TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa là hai trụ cột trong sự nghiệp đổi mới, do đó, yêu cầu vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nhà nước càng trở nên cấp thiết nhằm tiếp tục giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay.

  1. Từ nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nhà nước đến quan điểm của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền được thể hiện xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ hệ thống quan điểm của Người về việc xây dựng một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, trong đó lấy nguyên tắc tổ chức và quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật làm nền tảng cơ bản. Tại Hội nghị Vécxây (1919), trong 8 nội dung của bản “Yêu sách của Nhân dân An Nam” Nguyễn Ái Quốc đã tập trung vào hai nội dung cơ bản: một là, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam; hai là, để hiện thực hóa, duy trì và bảo vệ những quyền đó, cần thiết lập cơ chế quản lý xã hội bằng pháp luật. Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc chuyển thể từ văn xuôi sang văn vần tác phẩm thơ “Việt Nam yêu cầu ca” để truyền bá đến kiều bào và chuyển về trong nước đã khẳng định mạnh mẽ hơn tư tưởng này: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền”[1], nhằm khẳng định vai trò tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống chính trị, xã hội. Khi đã giành được chính quyền, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”[2]. Tư tưởng đó đã trở thành kim chỉ nam trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã thể hiện sâu sắc tư tưởng và quan điểm xây dựng một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân để hình thành một nền dân chủ chân chính, nơi mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Các bản Hiến pháp tiếp theo, từ Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013, đều thể hiện sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền, nhấn mạnh nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đồng thời, khẳng định cơ chế bảo đảm thực thi quyền lực nhà nước “thuộc về nhân dân”. Qua tiến trình đó đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, định hướng cho sự phát triển tư duy lập hiến và lập pháp ở Việt Nam đến ngày nay.

Từ năm 1986, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước hiệu quả, minh bạch và tuân thủ luật pháp, nhấn mạnh việc “quản lý nhà nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý” và “từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật”[3] để mô hình quản lý dựa trên nền tảng pháp lý và bộ máy nhà nước hoạt động theo đúng khuôn khổ pháp luật. Tuy vậy, phải đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), lần đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam mới chính thức sử dụng cụm từ “nhà nước pháp quyền”. Và Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (tháng 1/1995) là dấu mốc quan trọng, thể hiện bước tiến trong quá trình cụ thể quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xác lập những quan điểm, nguyên tắc và nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Đại hội VIII (năm 1996) Đảng ta coi xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách, đổi mới nhà nước, xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Đại hội IX tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[4]. Đại hội X tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối và làm sâu sắc hơn nhận thức về Nhà nước pháp quyền XHCN, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân; nhấn mạnh yêu cầu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tuân thủ nguyên tắc hợp hiến, hợp pháp, đồng thời bước đầu chú trọng đến cơ chế giám sát quyền lực trong hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tại Đại hội XI, lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN tiếp tục làm sâu sắc thêm khi bổ sung nội dung “kiểm soát quyền lực” vào nguyên tắc nền tảng về tổ chức thực thi quyền lực nhà nước, khẳng định rõ hơn quyền làm chủ thực sự của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN, đặc biệt nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Nghị quyết Đại hội XII kế thừa và tiếp tục làm rõ nhiều nội dung quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN: “tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền”; “bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm ra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội”[5]

Hiện tại, trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, quan điểm về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa có nhiều bổ sung và phát triển, được thể hiện từ quan điểm chỉ đạo, tầm nhìn, định hướng cho đến các yêu cầu cụ thể của những kỳ Đại hội trước: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”[6], trong đó, chỉ ra yêu cầu cụ thể trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở thực hiện nguyên tắc pháp quyền và “bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực Nhà nước”[7]. Nhấn mạnh việc thực hiện quan điểm vừa có tính kế thừa vừa có tính đột phá, định hướng xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền giai đoạn 2021 – 2030 đã đề ra: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”[8]. Điểm nổi bật trong định hướng là Đảng đặc biệt coi trọng yếu tố “vì nhân dân phục vụ”, đồng thời, khẳng định rõ các mục tiêu cần đạt khi xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030: trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch,…

Đồng thời, khi ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Đây là nghị quyết mang tính định hướng chiến lược, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi có nội dung toàn diện, bao quát cả ba lĩnh vực trọng yếu là xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cùng với cải cách tư pháp. Nghị quyết xác định rõ 8 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 5 quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, 3 trọng tâm ưu tiên và 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội trong giai đoạn phát triển mới và yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Qua triển khai thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện, vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

2. Mối quan hệ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Thấm nhuần và nổ lực vận dụng sáng tạo những giá trị cốt lõi, nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng, nghiên cứu và kế thừa trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước PQXHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp…có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo…”.

Để thực hiện được mục tiêu đó, Đảng ta xác định, ba trụ cột quan trọng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là 03 thành tố có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, đồng thời, vừa mang tính thúc đẩy, hỗ trợ lại vừa mang tính kìm hãm lẫn nhau trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Đây là mối quan hệ khách quan và bản chất của mối quan hệ này phụ thuộc vào rất nhiều vào thể chế chính trị, kinh tế, văn hoá, lịch sử,… Trên phương diện đó, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ sở, tiền đề để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tạo ra thiết chế quan trọng, điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN và xây dựng, thực hiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; đồng thời, nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Trong mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN-Nhà nước pháp quyền XHCN-nền dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN là trung tâm thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và dân chủ XHCN. Theo đó, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN đóng vai trò trung tâm trong việc định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng và minh bạch, bảo đảm cho các thành phần kinh tế phát triển công bằng, bình đẳng trước phát luật thông qua việc Nhà nước sử dụng pháp luật, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước và các công cụ quản lý vĩ mô khác để định hướng và điều tiết nền kinh tế phát triển đúng định hướng. Đồng thời, Nhà nước thực hiện phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực công nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, bảo vệ môi trường, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách và từng giai đoạn phát triển nhằm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững. Đối với nền dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN có vai trò bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước tạo điều kiện để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trên thực tế và khi quyền lực thật sự thuộc về nhân dân thì đấy chính là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ.

3. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Trong mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền XHCN đóng vai trò là trung tâm. Do đó, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN có ý nghĩa lớn khi phát triển kinh tế thị trường và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đặt ra trong giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, các quy định pháp luật liên quan đến xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN còn tồn tại nhiều bất cập, do đó, yêu cầu đặt ra đòi hỏi tiếp tục thể chế hóa đầy đủ quan điểm Đại hội XIII: “Xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế”[9] trên các nội dung như: Củng cố và nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật theo hướng dân chủ, nhân văn, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về dân chủ và các quyền tự do của công dân; Nghiên cứu xây dựng Luật về giám sát của nhân dân với sự tham gia trực tiếp của nhân dân và các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội của người dân; Nghiên cứu xây dựng pháp luật về phản biện xã hội…

Thứ hai, phát huy dân chủ gắn với kỷ cương, pháp luật. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân[10], và tiếp tục khẳng định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9/11/2022 Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII là: Bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân…bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”[11]. Theo đó, cần tiếp tục bảo đảm và phát huy đầy đủ, thực chất quyền làm chủ của Nhân dân và đặt trọng tâm, trọng điểm trên các vấn đề sau: 1. Thực hiện công khai, minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình hướng đến người dân và tổ chức một cách thực chất, hiệu quả trên hai khía cạnh: mức độ dễ hiểu, dễ áp dụng. Công khai, minh bạch được đảm bảo sẽ rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền với người dân, đáp ứng được yêu cầu đối với tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và là cơ sở để thực hiện dân chủ trong xã hội.; 2. Phát huy sâu rộng sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước cần: Thúc đẩy mạnh mẽ mô hình quản trị xã hội cùng xây dựng, cùng quản lý và cùng chia sẻ lợi ích; Hoàn thiện các kênh để người dân tham gia quản trị xã hội ở cơ sở; Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận trong lãnh đạo, chỉ đạo, kết nối quần chúng nhân dân tham gia giám sát, phản biện,…; 3. Thực hiện dân chủ rộng rãi, phát huy vai trò trung tâm của nhân dân với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước trong tham gia thảo luận các vấn đề lớn liên quan đến lợi ích thiết thân của người dân, cải thiện các nền tảng tham vấn nhằm phát huy trí tuệ của nhân dân, thực hiện hiệu quả việc lắng nghe ý kiến nhân dân; 4. Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của công tác phản biện xã hội, nghiên cứu và đề xuất nhân dân có thể đóng góp ý kiến các vấn đề có liên quan bằng gửi thư, thư điện tử; tranh luận trực tiếp trên các phương tiện truyền thông, mở diễn đàn mở thu hút dư luận xã hội để thảo luận, chia sẻ các quan điểm, ý kiến về các vấn đề mà nhân dân quan tâm.

Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng “công bộc của dân”
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời, đáp ứng với thay đổi trong sắp xếp bộ máy hiện nay với yêu cầu: chuyển đổi số cao gắn với tính liên thông giữa các cấp, các lĩnh vực quản lý; phân quyền, phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ; tăng cường thanh tra, kiểm tra; đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu… Vì vậy đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, tác phong, đạo đức, lối sống, phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong điều hành giải quyết công việc thuộc thẩm quyền. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thể chế hóa và hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong công tác quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, cần tạo môi trường và cơ chế khuyến khích, bảo vệ những người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và hành động quyết liệt vì lợi ích chung, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, năng lực và tinh thần cống hiến cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

 

Thứ tư, tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ và hiệu quả kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Cán bộ nào cũng phải đặt lợi ích nhân dân lên trên hết, trước hết”. Thực hiện hiệu quả cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực theo tinh thần Kết luận 21-KL/TW (2021) về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Cần chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo nâng cao chất lượng tham mưu, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan chính quyền các cấp. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo trong việc đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ số trong quản trị nhà nước và thực hiện dân chủ. Thúc đẩy Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số theo Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia (QĐ 749/QĐ-TTg, 2020). Công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin và giám sát hiệu quả hơn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân và về dân chủ là kim chỉ nam trong mọi giai đoạn cách mạng. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện dân chủ XHCN có mối quan hệ biện chứng, thống nhất và bổ sung cho nhau. Vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới phải gắn với hoàn thiện pháp luật, mở rộng dân chủ, kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ, thúc đẩy chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đây chính là con đường bảo đảm cho sự phát triển bền vững của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, còn Nhà nước là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Trong giai đoạn mới, yêu cầu vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng ấy càng trở nên đặc biệt cấp thiết nhằm xử lý hài hòa và hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 96,559,180 bytes/ 2025_ Vận dụng TTHCM_NNPQ_Dân chủ… ở Việt Nam_Linh Giang 1

  1. TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *