Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng nhưng cũng là hoạt động có rủi ro cao. Hiện nay, rủi ro trong hoạt động cho vay vẫn là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường có tác động lớn và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng. Ngoài ra, nó còn có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Hoạt động cho vay luôn gắn liền với rủi ro. Đây là một thực tế khách quan. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro cho vay mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa hay giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro cho vay xảy ra.

Trong điều kiện nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn như tăng trưởng thấp, lãi suất cao, tồn kho của doanh nghiệp lớn làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều này gây tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay Ngân hàng, nhất là hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản, dẫn đến nợ xấu Ngân hàng gia tăng. Theo ủy ban Basel “ Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của ngân hàng thương mại”. Chính vì lẽ đó, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay nói chung và cho vay doanh nghiệp nói riêng trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và ngày càng được các Ngân hàng quan tâm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam – Chi nhánh Hùng Vương với nguồn thu chủ yếu từ hoạt động cho vay, trong đó nguồn thu từ hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp luôn được Ngân hàng quan tâm. Chính vì lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương ” làm đề tài thạc sỹ của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

– Làm sáng tỏ những lý luận chung về rủi ro cho vay và quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp của NHTM.

– Phân tích, nhận xét, đánh giá rủi ro cho vay và quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương.

– Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương.

– Phạm vi nghiên cứu: phân tích các vấn đề liên quan đến việc quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương giai đoạn 2010-2012.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ những nội dung cơ bản đặt ra của luận văn, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp sau: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp toán, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp.

5. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được bố cục gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương.

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Hoạt động cho vay doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

Căn cứ Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QHXII có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đã xác định “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”[10]. Cũng theo Điều 4 Luật trên thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó, bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”[10].

Doanh nghiệp là một đối tượng trong hoạt động cho vay của NHTM. Theo luật DN số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[9]. Hiện nay, ở Việt Nam theo luật DN số 60/2005/QH11 có 04 loại hình doanh nghiệp chính sau: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần.

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương

1.1.2 Phân loại cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

– Căn cứ vào thời hạn vay

+ Cho vay ngắn hạn: là khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Mục đích của loại hình cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu về vốn của khách hàng trong hoạt động kinh doanh của khách hàng trong thời gian ngắn hạn mà cụ thể ở đây là không quá 12 tháng.

+ Cho vay trung hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định hay được sử dụng để mua sắm các loại tài sản mà khách hàng cần trong kinh doanh …

+ Cho vay dài hạn: là khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên. Mục đích của khoản vay này thường là nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, các nhu cầu vốn dài hạn khác, cụ thể ở đây là trên 60 tháng.

– Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng

+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà nghĩa vụ trả nợ vay được bên vay bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh. Trong trường hợp bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ theo thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của chính khách hàng vay hoặc của bên thứ ba.

– Căn cứ vào phương thức cho vay

+ Cho vay từng lần: là phương thức được áp dụng trên cơ sở nhu cầu tín dụng của từng đối tượng vay cụ thể như mua hàng, mua nguyên nhiên vật liệu dự trữ, hay khoản phải thu. Cơ sở để xem xét cho vay dựa trên hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng, thư tín dụng, các hóa đơn bán hàng, bảng kê bán thành phẩm, thành phẩm. Phương thức cho vay này thường áp dụng đối với DN có nhu cầu vay không thường xuyên.

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay trong đó NHTM và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động của DN theo hạn mức tín dụng đã cam kết.

+ Chiết khấu thương phiếu: là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho NHTM để đổi lấy một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có).

+ Các phương thức cho vay khác: Ngoài các phương thức cho vay nêu trên, Ngân hàng cho khách hàng vay vốn theo phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt nam và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm của từng loại khách hàng vay.

1.2 Khái quát về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.

Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là một loại rủi ro tín dụng, là rủi ro về sự tổn thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán.

Rủi ro tín dụng luôn tiềm tàng và tồn tại khách quan, thường xuyên và Ngân hàng không thể triệt tiêu hoàn toàn. Các NHTM chỉ có thể phòng ngừa, hạn chế và đối phó với rủi ro tín dụng trong khả năng cho phép và không thể hoàn toàn loại bỏ được rủi ro tín dụng.

1.2.2 Những dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM

Nhận diện rủi ro, qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, ngân hàng luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:

1.2.2.1 Nhóm dấu hiệu liên quan đến giao dịch với ngân hàng

– Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoặc không muốn hoàn trả, hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính;

– Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục;

– Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn; thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, không đúng hạn;

– Sự suy giảm bất thường số dư tiền gửi thanh toán tại ngân hàng; luân chuyển doanh thu hoạt động về tài khoản tại Ngân hàng không thường xuyên;

– Mức vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến;

– Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất mục đích sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh;

– Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá rị tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá khi vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán trao đổi hoặc đã biến mất không còn tồn tại;

– Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc không từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn;

– Có dấu hiệu sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

– Chấp nhận sử dụng nguồn vốn giá cao với mọi điều kiện.

1.2.2.2 Nhóm dấu hiệu liên quan đến quan hệ phương pháp quản lý của khách hàng, những thay đổi tình hình hoạt động của khách hàng

Nhóm dấu hiệu này cũng có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản vay nhưng với tốc độ chậm hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ nội bộ của từng khách hàng, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ từ cán bộ cho vay mới có thể nhận diện được, có thể nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:.

– Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi lập hồ sơ vay vốn;

– Có sự thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn và tài sản của khách hàng, thay đổi về các tỷ lệ thanh khoản;

– Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như gia tăng chi phí quảng cáo, chi phí bán hàng, chi phí khánh tiết …

– Thay đổi thường xuyên nhân sự trong bộ máy quản lý, điều hành hoạt động của khách hàng;

– Tham gia mua bán với những hợp đồng kinh tế có giá trị lớn;

– Chất lượng sản phẩm giảm sút, thị phần bị thu hẹp;

– Những phản ứng chậm và thiếu linh hoạt của doanh nghiệp trước yếu tố thay đổi thị trường đầu vào và đầu ra.

1.2.2.3 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng

– Chính sách cấp tín dụng cho khách hàng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẽo, tạo khe hở cho cán bộ ngân hàng và khách hàng thông đồng;

– Chính sách tín dụng tạm thời hạn chế cho vay các ngành hàng mà khách hàng đang kinh doanh;

– Đánh giá và phân loại thiếu chính xác mức độ rủi ro của khách hàng: nâng cao quá mức năng lực tài chính của khách hàng trong quá trình phân tích dẫn đến cho vay vốn vượt nhu cầu thực tế của khách hàng, che dấu nợ xấu của khách hàng, có hành vi cho khách hàng vay vốn để thực hiện đảo nợ;

– Các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay mập mờ, không đảm bảo tính pháp lý;

– Hồ sơ tín dụng không đầy đủ theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng;

– Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của Ngân hàng;

– Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” hoặc “lôi kéo” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới mặc dù biết rõ các khoản tín dụng cấp cho khách hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp của các NHTM

1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài

Là nguyên nhân mang tính bất khả kháng, đó là những thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, bão, hạn hán, chiến tranh …, do sự tác động của chu kỳ phát triển kinh tế, do sự thay đổi của tỷ giá, lãi suất, do cơ chế chính sách nhà nước thay đổi … gây ảnh hưởng xấu đến môi trường hoạt động của khách hàng và môi trường đầu tư vốn của ngân hàng, có thể phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn, hoặc làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn bị thua lỗ.

1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn

Đối với khách hàng doanh nghiệp, có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho Ngân hàng khi cho vay đối với đối tượng khách hàng này, cụ thể:

+ Rủi ro từ phía thị trường của doanh nghiệp:

  • Thị trường cung cấp đầu vào của doanh nghiệp bị hạn chế hoặc giá cả nguyên vật liệu đầu vào bị tăng cao, dẫn đến giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất tăng lên, sản phẩm của doanh nghiệp kém khả năng cạnh tranh về giá cả tiêu thụ.
  • Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra không còn phù hợp với thị trường, thị phần của doanh nghiệp bị thu hẹp.
  • Các nguyên nhân khác: sản phẩm có sản phẩm thay thế cạnh tranh hơn, thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh …

Tất cả các nguyên nhân trên làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khó tiêu thụ trên thị trường, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ ngân hàng.

+ Do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn vay hoặc đồng vốn bỏ ra đầu tư kém hiệu quả, dẫn đến không trả được nợ vay ngân hàng;

+ Do Lãnh đạo doanh nghiệp thiếu năng lực và trình độ chuyên môn trong điều hành quản lý doanh nghiệp, dẫn đến tổ chức điều hành và quản lý yếu kém, hiệu quả sử dụng vốn vay giảm sút, giảm khả năng trả nợ Ngân hàng;

+ Do khách hàng chây ỳ, cố tình không trả nợ cho Ngân hàng mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn có lãi;

1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng thực hiện cho vay

– Do Ngân hàng tập trung vốn lớn cung ứng cho một ngành nghề hoặc một nhóm đối tượng khách hàng ưu tiên dễ gây rủi ro tín dụng cho Ngân hàng khi khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh hoặc vì một nguyên nhân khác mà khách hàng không trả được nợ;

– Do cán bộ ngân hàng cho vay khách hàng thực hiện không nghiêm túc các bước của quy trình cho vay như không phân tích, đánh giá đầy đủ và thận trọng đối với khách hàng trước khi quyết định cho vay, không thực hiện kiểm tra giám sát hoặc có kiểm tra giám sát nhưng chỉ mang tính hình thức sau khi cho vay …;

– Thiếu thông tin về khách hàng và ngành nghề kinh doanh của khách hàng hoặc thông tin không đầy đủ, thiếu kịp thời …, ảnh hưởng đến quá trình phân tích và quyết định cho vay;

– Do trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của cán bộ ngân hàng bị hạn chế, dẫn đến yếu kém trong quản lý khách hàng và quản lý món vay;

– Do sự kiểm tra, giám sát khoản vay không thường xuyên, chậm trễ, không phát hiện kịp thời các dấu hiệu cảnh báo rủi ro đối với khách hàng;

– Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, cố tình làm sai quy định cho vay của ngân hàng, thông đồng với khách hàng trong quá trình cho vay;

– Do Ngân hàng gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ tài sản đảm bảo để xử lý.

1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng

– Đối với ngân hàng:

+ Rủi ro làm giảm uy tín của Ngân hàng

Nếu Ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động tín dụng ở mức độ cao thì Ngân hàng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường. Lượng tiền gửi có thể sẽ sụt giảm do khách hàng không yên tâm khi gửi tiền vào một ngân hàng mà sự quản lý về chất lượng tín dụng không tốt, có thể gây ra nhiều vụ thất thoát lớn. Bên cạnh đó, việc suy giảm về uy tín do chất lượng tín dụng suy giảm còn ảnh hưởng đến sự đánh giá của các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế nước ngoài, dẫn đến Ngân hàng khó tiếp cận được các nguồn vốn tốt từ nước ngoài cũng như chịu sự kiểm soát của các cơ quan Nhà nước nếu tỷ lệ nợ xấu quá cao.

+ Rủi ro ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Ngân hàng

Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn trong khi đó các khoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn, do mất uy tín người rút tiền ngày càng tăng lên kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán.

+ Rủi ro làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho Ngân hàng không thu được gốc và lãi theo đúng thời hạn trong hợp đồng tín dụng, thậm chí còn làm mất vốn của Ngân hàng. Từ đó, rủi ro tín dụng sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của Ngân hàng dẫn tới làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng. Hoạt động tín dụng có liên quan mật thiết với nhiều hoạt động khác, như các các dịch vụ của ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ làm giảm thu nhập của Ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cao dẫn đến ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng rủi ro và điều này khiến cho lợi nhuận còn lại càng thấp.

+ Rủi ro có thể làm phá sản Ngân hàng

Rủi ro tín dụng xảy ra thường tạo cho Ngân hàng những tổn thất về tài chính, nhưng những thiệt hại về uy tín, về mất lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớn hơn nhiều. Vấn đề giữ uy tín là điều tối quan trọng, chỉ cần mất niềm tin vào Ngân hàng thì người gửi tiền sẽ có thể đến Ngân hàng rút tiền, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ Ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gây ra phản ứng dây chuyền trong dân chúng, người gửi tiền sẽ đổ xô đến Ngân hàng rút tiền gửi. Đối với những khoản vay dài hạn Ngân hàng không thể thu hồi vốn ngay, đồng thời rủi ro tín dụng đã làm mất một phần vốn của Ngân hàng, như vậy Ngân hàng không còn khả năng thanh toán và sẽ đi đến phá sản.

– Đối với khách hàng:

Nếu rủi ro xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể mất đi kênh cung ứng vốn, dẫn đến sản xuất bị đình trệ. Nếu rủi ro xảy ra từ chính bản thân doanh nghiệp, các khoản nợ khó đòi của họ có thể sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa họ với ngân hàng. Đặc biệt khi doanh nghiệp đó cần vốn, có thể sẽ rất khó khăn khi vay vốn ở các ngân hàng khác nếu tìm hiểu về lịch sử vay vốn của họ. Điều này sẽ rất khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Đối với nền kinh tế :

Với chức năng trung gian tài chính, Ngân hàng quan hệ trực tiếp đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cung cấp vốn cho nền kinh tế. Khi một ngân hàng bị suy yếu dễ tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân hàng và các định chế tài chính khác. Sở dĩ như vậy là do rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, giảm khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng, dễ gây hoang mang trong dân chúng và dẫn đến việc rút tiền ồ ạt ở ngân hàng đó. Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời điểm và ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho khách hàng tin rằng ngân hàng có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền về sẽ dẫn đến sự phá sản thực sự của ngân hàng. Hậu quả của sự phá sản không chỉ bản thân ngân hàng phải gánh chịu mà nó còn liên quan đến ngân hàng khác. Từ đó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng, ảnh hưởng dây chuyền đến các DN sản xuất kinh doanh, kìm hãm sự phát triển kinh tế, gây suy thoái nền kinh tế.

Tóm lại, RRTD gây ra nhiều hậu quả ở những mức độ khác nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thể thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ xấu ở tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Chính vì thế, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

1.3. Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM

Nâng cao năng lực quản trị RRTD là xây dựng các giải pháp quản trị rủi ro tín dụng một cách hiệu quả nhằm phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng góp phần giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng đến kết quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Với quan niệm đó, việc Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại bao gồm những nội dung sau:

1.3.1. Nhận dạng và phân loại rủi ro

Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thông kê các dạng rủi ro tín dụng, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD.

Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xảy ra bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng, đặc biệt quan tâm phân tích các hồ sơ có vấn đề. Kết quả phân tích cho ra những dấu hiệu, biểu hiện, nguyên nhân rủi ro tín dụng, từ đó nhằm tìm ra biện pháp hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro.

1.3.2. Định lượng các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi xảy ra rủi ro

Để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu và phân tích đánh giá mức độ rủi ro dựa trên các tiêu chuẩn được đặt ra.

1.3.2.1 Đánh giá rủi ro tín dụng khách hàng vay

Công cụ thường được áp dụng để đánh giá rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp là xếp loại tín dụng (Credit rating). Tại các Ngân hàng có thể khác nhau về cách thực hiện, tên gọi, chỉ tiêu đánh giá, nhưng luôn cùng cùng chung một mục đích là xác định khả năng của khách hàng trong việc hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Từ đó, xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro. Xếp loại tín dụng thường phân tích khách hàng trên hai khía cạnh sau:

– Phân tích phi tài chính: Việc đánh giá yếu tố phi tài chính của doanh nghiệp dựa trên phân tích các yếu tố như : Đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đánh giá trình độ quản lý và môi trường nội bộ của doanh nghiệp, lịch sử quan hệ với Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến ngành kinh doanh của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt độngc ủa dopanh nghiệp …

– Phân tích tài chính: Đối với khoản vay của doanh nghiệp, ngoài các yếu tố phi tài chính, ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Việc đánh giá yếu tố tài chính của Doanh nghiệp dựa trên phương pháp định lượng qua việc phân tích báo cáo tài chính lũy kế tới kỳ gần nhất. Các nhóm chỉ tiêu tài chính được xem xét bao gồm: Nhóm chỉ tiêu thanh toán; Nhóm chỉ tiêu hoạt động; Nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ; Nhóm chỉ tiêu doanh lợi; …Bên cạnh đó, tùy theo loại hình doanh nghiệp, loại hình kinh doanh để xây dựng nhóm tỷ số trung bình ngành, từ đó có bước so sánh khi phân tích.

– Các Phương pháp, Mô hình đánh giá RRTD:

Trong công tác quản trị rủi ro, cần thiết phải có một hệ thống đo lường RRTD nhằm phân loại các mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, từ đó có biện pháp cụ thể để quản trị tốt những rủi ro ở các mức độ khác nhau. Hiện nay, có một số Phương pháp và Mô hình khác nhau để đánh giá RRTD, cụ thể:

+ Mô hình 6C

Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:

  • Tư cách người vay (Character): Tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch trả nợ rõ ràng là những tiêu chuẩn tạo nên tư cách khách hàng vay vốn. Cán bộ quan hệ khách hàng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ của khách hàng từ việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như trung tâm thông tin tín dụng, trung tâm phòng ngừa rủi ro …
  • Năng lực của người vay (Capacity): Khách hàng có đủ năng lực vay vốn và có đủ năng lực pháp lý trong việc ký kết hợp đồng tín dụng, ngoài ra người đại diện cho công ty ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty. Một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được ủy quyền có thể sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
  • Dòng tiền (Cash): Tiêu chí dòng tiền của doanh nghiệp tập trung vào câu hỏi: Doanh nghiệp có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung, doanh nghiệp có ba khả năng để tạo ra tiền là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng, bán thanh lý tài sản, phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ vay ngân hàng vì việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực doanh nghiệp trở nên yếu đi khiến cho ngân hàng là chủ nợ trở nên ít được bảo đảm. Một sự thiếu hụt luồng tiền là biểu hiện ẩn chứa một sự suy giảm trong kinh doanh của doanh nghiệp, có thể dẫn đến rủi ro trong việc thu hồi nợ vay.
  • Tài sản thế chấp (Collateral): Khi đánh giá khía cạnh bảo hiểm tiền vay, cán bộ tín dụng phải kiểm tra khách hàng có sở hữu hợp pháp tài sản có chất lượng để hỗ trợ khoản vay. Phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản thế chấp. Ngân hàng cần cân nhắc loại tài sản đảm bảo, phương pháp định giá thích hợp, phải có các biện pháp để đảm bảo quyền sở hữu rõ ràng đối với tài sản đảm bảo trong trường hợp khách hàng không trả được nợ.
  • Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ.
  • Kiểm soát (Control): Đánh giá những thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng về chất lượng tín dụng.

Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng.

+ Mô hình 5P

  • Mục đích (Purpose): Doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng phải có mục đích sử dụng vốn, mục đích phải hợp pháp và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, mục đích sử dụng vốn không những thể hiện rõ trong cam kết của hợp đồng tín dụng mà còn phải được chứng minh cụ thể qua các chứng từ, hóa đơn, …
  • Thanh toán (Payment): Doanh nghiệp đi vay phải chứng minh khả năng thanh toán đối với những khoản nợ đến hạn. Nếu khả năng thanh toán đáp ứng được yêu cầu về mặt định lượng, thì các khoản nợ nói chung và nợ ngân hàng nói riêng sẽ được thanh toán đúng hẹn.
  • Bảo hộ (Protection): Một khoản tín dụng được cấp cho khách hàng phải được an toàn trong suốt thời kỳ luân chuyển nếu có được một hệ thống bảo vệ tốt. Hệ thống bảo vệ này không những nằm ngay trong quá trình luân chuyển sử dụng vốn mà còn được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, tào sản cầm cố hoặc tài sản của bên thứ ba. Tính an toàn của của vốn tín dụng phụ thuộc vào hệ thống bảo vệ đó. Tùy điều kiện cụ thể mà có thể chấp nhận tiêu chuẩn bảo vệ cho phù hợp với từng khách hàng.
  • Chính sách (Policy): Chính sách phát triển của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Việc hoạch định chiến lược và sách lược trong nhiều nội dung như đổi mới công nghệ, trang thiết bị, vấn đề về đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ quản lý, ốn định phát triển và chiếm lĩnh thị trường, đổi mới mẫu mã chất lượng sản phẩm …Trên một tầm nhìn có căn cứ, có định hướng thì khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mới ổn định và vững chắc.
  • Định giá (Pricing): Thông thường các ngân hàng sẽ đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể bằng cách chấm điểm xếp hạng để quyết định cho vay. Hệ thống tính điểm tín dụng giúp đánh giá rủi ro tiềm tàng của từng khoản tín dụng dựa trên phương pháp đánh giá bằng thang điểm. Việc cho điểm là dựa trên đánh giá của cán bộ tín dụng về các chỉ tiêu khác nhau liên quan đến rủi ro tín dụng. Điểm tổng hợp được sử dụng để phân nhóm các khoản vay theo mức độ giảm dần của rủi ro. Trong trường hợp có tài sản đảm bảo làm giảm thiểu rủi ro tín dụng, có thể tin tưởng vào tài sản đảm bảo và giảm bớt những thủ tục trên. Tuy nhiên, chỉ nên tính đến chất lượng của tài sản đảm bảo như một biện pháp cuối cùng để thu hồi nợ. Các quyết định tín dụng cần dựa trên đánh giá uy tín và khả năng trả nợ của người đi vay.

+ Phương pháp xếp hạng RRTD của Standard & Poor’s (S&P):

Để quyết định một mức xếp hạng tín nhiệm, S&P phân tích các yếu tố sau:

  • Khả năng thanh toán – khả năng và mức độ sẵn sàng mà bên đi vay thỏa mãn các cam kết tài chính theo thỏa thuận vay mượn.
  • Bản chất của khoản vay mượn.
  • Khả năng hoàn trả các khoản nợ trong trường hợp phá sản, tái cơ cấu hoặc các thỏa thuận khác theo luật phá sản hoặc các quy định khác có ảnh hưởng đến bên đi vay.

Việc xếp hạng tín nhiệm thực chất là đánh giá rủi ro phá sản, nhưng S&P cũng quan tâm đến mức độ ưu tiên hoàn trả/thu hồi trong trường hợp công ty phá sản. Nợ (trái phiếu) ưu tiên thấp (junior/subordinated obligations) thường được xếp hạng thấp hơn nợ có mức độ ưu tiên cao (senior obligations).

Ngoài ra, S&P cũng phân biệt giữa nợ có đảm bảo và không đảm bảo (secured/unsecured obligations), công ty hoạt động kinh doanh (operating company) hay công ty mẹ quản lý vốn (holding company). Mức đầu tư (Investment grade) và Mức không đầu tư (Non-Investment grade/Junk bond).

Xếp hạng nợ dài hạn của S&P được phân thành hai cấp độ: Mức đầu tư (Investment grade): Từ AAA đến BBB; và Mức không đầu tư (Non-Investment grade/Junk bond): Từ BB, đến C, cụ thể:

Các hạng mức đầu tư (Investment grade):

  • AAA : Mức cao nhất trong thang xếp hạng của S&P, thể hiện khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính cực kỳ vững chắc.
  • AA : Thấp hơn tí chút so với mức AAA, nhưng vẫn thể hiện khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính rất vững chắc.
  • A : Mức đánh giá A cho thấy dễ bị ảnh hưởng trước các thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh hơn các mức cao hơn. Tuy nhiên, khả năng người đi vay đáp ứng được các cam kết nghĩa vụ tài chính vẫn rất lớn.
  • BBB : Khoản nợ được đánh giá với mức BBB thể hiện mức độ chủ nợ được bảo vệ đủ mạnh. Tuy nhiên, trong các tình huống thay đổi hay môi trường kinh doanh biến động bất lợi, khả năng người đi vay đáp ứng các cam kết nghĩa vụ tài chính có thể bị suy giảm.

Các hạng mức không đầu tư (Non-Investment Grade/Junk Bonds) :

  • BB, B, CCC, CC và C : Các khoản nợ được đánh giá tín nhiệm ở mức BB, B, CCC, CC, và C mang tính đầu cơ cao. BB biểu thị mức độ đầu cơ thấp nhất, trong khi C là cao nhất. Mặc dù các khoản nợ này vẫn có chất lượng và khả năng bảo vệ nhất định, nhưng các đặc điểm này có thể bị lấn át bở các yếu tố bất trắc trước môi trường kinh doanh thay đổi bất lợi.
  • BB : Khoản nợ đánh giá với mức BB ít có khả năng vỡ nợ hơn các khoản nợ mang tính đầu cơ khác. Tuy nhiên, khoản nợ này luôn phải đối mặt với các bất ổn liên tục hay bị ảnh hưởng trước các điều kiện kinh tế, tài chính, kinh doanh bất lợi khiến người đi vay không còn đủ khả năng để đáp ứng các cam kết nghĩa vụ tài chính.
  • B : Khoản nợ được đánh giá với mức B có nhiều khả năng bị vỡ nợ hơn BB, nhưng hiện tại người đi vay vẫn đang có đủ khả năng để đáp ứng các cam kết nghĩa vụ tài chính. Các điều kiện kinh tế, tài chính, kinh doanh bất lợi có thể làm suy giảm khả năng hay mức độ sẵn sàng để hoàn thành các cam kết nghĩa vụ tài chính.
  • CCC : Khoản nợ được đánh giá với mức CCC hiện rất dễ bị vỡ nợ, và phải phụ thuộc vào các điều kiện kinh doanh, kinh tế, tài chính để có thể hoàn thành các cam kết nghĩa vụ tài chính. Trong trường hợp bất lợi, người đi vay có thể không có khả năng hoàn thành các cam kết nghĩa vụ tài chính.
  • CC : Khả năng vỡ nợ đã lên mức rất cao.
  • C : Khoản nợ với mức xếp hạng C hiện đang có khả năng rất cao sẽ vỡ nợ, các khoản nợ bị quá hạn trả nợ theo thỏa thuận, các khoản nợ của chủ thể nộp đơn phá sản hay hành động tương tự mà chưa bị phá sản. Hạng C có thể được xếp cho các khoản nợ ưu tiên thấp ( subordinated debt), cổ phiếu ưu đãi hoặc các nghĩa vụ nợ được hoãn thanh toán tiền mặt hay cổ phiếu ưu đãi được hoán đổi (nghĩa vụ được nợ mua lại hoặc hoán đổi bằng một công cụ khác với tổng giá trị dưới mệnh giá).
  • D: Vỡ nợ. Xếp hạng D dành cho các nghĩa vụ nợ không được hoàn trả đúng hạn, trừ khi S&P tin rằng việc thanh toán sẽ được thực hiện trước thời gian ân hạn nhưng không quá 5 ngày làm việc. Xếp hạng D sẽ được áp dụng khi chủ thể nộp đơn xin phá sản hoặc có hành động tương tự, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc hoàn thành nghĩa vụ nợ. Xếp hạng D cũng được thực hiện khi hoàn tất việc hoán đổi: nghĩa vụ được nợ mua lại hoặc hoán đổi bằng một công cụ khác với tổng giá trị dưới mệnh giá.

Xếp hạng từ AA đến CCC có thể bổ sung thêm mức cộng (+) hay trừ (-) để thể hiện mức xếp hạng tương đối giữa các mức chính.

NR : Không xếp hạng, có thể vì không đủ thông tin hoặc chỉ vì chính sách của S&P.

+ Phương pháp xếp hạng RRTD của Moody’s:

Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody’s tập trung vào các yếu tố cơ bản (fundamental) và các yếu tố kinh doanh trọng yếu ảnh hưởng đến độ rủi ro của người đi vay.

Cốt lõi trong phương pháp luận của Moody’s nằm ở hai câu hỏi:

  • Rủi ro gì khiến cho bên cho vay không nhận lại được khoản tiền gốc và lãi đúng hạn cho một khoản vay cụ thể ?
  • Mức độ rủi ro này so với rủi ro của tất cả các khoản nợ vay khác là như thế nào (cao hay thấp hơn) ?

Moody’s đánh giá khả năng tạo tiền trong tương lai của bên đi vay, dựa trên phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, các yếu tố từ bên ngoài như xu hướng ngành/nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, hay là khả năng của ban lãnh đạo trong việc duy trì dòng tiền trong trường hợp môi trường kinh doanh có thay đổi lớn.

Việc xếp hạng tín nhiệm này thường tập trung vào các yếu tố dài hạn, và các yếu tố quyết định thường khác nhau tùy theo ngành nghề kinh doanh (của doanh nghiệp).

Quy trình đánh giá của Moody’s :

  • Thu thập thông tin cho đến khi đầy đủ để đánh giá rủi ro của bên nắm giữ nợ hay mua chứng khoán, bao gồm cả việc thảo luận với bên đi vay.
  • Đưa ra kết luận trước hội đồng xếp hạng.
  • Theo dõi liên tục để quyết định xem có cần thay đổi mức xếp hạng hay không.
  • Thông báo quan điểm xếp hạng ra thị trường.

Các mức xếp hạng tín nhiệm nợ dài hạn của Moody’s :

  • Aaa : Nợ có chất lượng cao nhất, với rủi ro tín dụng thấp nhất.
  • Aa : Nghĩa vụ nợ xếp hạng mức này được đánh giá là có chất lượng cao và có rủi ro tín dụng rất thấp.
  • A : Nghĩa vụ nợ xếp hạng mức A được xem là có chất lượng trên trung bình và có rủi ro tín dụng thấp.
  • Baa : Nghĩa vụ nợ này có rủi ro tín dụng vừa phải, chất lượng trung bình và có thể có một số đặc điểm mang tính đầu cơ.
  • Ba : Nghĩa vụ nợ xếp hạng Ba được đánh giá có các đặc tính đầu cơ cao và có rủi ro tín dụng đáng kể.
  • B : Với mức xếp hạng B, nghĩa vụ nợ được xem mang tính đầu cơ cao và có rủi ro tín dụng cao.
  • Caa : Nghĩa vụ nợ xếp hạng Caa được đánh giá có chất lượng xấu và chịu rủi ro tín dụng rất cao.
  • Ca : Đây là những nghĩa vụ nợ có tính đầu cơ rất cao và có thể đã, hoặc gần, không thể thanh toán/vỡ nợ (default), nhưng vẫn còn khả năng thu hồi vốn gốc và lãi.
  • C : Đây là mức xếp hạng thấp nhất và thường là các nghĩa vụ nợ đã mất khả năng thanh toán (default) và chỉ còn rất ít khả năng thu hồi vốn gốc và lãi.

+ Mô hình điểm số Z

Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào:

  • Trị số của các tỷ số tài chính của người vay
  • Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động/tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay/tổng tài sản

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn chủ sở hữu/giá trị hạch toán của tổng nợ

X5 = Hệ số doanh thu/tổng tài sản

Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

Z < 1,81 : Khách hàng có khả năng rủi ro cao

1,81 < Z < 3 : Không xác định được

Z > 3 : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ

Theo mô hình điểm số Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z<1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao.

Mô hình điểm số Z có kỹ thuật đo lường tương đối đơn giản. Tuy nhiên, mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không rủi ro. Trong khi đó, thực tế mức độ RRTD tiềm năng của mỗi khách hàng là khác nhau. Thêm vào đó, yếu tố thị trường cũng không được xét đến, đặc biệt là khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục như hiện nay. Ngoài ra, một số nhân tố quan trọng cũng không được xét đến như: danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài với ngân hàng, …sẽ làm mô hình điểm số Z có những hạn chế nhất định.

1.3.2.2 Tính toán tổn thất tín dụng:

Theo Basel 2, các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dư liệu nội bộ để đánh giá RRTD, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng:

Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:

EL = PD x EAD x LGD

EL : Expected Loss : Tổn thất tín dụng ước tính

PD : Probability of Default : Xác suất không trả được nợ

EAD : Exposure at Default : Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ.

LGD : Loss Given Default : Tỷ trọng tổn thất ước tính

Nếu mỗi khoản vay được xem như là một phép thử, nếu có số liệu thống kê rủi ro đầy đủ chúng ta có thể xác định được chính xác xác suất bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng trong từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng. Tuy nhiên, việc tính toán bất kỳ chỉ tiêu nào trong số 03 chỉ tiêu PD, EAD hay LGD luôn hết sức phức tạp, đòi hỏi Ngân hàng phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, được lưu trữ khoa học với những chương trình phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại. Những vấn đề trên đòi hỏi các NHTM phải đầu tư nguồn lực về tài chính, con người, thời gian và đặc biệt phải có lộ trình khoa học. Tuy nhiên nếu xác định được tổn thất ước tính, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu sau:

  • Tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là đội ngũ cán bộ tín dụng. Để đánh giá khả năng của cán bộ tín dụng, không những chỉ có chỉ tiêu dư nợ, số lượng khách hàng mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng được cấp.
  • Giúp ngân hàng xác định chính xác giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này. Đây cũng là xu hướng hiện nay của các NHTM, vì đây là công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục đầu tư các khoản vay.
  • Xác định tổn thất ước tính sẽ giúp ngân hàng xây dựng hiệu quả hơn Qũy dự phòng RRTD. Hiện nay, tại Việt Nam chỉ có một số ít Ngân hàng có hệ thống xếp hạng hiệu quả và sử dụng phương pháp định lượng để phân loại nợ. Việc xác định chính xác tổn thất ước tính giúp việc trích lập dự phòng trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn nhiều.
  • Xác định xác suất vỡ nợ (PD) giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng của việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay, hay tái xếp hạng khách hàng.

1.3.3. Áp dụng các chính sách, công cụ phòng chống thích hợp với từng loại rủi ro và tài trợ rủi ro

– Kiểm soát rủi ro: là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro. Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm giảm mức độ thiệt hại:

+ Chủ động hay thụ động chấp nhận rủi ro: với những khoản vay nhỏ thì chi phí cho việc phòng tránh đôi khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại, hoặc với xác suất rủi ro quá cao, ngân hàng có thể né tránh rủi ro bằng cách hạn chế hoặc từ chối cấp tín dụng.

+ Với những khoản vay còn lại, cần có các công cụ phòng chống rủi ro đặc biệt hữu hiệu để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro, bán nợ, phân tán rủi ro và quản trị rủi ro thông qua công cụ phái sinh.

– Tài trợ rủi ro: Các NHTM phải thường xuyên dự trữ các nguồn quỹ dự phòng cần thiết, sẵn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Tùy theo tính chất của từng loại tổn thất, ngân hàng được sử dụng những nguồn vốn thích hợp để bù đắp.

+ Đối với các tổn thất đã lường trước được rủi ro, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn từ quỹ dự phòng rủi ro nợ xấu đã được xếp loại theo tiêu chuẩn để bù đắp. Mặc dù nguồn vốn này được trích lập từ chi phí kinh doanh nhưng nếu tỷ lệ trích lập quá cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến loại nhuận và quyền lợi của cổ đông, làm giảm uy tín của Ngân hàng trên thị trường.

+ Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp khác để tài trợ rủi ro, bao gồm: Tham gia bảo hiểm trong suốt quá trình cấp tín dụng, xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ …

1.3.4. Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh phương pháp phòng chống RRTD

Việc báo cáo kịp thời, theo đúng yêu cầu về rủi ro là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác kiển tra kiểm soát, quản trị rủi ro. Định kỳ và nội dung báo cáo được áp dụng thích hợp cho từng đối tượng nhận báo cáo.

Báo cáo cho Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc thì chỉ tập trung vào đánh giá chung, tổng hợp rủi ro và chỉ nêu ra các rủi ro lớn nhất, các biện pháp chiến lược. Báo cáo cho lãnh đạo bộ phận nghiệp vụ thì yêu cầu chi tiết hơn và chỉ tập trung vào một loại rủi ro.

1.3.5. Biện pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp của các NHTM

1.3.5.1. Nhóm biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Để phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay, nhất là rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp cần thực hiện ngăn ngừa rủi ro tín dụng thông qua việc Ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác thẩm định trước khi cho vay, đồng thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân, các khoản nợ sau khi giải ngân, phát hiện ra những dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro, cụ thể như sau:

– Tổ chức hợp lý và khoa học quy trình cho vay: Quy trình cho vay của ngân hàng nhằm mục đích giúp quá trình cho vay tại ngân hàng diễn ra một cách thống nhất, khoa học nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Quy trình cho vay cũng xác định rõ ràng từng bộ phận thực hiện công việc và trách nhiệm của các cán bộ liên quan trong quá trình cho vay. Quy trình cho vay của ngân hàng bao gồm từ khâu tiếp thị khách hàng và lập đề xuất cấp tín dụng cho đến khi thanh lý hợp đồng tín dụng phải tuân thủ trình tự, thủ tục cấp tín dụng.

+ Thực hiện tốt phân tích tín dụng–cơ sở hình thành khoản cho vay tốt: Phân tích tín dụng là quá trình đánh giá khách hàng về các điều kiện vay vốn và hoàn trả nợ vay, trên cơ sở đó ra quyết định cho vay và giám sát khoản vay của ngân hàng. Mục đích phân tích tín dụng nhằm: hạn chế thông tin bất cân xứng, đánh giá đúng thực trạng rủi ro của khách hàng, xác định đúng nhu cầu vay của khách hàng, đưa ra quyết định chính xác về việc có cho vay hay không?

+ Kiểm tra và giám sát việc sử dụng vốn vay: Việc kiểm tra sử dụng vốn vay nhằm đảm bảo cho vốn vay phát huy được hiệu quả như mong đợi, ràng buộc khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và tuân theo các quy định của ngân hàng. Ngân hàng xây dựng cơ chế kiểm soát, giám sát các khoản vay thông qua thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ. Cụ thể: sau khi giải ngân cán bộ tín dụng thường xuyên đi thực tế kiểm tra tình hình doanh nghiệp, nhằm bảo đảm doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết và hạn chế rủi ro cho vốn vay. Việc kiểm tra này có thể thực hiện định kỳ (tháng, quý) hoặc đột xuất tùy theo tình hình cụ thể. Mỗi lần kiểm tra, cán bộ tín dụng phải lập báo cáo tình hình thực hiện khoản vay của khách hàng. Việc đi kiểm tra thực tế khách hàng thường xuyên là cách tốt nhất để phát hiện nhanh chóng những dấu hiệu nợ có vấn đề, những lần đi thực tế này luôn phải kiểm tra tình hình thực tế khoản vay và sổ sách của khách hàng. Khi phát hiện có dấu hiệu nợ có vấn đề, cán bộ tín dụng phải báo cáo kịp thời và trình cấp có thẩm quyền xử lý.

+ Thực hiện đúng quy định về đảm bảo tiền vay: Việc thực hiện đúng quy định về đảm bảo tiền vay là hết sức cần thiết để đảm bảo khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, Ngân hàng có thể phát mãi tài sản theo đúng quy định của pháp luật. Muốn vậy, khi nhận tài sản đảm bảo từ doanh nghiệp, Ngân hàng phải kiểm tra tính pháp lý về quyền sở hữu của người thế chấp hoặc người bảo lãnh đối với tài sản được thế chấp hoặc bảo lãnh, đồng thời phải tiến hành ký các hợp đồng thế chấp, bảo lãnh và tiến hành đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo thứ tự ưu tiên thanh toán khi phát mãi tài sản. Trong quá trình nhận tài sản thế chấp, Ngân hàng phải thường xuyên định giá, kiểm tra tài sản thế chấp để đảm bảo tỷ lệ tài sản thế chấp luôn đúng theo quy định của Ngân hàng.

– Công tác thông tin phòng ngừa rủi ro: bổ sung hồ sơ, giấy tờ cần thiết cho khoản vay; lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro; kiểm tra thực tế tình hình khách hàng; phân tích báo cáo tài chính của khách hàng; thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau như từ khách hàng cung cấp, từ đối tác của khách hàng, từ Trung tâm Thông tin Tín dụng(CIC), từ báo chí, Internet,…giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quát, khắc phục được những rủi ro do thông tin bất cân xứng.

– Phân tán rủi ro: bao gồm việc chuyển rủi ro như mua bảo hiểm cho vay, cho vay đồng tài trợ hoặc bán rủi ro như “bán” khoản vay cho ngân hàng lớn hơn hoặc một trung gian tài chính khác.

– Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng: Chất lượng công tác tín dụng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cả về chủ quan lẫn khách quan. Trong yếu tố chủ quan, vấn đề chất lượng cán bộ tín dụng và cán bộ thẩm định (CBTD) là vấn đề mấu chốt. Chính vì vậy cần phải không ngừng nâng cao chất lượng CBTD cả về mặt định tính lẫn định lượng. Về mặt định tính: phải có bản lĩnh kinh doanh, có phẩm chất đạo đức tốt, thái độ phục vụ tận tình, chu đáo. Về mặt định lượng: CBTD phải có trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, tiếp thị thu hút khách hàng, có năng lực điều tra thu thập, liên kết, xử lý và tổng hợp thông tin.

1.3.5.2. Nhóm biện pháp khắc phục rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Các biện pháp khắc phục được ngân hàng áp dụng nhằm hạn chế các tổn thất của ngân hàng khi đã có rủi ro xảy ra. Các biện pháp khắc phục bao gồm:

– Cho vay duy trì hoạt động doanh nghiệp và cơ cấu lại thời hạn trả nợ

Sau khi phân tích thực trạng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh, phương án/dự án đầu tư của khách hàng đang gặp khó khăn do thiếu vốn, ảnh hưởng đến việc thu nợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp cho vay duy trì hoạt động doanh nghiệp. Đây là quá trình thực hiện cho vay hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp có hiện trạng kinh doanh, tài chính kém nhưng có khả năng phục hồi.

Cơ cấu lại thời hạn trả nợ được áp dụng khi khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời, không có khả năng trả nợ đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các thỏa thuận bổ sung do nguyên nhân khách quan, có văn bản đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, được ngân hàng đánh giá có khả năng trả nợ trong thời gian đề nghị cơ cấu lại thì có thể xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Khi đã có quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với đối tượng khách hàng này, khoản nợ có thể được quản lý thông qua việc giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ. Ngân hàng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám sát quản lý nợ. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:

Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/và giảm số tiền nợ gốc phải thanh toán của kỳ trả nợ, nhưng không được giảm tổng số nợ được trả.

Gia hạn nợ: Đây là phương án tránh áp lực trả nợ của khách hàng để hỗ trợ khách hàng tiếp tục kinh doanh. Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp thêm tín dụng giúp khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu hồi các khoản nợ trước.

Chuyển vốn vay ngắn hạn sang vay trung và dài hạn: Giải pháp này có thể được xem xét áp dụng tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng ngân hàng. Việc ngân hàng chuyển dư nợ ngắn hạn sang cho vay trung dài hạn do doanh nghiệp sử dụng nguồn ngắn hạn đầu tư tài sản cố định nhằm giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả nợ đến hạn và ngân hàng có điều kiện thu hồi dần được nguồn vốn đã cho vay phù hợp với nguồn thu dự án.

Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo hiểm cao. Nếu ngân hàng đánh giá không đúng thực trạng khách hàng, nguyên nhân không trả được nợ mà thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng thì sẽ tiềm ẩn rủi ro khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng mà còn sử dụng tiền vay vào mục đích khác hoặc trả nợ cho các tổ chức, cá nhân khác, ngân hàng không có khả năng thu hồi nợ.

– Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Việc đánh giá và phân loại nợ nhằm đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để thực hiện trích lập dự phòng rủi ro phục vụ công tác quản lý chất lượng tín dụng và đánh giá tình hình kinh doanh của Ngân hàng. Thực hiện việc phân loại nợ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Phân loại nợ được chia thành 5 nhóm nợ: Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn; Nhóm 2: Nợ cần chú ý; Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn; Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ; Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Trong đó Nợ nhóm 3,4,5 được xếp là nợ xấu. Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng là điều khó có thể tránh khỏi, vì vậy ngân hàng đã đặt ra vấn đề là phải có một quỹ dự phòng để đảm bảo an toàn để giảm tổn thất, tránh cho ngân hàng khỏi rơi vào tình thế khó khăn khi rủi ro xảy ra.

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm: Dự phòng cụ thể và Dự phòng chung.

Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.

Việc trích lập dự phòng rủi ro thực hiện trên cơ sở số dư nợ gốc, phân loại nợ, giá trị của tài đảm bảo, tỷ lệ trích lập DPRR. Tỷ lệ trích lập DPRR thực hiện theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể theo nhóm nợ: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nợ nhóm 4: 50%; Nợ nhóm 5: 100%.

1.3.5.3. Nhóm biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay

Khi rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xảy ra làm phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu, ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp xử lý nhằm thu hồi nợ như sau:

– Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay

Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có phương án khắc phục khả thi, chây ỳ trong việc trả nợ …NHTM chủ động xử lý tài sản đảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của ngân hàng theo các hình thức sau: Tự bán công khai trên thị trường; Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; Bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm hoặc thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm hoặc thỏa thuận của hai bên, nếu hai bên không thỏa thuận được thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với các khoản cho vay có sự bảo lãnh của Bên thứ 3: Ngân hàng yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay, ngân hàng chủ động xử lý tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ được bảo lãnh tương tự như các tài sản thế chấp, cầm cố của bên vay.

Xử lý tài sản đảm bảo được xem là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng và là nguồn thu nợ hết sức quan trọng, đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng khi xảy ra rủi ro.

– Bán các khoản nợ

Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với các khoản nợ mà ngân hàng không có phương án thu nợ hoặc muốn rút thời gian thu được nợ. Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một tổ chức tín dụng hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình. Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hóa cao gọi là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo.

– Khởi kiện ra tòa để thu hồi nợ

Biện pháp kiện khách hàng ra tòa để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các biện pháp trên vẫn không thu hồi được nợ. Ngân hàng có thể đưa ra tòa án giải quyết, buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản đảm bảo nợ vay, phát mại tài sản của khách hàng hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ và ngân hàng với tư cách là chủ nợ chính có thể làm đơn đề nghị tòa mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản. Theo quy định của luật này, kể từ ngày tòa quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản thì các khoản nợ chưa tới hạn được coi là tới hạn, các chủ nợ bắt đầu không được tính lãi đối với khoản nợ này. Việc ngừng tính lãi (dù nợ chưa trả) là không có lợi cho ngân hàng. Cho nên, yêu cầu phá sản doanh nghiệp là biện pháp cuối cùng để ngân hàng thu hồi nợ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông\THAM KHẢO/ Q tri – RR tin dung – Khanh

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương  Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương  Nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam-Chi nhánh Hùng Vương

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *