Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Kon Tum

Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Kon Tum

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết, sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiêp, mà sự đổ vỡ của các doanh nghiệp hiện nay cũng rất nhiều. Mà một khi các doanh nghiệp gặp khó khăn, hay phá sản thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến xã hội trên nhiều khía cạnh, góp phần làm kéo lùi sự phát triển. Đứng ở góc độ Ngân hàng, nơi cung cấp vốn (hoạt động tín dụng) cho hầu hết các doanh nghiệp, thì sẽ mất rất nhiều thời gian, tiền bạc vào công cuộc xử lý rủi ro mà doanh nghiệp gây ra, vì vậy việc đưa vốn cho doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự cẩn trọng cần thiết, để có thể làm cho nguồn vốn khi đưa tới doanh nghiệp, phải đảm bảo làm sao cho mang lại hiệu quả cao nhất.

Hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp là nghiệp vụ chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, mà mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng (nó mang lại 80% thu nhập từ hoạt động tín dụng ). Song rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp của nó mang lại cũng không nhỏ. Rủi ro tín dụng nếu cao quá mức sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó, đẩy mạnh việc Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp là rất cần thiết. Nó giúp nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất. Công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp đã được các ngân hàng đẩy mạnh trong các năm vừa qua nhưng kết quả mang lại chưa cao.

Do đó, việc cần thiết phải tăng cường công tác quản trị trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp của các ngân hàng nói chung và quản trị trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam – CN Kon Tum nói riêng, Tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình. Với mong muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương VN – CN Kon Tum, góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện thị trường ngành ngân hàng đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.

– Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

– Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Những lý luận và thực tiễn về công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

– Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung nghiên cứu: Cách tiếp cận của đề tài là nghiên cứu những vấn đề về quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp chủ yếu đi sâu vào công tác cho vay.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum giai đoạn từ 2013-2015.

Cách tiếp cận nghiên cứu:

Khảo sát thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum; đánh giá những mặt đã đạt được, chưa được. Từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp: Kết hợp kết quả từ các báo cáo tổng kết cuối năm tại Vietinbank Kon Tum để phân tích, đánh giá, so sánh và tổng hợp.

– Phương Pháp tư duy: Tác giả sử dụng phương pháp tư duy logic trong phân tích thực trang công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp.

5. Câu hỏi nghiên cứu

Thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi chủ yếu sau:

– Nội dung của rủi ro, quản trị rủi ro là gì? Hoạt động quản trị rủi ro được diễn ra như thế nào ?

– Đặc điểm của tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp là gì? Nó tác động như thế nào đến công tác quản trị rủi ro tín dụng?

– Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum ra sao? Những mặt nào đã phù hợp và những mặt nào cần hoàn thiện hơn?

– Những giải pháp nào trong công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

– Hệ thống hóa, phân tích các lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại.

– Tổng hợp dữ liệu, phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp trong bối cảnh và điều kiện đặc thù tại Vietinbank Kon Tum

7. Bố cục của luận văn

Luận Văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro, rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Vietinbank Kon Tum.

8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Kon Tum
Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Kon Tum

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

      1. . Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng: Là quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định với điều kiện bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thỏa thuận.

Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế và các cá nhân. Trong thực tế hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng nhưng bất kỳ hình thức tín dụng nào cũng có hai giai đoạn : người cho vay chuyển giao vốn cho người đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, và sau khi đến thời hạn do hai bên thoả thuận người đi vay sẽ trả lại cho người cho vay một khoản giá trị lớn hơn, phần tăng thêm gọi là tiền lãi.

Hoạt động cấp tín dụng bao gồm: Cho vay, bão lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính. Ở phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đi sâu về rủi ro trong hoạt động cho vay.

1.1.2. Khái niệm hoạt động cho vay

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp, phần lớn là các Doanh nghiệp vay vốn để bổ sung vốn lưu động, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển, đầu tư nâng cấp sửa chữa cơ sở hạ tầng,… phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của Doanh nghiệp. Các khoản cho vay doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân. Khác với cho vay khách hàng cá nhân mang tính chất tiêu dùng là chủ yếu thì cho vay khách hàng doanh nghiệp góp phần đầu tư phát triển kinh tế của đất nước.

1.1.3. Phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân hàng:

– Theo thời hạn cho vay:

+ Cho vay ngắn hạn : Thời hạn cho vay đến 1 năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của Doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.

+ Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm ( theo quy định của Việt Nam) dùng để đầu tư mua sắm TSCĐ; cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ; mở rộng SXKD; xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.

+ Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm, tối đa có thể lên đến 20,30 thậm chí 40 năm. Loại cho vay này dùng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dai hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.

  • Theo đối tượng đầu tư:

+ Cho vay vốn cố định: Các khoản cho vay để hình thành vốn cố định trong các DN.

+ Cho vay vốn lưu động: các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động.

  • Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:

+ Cho vay có đảm bảo đối vật: Là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên TSBĐ ( cầm cố, thế chấp). Các tài sản dùng đảm bảo nợ vay phải hội đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn dịnh. Các hình thức cho vay có đảm bảo như: đảm bảo bằng các chứng khoán ( GTCG), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hoá, bằng bất động sản.

+ Cho vay có đảm bảo đối nhân: Là sự cam kết của một hay nhiều người về việc trả nợ Ngân hàng thay cho khách hàng vay vốn khi khách hàng vay vốn không trả được nợ vay đến hạn. Người đứng ra đảm bảo phải hội đủ hai điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực tài chính.

  • Theo phương pháp hoàn trả :

+ Cho vay có thời hạn : là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng bao gồm như cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ ( cho vay phi trả góp), cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể ( cho vay trả góp ) hoặc cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc cho vay hoặc cho vay theo kỹ thuật thấu chi.

+ Cho vay không có thời hạn cụ thể: Là loại cho vay mà Ngân hàng có thể yêu cầu Khách hàng trả nợ bất cứ lúc nào hoặc khách hàng tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý ( theo hợp đồng).

  • Theo xuất xứ cho vay:

+ Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu và họ trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.

+ Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng tiêu dùng, máy móc nông nghiệp trả góp hay mua nợ.

. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY

1.2.1. Khái niệm về rủi ro, rủi ro tín dụng

Khái niệm rủi ro

Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu 
tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy  ra cho con người.

Khái niệm rủi ro tín dụng

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ – tín dụng, loại hình kinh doanh chứ đựng nguy cơ rủi ro cao, trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, kinh doanh tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất. Tuy nhiên, những rủi ro tín dụng cũng gây thiệt hại khôn lường thậm chí làm phá sản ngân hàng.

Theo A.Saunders và H.Lange thì “ Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về số lượng và thời hạn”.

Còn với Timothy W.Koch cho rằng: “ Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán và thanh toán trễ hạn”.

Theo quyết định 493/2005/QĐ – NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Tuy có rất nhiều các khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng nhưng có thể tổng hợp lại như sau:

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ . Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn.

1.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay

  • Rủi ro mang tính gián tiếp:

Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian; nó là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, khách hàng gặp những tổn thất trong quá trình sử dụng vốn. Do đó, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Khách hàng đã gián tiếp gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.

  • Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp:

Sự đa dạng thể hiện ở mức độ phức tạp về nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng do tính chất trung gian tài chính của ngành ngân hàng.

  • Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

Rủi ro tín dụng luôn luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là yếu tố tất yếu trong hoạt động ngân hàng. Thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ. Các ngân hàng cần phải đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi nhuận nhằm tìm ra cơ hội đạt được lợi ích tương xứng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt khi mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.

1.2.3. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay

Có nhiều tiêu chí để phân loại RRTD tuỳ theo mục đích yêu cầu nghiên cứu nhưng phổ biến nhất là cách phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro.

  • Rủi ro giao dịch: Là rủi ro liên quan đến một khoản vay cụ thể mỗi khi ngân hàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm:

+ Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

+ Rủi ro đảm bảo: Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.

+ Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro liên quan đến công tác thiết lập, quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm việc vận hành hệ thống xếp hạng tín dụng và xử lý khoản vay có vấn đề.

  • Rủi ro danh mục: Là rủi ro có liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng, nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệt của từng loại doanh nghiệp. Rủi ro này cũng có nguyên nhân từ sự thiếu đa dạng hoá mà chỉ tập trung vào một hoặc một số lĩnh vực có rủi ro cao. Rủi ro danh mục bao gồm:

+ Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.

+ Rủi ro tập trung: Là rủi ro do ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế….

1.2.4. Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro trong cho vay

Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ…

1.2.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay

Nguyên nhân từ phía Ngân hàng

Thực tế kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua cho thấy rủi ro tín dụng xảy ra là do những nguyên nhân sau:

– Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của Ngân hàng. Chẳng hạn, chính sách tín dụng không hợp lý, đầu tư tín dụng nhiều vào dự án lớn, tỷ trọng cho vay trung dài hạn cao trong khi đó nguồn vốn dài hạn thấp, tập trung cho vay nhiều vào một loại thành phần kinh tế, chính sách tín dụng quan tâm quá mức đến vấn đề tài sản đảm bảo nợ vay, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận và muốn phát triển nhanh, không cân xứng với thực lực ngân hàng, không có được những giải pháp đúng và không có được những quy định kịp thời để xử lý những trường hợp cho vay có dấu hiệu của một khoản cho vay kém an toàn. Chính sách tín dụng không phù hợp với các điều kiện thực tiễn, thiếu một quy chế đầy đủ, chặt chẽ để đảm bảo an toàn khi cho vay.

– Do cán bộ Ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ Ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.

– Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn chưa cao nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay.

– Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng.

– Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh.

– Do áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác.

– Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ Ngân hàng.

Nguyên nhân từ phía khách hàng

– Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho Ngân hàng.

– Do trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế.

– Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm…dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng.

– Do bản thân doanh nghiệp có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn của Ngân hàng, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân.

Nguyên nhân khác

– Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định…. khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp.

– Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng.

– Do sự biến động về chính trị – xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng. Tình hình kinh tế thế giới có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng như: biến động của giá vàng thế giới, giá một số ngoại tệ mạnh hoặc giá một số vật tư chủ yếu có xu hướng tăng.

– Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ Ngân hàng.

– Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như Ngân hàng.

– Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau.

– Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước.

1.2.6. Hậu quả của rủi ro tín dụng trong cho vay

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của ngân hàng tăng lên so với dự kiến.

Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, nhẹ nhất là không thu được lãi vay và ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng. Nặng hơn là không thu được cả vốn gốc và lãi, tỷ lệ nợ không thu hồi được chiếm tỷ trọng lớn sẽ làm cho Ngân hàng gặp nhiều khó khăn dẫn đến thua lỗ và mất vốn. Và nghiêm trọng hơn là ngân hàng có thể bị mất khả năng thanh toán, thậm chí là phá sản nếu tổn thất quá lớn, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

Đối với nền kinh tế xã hội

Ngân hàng với chức năng là trung gian tài chính, đảm nhận việc vận hành lưu thông tiền tệ, có thể nói ngân hàng là một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và trong nền kinh tế nói chung. Chúng ta đã biết Ngân hàng huy động tiền gửi nhàn rỗi trong nền kinh tế, và tiến hành cho vay lại đối với những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn. Chính vì vậy nếu xảy ra rủi ro tín dụng thì ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bởi Ngân hàng sẽ không có vốn để trả lãi và vốn gốc cho khách hàng gửi tiền. Hay nói cách khác ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng. Một ngân hàng khi bị mất khả năng thanh toán thì hậu quả của nó sẽ rất khôn lường. Tâm lý lo sợ mất tiền lan nhanh trong khách hàng dẫn đến họ ồ ạt kéo nhau đến yêu cầu rút tiền, trong tình cảnh ấy dễ kéo tới sự sụp đỗ của ngân hàng. Và sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều khi nó có tính dây truyền, nếu không có sự giúp đỡ của ngân hàng nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại, khi một ngân hàng trong hệ thống ngân hàng bị sụp đổ, lần lượt kéo theo các ngân hàng khác cũng bị ảnh hưởng, nghiêm trọng nhất là sự sụp đổ hệ thống. Một khi hệ thống ngân hàng sụp đổ tất nhiên sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới nền kinh tế, nó sẽ làm cho nền kinh tế suy thoái trầm trọng. Như vậy sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát tăng cao, tình hình xã hội mất ổn định. Rõ ràng sự tác động của rủi ro tín dụng tới nền kinh tế rất lớn.

. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.1. Khái niệm về Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng Thương Mại

Khái niệm:

Quản trị rủi ro chính là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi Ngân hàng thương mại. Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các Ngân hàng thương mại áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của ngân hàng trên thương trường. Quản trị rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi Ngân hàng thương mại, đồng thời với mỗi loại rủi ro cụ thể lại áp dụng các phương pháp quản trị riêng.

Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng trong cho vay thông qua việc xây dựng chính sách cho vay, thiết lập quy trình cho vay, giám sát việc tuân thủ chính sách và quy chế cho vay, xử lý trục trặc và vi phạm về chính sách, quy trình và khoản cho vay cụ thể.

Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng:

Kinh doanh tín dụng một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM ngay trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng. Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi NHTM bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả.

Ngoài ra, quản trị rủi ro tín dụng phải đảm bảo thực hiện đúng các quy định của nhà nước và quy định của pháp luật.

1.3.2. Nội dung của Quản trị rủi ro tín dụng

a. Nhận dạng rủi ro tín dụng trong cho vay

Nhận dạng rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục, có hệ thống đối với các loại hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc phân tích khách hàng, môi trường kinh doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ.

Nhận dạng được rủi ro tín dụng sẽ giúp cho nhà quản lý nắm bắt được tình hình, theo dõi các biến động của Khách hàng. Từ đó đưa ra các giải pháp kịp thời để tránh nguy cơ gây nên nợ xấu tại Ngân hàng. Nhận dạng là một qua trình logic, đòi hỏi nhà quản lý phải có chuyên môn cao, có kinh nghiệm xã hội.

Nhận dạng rủi ro tín dụng chủ yếu được thực hiện thông qua các công tác sau:

  • Tiếp xúc, trao đổi với khách hàng.
  • Phân tích hồ sơ pháp lý, hồ sơ đề nghị vay vốn.
  • Phân tích báo cáo tài chính qua các năm,…

b. Đo lường rủi ro tín dụng trong cho vay

Đo lường xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra của các rủi ro đã được xác định: Là việc thu thập số liệu và phân tích đánh giá, từ đó xác định xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra.

Có 3 phương pháp cơ bản để đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng: Phương pháp thống kê, phương pháp kinh nghiệm, phương pháp tính toán phân tích. Các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng là: Tỷ lệ nợ quá hạn; Hệ số RRTD; Tỷ lệ mất vốn; Xác suất RRTD; Tỷ lệ dự phòng RRTD.

Một số mô hình nhằm đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng:

Mô hình định tính: Mô hình 6C

Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:

  • Tư cách người vay ( Character): CBTD phải làm rõ mục đích xin vay của KH, mục đích vay của KH có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của Ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với Khách hàng cũ, còn Khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro, từ Ngân hàng khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng….
  • Năng lực của người vay ( Capacity): Tuỳ thuộc vào qui định luật pháp của quốc gia. Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
  • Thu nhập của người vay ( Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó, cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính.
  • Bảo đảm tiền vay ( Collateral): Đây là điều kiện để Ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho Ngân hàng.
  • Các điều kiện ( Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ.
  • Kiểm soát ( Control ): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động đến khả năng Khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của Ngân hàng.
  • Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của CBTD.

Mô hình định lượng

  • Mô hình 1: Mô hình xếp hạng Moody’s và Standard & Poor’s

Phương pháp xếp hạng đặc trưng của S&P là xếp hạng dựa trên phân tích. Một quy trình xếp hạng chuẩn được S&P áp dụng cho xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp gồm các bước:

(1) Nhận đề nghị xếp hạng từ các tổ chức phát hành/khách hàng

(2) Đánh giá ban đầu

(3) Họp với ban quản trị của tổ chức phát hành/khách hàng

(4) Phân tích

(5) Đánh giá và bỏ phiếu của hội đồng đánh giá (của S&P)

(6) Thông báo tới tổ chức phát hành/khách hàng

(7) Công bố kết quả xếp hạng ra công chúng

Tóm lại, xếp hạng tín dụng của S&P về cơ bản là những đánh giá mang tính chuyên gia của một nhóm các nhà phân tích trong hội đồng xếp hạng của tổ chức này. Với lịch sử gần 100 năm từ khi tiến hành công bố (từ năm 1916), xếp hạng tín dụng của S&P vẫn được xem là một chỉ báo quan trọng, có độ tin cậy cao và được nhiều chính phủ, các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư sử dụng.

Như phải chú ý:

– Xếp hạng tín dụng là ý kiến được thu thập về rủi ro tín dụng tương đối;

– Đây không phải là hướng dẫn đầu tư, mua, trữ, hay bán mà chỉ là một nhân tố mà các nhà đầu tư nên cân nhắc khi quyết định đầu tư;

– Xếp hạng tín dụng cũng không phải là chỉ tiêu về tính thanh khoản trên thị trường của một dạng chứng khoán nợ hay giá của nó ở thị trường thứ cấp.

  • Mô hình 2: Mô hình điểm số Z

Trong kinh doanh ngân hàng việc các ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề là làm thế nào để các ngân hàng hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được. Trả lời câu hỏi này, các nhà quản trị ngân hàng thường vận dụng các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng như: mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình chất lượng, mô hình Moody’s và Standard & Poor’s, mô hình điểm số Z.

Mô hình điểm số Z của Giáo Sư Edward I. Altman có nhiều mặt nổi trội và khắc phục được một số nhược điểm của các mô hình khác, và dựa trên các số liệu đã có, ta xây dựng mô hình cho riêng đối với các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó so sánh với mô hình của Giáo Sư Edward I. Altman.

  • Phương pháp nghiên cứu

Nhóm chọn mô hình nghiên cứu là mô hình đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa từ đó lấy số liệu thu thập được (dựa vào file EXCEl đi kèm) nhóm sẽ chạy ra mô hình điểm số Z và so sánh với mô hình của Giáo Sư Edward I. Altman.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông\THAM KHẢO/ mba 08102016

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *