Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững
1. Lý do xây dựng đề án
Ở Việt Nam, Du lịch là một trong những ngành công nghiệp đang đóng góp tỉ trọng lớn vào ngân sách nhiều quốc gia. Du lịch không chỉ mang lại nguồn thu nhập lớn mà còn tạo việc làm, cải thiện an sinh xã hội; góp phần thúc đẩy hòa bình, tạo điều kiện giao lưu văn hóa với các nước, quảng bá hình ảnh, giá trị tốt đẹp của đất nước ta với bạn bè trên thế giới.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc phát triển tiềm năng du lịch của Việt Nam trong thời gian qua chưa thực sự đạt kết quả, mới chỉ ở quy mô nhỏ, mang tính tự phát, chưa phát huy được lợi thế vốn có. Ngoài ra, vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng. Vì vậy, phát triển du lịch bền vững được coi là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao tầm quan trọng của ngành du lịch và đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/1/2017, của Ban chấp hành Trung ương [1], về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” đã nhấn mạnh quan điểm về phát triển du lịch bền vững; phát huy, bảo tồn, các di sản và giá trị truyền thống, văn hóa của dân tộc; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; giải quyết tốt vấn đề về an sinh xã hội; đảm bảo an ninh, quốc phòng, an toàn trật tự xã hội. Phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử dân tộc tạo nên tính bền vững. Mục tiêu phát triển bền vững luôn là vấn đề được ưu tiên và thực hiện xuyên suốt qua các giai đoạn phát triển. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế và chính sách liên quan đến ngành du lịch đã được điều chỉnh và cập nhật mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy phát triển toàn diện của ngành, hướng đến xây dựng những giá trị bền vững cho tương lai.
Với tiềm năng phát triển du lịch, trong thời gian qua tỉnh Bến Tre đã có nhiều nỗ lực trong việc đầu tư, khai thác, huy động các nguồn lực, tạo điều kiện cho hoạt động du lịch. Trong đó, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre thực hiện chủ trương phát triển du lịch theo hướng bền vững.
Huyện Thạnh Phú nằm ở phía Nam của tỉnh Bến Tre, cách trung tâm thành phố Bến Tre khoảng 45 km về hướng Đông Nam, Huyện Thạnh Phú đã trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho các tuyến du lịch miền Tây hoặc các chương trình du lịch ngắn ngày. Huyện Thạnh Phú đã thực hiện nhiều dự án và mô hình du lịch hiệu quả, bao gồm mô hình du lịch sinh thái rừng phòng hộ tại xã Thạnh Phong; du lịch homestay kết hợp với việc tham quan các di tích văn hóa – lịch sử; du lịch tâm linh và du lịch biển Cồn Bửng
Trong những năm qua, việc phát triển du lịch của huyện Thạnh Phú đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Lượng khách du lịch đến với huyện Thạnh Phú ngày càng tăng, song song đó với nhiều công trình, dự án được xây dựng mới, tạo nên nhiều khởi sắc cho nền du lịch huyện. Thế nhưng, bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn không ít vấn đề đặt ra trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch của địa phương. Đó là hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, các chính sách phát triển du lịch chưa đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Việc quản lý nhà nước trong vấn đề xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch còn lúng túng, thiếu hiệu quả,… Vì vậy, để góp phần phát triển du lịch theo hướng bền vững, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, tôi quyết định chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững” làm đề án tốt nghiệp khóa học Thạc sĩ quản lý công.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề án là công tác quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
– Phạm vi không gian: đề án nghiên cứu được thực hiện tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
– Phạm vi thời gian: phân tích thực trạng từ năm 2017 đến năm 2023; các giải pháp đến năm 2025 và định hướng 2030.
– Phạm vi nội dung: tập trung làm rõ những nội dung quản lý nhà nước (QLNN) về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề án
4.1 Mục tiêu
Nghiên cứu: “Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững” nhằm đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
4.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
– Hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận quản lý nhà nước về du lịch và hướng tới phát triển du lịch bền vững.
– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNN về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
– Đề xuất các giải pháp, lộ trình/nguồn lực tăng cường QLNN về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững, nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế tiềm năng du lịch của huyện.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật phép biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng làm cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu nội dung đề tài đề án. Dựa trên nền tảng lý luận quản lý công và quản lý nhà nước về du lịch để triển khai đề tài.
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tác giả sử dụng phương này để nghiên cứu các tài liệu sẵn có (sách, báo khoa học, luận văn, luận án, văn bản quản lý của nhà nước, các báo cáo…) liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững, thực trạng quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững trên địa bàn.
– Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề án thực hiện điều tra bằng phương pháp phỏng vấn đối với các khách thể sau: cán bộ trong cơ quan quản lý nhà nước, đại diện các cơ cở dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương và khách du lịch.
– Phương pháp điều tra, khảo sát đánh giá, thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững. Theo đó, đề án tiến hành khảo sát các đối tượng sau:
+ Khảo sát cán bộ, công chức các cơ quan, ban ngành huyện, xã, cán bộ, công chức phụ trách quản lý nhà nước về du lịch, cộng đồng địa phương tham gia trong lĩnh vực du lịch: Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, tổng số phiếu thu về hợp lệ là 100.
+ Khảo sát khách du lịch số lượng 100 người: Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, tổng số phiếu thu về hợp lệ là 100..
– Phương pháp tổng hợp thống kê, thu thập số liệu điều tra thực tế.
– Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tác giả sử dụng các phương pháp này để phân tích cơ sở luận lý, phân tích thực trạng, đối chiếu giữa thực tế và lý luận, từ đó tổng hợp lại thành những quan điểm, lập luận và kết luận vấn đề.
6. Hiệu quả của đề án trong ứng dụng thực tiễn
Thứ nhất, đề án đánh giá một cách khác quan, trung thực, chính xác kết quả quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững góp phần hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản trong công tác quản lý nhà nước.
Thứ hai, đề án cung cấp thông tin và là cơ sở để cơ quan quản lý về du lịch huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham khảo triển khai các chính sách phát triển du lịch bền vững tỉnh Bến Tre nói chung, cũng như huyện Thạnh Phú nói riêng.
Thứ ba, đề án có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích cho các khóa cao học tiếp theo để nghiên cứu.
7. Kết cấu đề án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các từ viết tắt và Mục lục thì nội dung của bài báo cáo thực tập gồm 3 Chương như sau:
– Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững.
– Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
– Chương 3: Giải pháp, lộ trình/nguồn lực thực hiện nhằm tăng cường quản lý nhà nước về du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hướng tới phát triển du lịch bền vững.
1.1. Tổng quan về phát triển du lịch bền vững
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1995), đưa ra định nghĩa du lịch: Một là, Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật. Hai là, Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Hầu như nước nào cũng coi trọng phát triển hoạt động du lịch.
Theo ông Michael Coltman, nhà kinh tế học người Mỹ đưa ra một định nghĩa ngắn gọn: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ khách, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”. [37]
Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam thông qua ngày 19/6/2017 thì du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. [29]
Từ những khái niệm được nêu ra ở trên, trong đề án này khái niệm du lịch được sử dụng như sau: Du lịch là một trong những hoạt động di chuyển của con người đến một vùng đất mới, không phải nơi mình đang cư trú trong một khoảng thời gian nhất định để thỏa mãn các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, học tập… mà qua đó giúp nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho người tham gia.
1.1.1.2. Khái niệm về phát triển bền vững
Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện vào giữa những năm 1980 và chính thức được đưa ra tại hội nghị Ủy ban thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED – World Commission on Environment and Development) năm 1987. Theo WCED, “Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngưỡng sống của họ”. [2]
Quan niệm này chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển. Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và Hecdue, 1988, GS. Grima Lino). [2]
Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). [2]
1.1.1.3. Khái niệm về phát triển du lịch bền vững
Ngày nay, nói đến phát triển du lịch, người ta không chỉ nói đến phát triển du lịch một cách đơn thuần mà phải phát triển theo hướng bền vững để đảm bảo sự phát triển du lịch ở thời điểm hiện tại không làm phương hại đến các giá trị trong tương lai. Luật Du lịch [29] cũng đã đưa ra khái niệm: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế – xã hội và môi trường, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”.
Lý luận về phát triển bền vững được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu về lý luận và kinh nghiệm quốc tế đối với phát triển bền vững và điều chỉnh phù hợp với hoàn cảnh ở nước ta. Mặc dù còn những quan điểm chưa thực sự thống nhất nhưng hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng phát triển du lịch bền vững là việc quản lý khai thác các giá trị tự nhiên và nhân văn, đáp ứng nhu cầu du lịch, đảm bảo lợi ích kinh tế dài hạn, bảo tồn tài nguyên, duy trì văn hóa, bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
Ngoài ra, trong cuốn “Du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu đã chỉ ra 10 nguyên tắc phát triển du lịch bền vững [10, tr.65-66]; Hội đồng khoa học của Tổng cục Du lịch cũng đã đưa ra 12 mục tiêu phát triển du lịch bền vững
1.1.2. Các nguyên tắc và tiêu chí phát triển du lịch bền vững
1.1.2.1. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
Để phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo các mục tiêu cơ bản sau: đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế, đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường, đảm bảo sự bền vững về xã hội. Bên cạnh các mục tiêu cơ bản trên, phát triển du lịch bền vững phải dựa vào những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý: Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường… ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch. Việc sử dụng, bảo tồn bền vững tài nguyên thiên nhiên văn hóa xã hội là hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, khai thác phục vụ hoạt động du lịch dựa trên sự tính toán nhu cầu hiện tại.
Giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên: Việc tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ở mức vừa đủ một mặt giúp cho việc phục hồi tài nguyên thiên nhiên, mặt khác giảm chất thải ra môi trường. Các tài nguyên thiên nhiên cần được quy hoạch, quản lý tránh sự khai thác một cách ồ ạt hoặc phát triển nóng.
Duy trì bảo tồn sự đa dạng thiên nhiên, xã hội và nhân văn: Cần trân trọng tính đa dạng của thiên nhiên, xã hội, môi trường của điểm đến, đảm bảo nhịp độ, quy mô và loại hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính đa dạng của văn hóa địa phương. Xem xét quy mô và sức chứa của mỗi vùng, giám sát chặt chẽ các hoạt động du lịch đối với động thực vật, lồng ghép các hoạt động du lịch vào các hoạt động của cộng đồng dân cư, ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng các ngành nghề hiện đại. Phát triển du lịch cần phù hợp với văn hóa bản địa, phúc lợi xã hội, và nhu cầu phát triển, đồng thời đảm bảo tiến độ và quy mô của các loại hình du lịch để gia tăng sự hiểu biết giữa du khách và cư dân địa phương.
Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội: Sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch phải phù hợp với chiến lược kinh tế-xã hội của quốc gia, vùng, và địa phương. Để phát triển bền vững, ngành du lịch cần cân nhắc nhu cầu của người dân và du khách và phải thống nhất các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường trong quy hoạch. Phát triển du lịch cần tuân thủ quy hoạch địa phương để đảm bảo sự bền vững và lâu dài.
Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương: Với tính đặc thù liên ngành, phát triển bền vững không phải chỉ riêng nó mà kéo theo nhiều lĩnh vực khác. Trong lĩnh vực du lịch, việc hỗ trợ cho ngành nghề khác không chỉ các doanh nghiệp trực tiếp tham gia hoạt động du lịch mà còn hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp gián tiếp tham gia vào hoạt động này, từ đó dẫn đến hỗ trợ kinh tế cho địa phương.
Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền vững du lịch: Việc tham gia của cộng đồng địa phương là một nhân tố đảm bảo cho phát triển du lịch bền vững. Khi cộng đồng địa phương được tham gia phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho du lịch, vì sự tham gia của cộng đồng địa phương sẽ gắn quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cư dân đối với sự phát triển chung của du lịch.
Lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan: Tham khảo ý kiến của các bên liên quan và cộng đồng dân cư, các tổ chức trong và ngoài nước, phi chính phủ, chính phủ với các ý kiến cho dự án, là nguyên tắc quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững. Chia sẻ lợi ích của các bên nhằm mục đích hài hòa về lợi ích trong quá trình thực hiện.
Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực: Với phát triển du lịch bền vững, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ vô cùng cần thiết. Hiện tại, ngành du lịch đang thiếu hụt lao động và trình độ chuyên môn của lực lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu. Một lực lượng lao động được đào tạo kỹ lưỡng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học ngành Du lịch: Để du lịch trở thành ngành kinh tế chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào tạo và thực hiện hoạt động phát triển du lịch. Các thành tựu khoa học công nghệ về du lịch trong các lĩnh vực thời gian qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan trọng với tính ứng dụng thực tiễn cao, góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch.
1.1.2.2. Các tiêu chí phát triển du lịch bền vững
Thứ nhất, các tiêu chí về kinh tế. Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch. Các chỉ tiêu kinh tế được thể hiện như sau:
– Chỉ số về mức chi tiêu và số ngày lưu trú trung bình của khách gia tăng. Những khu vực, quốc gia nơi du lịch được coi là ngành kinh tế chủ đạo, các nhà quản lý, điều hành kinh doanh du lịch có xu hướng quan tâm đến chỉ số về mức chi tiêu trung bình và thời gian lưu trú của khách hơn là chỉ số về số lượng khách. Điều này cho phép vẫn đảm bảo sự tăng trưởng về doanh thu du lịch trong khi hạn chế chi phí phải phục vụ một lượng khách lớn hơn và hạn chế các tác động đến môi trường. Như vậy, có thể thấy chỉ số về mức chi tiêu và số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch ngày càng cao thì hoạt động phát triển du lịch sẽ được xem là có tính bền vững
– Số lượng (tỷ lệ) khách du lịch quay trở lại. Dấu hiệu về lượng khách (tỷ lệ khách) quay trở lại là dấu hiệu quan trọng về phát triển du lịch bền vững. Chỉ số này thường được thu thập qua điều tra và phỏng vấn khách tại các điểm du lịch hoặc từ doanh nghiệp du lịch. Tỷ lệ khách quay trở lại cao cho thấy hoạt động du lịch tại khu vực hoặc quốc gia đó đang phát triển hiệu quả và đúng hướng, đặc biệt quan trọng đối với khách từ thị trường có khả năng chi trả cao và thời gian lưu trú dài.
– Mức độ hài lòng của khách. Một nền du lịch bền vững không thể dựa trên những sản phẩm du lịch kém chất lượng mà phải để lại ấn tượng tốt cho du khách. Do đó, mức độ hài lòng của khách là chỉ số quan trọng về sự bền vững của hoạt động du lịch. Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là đảm bảo cho du khách những chuyến đi chất lượng và đáng nhớ.
Thứ hai, các tiêu chí về tài nguyên – môi trường. Phát triển du lịch bền vững phải khai thác và sử dụng tài nguyên cho hợp lý, có hiệu quả các tiềm năng tài nguyên và điều kiện môi trường. Với mục tiêu này, trong quá trình phát triển, ngành du lịch phải có những đóng góp tích cực cho công tác tôn tạo nguông tài nguyên và bảo vệ môi trường. Gồm các tiêu chí sau:
– Số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được đầu tư tôn tạo, bảo vệ. Mục tiêu của phát triển bền vững là giảm thiểu khai thác quá mức và lãng phí tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên tự nhiên không tái tạo. Khu vực hoặc quốc gia có nhiều khu, điểm du lịch được đầu tư bảo vệ và tôn tạo chứng tỏ hoạt động du lịch tại đó đang tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững.
– Áp lực môi trường tại các khu, điểm du lịch được quản lý là chỉ số quan trọng cho du lịch bền vững. Điều này được đánh giá qua các biện pháp quản lý và giảm thiểu chất thải, kiểm soát hoạt động phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc duy trì các hệ sinh thái đặc hữu đang bị đe dọa là nền tảng cơ bản cho sự phát triển du lịch theo hướng bền vững.
– Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch cho nổ lực bảo tồn phát triển tài nguyên, bảo vệ môi trường. Du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Chính vì vậy mà tỷ lệ doanh thu của ngành du lịch trích lại cho cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch càng cao, chứng tỏ khả năng phối hợp liên ngành tốt. Việc đánh giá phát triển du lịch bền vững cần dựa trên yếu tố này. Kết quả thu được có thể có xác suất do nhiều khi doanh thu du lịch lại không được dùng vào mục tiêu bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nhưng phần nào cũng thể hiện nội dung của phát triển bền vững.
Thứ ba, các tiêu chí về xã hội. Phát triển du lịch bền vững về mặt xã hội thể hiện trên những khía cạnh sau:
– Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương đối với hoạt động du lịch. Hoạt động du lịch sẽ phát triển bền vững nếu có sự ủng hộ của cộng đồng địa phương. Chính vì vậy, mức độ hài lòng của cộng đồng sẽ phản ánh trạng thái bền vững của hoạt động du lịch phát triển. Để đạt được sự hài lòng của cộng đồng, vai trò của cộng đồng phải được phát huy cũng như đem lại lợi ích cho cộng đồng, cụ thể: Phát huy vai trò của cộng đồng địa phương trong xây dựng, triển quy hoạch phát triển du lịch, nâng cao mức sống cộng đồng nhờ có hoạt động du lịch, phúc lợi xã hội chung của cộng đồng được nâng lên.
– Mức đóng góp du lịch vào việc cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của du lịch là việc đóng góp phát triển kinh tế, xã hội địa phương nơi có du lịch phát triển. Hoạt động du lịch chỉ thực sự bền vững khi mang đến cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương.
1.2. Quản lý nhà nước về du lịch
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi có sự quản lý của Nhà nước để duy trì và phát triển bền vững. Việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào khung pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước. Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là mộtl lĩnh vực của quản lý nhà nước, là hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước nhằm quản lý vi mô các hoạt động du lịch thông qua hệ thống các chính sách, chương trình, văn bản quy phạm pháp luật các văn bản chỉ đạo, điều hành về lĩnh vực du lịch nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực du lịch.
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp từ những quan điểm khác nhau đối với quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát như sau: “Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước (qua hệ thống pháp luật) đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng bền vững các hoạt động du lịch trong nước và quốc tế nhằm đạt được hiệu quả về kinh tế, tự nhiên và xã hội đã đặt ra”. Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững nhằm đưa du lịch phát triển bền vững theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước và theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật của chính quyền địa phương đối với các quá trình, hoạt động du lịch của con người để duy trì và phát triển ngày càng bền vững các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh nhằm đạt được hiệu quả về kinh tế, tự nhiên và xã hội của tỉnh.
1.2.2. Chủ thể quản lý; nguyên tắc quản lý nhà nước về du lịch
Chủ thể quản lý nhà nước về du lịch là hệ thống các cơ quan nhà nước ở các cấp khác nhau, từ trung ương đến địa phương, có chức năng, nhiệm vụ quản lý, điều hành các hoạt động du lịch.
Cấp trung ương:
– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Cơ quan thường trực của Chính phủ, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng, ban hành pháp luật, chính sách, chiến lược phát triển du lịch quốc gia.
– Các bộ, ngành liên quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải,… có trách nhiệm tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, quản lý các hoạt động liên quan đến du lịch thuộc phạm vi quản lý của mình.
Cấp địa phương: Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn, thực hiện các chính sách, pháp luật về du lịch do cấp trên ban hành, đồng thời xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
Việc quản lý nhà nước về du lịch được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau:
– Nguyên tắc pháp luật: Tất cả các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch đều phải tuân thủ pháp luật, các quy định của Nhà nước.
– Nguyên tắc thống nhất: Quản lý nhà nước về du lịch phải đảm bảo tính thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cấp, các ngành.
– Nguyên tắc dân chủ: Quản lý nhà nước về du lịch phải được thực hiện một cách dân chủ, công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến.
– Nguyên tắc khoa học: Quản lý nhà nước về du lịch phải dựa trên cơ sở khoa học, sử dụng các công cụ quản lý hiện đại, phù hợp với tình hình thực tế.
– Nguyên tắc hiệu quả: Quản lý nhà nước về du lịch phải hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch.
– Nguyên tắc bền vững: Quản lý nhà nước về du lịch phải đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành du lịch, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa.
1.2.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững
Hoạt động du lịch rất đa dạng và cần sự quản lý của Nhà nước để duy trì và phát triển. Thành công của ngành du lịch phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý và những chính sách thích hợp với điều kiện và trình độ phát triển của đất nước. Hiện nay, du lịch ở Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển, còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, sự định hướng của Nhà nước để ngành du lịch phát triển là rất cần thiết. Có thế kết luận rằng hoạt động du lịch cần phải có sự quản lý của Nhà nước bởi vì:
Một mặt, do những khuyết điểm và hạn chế của cơ chế thị trường gây nên. Mặt khác, do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển KT-XH nói chung, cũng như đối với ngành du lịch nói riêng trong từng thời kỳ. Nhà nước còn điều tiết, can thiệp vào các quan hệ du lịch nhằm đảm bảo sự ổn định thị trường, giá cả, cạnh tranh lành mạnh và sự phát triển bền vững của ngành.
Mặt khác, QLNN về du lịch tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan QLNN về du lịch mới giúp cho việc khai thác các thế mạnh của từng vùng, từng địa phương đạt kết quả, hơn nữa lại phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế.
Ngoài ra, du lịch còn là một ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác. Do vậy, cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước để điều hòa mối quan hệ giữa du lịch với các ngành, các lĩnh vực có liên quan.
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững
Để du lịch phát triển theo hướng bền vững nhưng vẫn đảm bảo các mục tiêu văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, và bảo vệ môi trường cần thiết phải có sự quản lý nhà nước về du lịch ở mỗi địa phương.
Theo Luật Du lịch số 09/2017/QH14 được ban hành 19/6/2017 [29] có thể nêu nội dung quản lý nhà nước hướng đến phát triển du lịch bền vững như sau:
1.2.4.1. Xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch về phát triển du lịch bền vững
Nhà nước cần đề ra các chiến lược và chính sách để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch, biến nó thành động lực quan trọng cho nền kinh tế quốc gia. Điều này đòi hỏi việc xác định một chiến lược tổng thể phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và tận dụng hiệu quả các nguồn lực có sẵn. Nếu không định hướng phát triển đúng có thể dẫn đến lãng phí và kém hiệu quả, đặc biệt là trong các hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch. Do đó, nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch bền vững.
1.2.4.2. Ban hành các văn bản pháp luật về phát triển du lịch bền vững
Hệ thống văn bản pháp luật được hình thành từ các quy định chính sách và pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo. Để các quy định về du lịch được thực thi hiệu quả, cơ quan chức năng cần tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật một cách nghiêm túc, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển bền vững của ngành du lịch. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách và xử lý nghiêm vi phạm. Đồng thời, việc ban hành các văn bản phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật và cơ quan cấp trên, sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm túc trong thực thi.
1.2.4.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững
Quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững đòi hỏi một bộ máy tổ chức và các cơ chế hoạt động hiệu quả để đảm bảo việc phát triển du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ môi trường và duy trì giá trị văn hóa. Các yếu tố cơ bản của tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững:
(1) Cơ quan quản lý du lịch trung ương:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược, chính sách và quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch bền vững. Bộ này sẽ phối hợp với các bộ ngành khác và các địa phương để triển khai các chương trình và dự án du lịch.
Tổng cục Du lịch: Dưới sự quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch đảm nhiệm việc thực hiện các chính sách và chiến lược du lịch, giám sát và đánh giá các hoạt động du lịch trên cả nước.
(2) Cơ quan quản lý du lịch địa phương:
Sở Du lịch/Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Các sở này ở cấp tỉnh/thành phố chịu trách nhiệm thực hiện các kế hoạch phát triển du lịch của trung ương, đồng thời phát triển các chương trình du lịch phù hợp với đặc thù của địa phương.
Phòng Văn hóa Thông tin: Ở cấp huyện/xã, phòng này phụ trách việc triển khai các hoạt động du lịch tại địa phương, đảm bảo các hoạt động này tuân thủ các quy định và chính sách về du lịch bền vững.
(3) Cơ chế phối hợp liên ngành:
Hội đồng Phát triển Du lịch Quốc gia: Hội đồng này bao gồm đại diện từ các bộ, ngành liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Bộ Công Thương. Hội đồng này sẽ tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch bền vững và phối hợp giữa các ngành.
Ban Chỉ Đạo Du Lịch Bền Vững: Các ban chỉ đạo này có thể được thành lập ở cấp tỉnh/thành phố để giám sát và điều phối các hoạt động du lịch bền vững tại địa phương, đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách và chiến lược du lịch.
(4) Cơ chế tham vấn cộng đồng:
Hội đồng Du lịch Cộng đồng: Thành lập các hội đồng này ở các khu vực du lịch trọng điểm, bao gồm đại diện của các cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, và các tổ chức phi chính phủ. Hội đồng này sẽ tham gia vào quá trình ra quyết định và giám sát việc thực hiện các dự án du lịch bền vững, đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương được bảo vệ và thúc đẩy.
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trung ương và địa phương, các bộ ngành liên quan, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng và các bên liên quan. Việc xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, bảo vệ môi trường và duy trì giá trị văn hóa, đồng thời đảm bảo lợi ích kinh tế cho quốc gia và cộng đồng.
1.2.4.4. Xây dựng nguồn nhân lực ngành du lịch có chất lượng
Chất lượng nguồn nhân lực cũng ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch, từ cạnh tranh giữa các quốc gia đến cạnh tranh giữa các ngành và doanh nghiệp. Để phát triển du lịch bền vững, việc đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ nguồn nhân lực là cần thiết và cần được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là tại những địa phương có tiềm năng du lịch.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương cũng góp phần thu hút du khách và bảo vệ môi trường, văn hóa của địa phương. Việc khuyến khích cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch thông qua các công việc có thu nhập cao và công việc quản lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của du lịch địa phương.
Việc đào tạo và sử dụng nhân viên địa phương có kinh nghiệm và hiểu biết sâu về địa phương sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và mang lại lợi ích lâu dài cho cả cộng đồng và ngành du lịch.
1.2.4.5. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch và quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch
Cơ sở hạ tầng được ví như “xương sống” của mọi ngành, bao gồm cả ngành du lịch. Đây là yếu tố quan trọng giúp mở đường cho việc thu hút các nhà đầu tư phát triển các dự án du lịch.
Kinh doanh du lịch là sự kết hợp giữa hoạt động kinh tế của các dịch vụ liên quan đến du lịch và các yếu tố kinh tế khác. Các hoạt động này được tạo ra dựa trên sự phát triển của các sản phẩm du lịch và quá trình trao đổi mua bán hàng hóa du lịch trên thị trường. Hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm việc trao đổi các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch).
Quản lý hoạt động kinh doanh du lịch là việc sử dụng quyền lực của Nhà nước tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và trong hoạt động du lịch. Mục tiêu là đảm bảo phát triển du lịch mà vẫn giữ được cân bằng với bảo vệ môi trường và lợi ích của du khách, tổ chức, và cá nhân kinh doanh du lịch. Đồng thời, chính sách này cũng khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc phát triển ngành du lịch.
1.2.4.6. Tổ chức kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phát triển du lịch bền vững
Sự phát triển nhanh chóng của du lịch có thể dẫn đến các hậu quả tiêu cực như khai thác quá mức các khu vực du lịch, gây ô nhiễm cho môi trường sinh thái, và xâm phạm vào bản sắc văn hóa của đất nước, địa phương. Do đó, cơ quan nhà nước cần thực hiện kiểm tra, thanh tra, và giám sát định kỳ để ngăn chặn những hành vi tiêu cực này. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và quy định liên quan đến đầu tư và khai thác điểm du lịch. Ngoài ra, việc xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về phát triển du lịch bền vững cũng là điều cần thiết trên mọi diện rộng.
1.2.5. Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững
– Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch: bao gồm vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, và tài nguyên sinh vật, là nền tảng cho việc quy hoạch và phát triển du lịch. Các yếu tố tự nhiên phong phú giúp định hướng chính sách và quyết định quản lý nhà nước về du lịch. Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi các điểm du lịch nằm gần trung tâm kinh tế-xã hội, giúp giảm thời gian và chi phí đi lại cho du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.
– Kinh tế xã hội: Tình hình phát triển kinh tế xã hội địa phương đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch và quản lý du lịch. Khi kinh tế xã hội ổn định và có môi trường chính sách thuận lợi, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp và du khách tham gia vào hoạt động du lịch, cũng như giúp cho công tác quản lý du lịch trở nên hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật không đáp ứng được hoặc không đảm bảo an toàn cho du khách, địa phương sẽ không thu hút được du khách. Hiện nay, du khách tìm đến những địa điểm có điều kiện an ninh tốt và môi trường kinh tế chính trị ổn định, nhằm đảm bảo an toàn cho chuyến đi.
– Đường lối phát triển du lịch bền vững: là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với mỗi quốc gia, vì nó giống như chìa khóa mở ra thành công cho ngành du lịch – một nguồn thu nhập quan trọng. Điều này thể hiện thông qua các chính sách và chiến lược như đầu tư, xúc tiến du lịch, quảng bá, sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ tài nguyên môi trường. Một chiến lược phát triển đúng đắn có thể thúc đẩy ngành du lịch, trong khi chiến lược sai lầm có thể cản trở sự phát triển
1.2.2.2. Yếu tố chủ quan
– Các quy định của pháp luật về quản lý ngành du lịch trên phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn tỉnh: Các văn bản pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hành lang an toàn và quy chuẩn cho các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Chính quyền địa phương cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản có tính pháp lý – hành chính, để cụ thể hóa và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của địa phương. Qua đó, đảm bảo sự gắn kết lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân, đồng thời thực hiện mục tiêu của Nhà nước và đáp ứng ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
– Định hướng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh: Việc xây dựng, ban hành và triển khai các định hướng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích phát triển kinh tế-xã hội ở cấp địa phương. Thông qua đó, với nguồn lực hiện có của địa phương cùng sự hỗ trợ từ cấp trung ương được huy động để thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội tổng thể và đặc biệt là ngành du lịch ở tỉnh.
– Chính sách thuế, giá của các cơ quan quản lý du lịch ở Trung ương và các cấp tỉnh cũng như các tổ chức kinh doanh du lịch: Đây có thể xem là công cụ mang tính đòn bẩy để kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành du lịch. Các chính sách khuyến mãi, giảm giá các dịch vụ du lịch nhằm thu hút du khách vào mùa thấp điểm cũng như kéo dài thời gian lưu trú.
– Vai trò, năng lực, và hiệu quả của chính quyền địa phương trong quản lý du lịch là rất quan trọng. Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội là yếu tố thiết yếu cho phát triển du lịch. Chính quyền cần có khả năng tổ chức quản lý, khai thác nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội, cung cấp dịch vụ công đáp ứng nhu cầu quản lý du lịch và cộng đồng địa phương. Đồng thời, tính chủ động trong việc hỗ trợ xúc tiến đầu tư và phát triển thị trường du lịch cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy ngành du lịch.
– Nguồn vốn đầu tư du lịch: Để phát triển ngành du lịch, các doanh nghiệp cần có nguồn vốn để cải tạo, đổi mới, nâng cấp cơ sở hạ tầng điểm đến. Tuy nhiên, với mức lãi suất vay ngân hàng hiện nay còn rất cao, hồ sơ vay vốn của các doanh nghiệp đa phần không đủ điều kiện để đáp ứng yêu cầu từ phía ngân hàng, do phải cung cấp tài sản đảm bảo hoặc cam kết tiềm năng phát triển dựa trên doanh thu. Cần có các chính sách hỗ trợ vay vốn và cải thiện cơ chế cho vay.
– Nguồn nhân lực quản lý vào lao động trong ngành du lịch: Yếu tố năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức địa phương đóng vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động du lịch. Sự phát triển của ngành du lịch cũng phụ thuộc vào nhận thức, văn hóa, trình độ, và kỹ năng của đội ngũ lao động trong ngành. Để nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và lao động du lịch, cần chú trọng vào công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 của đề án, tác giả đã tập trung làm rõ các cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch hướng tới phát triển bền vững. Chương 1 đã trình bày các khái niệm cơ bản về du lịch, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững. Các khái niệm này cung cấp nền tảng lý thuyết để hiểu rõ hơn về mục tiêu, nội dung và phương pháp quản lý nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài và hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường.
Tiếp theo, chương 1 đã nêu rõ các nguyên tắc và tiêu chí phát triển du lịch bền vững, bao gồm khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, duy trì sự đa dạng sinh học và văn hóa, và đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương. Những nguyên tắc và tiêu chí này là cơ sở để định hướng các hoạt động quản lý và phát triển du lịch tại huyện Thạnh Phú.
Bên cạnh đó, phân tích các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về du lịch, bao gồm các yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, và các chính sách phát triển, cũng như các yếu tố chủ quan như năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước và nguồn lực đầu tư. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp xác định các thách thức và cơ hội trong quản lý và phát triển du lịch bền vững.
Cuối cùng, chương 1 đã làm rõ các nội dung quản lý nhà nước cần thiết để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, bao gồm xây dựng chiến lược và quy hoạch, ban hành các văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng, và thực hiện kiểm tra, giám sát. Những nội dung này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành du lịch tại huyện Thạnh Phú.
- CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TẠI
HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN
DU LỊCH BỀN VỮNG
2.1. Khái quát về huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Thạnh Phú là một trong ba huyện ven biển của tỉnh Bến Tre và nằm trong khu vực Cù lao Minh. Địa giới huyện Thạnh Phú về phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Mỏ Cày Nam; phía Bắc giáp huyện Ba Tri với ranh giới là sông Hàm Luông, phía Nam giáp tỉnh Trà Vinh với ranh giới là sông Cổ Chiên. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 425,7 km2, tính đến nay huyện có dân số là 127.800 người, mật độ dân số 311 người/km2. Địa bàn huyện được chia thành 18 đơn vị hành chính trực thuộc. Huyện Thạnh Phú có tài nguyên phong phú và đa dạng: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2023 là 42.656 ha, diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn huyện là 2.780,2 ha. [17]
Huyện Thạnh Phú nổi bật với nhiều di tích văn hóa-lịch sử (2 di tích cấp quốc gia và 2 di tích cấp tỉnh), công viên Nghĩa trang Đường Hồ Chí Minh trên biển, điểm du lịch sinh thái, bờ biển, làng nghề truyền thống, điểm vui chơi giải trí, lễ hội dân gian, và ẩm thực phong phú.
Huyện Thạnh Phú đã thực hiện nhiều dự án và mô hình du lịch hiệu quả như: mô hình du lịch sinh thái rừng phòng hộ tại xã Thạnh Phong; du lịch homestay kết hợp với việc tham quan các di tích văn hóa – lịch sử; du lịch tâm linh và du lịch biển Cồn Bửng. Ngoài ra, các điểm tham quan như Nhà cổ Huỳnh Phủ; khu mộ xã Đại Điền; hàng cây sao xã Phú Khánh; di tích lịch sử trận đánh 30 tháng 10 xã Mỹ Hưng; chùa An Linh; bia lưu niệm nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên tại xã Phú Khánh; tượng đài Giá Thẻ, xã An Nhơn; bia lưu niệm nơi xuất quân Tiểu đoàn 307 và thành lập Tiểu đoàn 310; Di tích cấp quốc gia Đường Hồ Chí Minh trên biển; bia mộ 21 người; Lăng Ông Nam Hải… đã tạo ra những cơ hội và tiềm năng cho du lịch ở Huyện Thạnh Phú.
2.2. Thực trạng về hoạt động du lịch tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 ngành du lịch của huyện Thạnh Phú cũng bị ảnh hưởng và có sự thay đổi rõ rệt về lượng khách du lịch
Giai đoạn 2020 – 2021 là một thời kỳ đầy thách thức khi lượng khách du lịch giảm mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Huyện không thể tổ chức Tuần lễ Văn hóa – Du lịch và Ẩm thực biển. Điều này dẫn đến lượng khách du lịch sụt giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành du lịch của huyện. Năm 2020, lượng khách du lịch giảm còn 150,000 lượt, với tốc độ giảm 50%. Sang năm 2021, con số này tiếp tục giảm xuống 120,500 lượt, với tốc độ giảm 20%. [47]
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

