Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam đang gặp những sức ép rất lớn về môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn (CTR) nói riêng. Trên phạm vi toàn quốc, CTR phát sinh gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới cả về khối lượng và mức độ độc hại. Do vậy, việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy CTR đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý [11].

Khi nói đến CTR, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của các đô thị hay các thành phố lớn. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. CTR không còn là vấn đề cấp bách của riêng các đô thị và các thành phố lớn mà đã trở thành vấn đề đáng báo động cả ở các vùng nông thôn. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ các ngành nghề ở nông thôn, việc thay đổi tập quán sinh sống làm cho các áp lực từ CTR khu vực nông thôn gia tăng cả về thành phần, tính độc hại và lượng phát sinh CTR. Việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, thức ăn chăn nuôi,… trong sản xuất nông nghiệp, CTR từ hoạt động làng nghề và CTR từ sinh hoạt là những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT) nông thôn.

Nghĩa Dõng là xã trực thuộc thành phố Quảng Ngãi, cách trung tâm thành phố khoảng 2 km về phía Đông. Địa bàn này có diện tích tự nhiên 6,08 km2, được chia thành 04 thôn với dân số 8.687 người và mật độ dân số là 1430 người/ km2 [3]. Cũng như bao vùng nông thôn khác, Nghĩa Dõng đang đối mặt với vấn đề ÔNMT do CTR nông thôn phát sinh ngày càng tăng, trong khi điều kiện cơ sở hạ tầng về thu gom, vận chuyển và xử lý còn nhiều hạn chế. Điều này đã làm suy giảm chất lượng môi trường, ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và sức khoẻ của người dân.

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi” đã được lựa chọn và thực hiện nhằm đánh giá đúng thực trạng CTR nông thôn trên địa bàn xã Nghĩa Dõng, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi và hợp lý để tăng cường công tác quản lý CTR, góp phần giảm thiểu ÔNMT do CTR gây ra.

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

      1. 2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
      2. 2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

      1. 3.1. Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được thực trạng CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi; từ đó xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất được các giải pháp quản lý CTR phù hợp và khả thi nhằm góp phần giảm thiểu ÔNMT tại địa bàn nghiên cứu.

      1. 3.2. Các mục tiêu cụ thể

– Làm rõ được thực trạng phát sinh CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi.

– Đánh giá được thực trạng quản lý CTR tại địa bàn nghiên cứu.

– Ước tính được mức sẵn sàng chi trả của người dân về phí vệ sinh môi trường (VSMT).

– Đề xuất được các giải pháp quản lý CTR hiệu quả và phù hợp với thực tế của địa phương.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

      1. 4.1. Về không gian

Địa bàn nghiên cứu của luận văn là xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi (xem ranh giới hành chính của địa bàn nghiên cứu ở hình 1). Xã được chia thành 04 thôn với tổng dân số 8.687 người và mật độ dân số là 1.430 người/ km2 [3].

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng thành phố Quảng Ngãi

Hình 1. Ranh giới hành chính của địa bàn nghiên cứu

      1. 4.2. Về thời gian

Các dữ liệu về thực trạng phát sinh và công tác quản lý CTR ở xã Nghĩa Dõng được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 05 năm 2018. Nguồn số liệu đưa vào phân tích nằm trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.

5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

– Tiến hành làm rõ hiện trạng phát sinh CTRSH hộ gia đình và chất thải nông nghiệp như rơm rạ, chất thải chăn nuôi và bao bì thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ở xã Nghĩa Dõng.

– Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn nông thôn; qua đó xác định những tồn tại và thách thức của công tác quản lý này ở địa bàn nghiên cứu.

– Tính toán mức sẵn sàng chi trả phí VSMT và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn sàng chi trả phí VSMT của người dân ở địa bàn nghiên cứu.

– Xác lập cơ sở khoa học; từ đó đề xuất các giải pháp khả thi và hợp lý giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn ở địa bàn nghiên cứu.

6. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

– CTR nông thôn trên địa bàn xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi.

– Các hộ dân sống trên địa bàn xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi.

