dựng trên nền tảng sựtuân thủ của người nộp thuế, được cụ thể bằng việc người nộp thuế tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế mà pháp luật quyđịnh,cơ quan thuế và các thiết chế liên quan được tổ chức và thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắcđó96. Việc chuyển sang mô hình hành thu thuế theo cơchế tựđăng ký, tự khai,tựtính và tự nộp là bước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính thuế ởcác nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Xét từ phương diện pháp luật, các quyđịnhvềcơchếtựđăng ký,tựkê khai,tựtính vàtựnộpthuế nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền năng cho người nộp thuế, đồng thời thông quađócũngđềcaoýthức trách nhiệmcủahọtrong quá trình thực hiện nghĩavụtài chính với Nhà nước.97
– Các quy định về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật thuế môi trường bao gồm: quản lý thông tinngườinộpthuế, thanh tra, kiểm tra thuế vàxửlý vi phạm pháp luật thuế, khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp phát sinh trong quản lý thuế.
95 Nguyễn Văn Tuyến (2007), tlđd, tr. 64-85.
96 Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam –Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 20.
97 Nguyễn Văn Tuyến (2007), tlđd, tr. 64-85.
Thông tin về người nộp thuế là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mứcđộ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế98. Vì vậy, quản lý thông tin về người nộp thuế là vấn đề đặc biệt quan trọng khi thực hiện cơchếtựkhai,tựnộpthuế.Nềntảngcủaquản lý thuế hiệnđạilàhướng đến khuyến khích tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, vì vậy phương pháp quản lý thuế được ưu tiên áp dụng là quản lý thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin tổnghợpvềngườinộpthuế vàkỹthuật quản lýrủiro.99 Thông tinvềngườinộpthuế cóthểchia thành ba nhóm: thông tin banđầuvềngườinộpthuế, thông tin trong quá trình sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, thông tin sử dụngđể đối chiếu, phân tích liên quan đến người nộp thuế.100
Thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế là những quy định thểhiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế nói riêng. Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế thường được tiến hành trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ chế “tiền kiểm”. Tuy nhiên, gần đây, những nỗ lực trong quá trình cải cách hành chính thuế đã dẫn đến việc chuyển đổi từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế “hậu kiểm”, theo đó cơ quan quản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra sau khi người nộp thuế đã tự thực hiện các thủ tục chính yếu của quá trình quản lý thuế như đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế vànộpthuế, quyết toán thuế, hoàn thuế hay xin miễn, giảm thuế.Dựatrên cơsởkếtquảthanh tra và kiểm tra, cơ quan thuế cóquyền áp dụng các chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế. Việc quy định theo hướng này không những làm giảm gánh nặng công việc cho cơ quan quản lý thuế, đảm bảo tính hợp lý của quá trình quản lý thuế mà còn tạo điều kiệnđểcơ quan thuế nâng cao tính chuyên nghiệp trong quá trình thanh tra, kiểm tra
thuế – với tư cách là những công cụ quản lý thuế hiệu quả nhất.
98 Khoản 2 Điều 69 Luật quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012 và 2016). 99 Vũ Văn Cương (2012), tlđd, tr. 102.
100 Nguyễn Đức Ngọc (2007), “Luật quản lý thuế trước vai trò tăng cường hiệu quả thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam”, Chuyên đề của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuếViệt Nam trong tiến trìnhhộinhập kinhtếquốctế,NguyễnThịÁnh Vân (chủ nhiệmđềtài), Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007, tr. 212-222.
Tranh chấp nói chung và tranh chấp về thuế nói riêng là hậu quả khó tránh của quá trình thực hiện chức năng quản lý hành chính,đặcbiệt là quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế. Sở dĩ như vậy là bởi vì, các quy định gần đây của Luật thuế cóchiều hướng gia tăng và ngày càng trở nên phức tạp hơn, cùng với nó là quá trình chuyển đổi sang mô hình Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Điều này dẫn tới hệ quả làNhà nước phải tìm cách thiết lập những cơ chế giải quyết thíchhợpđối với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thuế, thông qua đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ pháp luật thuế.
Theo thônglệ,các quyđịnhvềgiải quyết tranh chấp trong lĩnhvựcthuếthường có mục tiêu làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nhận diện đầy đủ và chính xác các loại tranh chấp giữa cơ quan thuếvớingườinộpthuế thường phát sinh trong lĩnhvựcthuế. Córấtnhiều loại tranh chấp khác nhau liên quan đến lĩnh vực thuế nhưng phổ biến nhất vẫn là những tranh chấp về cơ sởtính thuế và số tiền thuế phải nộp. Về bản chất, các tranh chấp nàyđều thuộc loại tranh chấp hành chính và có thể phát sinh trong giai đoạn thu thuế, giai đoạn hoàn thuế hoặc giai đoạn xin miễn giảm thuế.
Thứ hai, xác định các phương thức giải quyết tranh chấp về thuế giữa cơ quan thuế với người nộp thuế. Theo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, các tranh chấp vềthuế có thể được giải quyếtởgiaiđoạn tiền tốtụng (giải quyết bằng thủ tục hành chính) hoặc ở giai đoạn tố tụng tại Tòa án.
Giải quyết tranh chấpvềthuế bằngthủtụchành chính trước hết vàchủyếu baogồmviệc khiếunạivà giải quyết khiếunạihành chính về thuế. Ngoài ra, các tranh chấp về thuế cũng có thể được giải quyết bằng một số thủ tục hành chính đặc biệt như xin ân giảm thuế và giải quyết tranh chấp thông qua tư vấn trọng tài. Theo quy định của nhiều nước trên thế giới, việc giải quyết tranh chấp về thuế bằng conđườnghành chínhđượcxem là thủtụctiên quyết, nghĩa làchỉkhi nàongườinộp thuế đã tiến hành khiếu nại hành chính về thuế mà không được giải quyết hoặc được giải quyết nhưng không thỏa đáng thìhọmớicóthểđứngđơnkhởi kiệnvụtranh chấp ra tòa hành chính để yêu cầu giải quyết.
Giải quyết tranh chấp về thuế bằng thủ tục tố tụng tại tòa án được tiến hành sau khi người nộp thuế đã thực hiện khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính cóthẩm quyền. Ở Pháp, trong những năm gần đây đã từng diễn ra cuộc tranh luận vềviệc phân chia thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thuế giữa tòa hành chính và tòa tư pháp. Thậm chí, còn cóýtưởngcho rằngcầnphải thànhlậpriêngmộttòa án thuế để chuyên giải quyết những tranh chấp về thuế.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc lựa chọn tòa án nàođể giảiquyết các tranh chấp về thuế vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới.
1.2.3. Các yếu tố chi phối pháp luật thuế môi trường
Tác giả Trần Vũ Hải (2014) cho rằng, pháp luật trong quá trình phát triển chịu sựchi phốicủanhiềuyếutố khác nhau. Nhữngyếutốnày cóthểảnhhưởngtích cực hoặc tiêu cựcđếnquá trình xây dựng và áp dụng pháp luật trong những hoàn cảnh cụ thể. Rất khó để có thể xem xét hết được tất cả những yếu tố chi phối đến pháp luật thuế môi trường do sự đa dạng và tác động đan xen lẫn nhau của những yếutốnày.101 Nhưng,ởgócđộchung nhất, cóthểkhái quátđượcmộtsốyếutốchính, ảnh hưởng đến pháp luật thuế môi trường, đó là: chủ trương, đường lối phát triển kinh tế – xã hội của Đảng cầm quyền; điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và bối cảnh hội nhập quốc tế; bộ máy quản lý thuế và mối quan hệ lợi ích giữa Nhànướcvớingườinộpthuế;sựtương tác giữa cácbộphận pháp luật; vàkhảnăng chấp hành pháp luật của người nộp thuế.
1.2.3.1. Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế – xã hội của Đảng cầm quyền Pháp luật thuế môi trường chịu chi phốitừchủtrương,đườnglốiphát triển
kinh tế – xã hội của Đảng cầm quyền bởi pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền. Điều này càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với một quốc gia có một đảng chính trị duy nhất như ở Việt Nam, cùng với
101 Trần Vũ Hải (2014), Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấnđề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 66.
mộtNhànướclà hiện thâncủaquyềnlựcchínhtrịthống nhấtvớiĐảngcầm quyền102.
Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm
2016 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025 (2020)tạiĐạihộiđạibiểu toàn quốclầnthứXIIIcủaĐảngCộngsảnViệt Nam đã xác định các nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn 2021 – 2025:
“Thựchiện hạch toán giátrịcủatài nguyênđất,nước,khoáng sản, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm và suy thoái môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia. Thể chế hoá đầy đủ các nguyên tắc thị trường trong chi phí để xửlý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường, nghĩa vụ đóng góp để đầu tưtrở lại cho BVMT. Xây dựng lộ trình, cơ chế, chính sách, pháp luật để hình thành, vận hành mô hình kinh tế tuần hoàn. Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030 của Liên hợp quốc.
Sửa đổi, bổ sung các luật về thuế, phí theo nguyên tắc thị trường, gắn với cơcấu lại nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lýthuế và áp dụng mức thuế suất hợp lý, hướng tới một hệ thống thuế đồng bộ, có cơcấubềnvững,bảođảmhuyđộnghợplý các nguồnlựccho ngân sách nhànước,đồngthời góp phần thiếtlậpmôi trường kinhtế cạnhtranh phùhợpvớiquá trình hội nhập, phát triển của nền kinh tế.”103
QuanđiểmtrêncủaĐảngđãchỉra nhữngđịnhhướnglớnđốivớiviệc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế môi trường như: nguyêntắcđốixửcông bằng giữa các chủ thể nộp thuế, giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế; nguyên tắcđiều tiết hợp lý thu nhập và không lồng ghép chính sách xã hội vào chính sách thuế;
102 Nguyễn Văn Tuyến (2007), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”, Chuyên đề của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Mộtsố vấn đề lý luậnvà thực tiễn về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Thị Ánh Vân (chủ nhiệm đề tài), Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007, tr. 119-129.
103 Báo cáo đánh giákếtquảthực hiện nhiệmvụphát triển kinh tế – xãhội5 năm 2016 –
2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xãhội 5 năm 2021 – 2025, nguồn:
https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/bao-cao-danh-gia-ket-qua-thuc-hien-nhiem-vu-phat-trien-kinh- te-xa-hoi-5-nam-2016-2020-va-phuong-huong-nhiem-vu-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-5-nam-2021- 2025-621157/ ngày truy cập 01/11/2021.
nguyêntắchạch toánđầyđủgiátrịtài nguyên và các chi phí xãhộiđốivớimôi trường vào giá hàng hóa, dịch vụ.
1.2.3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và bối cảnh hội nhập quốc tế
Để đảm bảo tính khả thi của pháp luật thuế môi trường, tuân theo quy luật vềmối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này không thể tách rời điều kiện thực tại của đất nước về kinh tế – xã hội và bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Việt Nam đang trong quá trình tăngtốcđể pháttriển theokịpcácnướctiên tiến trênthếgiới nên việcsửdụng khốilượnglớntài nguyên là khôngthểtránh khỏi. Pháp luật và các công cụ chính sách nói chung, luật thuế môi trường nói riêng cần có sự điều chỉnh hợp lý để nguồn lực của đất nước được sử dụng một cách hiệu quả nhất, góp phần mang lại thịnh vượng cho Tổ quốc.
Pháp luật thuế môi trường chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trìnhhộinhập kinh tế quốc tế. Việc tham gia vào các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường và tựdo hóa thươngmạiđòihỏiViệt Nam phải có nhữngcảicách toàn diệnvềchính sách thuế, đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước vàhàng hóa nhập khẩu, giữa nhàđầutư trongnướcvà nhàđầutưnướcngoài. Bên cạnh đó, để thực hiện các cam kết quốc tế về BVMT, cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, Việt Nam cũng cần có những động thái mạnh mẽ, trước hết là xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật môi trường, để tạo ra những thay đổi tích cực của xã hội đối với vấn đề môi trường.
1.2.3.3.Bộmáy quản lý thuế,mốiquanhệlợiích giữa Nhànướcvớingười nộp thuế
Tính hiệu quả của pháp luật thuế môi trường phụ thuộc rất lớn vào sự chuyên nghiệpcủa bộmáy quản lý thuế và sự mẫn cán của công chức hành thu thuế. Bởi suy cho cùng, pháp luậtđượctriển khai áp dụng thông qua các thiếtchếcủaNhànước, những quy định pháp luật dù hợp lý đến mức nào cũng không thể được phát huy trong thực tiễn nếu bộ máy công quyền áp dụng những quy định đó một cách “méo mó” hoặc “thiên lệch” đi.
Xét về mặt hình thức, thuế là tiền, là tài sản mà người dân đóng góp cho công quyền,nhờđónềncônglựcmớicó nguồn tài chínhđểnuôidưỡngbộmáy của mình và sử dụng bộ máy đó để thực hiện các dịch vụ công phục vụ người dân. Vìvậy, mối quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế là mối quan hệ lợi ích vừa nhạy cảm, vừa gắn bó, đôi khi lại có phần mâu thuẫn nhau. Pháp luật thuế môi trường cần phảixửlý mối quanhệđóthật hài hòađểđảmbảolợiích chính đángcủacảhai bên.Đểbộmáy quản lý thuếtrởthành thiếtchếđắclựcthực hiện pháp luật thuếmôi trường, theo người viết, cần đảm bảo ít nhất hai yêu cầu: (i) pháp luật thuế môi trường cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, đặc biệt là những quy định giới hạn quyềnlựccủacông chức thuế; (ii) các chính sáchđốivớicông chức thuếcầncónhững đặc thù so với công chức các ngành khác nói chung.
1.2.3.4. Sự tương tác giữa các bộ phận pháp luật
Sựtương tác giữa cácbộphận pháp luật trong cùngmộthệthống pháp luật củaquốc gia cóảnhhưởnglớnđếnhiệulựcđiềuchỉnh pháp luậtvềthuế môi trường. Về lý thuyết, hiếm khi chỉ có một văn bản pháp luật duy nhất quy định vềmột vấn đề mà thường có sự điều chỉnh của nhiều văn bản khác nhau. Những văn bản này, khi cùng điều chỉnhvề mộtnộidung, thì sự tương thích hay xung độtsẽảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả pháp luật. Nếu các quy định giữa các văn bản mâu thuẫn nhau, việc áp dụng cũng như giải quyết tranh chấpsẽgặpkhó khăn. Tình trạng trùng lặp trong quy định (tức là những quy định như nhau trong các văn bản khác nhau) cũng làmảnhhưởngđếnviệc áp dụng vì nó khôngđảmbảotính nhất quán về căn cứ pháp lý. Ngược lại, nếu các văn bản pháp luật hỗ trợ được cho nhau, không mâu thuẫn hoặc trùnglặpthìhệthống các quyđịnhsẽminh bạch, thống nhất, dođóviệc áp dụng cũngsẽdễdàng hơn cho cácchủthểtham gia quanhệpháp luật thuế môi trường.104
Hiện nay,ởViệt Nam cũng nhưởnhiều quốc gia khác,nộidung thuế môi trường (căn cứ tính thuế, người nộp thuế, …) được quy định trong luật thuế, các vấnđề về hình thức tổ chức hành thu thuế và đảm bảo thực hiện luật thuế được quy định trong luật quản lý thuế (tuy nhiên, ở những quốc gia lựa chọn mô hình quy định nội
104 Trần Vũ Hải (2014), Tlđd, tr. 69.
dungsắcthuế và hình thứctổchức thu thuế trong cùngmộtBộluật thuếvụthìnhững nội dung này không được tách ra thành những đạo luật riêng biệt). Ngoài ra, khi xây dựng và thực hiện pháp luật thuế môi trường,cầnthiết phải xem xét các lĩnh vực pháp luật có liên quan khác như: pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật tài chính, … nhằmđảmbảotính thống nhất, đồngbộcủahệ thống pháp luật.
1.2.3.5. Khả năng chấp hành pháp luật
Khả năng chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật cóảnhhưởnglớnđếnhiệuquảpháp luật trên thực tế. Ngược lại,từviệc xem xét khả năng chấp hành pháp luật của các đối tượng chịu sự điều chỉnh, các cơ quan nhànước cóthẩm quyền sẽ có căn cứ để ban hành, sửa đổi các quyđịnhcho phù hợp với thực tiễn.
Khả năng chấp hành pháp luật phụ thuộc vào hai nguyên nhân cơ bản là nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể. Nếu các chủ thể có nhận thứcđúng, mà cụ thể là hiểu biết và vận dụng các quy định pháp luật đúng với vai trò vàý nghĩa của chúng thì sẽ góp phần phát huy hiệu quả pháp luật và ngược lại. Đối vớiý thức chấp hành pháp luật, nếu các chủ thể cố ý áp dụng sai hoặc không thực hiện các quy định pháp luật sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả pháp luật trên thực tế.105
Khảnăng chấp hành pháp luật thuế môi trườngđượcđánh giá trên hai khía cạnh chủ yếu sau:
Thứnhất, nhận thức vàýthứcvềpháp luật thuế môi trườngcủangườinộp thuế. Nếu người nộp thuế có hiểu biết đầy đủ và tuân thủ luật thuế môi trường thìpháp luậtsẽ đượcthực hiện nghiêm minh. Ngược lại, hiệu lực của pháp luật chưa cao nếu người nộp thuế chưa có nhận thức đúng hoặc cố ý không tuân thủ luật thuếmôi trường.
Thứhai,khảnăng áp dụng pháp luật thuế môi trườngcủacơ quan quản lýthuế. Hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế của cơ quan thuế có tác động rất lớn đến ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế,
105 Trần Vũ Hải (2014), Tlđd, tr. 70.
từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của pháp luật trên thực tế. Chẳng có biện pháp “giáo dục”nàotốthơn việc“làmgương”thực hiện pháp luật nghiêm minhcủacông quyền.
1.3. Những vấn đề lý luận về hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường
1.3.1. Tổng quan về hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường
Hiệuquảcủapháp luật làchủđềđượcnhiềuhọcgiảquan tâm nghiên cứu. Các học giả cổ vũ cho học thuyết kinh tế luật đề cập nhiều đến hiệu quả Pareto, đólà vị trí cân bằng lợi ích giữa các chủ thể mà nếu lệch ra khỏi vị trí đó thì việc tăng lợi ích của chủ thể này không thể không làm giảm lợi ích của chủ thể khác.106 Hiệu quả chính là mục tiêu của kinh tế luật. Trong một thế giới khan hiếm nguồn lực, làm sao để tối đa hóa lợi ích mà nguồn lực mang lại, hay nói cách khác, làm thế nào đểnguồn lực khan hiếm được sử dụng một cách hiệu quả nhất, đó chính là mối quan tâm của các nhà kinh tế luật.
Nhìn nhậntừgócđộLý luận nhànướcvà pháp luật, PGS.TS Nguyễn MinhĐoan (2001) cho rằng, hiệu quả của pháp luật là kết quả thực tế đạt được do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật mang lại trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiện ở sự biến đổi trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với những mụcđích, yêu cầu và định hướng của pháp luật, với mức chi phí thấp. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật bao gồm: i) Trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh; ii) Những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật; iii) Chấtlượngcủa pháp luật; iv) Nhữngbiến đổithực tế do sự tác động của pháp luật mang lại; v) Mức chi phíđể đạtđược các kếtquả thực tế.107 Cùng quanđiểm với PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, theo TS. Trần Thị Thu Phương (2012), hiệu quảcủavănbảnquy phạm pháp luật làkếtquảcủasựtácđộngcủavănbảnquy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu khi ban hành văn bản đó… Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật là những gì mà văn bản
106 Lê Nết (2006), Kinh tế luật, Nxb. Tri thức TP. Hồ Chí Minh, tr. 30-32.
107 Nguyễn Minh Đoan (2001), Nâng cao hiệu quả của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 22-25.
đó có thể đem lại trong cuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xãhội.108
Qua những nghiêncứutrên, cóthểthấy hiệuquảcủapháp luật và hiệuquảthực hiện pháp luật là hai cách nói khác nhau về cùng một vấn đề. Với tư duy gắn pháp luật và việc thực hiện pháp luật trong một chỉnh thể, không cắt khúc thì (quyđịnh) pháp luật là tiền đề để thực hiện pháp luật. Tính hiệu quả của pháp luật đượcđánh giá không chỉ ở góc độ xây dựng luật, chất lượng của luật mà còn ở khâu thực hiện luật.
Như vậy, có thể định nghĩa hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường là kết quả tác động của lĩnh vực pháp luật này trong mối tương quan với các chi phíbỏ ra. Kết quả tác động của pháp luật thuế môi trường có thể là tích cực hoặc tiêu cực, hoặc có thể là không có tác động đáng kể nào.
Thực tiễn lập pháp và thực hiện pháp luật cho thấy, có hai hoạt động đánh giávăn bản pháp luật: i) Đánh giá (dự báo) khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, và ii) Đánh giá hiệu quả (thực hiện) của văn bản pháp luật. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Đoan (2009), mục đích của đánh giá khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đó để có biện pháp khắc phục chúng trướchoặc sau khi ban hành.Đồngthời, đánh giákhảnăng tácđộngcủadựthảo văn bản còn là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật sau khoảng thời gian thi hành nhất định. Trong khi đó, mục tiêu và cách thức tiến hành đánh giá hiệu quả của văn bản pháp luật chính là công đoạn tổng kết những tácđộng thực tế của văn bản pháp luật đó đối với đời sống xã hội.109
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng, đánh giá hiệu quả của pháp luật nói chung và đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế môi trường nói riêng bao hàm cảnội dung đánh giá hiệu quả công tác thực hiện pháp luật. Hoạt động thực hiện pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo hiệu quả của pháp luật.
108 Trần Thị Thu Phương (2012), “Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 11 (248).
109 Nguyễn Minh Đoan (2009), “Các tiêu chí đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2009, tr. 22-28. Nguyễn Văn Vân (2015), “Bàn về các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật thuế”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2015, tr. 23-31.
Hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường có thể được xem xét, đánh giátừnhiều khía cạnh khác nhau: chính trị, kinhtế,văn hóa, xã hội, môi trường,
…Như nhiều học giả đã thống nhất, thuế là một phạm trù mang tính chính trị, kinh tế, xã hội nên tính hiệu quả của một đạo luật thuế cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà không dễ để đánh giá một cách chính xác. Vì vậy, để đánh giá và kết luận vềtính hiệu quả của văn bản pháp luật thuế môi trường phải căn cứ vào hệ thống cácđịnh mức, tiêu chí rõ ràng. Nếu xem xét hiệu quả kinh tế của các quy định pháp lývề thuế môi trường thì các lợi ích kinh tế này phải có thực, lượng hóa thành các con số cụ thể, được tính toán bằng những công thức chính xác mà không sử dụng những tính từ không xác định110.
Hiệphộikếtoán công chứng Vương quốc Anh (ACCA) (2009)đãcôngbốmộtnghiêncứu mang tên“Cácnguyêntắcthuế:TừAdam SmithđếnBarack Obama”. Nghiên cứu này đưa ra 12 tiêu chí cơ bản của một hệ thống thuế tốt, bao gồm: i) Tránh thuế, lậu thuế; ii) Tỷ lệ thuế trên GDP; iii) Đơn giản và ổn định; iv) Công khai, minh bạch và có trách nhiệm; v) Chắc chắn; vi) Tính cạnh tranh; vii) Tính hiệu quả; viii) Các quy định phải cụ thể trong từng thời kỳ; ix) Liên hệ rõ ràng giữa thuế thu được và chi tiêu tiền thuế; x) Tránh đánh thuế hai lần; xi) Quyền của người nộp thuế; xii) Thuế xanh.111 (Nội dung cụ thể của 12 tiêu chí này được trình bày trong Phụ lục 2). Mặc dù 12 tiêu chí trên thể hiện dưới định dạng là nguyên tắc thuế, nhưng đó cũng chính là tiêu chí cần tuân thủ khi đánh giá tính hiệu quả của hệthống thuế nói chung và luật thuế môi trường nói riêng.112
PGS.TS Nguyễn Văn Vân (2015) chia các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật thuế thành 4 nhóm: i) Nhóm tiêu chí hiệu quả kinh tế (bao gồm tiêu chí cân bằng lợiích giữa Nhà nước và người nộp thuế, tiêu chí trung lập và cân bằng lợi ích kinh tếcho các nhóm chủ thể, tỷ trọng giữa chi phí hành thu trên số thuế thu được, chi phítuân thủ pháp luật thuế, mức độ tuân thủ thuế); ii) Tiêu chí đơn giản của pháp luật
110 Nguyễn Văn Vân (2015), Tlđd, tr. 23-31.
111 Hiệp hội kế toán công chứng Vương quốc Anh (ACCA) (2009), Các nguyên tắc thuế: TừAdam Smith đến Barack Obama. Nguồn: http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/thoi- su/-29067/cac-nguyen-tac-thue-tu-adam-smith-den-barack-obama Ngày cập nhật: 21/7/2017.
112 Nguyễn Văn Vân (2015), Tlđd, tr. 23-31.
thuế; iii) Tiêu chí ổn định (tương đối) và có thể dự báo của pháp luật thuế; iv) Tiêu chí công bằng xã hội113.
Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng các học giả đã xây dựng những tiêu chí đo lường tính hiệu quả của pháp luật nói chung và luật thuế nói riêng theo những cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm đối tượng nghiên cứu cũng như mục đích nghiêncứucủatừnghọcgiả.Đốivớiluật thuế môi trường, các tiêu chí đánh giátính hiệu quả bao gồm: tiêu chí BVMT; tiêu chí hiệu quả kinh tế; tiêu chí đơn giản; tiêu chí ổnđịnhtươngđốivà cóthểdựbáođược;tiêu chí công bằng xã hội. Các tiêu chí này được đưa ra trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố,đồngthờidựatrên nhữngđặcđiểmcủathuế môi trườngđãđượctrình bàyởtiểu mục 1.1.3, trong đó đặc điểm quan trọng nhất là mục tiêu BVMT của thuế xanh.
Trên cơsởlý thuyếtvềphát triểnbềnvững, lý thuyết tăng trưởng xanh vàkinh tế học pháp luật, phần viết tiếp theo sẽ phân tích cụ thể các tiêu chí đánh giáhiệu quả pháp luật thuế môi trường.
1.3.2. Các tiêu chí đánh giá hiệuquảthực hiệncủapháp luật thuế môi trường
1.3.2.1. Tiêu chí bảo vệ môi trường
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

