Mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và cho vay lãi suất cao
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo thống kê của Cục thông tin Đối Ngoại, Bộ Thông Tin và Truyền Thông, chỉ riêng trong tháng 10 năm 2023, có tới 425 bài viết của các hãng thông tấn, báo đài nước ngoài nói về sự tích cực trong triển vọng kinh tế – xã hội Việt Nam, đặc biệt là sự phục hồi và tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 202-2030. Các tờ báo cũng đưa ra các nhận định kinh tế số đang tạo ra những cơ hội để Việt Nam có thể tận dụng nhằm phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế số vừa là cơ hội lại vừa là thách thức đối với Việt Nam khi những tệ nạn kinh tế có thể sẽ bùng phát mạnh mẽ và tinh vi hơn. Trên thực tế, các vấn nạn về kinh tế vẫn luôn là là vấn đề nhức nhối và được nhà nước đặc biệt quan tâm, đặc biệt là hành vi cho vay lãi suất cao. Các vấn nạn về cho vay lãi suất cao đã tồn tại từ rất lâu tại Việt Nam và cho đến bây giờ vẫn chưa được xử lý triệt để. Theo số liệu của Bộ Công An, trong 3 năm qua thì nước ta đã có tới 2.740 vụ cho vay lãi suất cao. Đặc biệt thời gian gần đây nhiều thủ đoạn mới của các tội phạm cho vay lãi suất cao đang ngày càng trở nên tinh vi hơn theo sự phát triển của khoa học công nghệ. Do đó, để đảm bảo nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là kinh tế số được phát triển một cách lành mạnh, thì các biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi vay cho vay lãi suất cao là điều vô cùng cấp thiết. Để làm được điều đó, việc hiểu được mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và cho vay cho vay lãi suất cao có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Xuyên suốt và nhất quán với mục tiêu của Đảng và Nhà nước, các biện pháp nhằm hạn chế và ngăn chặn vấn nạn cho vay lãi suất cao. Cụ thể, hệ thống luật về các tổ chức tín dụng, luật dân sự đều được xây dựng theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đảm bảo quyền lợi của cả tổ chức tín dụng cũng như người sử dụng dịch vụ. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu phải có quy trình đầy đủ và yêu cầu gắt gao khi cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển nền kinh tế số, các tổ chức tín dụng cũng không ngừng cải tiến dịch vụ của mình nhằm có thể cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng một cách tiện lợi hơn.
Tuy nhiên, trái với sự khuyến khích của nhà nước và các tổ chức tín dụng, hành vi vay cho vay lãi suất cao của người dân vẫn khó kiểm soát. Theo khảo sát của Ban Chính sách pháp luật cùng Viện Công nhân và Công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với gần 3.000 công nhân được công bố hồi đầu tháng 8/2023 cũng cho thấy do khó khăn về đời sống, có 17,3% người lao động phải thường xuyên vay nợ, trong đó hơn 3% thường xuyên bị đe dọa, khủng bố và 45,2% người vay nợ có tâm trạng lo lắng bất an. Điều này cho thấy việc vay cho vay lãi suất cao vẫn còn len lỏi trong đời sống của người dân, và hậu quả của nó có thể dẫn đến sự đảo lộn trong cuộc sống của người dân, gây bất ổn xã hội thậm chí có thể gây kìm hãm sản xuất, sụt giảm kết quả hoạt động của các tổ chức tín dụng từ đó gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế cả nước.
Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc các hành vi cho vay lãi suất cao khó kiểm soát đến từ việc người dân thiếu kiến thức về tài chính. Theo kết quả khảo sát về sự hiểu biết toàn cầu của Standard and Poor’s Rating Services (S&P Global Finlit Survey), hiện nay chỉ số phổ cập tài chính của Việt Nam chỉ đạt 21,28 – xếp thứ 112/176 trên toàn thế giới và đứng ở vị trí 22/37 quốc gia đang phát triển tại Châu Á. Các bài nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng mức độ hiểu biết tài chính có ảnh hưởng tới việc vay tín dụng lãi suất cai. Nghiên cứu của Annamaria Lusardi về hiểu biết tài chính đã chỉ ra rằng, nhiều người sắp nghỉ hưu mang theo nhiều khoản nợ hơn những thế hệ trước. Điều này chứng tỏ được rằng khi xã hội ngày càng phát triển, các công cụ tài chính càng ngày càng phức tạp hơn đòi hỏi con người phải có thêm kiến thức để đưa ra những quyết định tài chính phù hợp cho bản thân. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2014), những người có kiến thức tài chính cao hơn thường sẽ trở nên giàu có hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng những người này khi đến độ tuổi nghỉ hưu sẽ sở hữu khối tài sản cao hơn gấp 2 đến 3 lần người có kiến thức tài chính thấp hơn do quản trị được dòng tiền của mình.
Trên thế giới đã có nhiều bài nghiên cứu về vấn nạn cho vay cho vay lãi suất cao, tuy nhiên chưa được khai thác nhiều tại Việt Nam. Vì sự cấp thiết của đề tài về cả mặt lý luận và thực tiễn đối với các chủ đề liên quan và nhận thấy còn nhiều khoảng trống trong đề tài nghiên cứu tại Việt Nam, nhóm tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và cho vay lãi suất cao” với mong muốn góp phần làm rõ thực trạng hành vi cho vay cho vay lãi suất cao tại Hà Nội và đề xuất một số khuyến nghị giúp nâng cao nhận thức của người dân, đẩy lùi vấn nạn cho vay lãi suất cao tại Việt Nam.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.2.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.2.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài
1.2.3. Khoảng trống nghiên cứu
1.4. Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cá nhân đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc thu thập thông tin, kết quả khảo sát của các đối tượng hiện đang sinh sống, làm việc tại thành phố Hà Nội.
Phạm vi thời gian : Nghiên cứu được thực hiện trong 3 tháng từ đầu tháng 12 năm 2023 đến cuối tháng 2 năm 2024.

1.6. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm mục tiêu đánh giá và giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra đồng thời đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Sau khi xây dựng khung nghiên cứu lý thuyết, nhóm tiến hành xây dựng bảng hỏi chuyên gia, thu thập, tổng hợp dữ liệu sơ cấp; kết quả của các bài nghiên cứu tham khảo sẽ được áp dụng trong việc phát triển bảng hỏi cho đáp viên; dữ liệu sơ cấp sẽ được xử lý bởi phần mềm SPSS. Kết quả dữ liệu sẽ được nhóm tác giả phân tích và đưa ra kết luận cuối cùng.
1.7. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài có thể biết được mối liên hệ giữa hiểu biết tài chính và vay nợ lãi suất cao, đồng thời tìm ra những nhân tố nào ảnh hưởng đến “kiến thức tài chính” của người tiêu dùng tài chính tại Hà Nội và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó ra sao. Qua đó, nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt lý luận mà còn có thể áp dụng thực tiễn tại Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu còn hỗ trợ và tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo về lãi suất cao tại Việt Nam”. Từ đó, hỗ trợ nhà nước và các tổ chức tín dụng có những biện pháp hợp lý, những chính sách phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng lãi suất cao tại Việt Nam giúp kinh tế Việt Nam được tăng trưởng lành mạnh
1.8. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm những nội dung chính như sau:
- Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên
- Chương 2: Tổng quan nghiên cứu
- Chương 3: Phương Pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết hành vi cho vay lãi suất cao
2.1.1. Khái niệm
Theo khoản 13 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định 03 loại nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng bao gồm: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Khoản 14 Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Tuy nhiên, hiện nay, không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể thế nào là cho vay lãi suất cao. Trên thực tế, cho vay lãi suất cao có thể hiểu là một hình thức cho vay tín dụng với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật từ các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động cho vay tiền nhưng không đăng ký kinh doanh và không được sự cấp phép của nhà nước (còn gọi là cho vay nặng lãi).
2.1.2. Đặc điểm
Về thủ tục cho vay: Thủ tục vay và cho vay rất đơn giản, có thể có tài sản thế chấp, có thể không cần tài sản thế chấp; việc vay và cho vay dựa trên sự tin tưởng nhau hoặc ràng buộc bằng các “quy tắc ngầm” của các đối tượng ngoài xã hội. Thực tế cho thấy, đối tượng đi vay tiền thường sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng minh nhân dân, căn cước công dân, giấy phép lái xe và các loại giấy tờ, bằng cấp của cá nhân… để cầm cố, thế chấp vay tiền. Đặc biệt có trường hợp còn câu kết với các đối tượng ngoài xã hội hoặc trên mạng Internet dùng công nghệ in màu để làm giả thẻ Đảng, chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy tờ bổ nhiệm chức vụ; làm giả các hợp đồng hoặc trộm cắp tài sản của người khác… để cầm cố, thế chấp nhằm vay tiền cho vay lãi suất cao.
Về lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay vượt mức lãi suất theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 về tội “ Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” thì: Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên thì bị phạt tiền 200 triệu đến 01 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
Về hình thức cho vay: Hoạt động cho vay hiện nay đã được các chủ nợ biến tướng bằng việc: Các hợp đồng, giao dịch vay tiền thường được soạn thảo và ký nhận với nội dung giả tạo để che dấu mức lãi suất bất hợp pháp và tạo điều kiện cho chủ nợ dễ dàng khống chế con nợ để thu được nợ đồng thời cũng là ràng buộc pháp lý để khi con nợ không trả được thì chủ nợ có thể đề nghị cơ quan pháp luật xử lý bằng hình sự với con nợ.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Ảnh hưởng của các yếu tố tại điểm bán tới phản hồi hành vi của khách hàng

