Tổ chức dạy học một số chủ đề STEM trong chương “Cảm ứng điện từ” – Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
MỞ ĐẦU
Giáo dục STEM là một trong những định hướng giáo dục tích hợp đã được phát triển mạnh ở Mỹ, Thái Lan, Canada, Úc…và đã đem lại những thành tựu tốt cho giáo dục của các quốc gia này. Giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực tiễn, qua đó phát triển cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực VDKTVTT cùng với những năng lực khác tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang nâng cao trình độ công nghệ, năng suất lao động. Chỉ thị số 16/CT- TTg ngày 4 tháng 5 năm 2017 của thủ tướng chính phủ đã ghi rõ cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 với xu hướng phát triển hệ thống kết nối số, với sự đột phá của internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Nó có đặc điểm là tận dụng một cách triệt để sự lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, chương trình giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay chưa phát triển được năng lực cũng như kỹ năng cần thiết cho học sinh. Một trong những hình thức phát huy được tính tích cực, tự lực, năng lực VDKTVTT của học sinh là tổ chức hoạt động theo nhóm, dự án…. Trong khi đó, phần lớn giáo viên chưa chú trọng đến việc phát triển năng lực VDKTVTT cho học sinh, dẫn đến việc học sinh không có thói quen vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Để góp phần quan trọng cho việc thực hiện tốt mục tiêu tăng cường vận dụng kiến thức vào kĩ thuật và thực tiễn đời sống cần sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển các năng lực của học sinh. Những năm gần đây toàn ngành giáo dục tích cực đẩy mạnh việc phát triển năng lực cho học sinh bằng các phương pháp dạy học tích cực khác nhau, một trong những mô hình dạy học thực hiện tốt mục tiêu vận dụng kiến thức vào kỹ thuật và thực tiễn là dạy học STEM. Do đặc điểm của dạy học STEM là không thiên về lý thuyết mà thiên về thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Hơn nữa, chương “Cảm ứng điện từ” có rất nhiều ứng dụng trong đời sống thực tiễn nên rất phù hợp với mục tiêu giảng dạy theo định hướng giáo dục STEM. Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: Tổ chức dạy học một số chủ đề STEM trong chương “Cảm ứng điện từ” – Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đề xuất được quy trình tổ chức dạy học chủ đề STEM nhằm phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh trong chương “Cảm ứng điện từ” -Vật lí 11.
Nếu đề xuất được quy trình tổ chức dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển NLVDKTVTT trong chương “Cảm ứng điện từ” -Vật lí 11 thì sẽ phát triển được năng lực VDKTVTT của học sinh.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Hoạt động dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT.
– Nghiên cứu hoạt động dạy học chương “Cảm ứng điện từ” chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh ở trường THPT số 2 Nghĩa Hành – tỉnh Quảng Ngãi trong học kỳ 2 năm học 2022- 2023.
– Nghiên cứu lí luận về năng lực VDKTVTT của học sinh.
– Nghiên cứu lí luận dạy học theo mô hình STEM.
– Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”.
– Vận dụng vào dạy học chương “Cảm ứng điện từ” nhằm phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh.
– Thực nghiệm sư phạm theo tiến trình dạy học đã soạn thảo. Thu thập và phân tích kết quả thực nghiệm thu được để đánh giá năng lực vận dụng kiến thức của học sinh. Từ đó rút ra được kinh nghiệm cho bản thân, cũng như đề xuất các ý kiến bổ sung, sửa đổi để có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí ở các trường THPT.
– Phương pháp nghiên cứu lí luận:
– Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
– Phương pháp thống kê toán học:
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
– Đề xuất được quy trình tổ chức dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT.
– Bộ tiêu chí đánh giá năng lực VDKTVTT trong dạy học chủ đề STEM.
– Thực trạng của việc dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT ở một số trường THPT trong tỉnh Quảng Ngãi.
– Đề xuất được 3 chủ đề STEM và thiết kế được kế hoạch dạy học theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh.
– Đánh giá được hiệu quả của việc dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học chủ đề STEM theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh.
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học các chủ đề STEM chương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 theo hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ STEM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CỦA HỌC SINH
1.1. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Có nhiều khái niệm về năng lực, trong khuôn khổ luận văn thì năng lực được hiểu như sau: “Năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân một cách có trách nhiệm và hiệu quả.”
1.1.2. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (VDKTVTT)
1.1.2.1. Khái niệm năng lực VDKTVTT
Trong khuôn khổ luận văn thì “Năng lực VDKTVTT được hiểu là khả năng chủ thể phát hiện được vấn đề thực tiễn, huy động được các kiến thức, kĩ năng liên quan hoặc tìm tòi, khám phá các kiến thức nhằm thực hiện giải quyết các vấn đề thực tiễn đạt hiệu quả”.
1.1.2.2. Cấu trúc năng lực VDKTVTT
Từ khái niệm trên, năng lực VDKTVTT của HS bao gồm 2 mục đích:
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải thích hiện tượng, quá trình trong thực tiễn cuộc sống gặp trong tự nhiên, sản xuất và đời sống.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống gặp trong tự nhiên, sản xuất và đời sống.
Năng lực VDKTVTT của HS gồm 4 năng lực thành tố sau:
+ Phát hiện được vấn đề thực tiễn và nêu câu hỏi khoa học
+ Xây dựng (thiết kế) kế hoạch giải thích / giải quyết vấn đề
+ Thực hiện kế hoạch giải thích / giải quyết vấn đề thực tiễn
+ Đánh giá quá trình giải quyết vấn đề thực tiễn.
1.1.3. Đánh giá năng lực VDKTVTT
1.1.3.1. Đánh giá và mục tiêu của đánh giá
+ Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phân đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
+ Mục tiêu của đánh giá
- Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS, nhóm HS và tập thể lớp.
- Giúp cho giáo viên (GV) có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS.
1.1.3.3. Hình thức đánh giá năng lực vận dụng kiến thức
Có nhiều hình thức khác nhau để đánh giá năng lực của học sinh như. Để đánh giá năng lực VDKTVTT của HS có thể sử dụng các hình thức đánh giá sau đây: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014)
+ Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí
+ Tự suy ngẫm và tự đánh giá
+ Đánh giá đồng đẳng
+ Đánh giá qua thực tiễn
1.1.4. Qui trình đánh giá năng lực VDKTVTT.
1.1.4.1. Một số công cụ đánh giá năng lực VDKTVTT (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014)
+ Phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubric)
+ Hồ sơ học tập
1.1.4.2. Các phương pháp đánh giá năng lực VDKTVTT.
Để đánh giá năng lực VDKTVTT của HS, trong khuôn khổ luận văn tôi sử dụng một số phương pháp sau: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014)
+ Phương pháp viết
+ Phương pháp dùng lời
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp đánh giá sản phẩm học tập
1.1.4.3. Các bước đánh giá năng lực VDKTVTT.
Dựa trên quy trình đánh giá năng lực VDKTVTT của HS của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Phan Thị Thanh Hội (2018), tôi đưa ra các bước đánh giá năng lực VDKTVTT sau:
+ Bước 1: Xác định nội dung cần đánh giá
+ Bước 2: Xác định bối cảnh/ nội dung dạy học cụ thể .
+ Bước 3: Tổ chức đánh giá năng lực VDKTVTT
1.2.1. Khái niệm dạy học chủ đề STEM
Dạy học chủ đề STEM là chủ đề dạy học được thiết kế dựa trên vấn đề thực tiễn kết hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng của các môn khoa học trong chương trình phổ thông. Trong quá trình dạy học, giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc nhóm, sử dụng công nghệ truyền thống và hiện đại, công cụ toán học để tạo ra sản phẩm có tính ứng dụng thực tế, phát triển kĩ năng và tư duy của học sinh. (Nguyễn Thành Nga, 2019)
Tùy theo bối cảnh, mục tiêu giáo dục STEM ở các quốc gia có khác nhau.
Mục tiêu giáo dục STEM ở các quốc gia có khác nhau nhưng đều hướng tới sự tác động đến người học, hướng tới vận dụng kiến thức các môn học để giải quyết các vấn đề thực tiễn nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
+ Tập trung vào tích hợp
+ Liên hệ với cuộc sống thực tế
+ Hướng đến phát triển kĩ năng của thế kỉ 21
+ Thách thức học sinh vượt lên chính mình
+ Có tính hệ thống và kết nối giữa các bài học
1.2.4. Các giai đoạn tổ chức dạy học STEM
Để tổ chức dạy học STEM, GV nên thực hiện theo quy trình 5E, 8 bước và 5 hoạt động theo bảng 1.2
1.3. Điều tra thực trạng việc dạy học chủ đề STEM phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh
1.3.1. Điều tra thực tiễn việc dạy học chủ đề STEM phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh
Điều tra nhận thức của GV ở một số trường trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn Thành phố Quảng Ngãi về giáo dục STEM, thực tế việc áp dụng phương pháp (PP) giáo dục này trong dạy học cũng như những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng và tổ chức các hoạt động dạy học STEM nhằm phát triển năng lực VDKTVTT của HS. Đồng thời điều tra thực trạng năng lực VDKTVTT của HS và sự hứng thú của HS khi tiếp nhận các PP dạy học tích cực từ GV trong việc phát triển năng lực của bản thân.
1.3.1.2. Phương pháp điều tra
Điều tra GV và HS thông qua phiếu khảo sát xây dựng trên Google Form (xem phụ lục 1 và phụ lục 2), trao đổi trực tiếp và quan sát một số tiết học trên lớp.
1.3.1.3. Đối tượng điều tra
- Tổng số GV được điều tra: 21 GV đang giảng dạy bộ môn Vật lí tại các trường THPT trên địa bàn Thành phố Quảng Ngãi. Trong đó có 5 GV có kinh nghiệm dạy dưới 5 năm; 10GV có kinh nghiệm dạy từ 5-10 năm và 6GV có kinh nghiệm dạy trên 10 năm.
- Tổng số HS được điều tra: 177 HS là các HS THPT ở các lớp của các trường khác nhau trên địa bàn Thành phố Quảng Ngãi. Trong đó có 37 HS lớp 10; 92 HS lớp 11 và 48 HS lớp 12.
Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, luận văn đưa ra một số kết luận sau:
Từ kết quả khảo sát HS, chúng tôi nhận thấy các đa số các em có hứng thú trong việc VDKTVTT để tham gia chế tạo các sản phẩm có ứng dụng trong kĩ thuật và cuộc sống. Tuy nhiên, phần lớn các em chỉ dừng lại ở việc phát hiện ra vấn đề trong thực tiễn, có ý tưởng VDKTVTT để chế tạo sản phẩm có ứng dụng trong kĩ thuật và cuộc sống. Từ ý tưởng đó khi triển khai thực hiện HS gặp rất nhiều khó khăn và chưa làm ra được sản phẩm như ý tưởng ban đầu. Như vậy, việc thường xuyên bồi dưỡng năng lực VDKTVTT để chế tạo ra các sản phẩm có ứng dụng trong kĩ thuật và cuộc sống sẽ giúp cho HS vận dụng được mối liên hệ gắn bó giữa lí thuyết và thực tiễn.
Bên cạnh đó, hầu hết GV đều cho rằng việc phát triển năng lực VDKTVTT của HS là quan trọng. Có nhiều PP dạy học tích cực được GV quan tâm để phát triển năng lực VDKTVTT cho HS, một trong số đó là mô hình dạy học STEM. Nhận thấy được sự phù hợp của mô hình dạy học STEM trong việc phát triển năng lực này cho HS nhưng vẫn còn không ít GV chưa thành thạo, gặp nhiều khó khăn khi triển khai nên đem lại hiệu quả chưa cao trong việc hình thành và phát triển năng lực này cho HS.
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy học chủ đề STEM phát triển năng lực VDKTVTT của HS
Nhận thấy sự phù hợp giữa mô hình dạy học STEM với việc phát triển năng lực VDKTVTT của HS, tuy nhiên việc áp dụng mô hình dạy học STEM vào các tiết học Vật lí còn hạn chế.
Tần suất sử dụng phương pháp dạy học STEM còn nhiều hạn chế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc GV không thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học STEM, trong đó chiểm tỉ lệ lớn (hơn 60%) tập trung ở các nguyên nhân: cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện còn thiếu, hình thức kiểm tra – đánh giá hiện nay chưa phù hợp, dạy học STEM tốn nhiều thời gian và công sức của GV và HS. Kết quả khảo sát cũng cho thấy theo đánh giá của GV thì số lượng HS không hứng thú với phương pháp dạy học STEM chiếm rất ít (4,8%), đó cũng là một trong những dấu hiệu tích cực để phát triển năng lực VDKTVTT của HS thông qua dạy học STEM.
1.4. Dạy học STEM với sự phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh
1.4.1. Vai trò của dạy học STEM trong phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh
Các năng lực thành tố của năng lực VDKTVTT bao gồm:
+ Phát hiện được vấn đề thực tiễn và nêu câu hỏi khoa học
+ Xây dựng (thiết kế) kế hoạch giải thích / giải quyết vấn đề
+ Thực hiện kế hoạch giải thích / giải quyết vấn đề thực tiễn
+ Đánh giá quá trình giải thích / giải quyết vấn đề thực tiễn Trong khi đó mục tiêu của dạy học STEM là
+ Vận dụng kiến thức các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
+ Có thể đề xuất các vấn đề thực tiễn mới phát sinh và giải pháp giải quyết các vấn đề đó trong thực tiễn.
Qua đây thấy rõ mục tiêu của dạy học STEM hoàn toàn phù hợp trong việc phát triển các năng lực thành tố của năng lực VDKTVTT của HS.
1.4.2. Các biện pháp phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh trong dạy học các chủ đề STEM
Căn cứ vào các biểu hiện của năng lực VDKTVTT, có thể chỉ ra một số biện pháp để phát huy năng lực VDKTVTT của học sinh trong dạy học các chủ đề STEM:
– Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến ngành nghề kĩ thuật, sáng tạo ra những sản phẩm, công cụ mới, có ích cho xã hội.
– Vận dụng kiến thức các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
– Có thể đề xuất các vấn đề thực tiễn mới phát sinh và giải pháp giải quyết các vấn đề đó trong thực tiễn.
1.4.3. Quy trình tổ chức dạy học chủ đề STEM phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh
Có thể xây dựng một chủ đề STEM phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh theo các bước sau đây:
Bước 1: Giáo viên thử nghiệm chế tạo sản phẩm
Bước 2: Lựa chọn chủ đề từ các tình huống thực tiễn
Bước 3: Xác định các vấn đề thực tiễn cần giải quyết trong chủ đề
Bước 4: Xác định các kiến thức liên quan đến chủ đề
Bước 5: Xây dựng mục tiêu của dạy học STEM theo chủ đề đã chọn
Bước 6: Xây dựng tiêu chí của thiết bị/ giải pháp giải quyết vấn đề
Bước 7: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học
Bước 8: Lên kế hoạch thực hiện
1.4.4. Tiêu chí đánh giá năng lực VDKTVTT của học sinh trong dạy học các chủ đề STEM
Căn cứ vào các đặc trưng của dạy học theo định hướng giáo dục STEM, tiến trình dạy học kiến thức Vật lý theo định hướng giáo dục STEM và một số biểu hiện của năng lực VDKTVTT trong hoạt động nhận thức của học sinh, tôi cụ thể hóa năng lực VDKTVTT của học sinh thông qua các tiêu chí ở bảng 1.5. Đây là công cụ đánh giá của giáo viên, của học sinh tự đánh giá và đánh giá chéo cho nhau.
Trong chương 1, chúng tôi đã tổng hợp được các cơ sở lí luận về năng lực VDKTVTT của HS, dạy học phát triển năng lực VDKTVTT theo mô hình giáo dục STEM, đánh giá năng lực VDKTVTT và điều tra thực tiễn về thực trạng giảng dạy theo hướng phát triển năng lực VDKTVTT của HS tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ STEM TRONG CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” -VẬT LÍ 11 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CỦA HỌC SINH
2.1. Phân tích đặc điểm chương “Cảm ứng điện từ”
2.1.1. Mục tiêu dạy học chương “Cảm ứng điện từ”
- Về kiến thức
– Mô tả được thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ.
– Viết được công thức tính từ thông qua một diện tích và nêu được đơn vị đo từ thông. Nêu được các cách làm biến đổi từ thông.
– Phát biểu được định luật Fa-ra-đây về cảm ứng điện từ, định luật Len-xơ về chiều dòng điện cảm ứng và viết được hệ thức
– Nêu được dòng điện Phu – cô là gì.
– Nêu được hiện tượng cảm ứng điện từ là gì.
– Nêu được độ tự cảm là gì và đơn vị đo độ tự cảm.
– Nêu được từ trường bên trong lòng ống dây có dòng điện chạy qua và mọi từ trường đều mang năng lượng.
Về kĩ năng.
– Làm được thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ.
– Tính được suất điện động cảm ứng trong trường hợp từ thông qua một mạch điện kín biến đổi đều theo thời gian.
– Xác định được chiều dòng điện cảm ứng theo định luật Len-xơ.
– Tính được suất điện động tự cảm trong ống dây khi có dòng điện chạy qua nó có cường độ biến đổi theo thời gian.
Về phẩm chất
– Có thái độ nghiêm túc, chăm chỉ, tích cực trong học tập.
– Tích cực tham gia và có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao trong các hoạt động nhóm.
– Trung thực trong các hoạt động học tập.
Về năng lực
Phát triển các năng lực chung được qui định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 và năng lực chuyên biệt được qui định trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí 2018. Tuy nhiên trong giới hạn đề tài luận văn, mục tiêu chính là tập trung phát triển năng lực VDKTVTT của học sinh thông qua việc tổ chức dạy học theo mô hình STEM chương “Cảm ứng điện từ”.
2.1.2. Nội dung kiến thức Chương “Cảm ứng điện từ” theo yêu cầu cần đạt
Nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” bao gồm:
– Hiện tượng cảm ứng điện từ.
– Từ thông, suất điện động cảm ứng.
– Các định luật về cảm ứng điện từ
– Dòng điện Phu – cô.
– Hiện tượng tự cảm.
– Năng lượng từ trường.
2.1.3. Ý tưởng về tổ chức các chủ đề STEM trong chương “Cảm ứng điện từ”
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET\Tổ chức dạy học một số chủ đề STEM trong chương “Cảm ứng điện từ” Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh\SAU BAO VE\TOM TAT