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      1. 7.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu có liên quan một cách chọn lọc; từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu. Đó là các tài liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội (KT–XH) của xã Nghĩa Dõng; các số liệu từ niên giám thống kê thành phố Quảng Ngãi; các kết quả nghiên cứu, các báo cáo có liên quan đến lĩnh vực quản lý CTR nông thôn ở trong nước và quốc tế.

      1. 7.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Điều tra, khảo sát thực địa về công tác quản lý CTR nông thôn trên địa bàn nghiên cứu, nhằm thu thập ý kiến nhiều đối tượng khác nhau về những vấn đề liên quan đến công tác quản lý CTR nông thôn tai khu vực nghiên cứu, bao gồm: nguồn phát sinh CTRSH và nông nghiệp; công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH và nông nghiệp của hộ gia đình và địa phương; các thông tin liên quan đến mức sẵn sàng chi trả phí VSMT của người dân; những khó khăn, hạn chế đối với công tác quản lý CTR nông thôn…

7.2.1. Phương pháp phỏng vấn cấu trúc

Phương pháp phỏng vấn cấu trúc được dùng để thu thập thông tin định lượng về nguồn phát sinh CTRSH và nông nghiệp; công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH và nông nghiệp; mức sẵn sàng chi trả phí VSMT và các nguyên do sẵn sàng và không sẵn sàng chi trả của họ của người dân.

– Để xác định cỡ mẫu nghiên cứu, đề tài áp dụng công thức Slovin (1960) với mức tin cậy mặc định của công thức này là 95%:

(1)

Trong đó:

n: Dung lượng mẫu cần chọn;

N: Kích thước của tổng thể;

e: Sai số kỳ vọng.

Với sai số kỳ vọng 10% và tổng số hộ dân của xã là 2.547 hộ [3], áp dụng công thức (1), ta có dung lượng mẫu như sau:

hộ

Để phòng trường hợp mẫu không hợp lệ do các nguyên nhân như gia đình đi vắng, người được phỏng vấn không sẵn lòng hợp tác…, cỡ mẫu điều tra cần được cộng thêm một số lượng mẫu phụ. Ở Việt Nam qua kinh nghiệm của các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm tỷ lệ từ chối ít khi vượt quá 10% [8]. Do vậy, dung lượng mẫu cần chọn là 106 hộ.

Phương pháp chọn mẫu được sử dụng là phương pháp ngẫu nhiên phân lớp tính theo tỷ lệ; nghĩa là dung lượng mẫu phân theo thôn có tính theo tỷ lệ số hộ dân ở các thôn điều tra. Vì số hộ dân của các thôn không bằng nhau nên dung lượng mẫu phỏng vấn ở mỗi thôn được tính theo công thức sau:

Trong đó:

n (dung lượng mẫu): 106 hộ;

N (kích thước của tổng thể): 2.547 hộ;

ni: Dung lượng mẫu của thôn;

Ni: Số hộ của thôn.

Kết quả chọn mẫu được thể hiện ở bảng 1 như sau:

Bảng 1. Kết quả chọn mẫu trong từng lớp

ThônSố hộ của thôn (Ni)Dung lượng mẫu
của thôn
(ni)
Tỷ lệ mẫu ở mỗi thôn trong tổng cỡ mẫu (%)
Thôn 15942524
Thôn 26852826
Thôn 36702826
Thôn 45982524
Tổng2547106100

Quá trình chọn người đại diện trả lời phỏng vấn trong mỗi hộ gia đình cũng sẽ lưu ý đến sự cân bằng giữa nam và nữ để tránh thiên lệch ý kiến giới tính đối với các thông tin đã được cung cấp. Những người trả lời phỏng vấn phải là thành viên chính thức hiện đang sống trong hộ gia đình được khảo sát, ít nhất là từ 18 tuổi trở lên, có hiểu biết về vấn đề đang được khảo sát cũng như các vấn đề xã hội khác; đồng thời có đầy đủ năng lực hành vi để trả lời các câu hỏi phỏng vấn. Trước khi được phỏng vấn, tất cả các đáp viên đều sẽ được thông báo rõ về mục đích khảo sát, sự bảo mật thông tin, quyền tham gia hoặc từ chối tham gia phỏng vấn của họ.

7.2.2. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Phương pháp này được dùng để thu thập thông tin định tính về vấn đề cần nghiên cứu và tìm hiểu tình hình quản lý CTR của chính quyền địa phương. Đại diện lãnh đạo chính quyền địa phương, cán bộ phụ trách môi trường, đại diện hội nông dân, đại diện hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, đội trưởng đội thu gom rác, trưởng thôn và 30 hộ dân sản xuất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu đã được điều tra theo phương pháp này.

7.2.3. Phương pháp xác định khối lượng chất thải rắn sinh hoạt

Để xác định khối lượng CTRSH phát sinh tại các hộ gia đình một cách khách quan, đảm bảo độ tin cậy và tính đại diện, đề tài thu thập thông tin về số hộ tại địa bàn nghiên cứu dựa trên tiêu chí ngành nghề của các hộ gia đình, từ đó lựa chọn 30 hộ (lượng cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho 1 nghiên cứu) sao cho đại diện được vùng phân bố và mật độ dân cư.

Bước tiếp theo, các hộ gia đình được cung cấp các bao đựng CTRSH để cho toàn bộ CTR phát sinh vào trong các bao đựng chất thải đã được cung cấp. CTRSH của các hộ sẽ được thu gom, phân loại và xác định khối lượng phát thải hằng ngày. Công việc này được thực hiện liên tục trong 7 ngày.

      1. 7.3. Phương pháp bình quân gia quyền

Phương pháp này được sử dụng để xác định mức sẵn sàng chi trả bình quân của 96 hộ được phỏng vấn và được tính theo công thức sau:

(2)

Trong đó:

– WTP: Mức sẵn sàng chi trả trung bình của hộ được phỏng vấn;

– k: Chỉ số của các mức sẵn sàng chi trả (k = 1 ÷ 5);

– WTPk: Mức sẵn sàng thứ k;

– nk: Số hộ gia đình tương ứng với WTPk.

      1. 7.4. Phương pháp ước tính mức sẵn sàng chi trả

Mức sẵn sàng chi trả được ước tính bằng phương pháp sử dụng hàm hồi quy như sau:

7.4.1. Lựa chọn các biến và các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn sàng chi trả

Để phân tích mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chính tới mức sẵn sàng chi trả của người dân thực hiện dịch vụ thu gom, quản lý, xử lý CTRSH, hàm hồi quy được sử dụng để đánh giá. Nghiên cứu này chọn một số biến: nghề nghiệp (D), thu nhập (Inc), nhân khẩu (N). Trong đó mức sẵn sàng chi trả là biến phụ thuộc, còn các biến ảnh hưởng đến mức sẵn sàng chi trả là biến độc lập.

7.4.2. Lựa chọn dạng hàm

Mức sẵn sàng chi trả được biểu diễn bằng hàm số sau:

WTP = f (D, Inc, N) (3)

Ở hàm số (3), các biến định lượng, định tính được thể hiện như sau:

– Biến định lượng:

+ Inc: Thu nhập bình quân hàng tháng của hộ gia đình (nghìn đồng/tháng).

+ N: Số lượng nhân khẩu của hộ (người).

– Biến định tính:

+ D: Nghề nghiệp của người được phỏng vấn.

7.4.3. Xây dựng mô hình hồi quy

Từ hàm số (3) với giả định rằng, mô hình hồi quy của mức sẵn sàng chi trả theo các biến nghề nghiệp (D), thu nhập (Inc) và nhân khẩu (N). Mô hình tuyến tính có dạng:

(4)

Trong đó:

– WTPi: mức sẵn sàng chi trả của quan sát thứ i

– i: Chỉ số của các quan sát (i = 1 ÷ 96)

– j: Chỉ số của các biến (j = 1 ÷ 3)

– β0: Hệ số tự do (intercept).

– βj: Hệ số hồi quy (Coefficients).

– xj: Các biến Inc, D (D1, D2, D3), N.

– xji: Giá trị xj của quan sát thứ i.

– ui: Sai số ngẫu nhiên; tuân theo phân phối chuẩn và độc lập, với giá trị trung bình bằng không.

Cụ thể mô hình được viết như sau:

WTPi = β0 + β1Ni + β2Inci + β3D1i + β4D2i + β5D3i + ui (5)

Trong đó:

– Inc: Biến thu nhập (đơn vị: ngàn đồng/tháng).

– N: Số lượng nhân khẩu của hộ (đơn vị: người).

– D1, D2, D3 là các biến nghề nghiệp của người được phỏng vấn tương ứng lần lượt với nông nghiệp, kinh doanh và công nhân – viên chức Nhà nước, được thể hiện theo bảng 2:

Bảng 2. Thể hiện biến nghề nghiệp

Biến

Nghề

D1D2D3
Nông nghiệp100
Kinh doanh010
Công nhân viên chức Nhà nước001
Nghề khác (*)000

* Nghề khác là một trong các nghề như thợ xây, hưu trí, thợ mộc, tiểu thủ công nghiệp, nội trợ…

      1. 7.5. Phương pháp xử lý số liệu

Các thông tin định lượng thu thập được từ phương pháp phỏng vấn cấu trúc, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, phương pháp xác định khối lượng CTRSH phát sinh được xử lý bằng Microsoft Excel. Số liệu được thể hiện thành bảng, biểu đồ, đồ thị và được phân tích chi tiết trong kết quả nghiên cứu của luận văn.

Các thông tin định tính thu thập được từ phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp được xử lý dưới dạng trích lời dẫn, trích nguyên đoạn văn, … để phân tích, lý giải trong các nội dung của luận văn.

      1. 7.6. Phương pháp phân tích SWOT

Phân tích SWOT là một công cụ hữu hiệu được sử dụng nhằm làm rõ Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) của công tác quản lý CTR ở địa bàn nghiên cứu. Thông qua phân tích SWOT, mục tiêu cũng như các yếu tố trong và ngoài địa bàn nghiên cứu có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới công tác quản lý CTR sẽ được xác định.

Trong quá trình đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR cho địa bàn nghiên cứu, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, có hiệu quả cao giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể không chỉ về công tác quản lý CTR mà còn nắm bắt được những yếu tố quyết định đến sự thành công của công tác quản lý CTR ở xã Nghĩa Dõng.

8. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

      1. 8.1. Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc quản lý CTR ở địa bàn nghiên cứu nói riêng và góp phần vào xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý CTR trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi nói chung.

      1. 8.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho chính quyền địa phương và người dân có cách nhìn toàn diện và khách quan về thực trạng quản lý CTR tại địa phương; qua đó giúp cho địa phương có kế hoạch quản lý CTR tốt hơn, góp phần giảm thiểu ÔNMT do CTR gây ra.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN

1.1.1. Các khái niệm liên quan

1.1.1.1. Chất thải rắn

Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì khái niệm CTR được hiểu như sau: CTR là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.

1.1.1.2. Quản lý chất thải rắn

– Theo Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2014 thì Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.

– Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, khái niệm về phân định, phân loại, vận chuyển, tái sử dụng, sơ chế, tái chế, xử lý chất thải bao gồm:

+ Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế.

+ Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau.

+ Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển.

+ Tái sử dụng chất thải là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải.

+ Sơ chế chất thải là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật cơ – lý đơn thuần nhằm thay đổi tính chất vật lý như kích thước, độ ẩm, nhiệt độ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân loại, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý nhằm phối trộn hoặc tách riêng các thành phần của chất thải cho phù hợp với các quy trình quản lý khác nhau.

+ Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải.

+ Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải.

– BCL CTR là một diện tích hoặc một khu đất được quy hoạch lựa chọn, thiết kế, xây dựng để thải bỏ CTR [7].

1.1.1.3. Mức sẵn sàng chi trả (Willingness to pay – WTP)

Theo Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), mức sẵn sàng chi trả được mô tả như là một khoản tiền mà một cá nhân sẵn sàng chi trả để có được hàng hóa hay dịch vụ nào đó [10].

Trong nghiên cứu này, mức sẵn sàng chi trả có thể hiểu là số tiền tối đa mà một cá nhân sẵn sàng chi trả để được hưởng lợi ích từ một sự thay đổi nào đó.

1.1.1.4. Phí vệ sinh môi trường

– Theo Luật Phí và lệ phí năm 2015 thì phí là một khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Luật này.

– Điều 24, Luật Phí và lệ phí năm 2015 quy định các khoản phí trong Danh mục phí và lệ phí chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá do Nhà nước định giá. Phí BVMT đối với CTR và phí vệ sinh được chuyển sang thực hiện theo cơ chế giá do Nhà nước định giá và có tên gọi là dịch vụ xử lý CTRSH và dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt.

Trong nghiên cứu này, phí VSMT có thể hiểu là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân được cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH theo quy trình kỹ thuật của cơ quan có thẩm quyền quy định.

Mỗi tỉnh, thành phố có những quy định khác nhau về phí VSMT. Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi thực hiện theo Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành mức thu phí vệ sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

1.1.1.5. Khái niệm về nông thôn

– Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.

– Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau [17].

1.1.2. Phân loại chất thải rắn

1.1.2.1. Theo nguồn gốc phát sinh

– CTRSH là những chất thải liên quan đến hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại. CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương, lông động vật, tre, gỗ, vải, da, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ củ quả, xỉ than, tro, các thiết bị đồ điện hỏng, pin, ắc quy hỏng…

– CTR công nghiệp là CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; thành phần CTR công nghiệp rất đa dạng và mang tính đặc trưng của ngành nghề sản xuất.

– CTR xây dựng: phát sinh trong hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở gồm các phế thải như đất, đá (do các họa động đào móng trong xây dựng), gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá vỡ, dỡ bỏ công trình xây dựng, các vật liệu kim loại, bao bì, vật liệu dẻo…

– CTR nông nghiệp là các loại chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ…), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, lõi ngô, thân ngô, thân cây…), các phế phẩm nông nghiệp như rơm, dạ, chấu, bao bì phân bón, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, chai lọ đựng thuốc trừ sâu, các chất thải từ chăn nuôi như thức ăn dư thừa, chất lót chuồng trại, xác động vật chết, phân gia súc, gia cầm, chất thải từ giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thực phẩm…

– CTR làng nghề: phát sinh từ các làng nghề thủ công. CTR làng nghề gồm nhiều loại, phụ thuộc vào nguồn phát sinh mang đặc tính của loại hình sản xuất. Một số nhóm ngành nghề chính như làng nghề chế biến lượng thực thực phẩm phát sinh CTR chủ yếu là các loại nông sản bị loại bỏ trong quá trình chế biến, phế phụ phẩm bị ôi thiu, các loại vỏ, bã, xơ nông sản; nhóm làng nghề tái chế phế liệu phát sinh các loại CTR như nilong, cao su, thủy tinh, nhựa không có khả năng tái chế; nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ phát sinh CTR như gỗ vụn, gỗ mảnh, mùn cưa, dăm bào, vỏ chai, giấy thải; nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da: CTR chủ yếu là xỉ than, hóa chất nhuộm, vải vụn, xơ vải… và một số nhóm làng nghề khác.

– CTR y tế: phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh tại các bệnh viện, trung tâm y tế, trạm xá, phòng khám chữa bệnh tư nhân hoặc khám chữa bệnh tại nhà. CTR y tế bao gồm các loại bông, băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật; các loại kim tiêm, ống tiêm, ống truyền dịch, lọ truyền dịch; mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác động vật từ phòng thử nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly; các loại chất thải phóng xạ từ các thiết bị y tế; các CTR thông thường từ các cơ quan hành chính của bệnh viện như chất hữu cơ, giấy, gỗ, kim loại, sành sứ gạch vỡ, thủy tinh, nhựa, nilong và các thành phần khác [12].

1.1.2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại

– CTR nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ gây phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan, chất thải phóng xạ… có nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người, động vật và cây cỏ. Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.

– CTR không nguy hại: là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp [12].

1.1.2.3. Theo tính chất

– CTR vô cơ là những chất thải không có khả năng phân hủy trong điều kiện tự nhiên hoặc có thể phân hủy nhưng trong thời gian rất dài: bao gồm các loại CTR có thành phần là gỗ, thủy tinh, nhựa, kim loại, nilong, gạch, đá, bê tông, gốm sứ…

– CTR hữu cơ là các chất thải có chứa các hợp chất hữu cơ, có khả năng hoặc dễ dàng phân hủy sinh học bao gồm các chất thải từ có nguồn gốc từ thực vật; thực phẩm, thực phẩm dư thừa, phế thải nông nghiệp (rơm, rạ), xác động thực vật chết, lá cây rụng, thân cây, cành cây mục nát, thực phẩm hỏng hoặc thừa (rau, quả, thịt, cá, trứng, phế thải sinh hoạt (đồ dùng từ vải, bông, sợi bông, carton), phế thải của làng nghề chế biến tinh bột…[12].

1.2. QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM

1.2.1. Tổng quan về phát sinh chất thải rắn nông thôn tại Việt Nam

CTR nông thôn là những loại CTR phát sinh từ các khu vực nông thôn, chủ yếu gồm 3 nhóm chính là: CTRSH, CTR nông nghiệp và CTR làng nghề.

1.2.1.1. Tổng quan về phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn

Dân số ngày càng gia tăng, điều kiện KT-XH ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân tại các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng CTRSH tại các vùng nông thôn trên cả nước.

CTRSH nông thôn phát sinh từ các nguồn chủ yếu như: hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính… CTRSH khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu cơ dễ phân hủy [12].

Theo ước tính, với mức phát sinh trung bình khoảng 0,3 kg/người/ngày thì lượng CTRSH phát sinh tại các khu vực nông thôn trên cả nước năm 2013 là 18.200 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm, trong đó, Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có khối lượng CTRSH nông thôn phát sinh lớn nhất [2].

1.2.1.2. Tổng quan về phát sinh chất thải rắn nông nghiệp nông thôn

CTR nông nghiệp bao gồm CTR nông nghiệp thông thường và CTR nông nghiệp nguy hại. CTR nông nghiệp thông thường bao gồm các loại CTR phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ,…), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô…), các CTR từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thuỷ sản… CTR nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (bao bì hoá chất BVTV, thuốc kích thích, tăng trưởng…), hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ). CTR nông nghiệp gồm nhiều chủng loại khác nhau, phần lớn là các thành phần có thể phân hủy sinh học như phân gia súc, gia cầm, rơm rạ, trấu, CTR từ chăn nuôi. Ngoài ra, một phần CTR nông nghiệp là các chất thải khó phân hủy và độc hại như bao bì hóa chất BVTV. Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, hóa chất BVTV đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát. Do đó, các CTR bao bì đựng phân bón, hóa chất BVTV tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát. Theo thống kê của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn nước ta phát sinh khoảng 14.000 tấn bao bì hóa chất BVTV, phân bón hóa học.

CTR từ trồng trọt: Vào những ngày thu hoạch, lượng rơm rạ và các phụ phẩm nông nghiệp khác phát sinh nhiều và chiếm thành phần chủ yếu trong CTR nông nghiệp. Tại các vùng đồng bằng, diện tích canh tác lớn, do vậy lượng CTR nông nghiệp từ trồng trọt là rất lớn, thành phần CTR cũng rất khác so với những vùng trung du, miền núi. Với khoảng 7.5 triệu hecta đất trồng lúa ở nước ta, hàng năm lượng rơm rạ thải ra lên tới 76 triệu tấn. Tuy nhiên, hiện nay lượng rơm rạ thải này không được tính toán trong thống kê lượng CTR phát sinh của các địa phương cũng như toàn quốc.

CTR chăn nuôi: Hiện tại, tại các vùng nông thôn Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi với gần 6 triệu bò; gần 3 triệu trâu; 27 triệu lợn; 300 triệu gia cầm. Riêng về nuôi lợn, từ 1 – 5 con chiếm 50% số hộ, nuôi 6 – 10 con chiếm 20%, từ 11 con trở lên chiếm 30%, tương đương với việc tạo ra khoảng 74 triệu tấn CTR chăn nuôi mỗi năm [1].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR nông thôn ở xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *