Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Dịch bệnh COVID-19 đã nhắc nhở thế giới về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa nguồn cung ứng, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất. Hiện nay, việc dịch chuyển chuỗi cung ứng đang dần trở nên phổ biến và Việt Nam là một trong số những quốc gia có lợi thế từ xu hướng này. Để thu hút FDI và khai thác cơ hội phát triển trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ cũng như lĩnh vực công nghiệp nói chung, vai trò quản lý của nhà nước đóng một vai trò quan trọng. Như vậy, có thể cho rằng, việc đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về CNHT tại từng vùng đặc biệt là Tỉnh Quảng Nam là nơi đã hình thành tiềm lực công nghiệp vượt trội so với nhiều tỉnh trong cả nước, có sự đa dạng về các ngành công nghiệp và sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ đó là nhận xét của đại diện Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và đầu tư) tại hội thảo góp ý báo cáo giữa kỳ quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là một việc cần thiết. Ngành công nghiệp hỗ trợ luôn được coi là một phần quan trọng của các ngành công nghiệp, có vai trò đáng kể trong việc thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp. Những năm qua, Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy lĩnh vực này. Hàng loạt chính sách, văn bản đã được ban hành nhằm phát triển ngành công nghiệp cơ khí chế tạo và CNHT cho ngành công nghiệp chế tạo. Cụ thể, ngày 24 tháng 4 năm 2014, UBND Tỉnh Quảng Nam đã ban hành “Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025”; Đề án “phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 – 2020”. Bên cạnh đó Chính Phủ Việt Nam cũng đã ban hành các chính sách để thúc đẩy CNHT cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Nghị Quyết về các giải pháp thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ” trong năm 2020. Tuy nhiên, cho đến nay CNHT nói chung và CNHT cho ngành công nghiệp cơ khí chế tạo nói riêng ở Quảng Nam vẫn còn quá nhỏ bé về quy mô, yếu kém về chất lượng. Thậm chí, trong ngành sản xuất và lắp ráp ô tô ngay cả một doanh nghiệp lớn ở Quảng Nam như THACO…chủ yếu cũng chỉ dừng lại ở mức độ nhập khẩu linh kiện và lắp ráp ô tô thành phẩm với tỷ lệ nội địa hóa khá thấp hoặc trong ngành cơ khí chế tạo rất nhiều loại phôi vẫn cần nhập khẩu các nguyên vật liệu từ các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vì trình độ luyện kim hiện tại tương đối thấp. Trong chuỗi giá trị tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ, có ba công đoạn chủ yếu: (1) công đoạn nghiên cứu, thiết kế, sản xuất linh kiện phụ kiện, chi tiết sản phẩm, (2) công đoạn sản xuất bao gồm gia công, lắp ráp tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, và (3) công đoạn phân phối, tổ chức bán hàng. Trong ba công đoạn nói trên, công đoạn (2) tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất nhưng hiện tại Tỉnh Quảng Nam nói riêng và Việt Nam nói chung chủ yếu làm ở công đoạn (2). Thực trạng đó đặt ra rất nhiều câu hỏi, đặc biệt là câu hỏi: “Làm thế nào để các doanh nghiệp trong CNHT cho ngành cơ khí chế tạo đặc biệt là ngành sản xuất và lắp ráp ô tô gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, tối ưu chi phí sản xuất và đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực và trên thế giới?”.
Theo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ của Tỉnh Quảng Nam”. Tỉnh sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực dựa trên nhu cầu và lợi thế phát triển tỉnh, phù hợp với yêu cầu, định hướng phát triển công nghiệp chung của Tỉnh, bao gồm 3 lĩnh vực chủ chốt là: “Sản xuất linh kiện phụ tùng cho lĩnh vực sản xuất- lắp ráp ôtô”, “Công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp công nghệ cao” và “Công nghiệp hỗ trợ cho ngành Dệt may – Da giày”. Xây dựng mạng lưới sản xuất với nhiều tầng cung ứng, liên kết với các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp FDI và các đơn vị sản xuất, lắp ráp tại Quảng Nam cùng các khu vực khác trên toàn quốc… Những bước đi đúng hướng đó đã góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế vùng. Các nhóm ngành và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có thế mạnh của Quảng Nam như sản xuất linh kiện ô tô, cơ khí chế tạo, dệt may- da giày … dần thay thế các phụ tùng, linh kiện nhập khẩu, từ đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo sức cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp trong nước. Hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa linh kiện cho xe tải và bus đã vượt qua mức 60%. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước mà còn giúp các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn góp phần vào sự tăng trưởng xuất khẩu và tham gia mạnh mẽ hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặc dù vậy, sự phát triển của ngành Công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đạt đúng tiềm năng của Quảng Nam. Điều này xuất phát từ sự thiếu quan tâm cần thiết từ các cơ quan quản lý nhà nước trong việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng. Để đưa Quảng Nam tiến xa hơn trong lĩnh vực này, đạt vị trí dẫn đầu trong ngành Công nghiệp hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, việc thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước và cả những tập đoàn đa quốc gia hàng đầu trên thế giới là cần thiết và đòi hỏi sự quan tâm đúng mức từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Do vậy, đề tài “Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam” sẽ mang lại ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ Tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ
+ Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tại Tỉnh Quảng Nam.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tại Tỉnh Quảng Nam thời gian tới
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tại Tỉnh Quảng Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ
Về không gian: Trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam
Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2015 đến 2020. Các giải pháp có ý nghĩa trong những năm đến, tầm nhìn 2030
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập qua Niên giÁm thống kê tỉnh Quảng Nam, báo cáo của Ban quản lý khu công nghiệp và của Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Quảng Nam; các báo cáo chuyên đề, bài báo trên tạp chí, sách, tài liệu internet.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu, tài liệu, báo cáo tình hình thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ tại địa bàn tỉnh Quảng Nam và các số liệu, tài liệu khác liên quan, từ đó thể hiện số liệu qua hệ thống bảng biểu và phân tích số liệu.
Phương pháp so sánh: So sánh GTSXCN giữa các ngành, giữa các tỉnh trong nước, so sánh các chính sách quản lý nhà nước về CNHT tại tỉnh Quảng Nam với các tỉnh thành trong nước và nước ngoài.
Phương pháp phân tích: Phương pháp phân tích được sử dụng trong hầu hết nội dung của luận án từ phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, đặc biệt là phân tích thực trạng quản lý nhà nước nhằm phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, phân tích bối cảnh nhằm đề xuất giải pháp.
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước nhằm phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tổng hợp đánh giá thực trạng quản lý nhà nước nhằm phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kết cấu luận văn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI TỈNH QUẢNG NAM
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TỈNH QUẢNG NAM
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Công nghiệp hỗ trợ theo tiếng Anh là Supporting Industry -SI, còn được gọi là công nghiệp phụ trợ hay công nghiệp bổ trợ. Khái niệm CNHT được định nghĩa khác nhau giữa các nước và các tổ chức khác nhau, với cách nhìn và mục tiêu khác nhau trong phát triển ngành này.
Thuật ngữ CNHT xuất phát ở Nhật Bản. Bản thân cụm từ công nghiệp hỗ trợ được dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyuo”, trong đó Suso-no nghĩa là “Chân núi” và Sangyuo là “Công nghiệp”. Có thể được hiểu cơ bản như sau: “Nếu xem toàn bộ quy trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi thì các ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò chân núi, còn công nghiệp lắp ráp, sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng đóng vai trò đỉnh núi. Do đó, nếu không có CNHT rộng lớn, vững chắc thì cũng sẽ không có công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất cuối cùng bền vững, ổn định. Với cách hình dung như trên, tổng thể ngành công nghiệp có thể được xem như là sự kết hợp giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng, trong đó CNHT được coi là cơ sở nền tảng, công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng có vai trò hoàn thành giá trị sử dụng của sản phẩm”.
Hình 1.1:
Sơ đồ công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng
Nguồn: Junichi MORI/ Development of Supporting Industries for Vietnam Industrializion
Tuy vậy, tại các nước trên thế giới, tùy theo tình hình cụ thể và đặc thù của từng quốc gia, khái niệm CNHT có sự khác biệt nhất định.
Ở Nhật Bản, thuật ngữ CNHT ban đầu được dùng để chỉ: “Các doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng
công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn”. Sau đó định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp hỗ trợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra vào vào năm 1993: theo đó “ Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp ( bao gồm ô tô, điện và điện tử)”.
Một số tổ chức của các nước cũng có cách định nghĩa riêng về CNHT. Theo Văn phòng phát triển công nghiệp hỗ trợ Thái Lan (BSID): “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những công nghiệp hỗ trợ quan trọng)”. Đây là khái niệm và khá tương đồng với khái niệm về CNHT của Việt Nam ( Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ định nghĩa: “Công nghiệp hỗ trợ: là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”).
Mỹ – một nước có nền công nghiệp phát triển bậc nhất thế giới định nghĩa:“CNHT là các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng”.
Các nước châu Âu không sử dụng cụm từ CNHT mà thường gọi lĩnh vực
này là “các ngành cung ứng” (Supplier Industries), chỉ việc cung cấp sản phẩm từ các doanh nghiệp bên ngoài. Thực chất, tính chất phụ trợ, hỗ trợ thường bị che lấp bởi mối quan hệ trao đổi nội bộ giữa các ngành công nghiệp với nhau, vì thế sẽ có những quan niệm khác nhau về CNHT. Có quan niệm cho rằng: “CNHT bao gồm những ngành sản xuất sản phẩm trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định … CNHT không phải là một ngành kinh tế cụ thể, mà do thúc đẩy của phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất nên nó bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp”. Dựa trên mức độ phức tạp của 03 công đoạn sản xuất chính từ chế tạo vật liệu, gia công phụ tùng, linh kiện tới lắp ráp hoàn chỉnh, thì CNHT theo thứ tự này sẽ đứng hàng thứ hai.

Phạm vi rộng 1
Phạm vi chính
Phạm vi rộng 2
Hình 1.2: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
Như vậy, từ phân tích trên cho thấy, đến nay chưa có một cách hiểu thống nhất đối với thuật ngữ này và việc phân biệt phạm vi CNHT cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Thực tế, việc lựa chọn phạm vi CNHT tùy thuộc chủ yếu vào mục đích chính sách mà Chính phủ đưa ra, chính sách sẽ quyết định phạm vi của CNHT. Thông thường có 03 cách phân biệt phạm vi của CNHT (Sơ đồ 2.1):
- Phạm vi chính: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này.
- Phạm vi rộng 1: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh
kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm. - Phạm vi rộng 2: những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hóa đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc và cả các nguyên vật liệu như thép, hóa chất… cho ngành công nghiệp lắp ráp.
Mỗi quốc gia đều căn cứ vào yêu cầu phát triển và lợi thế để xác định phạm vi CNHT ở từng giai đoạn cho phù hợp. Nhật Bản, với lợi thế về công nghệ, tiếp cận CNHT theo nghĩa phạm vi rộng (1); Mỹ, với lợi thế về dịch vụ sản xuất tiếp cận CNHT theo nghĩa phạm vi rộng (2); các nước đang phát triển như Thái Lan tập trung vào phạm vi chính. Việt Nam khái niệm CNHT, giới hạn phạm vi hẹp hơn phạm vi rộng (1), nhưng rộng hơn phạm vi chính.
Từ phân tích trên có thể hiểu nội hàm của CNHT như sau:
(i) Là một lĩnh vực kinh tế kỹ thuật có tính đặc thù trong các ngành công nghiệp, nảy sinh từ việc phân công lao động và sự chuyên môn hóa trong giai đoạn sản xuất cao cấp và phổ biến. (ii) Kết hợp giữa yếu tố con người và máy móc trong môi trường làm việc đạt độ chuyên môn hóa cao và trình độ nhất định. (iii) Liên kết ngành cao với độ đa dạng lớn, hỗ trợ công nghệ cao cho nhiều ngành lắp ráp khác nhau. (iv) Thể hiện sự kết nối, mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các đối tượng sản xuất, giữa sự độc lập và phụ thuộc trong quá trình sản xuất, giữa các ngành công nghiệp chính và lĩnh vực CNHT, cũng như giữa người cung cấp vốn và người đầu tư vốn… (v) Bao gồm các sản phẩm trung gian, liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào các sản phẩm chính trong ngành công nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ
Quản lý nhà nước đối với công nghiệp hỗ trợ là việc hệ thống quản lý nhà nước tác động có mục tiêu vào hoạt động phát triển của lĩnh vực này qua các biện pháp và công cụ, đảm bảo quá trình phát triển diễn ra theo quy luật khách quan và phù hợp với mục tiêu và hướng đi của nhà nước.
Một là, Sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan mật thiết đến các ngành hoặc phân ngành công nghiệp cụ thể và những sản phẩm cụ thể mà nó hỗ trợ. Đây tạo ra sự kết nối và tương tác cả trong chiều dọc và chiều ngang của chuỗi cung ứng. Đồng thời, sự tiến bộ trong ngành công nghiệp hỗ trợ đóng góp vào việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành (hoặc sản phẩm) khác và thu hút nhu cầu tiêu thụ từ các cơ sở sản xuất hỗ trợ ở tầng thấp hơn.
Hai là, yêu cầu về vốn và kỹ năng lao động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ được điều chỉnh tùy theo đối tượng được hỗ trợ. Cả lĩnh vực công nghiệp lắp ráp (như ô tô, điện tử) và lĩnh vực công nghiệp chế biến (như dệt may, giày da) đều cần sự hỗ trợ từ ngành công nghiệp này, tuy nhiên, chúng yêu cầu những chính sách hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ lắp ráp, kỹ năng lao động cần phải cao hơn và tập trung vào việc làm việc với các linh kiện kim loại, nhựa, cao su, có tác động quan trọng đến chất lượng của sản phẩm. Trong khi đó, trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chế biến, yêu cầu về kỹ năng lao động không cần phải cao, sản xuất ít linh kiện phụ, và có ít ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm.
Ba là, công nghiệp hỗ trợ ngày càng phổ biến trong các mô hình tổ chức sản xuất, thể hiện qua sự hợp tác trong các dạng như thầu phụ hoặc mô hình vệ tinh. Sự hợp tác mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp chính và những doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ cũng là điểm đáng chú ý.
Bốn là, đối với mỗi ngành hoặc phân ngành, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thường có quy mô vừa và nhỏ, chuyên môn hóa sâu và tập trung vào một dải sản phẩm hẹp. Điều này giúp họ linh hoạt trong việc thay đổi mẫu mã sản phẩm và đồng thời đạt được tính cạnh tranh cao.
Năm là, các sản phẩm trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có thể được tiêu thụ cả trên thị trường trong nước và cả thị trường xuất khẩu.
Sáu là, giá trị của sản phẩm trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thường chiếm tỷ trọng quan trọng trong sản phẩm cuối cùng, có thể lên đến 80-90%. Để định hướng chính sách phát triển trong lĩnh vực này, việc phân chia theo từng phân ngành để thực hiện các biện pháp thích hợp, đặc biệt là chính sách tài chính, là cần thiết.
1.1.3. Vai trò quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ
Hiện tại, các sản phẩm trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam chủ yếu là các linh kiện và chi tiết đơn giản, có hàm lượng công nghệ ở mức trung bình và thấp, góp phần giá trị nhỏ trong tổng giá trị sản phẩm. Vì vậy, để nâng cao tham gia trong chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu và nhanh chóng đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất và cung ứng toàn cầu, vai trò quản lý của nhà nước trở nên vô cùng quan trọng. Vai trò quản lý của nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ là đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành này về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này thể hiện thông qua việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, quản lý đầu tư, quản lý sản xuất và sử dụng tài nguyên, quản lý lao động và thị trường.
Một là, Công nghiệp hỗ trợ có vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp, góp phần tăng cường sự cạnh tranh của các sản phẩm chính và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Các hoạt động trong lĩnh vực này có thể được xem như “bệ đỡ” cho sự phát triển của ngành công nghiệp, cung cấp nền tảng và cơ sở cho sự mạnh mẽ hơn của ngành chính. Chất lượng cuối cùng của sản phẩm trong ngành công nghiệp chủ yếu phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng của các chi tiết và linh kiện từ lĩnh vực CNHT. Trường hợp lĩnh vực này không phát triển, ngành công nghiệp chính có thể thiếu sự cạnh tranh và phạm vi hoạt động của chúng sẽ bị hạn chế trong một số ngành hẹp.
Hai là, các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ thường tập trung vào việc chuyên môn hóa trong các công đoạn hoặc các chi tiết sản phẩm mà họ có thế mạnh. Đồng thời, họ cũng thực hiện sự hợp tác và liên kết để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. Sự chuyên môn sâu và tinh thần hợp tác này đóng góp vào việc tăng năng suất sản xuất và hiệu suất.
Ba là, công nghiệp hỗ trợ là nền tảng để thực hiện quá trình hội nhập vào nền công nghiệp toàn cầu. Các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia hàng đầu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Các quốc gia đang phát triển cũng bị ảnh hưởng bởi sự diễn biến này và cần phải phát triển một cách từng bước, hợp tác và hội nhập để đạt được sức mạnh ngang tầm. Trong quá trình này, công nghiệp hỗ trợ đóng một vai trò quan trọng, góp phần thiết lập các mối quan hệ hợp tác và làm cho sản phẩm CNHT trở thành một phần không thể thiếu trong hệ thống sản xuất chuyên môn hóa trên tầm quốc tế.
Bốn là, phát triển công nghiệp hỗ trợ hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài và xây dựng tăng trưởng bền vững. Tuy hiện nay yếu tố lao động giá rẻ không còn đủ hấp dẫn để thúc đẩy đầu tư và phát triển bền vững. Việc phát triển lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có thể thu hút đầu tư nước ngoài do tỷ lệ chi phí liên quan đến công nghiệp hỗ trợ thường cao hơn nhiều so với chi phí lao động. Điều này dẫn đến việc môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn khi có sự phát triển của lĩnh vực này. Công nghiệp hỗ trợ phát triển có khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và đem lại giá trị gia tăng cao hơn so với việc chỉ tập trung vào lao động giá rẻ. Mặc dù một quốc gia có ưu thế về nguồn lao động, nhưng nếu không phát triển công nghiệp hỗ trợ, sẽ không thể tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn. Đối với những ngành kinh tế đang dựa vào lao động giá rẻ, khi cơ hội này giảm đi, họ có thể sẽ phải tìm kiếm cơ hội ở những nơi khác.
Năm là, phát triển CNHT khuyến khích sử dụng công nghệ cao và nâng cao tay nghề lao động. Lao động trong CNHT được khuyến khích sáng tạo và đổi mới, trong khi công việc lắp ráp thường không cần nhiều sáng tạo.
Sáu là,cCông nghiệp hỗ trợ đóng góp quan trọng vào sự ổn định kinh tế, tạo giá trị gia tăng đáng kể và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Việc sản xuất các chi tiết và linh kiện…
Cuối cùng, sự phát triển của CNHT tạo điều kiện cần để hình thành các cụm liên kết ngành (industrial cluster), một công cụ mạnh mẽ giúp tăng cường sự cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế vùng. Cụm liên kết ngành này thể hiện thông qua việc xây dựng một mạng lưới nhà cung ứng sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp khác.
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.2.1.Tổ chức bộ máy quản lý đối với công nghiệp hỗ trợ của địa phương
Tổ chức bộ máy làm công tác quản lý được xác định là một yếu tố, là
một trong các công cụ quan trọng góp phần đảm bảo hiệu quả của quản lý nhà nước đối với phát triển CNHT. Tổ chức bộ máy được cấu trúc hợp lý, phù hợp và ổn định sẽ phát huy được sức mạnh của nó và nâng cao được hiệu lực hiệu quả quản lý và ngược lại. Nói cách khác, việc tổ chức tốt một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Tổ chức bộ máy quản lý đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc phát triển và duy trì sự hoạt động của công nghiệp hỗ trợ. Vai trò này mang tính toàn diện và đóng góp đáng kể đến hiệu suất, sự phát triển bền vững và tương lai của ngành công nghiệp hỗ trợ. Tổ chức bộ máy quản lý đóng góp vào sự phát triển và sự thành công của ngành công nghiệp hỗ trợ thông qua việc điều phối tài nguyên, đảm bảo chất lượng, khuyến khích đổi mới, quản lý nhân lực, xây dựng đối tác, giám sát hiệu suất và thu hút đầu tư. Sự hiệu quả của cơ cấu quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của ngành này và ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương.
- Tiêu chí đánh giá:
- Số lượng cán bộ, công chức tham mưu
- Phân cấp quản lý
- Năng lực của cán bộ, công chức tham mưu
1.2.2. Xây dựng, quy hoạch và kế hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ
Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, triển khai các giải
pháp để đạt được các mục tiêu toàn diện về phát triển trong một khoảng thời
gian tương đối dài (10 năm, 20 năm). Chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ được thực hiện bởi các cơ quan xây dựng quản lý nhà nước về xây dựng chiến lược đề ra các mục tiêu, quan điểm và giải pháp mang tính chiến lược trong phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Quy hoạch là một công cụ QLNN được sử dụng tương đối phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới và được hiểu theo những cách khác nhau. Có hai loại quy hoạch chủ yếu được các cơ quan QLNN sử dụng làm công cụ quản lý là: “quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội” và “quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực”. Nội hàm của quy hoạch gắn với “không gian lãnh thổ‖ và có thể định nghĩa quy hoạch là “quá trình bố trí các nguồn lực theo không gian lãnh thổ một cách có hiệu quả”, hay nói một cách khác “quy hoạch chính là nghệ thuật bố trí các nguồn lực trên lãnh thổ, làm cho sự phát trên lãnh thổ hài hòa và có hiệu quả cao”. Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ là nội dung QLNN rất quan trọng đối với phát triển CNHT.
Quy hoạch tổng thể phát triển CNHT được xây dựng dựa trên “Chiến
lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội” và các quy hoạch: sử dụng đất; xây dựng vùng và đô thị; phát triển hệ thống kết cấu HTKT và kết nối hệ thống xã hội; quy hoạch sử dụng khoáng sản và các nguồn tài nguyên…; khả năng phát triển các ngành, lĩnh vực, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; khả năng liên kết giữa các ngành công nghiệp; đảm bảo yêu cầu về quốc phòng, an ninh, trong đó xác định rõ: phân khu chức năng các khu đất xây dựng các công trình công nghiệp; khu cây xanh; dịch vụ kỹ thuật. Quy hoạch phát triển CNHT cụ thể căn cứ dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển trên một phạm vi lãnh thổ nhất định được phê duyệt, quy định rõ chỉ tiêu sử dụng đất để xây dựng các công trình công nghiệp và các công trình HTKT. Việc quy hoạch rất quan trọng trong việc hoạch định các doanh nghiệp CNHT, loại doanh nghiệp nào nên phát triển về CNHT và loại doanh nghiệp nào không nên phát triển.
Xây dựng Chiến lược, quy hoạch và kế hoạch là những công cụ quan trọng của quản lý. Sau khi chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển CNHT được phê chuẩn, chúng là những căn cứ pháp lý để hướng dẫn hoạt động và đánh giá hoạt động của các chủ thể tham gia thực thi chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đề ra.
Các quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát trỉển công nghiệp của tỉnh không thể tách rời thực trạng công nghiệp nói chung và CNHT của địa phương nói riêng với những kết quả đạt được, hạn chế đang tồn tại. Các nguồn lực, điều kiện để phát triển CNHT của tỉnh. Các qui hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển CNHT của tỉnh chỉ có tính khả thi khi có các nguồn lực, điều kiện để thực thi. Các nguồn lực thực hiện có thể được huy động tại địa phương, có thể từ hỗ trợ của trung ương, có thể huy động từ các địa phương khác, từ nước ngoài. Các nguồn lực chủ yếu để phát triển CNHT ở cấp tỉnh bao gồm:
– Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách của tỉnh và hỗ trợ từ ngân sách trung ương.
– Nguồn vốn đầu tư có thể thu hút, huy động từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
– Nguồn nhân lực của tỉnh và nguồn nhân lực có thể thu hút từ các địa phương khác, kể cả các chuyên gia thu hút từ nước ngoài.
– Nguồn lực khoa học công nghệ của địa phương, hoặc có thể thu hút, chuyển giao.
– Nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai của tỉnh
* Tiêu chí đánh giá:
- Mức độ thực hiện các mục tiêu phát triển CNHT, hiệu quả các chương trình, kế hoạch thực hiện, từ đó đánh giá kết quả đạt được
- Tính kịp thời, thường xuyên của các chương trình, kế hoạch thúc đẩy CNHT
- Loại hình doanh nghiệp nên và không nên phát triển
Quy hoạch, kế hoạch và các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của tỉnh là cơ sở để tỉnh thực hiện các mục tiêu, định hướng, đề xuất và thực hiện các nội dung khác trong việc quản lý công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn.
1.2.3. Ban hành và thực thi chính sách đối với công nghiệp hỗ trợ của địa phương
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động quan trọng thể hiện bản chất chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước. Trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định, cơ quan QLNN xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về mọi ngành và lĩnh vực nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước.
Chính sách thường được thể chế hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể phù hợp với mục tiêu của chính sách. Các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo hành lang pháp lý cho việc tác động vào các mối quan hệ sản xuất, quan hệ lao động và quản lý để điều chỉnh, định hướng cho sự phát triển phù hợp với mục tiêu chung của đất nước.
Chính sách công nghiệp nói chung và CNHT nói riêng quốc gia là một bộ phận hữu cơ của chiến lược, chính sách phát triển đất nước, gắn liền với chính sách phát triển các ngành kinh tế khác, đặc biệt là chính sách thương mại quốc gia, tài chính-tiền tệ, khoa học, công nghệ, đào tạo, bảo vệ môi trường. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp với chiến lược tổng thể phát triển CNHT, giữa chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành CNHT với chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác để hình thành các vùng công nghiệp, cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, các mạng sản xuất, chuỗi giá trị công nghiệp, trong đó cụm liên kết ngành công nghiệp là trọng tâm.
Không ngừng nâng cao chất lượng quản lý của cơ quan các cấp trong hoạt động quyết định và giám sát về công nghiệp. Đẩy mạnh cải cách hành chính; thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở tất cả các cơ quan hành chính, tiến tới từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp. Tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các cấp.
Đẩy mạnh thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ vào nền CNHT tỉnh . Hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về CNHT. Phát triển các dịch vụ tư vấn, thẩm định, định giá sản phẩm về CNHT. Ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy hợp tác, chuyển giao công nghệ giữa công nghiệp, công nghệ và khoa học kỹ thuật.
Ban hành chính sách khuyến khích các dự án đầu tư sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện lồng ghép các yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường trong tất cả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Rà soát, sửa đổi các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường của các ngành công nghiệp hỗ trợ; quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực CNHT và có chế tài xử lý nghiêm vi phạm.
* Tiêu chí đánh giá:
- Số lượng các chính sách ban hành về phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh
- Nội dung và kết quả các chính sách mang lại
1.2.4.Xúc tiến và thu hút đầu tư đối với công nghiệp hỗ trợ của địa phương
Hỗ trợ thành lập, đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ là bước đi tiếp theo trong QLNN đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ của chính quyền cấp tỉnh sau khi phê duyệt quy hoạch phát triển CNHT. Việc hỗ trợ thành lập, đầu tư phát triển CNHT của chính quyền cấp tỉnh thể hiện quyết tâm tạo dựng môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, thuận lợi, cho thấy chính quyền thực sự coi DN sản xuất CNHT là trung tâm và sẵn sàng kiến tạo các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho các DN phát triển lành mạnh, trong môi trường bình đẳng.
Để phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh, chính quyển tỉnh phải thực hiện các hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào ngành công nghiệp trọng điểm là CNHT trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt đối với các tỉnh nghèo, kém phát triển, để phát triển thì đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, cần có các doanh nghiệp lớn từ trong và ngoài nước đầu tư, từ đó lôi kéo các doanh nghiệp vệ tinh, góp phần chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, phát triển dịch vụ đi kèm,… Xúc tiến đầu tư cấp tỉnh là tổng thể các hoạt động, biện pháp nhằm giới thiệu, định hướng, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với những cơ hội đầu tư trên địa bàn tỉnh. Xúc tiến đầu tư có vai trò quan trọng, giúp các nhà đầu tư tiềm năng nắm được những cơ hội đầu tư, lợi thế, tiềm năng, các dự án, lĩnh vực ưu tiên, đang được kêu gọi đầu tư. Trên cơ sở đó, nhà đầu tư có thể có những nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đi đến quyết định đầu tư.
Theo Quyết định số 03/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/1/2014, nội dung hoạt động xúc tiến đầu tư bao gồm:
– Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng, thị trường, xu hướng và đối tác đầu tư;
– Xây dựng CSDL để hỗ trợ hoạt động xúc tiến đầu tư;
– Tạo danh mục các dự án để kêu gọi đầu tư;
– Tạo ra các ấn phẩm và tài liệu hỗ trợ hoạt động xúc tiến đầu tư;
– Tiến hành tuyên truyền và quảng bá về môi trường, chính sách, tiềm năng, cơ hội và kết nối đầu tư;
– Đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực cho hoạt động xúc tiến đầu tư;
– Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc hiểu rõ về luật pháp, chính sách, thủ tục đầu tư, tiềm năng thị trường, đối tác và cơ hội đầu tư. Đồng thời, cung cấp sự hỗ trợ cho việc triển khai dự án sau khi đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư.
– Thực hiện hợp tác trong nước và quốc tế liên quan đến việc xúc tiến đầu tư.
Để thu hút đầu tư, bên cạnh việc xúc tiến, quảng bá thì môi trường đầu tư nói chung và đầu tư vào ngành công nghiệp nói riêng của tỉnh phải hấp dẫn. Cụ thể, chính quyền tỉnh cần phải có các biện pháp nhằm:
– Cải tiến, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục đầu tư.
– Đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư.
– Chuẩn bị kết cấu hạ tầng cho hoạt động đầu tư: đất đai, khu công nghiệp, giao thông, cấp thoát nước, điện,…
– Hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư.
– Có các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư: ví dụ ưu đãi về tiếp cận đất đai, giải phóng mặt bằng, hạ tầng, thuế,…
- Tiêu chí đánh giá:
- Tính đa dạng, phong phú của nội dung, hình thức xúc tiến và thu hút đầu tư
- Số lượng dự án đã xúc tiến và chương trình hợp tác được ký kết
- Mức độ thường xuyên của công tác xúc tiến và thu hút đầu tư về CNHT
- Tính kịp thời của công tác hỗ trợ tháo gỡ khó khăn.
1.2.5.Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong thực hiện cơ chế, chính sách trong công tác quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ
Trong bất kỳ hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu đề ra đạt được hiệu quả tốt nhất, thì nhất thiết phải tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và nó là một trong những chức năng hoạt động quản lý. Hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. (Điều 2, Luật Thanh tra năm 2010). Nếu không có thanh tra, kiểm tra thì không có quản lý tốt, hay nói một cách khác quản lý sẽ mất đi một chức năng thiết yếu và không thể mang lại hiệu quả.
Thanh tra, kiểm tra đối với phát triển CNHT là nội dung quan trọng và thiết yếu của quá trình quản lý nhà nước đối với phát triển CNHT. Ở đâu có hoạt động quản lý thì ở đó có hoạt động kiểm tra, giám sát để đảm bảo công tác quản lý và các hoạt động khác tuân thủ theo đúng nguyên tắc và đúng pháp luật.
Thanh tra, kiểm tra có tác dụng là thẩm định lại, đảm bảo cho kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao, đảm bảo cho lãnh đạo kiểm soát được nguồn lực để có tác động kịp thời, giúp cho hoạt động QLNN đối với phát triển CNHT theo sát và đối phó được với sự thay đổi, tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới đất nước. Quá trình thanh tra, kiểm tra tốt sẽ mang đến lợi ích không nhỏ trong hoạt động quản lý của nhà nước.
Chúng ta không nên hiểu thanh tra, kiểm tra là đi tìm lỗi của người
khác để bắt lỗi mà ý nghĩa của nó là nhằm tìm ra những điểm tích cực cũng
như tiêu cực của một cá nhân, một đơn vị tổ chức, để từ đó điều chỉnh cho
phù hợp, đúng đắn để đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, có một yêu cầu mà công
tác thanh tra, kiểm tra luôn phải thực hiện đó là khi phát hiện các lỗi sai thì
phải nghiêm chỉnh xử lý, tránh tình trạng thanh tra, kiểm tra lấy lệ.
- Tiêu chí đánh giá:
- Số đợt thanh tra, kiểm tra, giám sát hằng năm
- Số đối tượng được thanh tra, kiểm tra, giám sát
- Số vụ vi phạm bị phát hiện do thanh tra, kiểm tra, giám sát
- Số vụ vi phạm bị xử lý
- Số tiền xử lý vi phạm
1.3. CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Điều kiện tự nhiên của các tỉnh đóng vai trò quan trọng đối với phát triển công nghiệp do nó ảnh hưởng tới tiếp cận đầu vào, đầu ra của sản xuất công nghiệp hỗ trợ và quá trình thực hiện sản xuất.
Vị trí địa lý: Vị trí địa lý của mỗi địa phương có ảnh hưởng lớn tới
phát triển công nghiệp tại địa phương đó do nó tác động tới việc tiếp cận đàu
vào và đầu ra của sản xuất công nghiệp, từ đó quyết định tỉnh có phát triển
sản xuất công nghiệp được không và phát triển ngành công nghiệp nào, sản
phẩm gì.
+ Nếu vị trí địa lý thuận lợi, gần hoặc dễ tiếp cận nguồn nguyên liệu
với chi phí thấp thì các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẽ giảm được chi phí
nguyên vật liệu đầu vào, đảm bảo được quá trình cung ứng đầu vào cho sản xuất được suôn sẻ, do đó, giảm được giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, nhờ đó mà có thể phát triển và mở rộng doanh nghiệp. Ngược lại, nếu vị trí xa nguồn nguyên liệu, chi phí vận tải đắt đỏ, nguồn cung cấp thường bị gián đoạn do điều kiện tiếp cận, giao thông thì sẽ khó cho việc phát triển công nghiệp. Những ngành công nghiệp hỗ trợ thường sử dụng nhiều nguyên vật liệu thô, khối lượng lớn, chi phí vận chuyển đắt đỏ, ví dụ các ngành sản xuất sắt thép, xi măng,…thường sẽ lựa chọn phát triển tại các vùng gần với nguyên liệu hoặc dễ nhập nguyên liệu để giảm chi phí.
+ Nếu vị trí địa lý thuận lợi, gần hoặc dễ tiếp cận với thị trường tiêu thụ với chi phí thấp, tiện giao thông thì sẽ tạo điều kiện cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, từ đó có thể tăng doanh số, giúp doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh. Chính vì vậy, các tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đều có lợi thế phát triển công nghiệp. Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên,…là các ví dụ điển hình.
+ Vị trí địa lý cũng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận nguồn nhân lực, nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn đầu tư,…từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp công nghiệp nói chung và CNHT nói riêng. Ví dụ, để phát triển CNHT công nghệ cao thì việc ở gần các trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, các thành phố lớn rất quan trọng vì khi đó mới có điều kiện thu hút nhân lực công nghệ cao làm việc.
Tài nguyên thiên nhiên: Nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng rất nhiều đến cơ cấu của từng địa phương cũng như đóng vai trò quyết định trong việc định hình và phát triển các thành phần kinh tế của những địa phương. Từ đó nhà quản lý sẽ có những hoạch định chính sách phù hợp. Tài nguyên là một phần quan trọng là nguyên liệu đầu vào để có thể sản xuất, lắp ráp một sản phẩm hoàn chỉnh. Việt Nam hiện này được biết là nước có lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú, đây là một yếu tố then chốt tạo động lực phát triển tất cả các nhóm ngành CNHT. Ví dụ: Việt Nam hiện nay là nước có trữ lượng đất hiếm lớn thứ 2 trên thế giới điều này mở ra cơ hội phát triển nhóm ngành CNHT về điện tử – tin học để sản xuất các linh kiện điện tư, chip, bo mạch…
Địa hình: Là một yếu tố giúp các nhà hoạch định được nên ưu tiên phát triển vào nhóm ngành nào, mỗi địa hình có một thế mạnh để khai thác như các vùng đồng bằng ven biển có thể dễ dàng xây dựng các khu công nghiệp, cảng, phát triển hạ tầng giao thông kết nối. Vùng miền núi địa hình có mức độ chia cắt mạnh, độ dốc lớn có tiềm năng khai thác các nhóm ngành thủy điện hoặc các nhóm ngành nông nghiệp.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế: Việc địa phương đưa ra các chính sách phát triển kinh tế- xã hội được xem như là ngọn cờ dẫn dắt định hướng các hoạt động thu hút vốn trên địa bàn một cách hợp lý. Đưa ra chính sách phát triển kinh tế – xã hội hợp lý, đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển hoạt động kinh tế của vùng. Nền kinh tế của nước ta hiện nay công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng chưa cao, còn đơn lẻ của từng vùng miền chưa có sự liên kết cũng như tăng giá trị sản phẩm tạo ra. Nền công nghiệp hỗ trợ hiện còn chưa được quan tâm phát triển theo chiều sâu.
Kết cấu hạ tầng kinh tế: Để thu hút được đầu tư phát triển nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ của các công ty trong và ngoài nước thì việc xây dựng một cơ sở hạ tầng chất lượng, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế là một vấn đề hết sức quan trọng. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường điện nước,bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, hệ thống các công trình, kho bãi phục vụ sản xuất. Chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng tốt làm giảm chi phí đầu tư, khả năng cạnh tranh vì vậy sẽ đem lại lợi nhuận cao đáp ứng được mục tiêu của các nhà đầu tư. Từ đó ta thấy, việc xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi, phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển kinh tế và nhất là nhóm ngành mới là ngành công nghiệp hỗ trợ.
Bên cạnh các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội của các tỉnh có ảnh hưởng tới việc phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn.
Nguồn nhân lực của địa phương: Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển dần dần thay thế vai trò của con người trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên dù có thay thế như thế nào thì vai trò của con người luôn là vấn đề then chốt. Nguồn lao động là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng trong quá trình sản xuất. Lao động là một trong những nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất vì vậy chất lượng và giá cả của lao động ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình sản xuất. Chi phí lao động ( chi phí dùng cho đào tạo lương, phúc lợi, bảo hiểm) thể hiện sự cấu thành của nguồn nhân lực. Vậy chi phí nguồn lực là yếu tố quan trọng trong việc cấu thành mức tăng trưởng kinh tế. Nhà nước cần phải đảm bảo rằng nguồn lao đông tại chỗ đáp ứng đủ điều kiện về số lượng và chất lượng để phát triển các nhóm ngành trong đó có ngành công nghiệp hỗ trợ.Vì vậy cần phải ưu tiên phát triển các khu vực có nguồn lao động dồi dào và chất lượng cao tránh tình trạng chảy máu chất xám
Ổn định về chính trị – xã hội luôn là yếu tố thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước và chứng tỏ năng lực quản lý nhà nước. Bởi vì chính trị xã hội ổn định thì các chính sách ưu tiên của nhà nước đối với các công ty trong các nhóm ngành được cam kết thực hiện. Là nhân tố luôn được các nhà đầu tư quan tâm vì độ rủi ro của nó rất cao nên việc quyết định thực hiện đầu tư hay không. Thông thường các nhà đầu tư rất dễ thu hút với các môi trường đầu tư có độ rủi ro cao vì nó thường đi kèm đó là đem lại lợi nhuận cao. Việt Nam là một đất nước có sự ổn định về kinh tế, chính trị – xã hội vì vậy sẽ rất thu hút các nhà đầu tư thích sự “ ổn định” trong hoạt động sản xuất kinh doanh. ư
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1. Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh
Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh phát triển nhanh so với các địa phương khác, đóng góp trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và hơn 35% vào tổng sản phẩm vùng (GRDP), nhóm hàng công nghiệp đóng góp 74,3% giá trị xuất khẩu của thành phố, GDP bình quân tăng 9,6%/năm, gấp 1,66 lần mức tăng chung của cả nước, góp phần đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm lớn về kinh tế, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tuy nhiên thời gian qua, ngành công nghiệp hỗ trợ thành phố chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, còn tồn tại nhiều hạn chế như: hơn 80% nguyên – vật liệu, thiết bị và công nghệ phải nhập khẩu; sản xuất phục vụ sửa chữa, thay thế, gia công lắp ráp là chủ yếu. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) còn hạn chế trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, nếu có chủ yếu tham gia ở những công đoạn với công nghệ giản đơn, giá trị gia tăng thấp. Tồn tại trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó còn hạn chế về vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật công nghệ,… khó mở rộng sản xuất, nâng cấp trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, chính sách thúc đẩy CNHT chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, các chính sách thay đổi quá nhanh và thiếu nhất quán, thiếu sự thông tin và tư vấn kịp thời, các chính sách này không trực tiếp và đặc thù đối với lĩnh vực CNHT nên chưa phát huy được tác dụng, các biện pháp ưu đãi cho CNHT chưa được doanh nghiệp tận dụng, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành CNHT còn yếu. Bên cạnh đó, nhận thức về CNHT ở các khâu hoạch định, thực thi chính sách và triển khai các chương trình hỗ trợ còn chưa thống nhất giữa cơ quan quản lý nhà nước, hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp. Xác định phát triển CNHT là nội dung quan trọng và đóng vai trò then chốt cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả,góp phần thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp của cả nước. Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Tập trung phát triển Công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ”. Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, yếu kém về phát triển CNHT gắn với DNNVV, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển vào tiến trình hội nhập quốc tế và nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị Quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X (nhiệm kỳ 2015 – 2020)”, Thành ủy, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cần tập trung lãnh đạo thực hiện phát triển CNHT trên địa bàn thành phố với một số nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CNHT trong phát triển công nghiệp thành phố, góp phần thực hiện mục tiêu: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ của cả nước, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có vị trí chính trị – kinh tế – xã hội quan trọng của cả nước. Vì thế, việc phát triển CNHT là nội dung quan trọng và đóng vai trò then chốt cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện hiệu quả góp phần thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp của cả nước.
Thứ hai, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan đầu mối thực hiện nhiệm vụ phát triển CNHT Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển CNHT. Thường xuyên chỉ đạo các đơn vị rà soát, hệ thống lại các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, các văn bản chỉ đạo điều hành của Thành phố đã ban hành về việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường đầu tư, kinh doanh cho các doanh nghiệp CNHT; Chỉ đạo triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhóm giải pháp phát triển CNHTđối với các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên; Theo dõi tiến độ thực hiện các chương trình, đề án về CNHT; Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả đạt được và đề xuất các nội dung cần triển khai thực hiện trong từng giai đoạn. Kiện toàn bộ máy tổ chức, đầu tư nâng cấp Trung tâm Phát triển CNHT để thực hiện tốt chức năng nhiện vụ được giao là đơn vị đầu mối trong việc triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước về CNHT theo Quyết định số 4123/QĐ-UBND ngày 26-8-2015 về thành lập Trung tâm phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thứ ba, tạo điều kiện hỗ trợ cho các DNNVV có điều kiện phát triển trong lĩnh vực CNHT để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất, lắp ráp của doanh nghiệp đầu cuối trong và ngoài nước. Về mặt bằng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất phát triển công nghiệp hỗ trợ: Đầu tư hạ tầng xây dựng các khu nhà xưởng cao tầng tại các địa điểm với quy mô diện tích phù hợp cho nhu cầu của doanh nghiệp CNHT; hình thành các phân khu CNHT trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao nhằm thu hút doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT.Trong đó, cần tập trung rà soát, quy hoạch lại các KCN, Khu Công nghệ cao hiện có để bố trí các phân khu CNHT trong KCN để phát triển CNHT phù hợp cho từng giai đoạn; xây dựng mô hình cụm liên kết ngành phát triển CNHT, hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh để hình thành chuỗi cung ứng từng ngành trong phạm vi Thành phố và có tính đến mối liên kết với các địa phương trong và ngoài nước.Đồng thời, tiến hành rà soát và tổng hợp nhu cầu quỹ đất thực tế của doanh nghiệp CNHT đề xuất Ban chỉ đạo phát triển CNHT các giải pháp để phục vụ doanh nghiệp, đặc biệt quan tâm đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng CNHT về giải phóng mặt bằng, giá thuê đất và các chính sách ưu đãi khác. Về hỗ trợ vốn doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất: hình thành các gói tín dụng ưu đãi lãi suất hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp CNHT đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cải tiến thủ tục cho vay đối với doanh nghiệp theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay để các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Kiện toàn các tổ chức hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp hiện có của Thành phố, đặc biệt là Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV, Quỹ phát triển khoa học công nghệ; tiếp tục nâng chất chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, tranh thủ các nguồn vốn của đầu tư nước ngoài để phát triển CNHT.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, kết nối doanh nghiệp trong phát triển CNHT. Các cấp ủy, chính quyền đẩy mạnh cập nhật thường xuyên chủ trương, chính sách của thành phố về phát triển CNHT cho doanh nghiệp. Đồng thời, tiếp thu ý kiến phản hồi cũng như nhu cầu của doanh nghiệp để tham mưu, đề xuất kịp thời các chính sách và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình phát triển CNHT. Trung tâm Phát triển CNHT Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối trong thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp từ công tác tư vấn, hỗ trợ thủ tục tiếp cận ưu đãi cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường. Ủy ban nhân dân thành phố tích cực xây dựng chương trình truyền thông về công nghiệp và CNHT Thành phố trên các phương tiện báo, đài truyền hình, đài truyền thanh, mạng internet,… kết hợp với các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác để giúp doanh nghiệp nắm bắt, tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật, các chủ trương, chính sách mới của Chính phủ và của Thành phố về công nghiệp, CNHT. Nội dung truyền thông liên quan đến định hướng quy hoạch, cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh CNHT trên các khía cạnh đầu tư hạ tầng, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực quản lý chất lượng, thị trường, vốn, phát triển nguồn nhân lực. Trong công tác kêu gọi, xúc tiến thương mại – đầu tư trong và ngoài nước, kết hợp thông tin, giới thiệu về năng lực và tiềm năng phát triển CNHT của doanh nghiệp Thành phố, các cơ chế, chính sách ưu đãi của Thành phố cũng như của Chính phủ dành cho lĩnh vực CNHT, nhằm thu hút các tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư đến với tỉnh. Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành CNHT của TP.HCM theo hướng kết nối cung cầu doanh nghiệp: cung cấp thông tin cơ bản về năng lực sản xuất, thông số chi tiết sản phẩm/linh kiện kèm theo hình ảnh của doanh nghiệp CNHT thành phố và thông tin về các doanh nghiệp FDI nhằm hình thành cơ sở dữ liệu chung về CNHT; tăng khả năng tiếp cận trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp sản xuất CNHT với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnhtrong và ngoài nước; thông tin xu hướng thị trường của sản phẩm CNHT. Kết nối cơ sở dữ liệu chung về CNHT của Thành phố với Trung tâm CNHT quốc gia do Bộ Công Thương quản lý để mở rộng tính liên kết. Quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu chung về CNHT của Thành phố theo hướng tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, chia sẻ và cập nhật thông tin, đồng thời cũng phục vụ cho công tác nghiên cứu tham mưu chính sách của Ban chỉ đạo phát triển CNHT. Thực hiện công tác hỗ trợ kết nối doanh nghiệp nâng cao năng lực, mở rộng thị trường, kết nối với các đối tác tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực nhằm từng bước tham gia chuỗi cung ứng trong nước và toàn cầu. Tranh thủ các lợi thế thương mại từ các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.
Thứ năm, thu hút các nhà đầu tư lớn, các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) sản xuất đầu cuối để tạo động lực cho doanh nghiệp CNHT trong nước có điều kiện liên kết, hợp tác để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Xây dựng chương trình, kế hoạch thu hút doanh nghiệp FDI thông qua việc tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, đặc biệt là đơn giản hoá thủ tục hành chính, mặt bằng sản xuất; phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng hình thành các cụm liên kết ngành để thu hút doanh nghiệp FDI phù hợp theo hướng tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực của Thành phố; tạo sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước với việc phát triển sản xuất, hỗ trợ thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, triển lãm, hội thảo, chương trình giới thiệu nhu cầu phát triển và sử dụng các sản phẩm CNHT.
Thứ sáu, hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao các kỹ thuật sản xuất thông qua hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp FDI với DNNVV của thành phố để nhanh chóng làm chủ công nghệ. Xây dựng cơ chế khuyến khích nghiên cứu chuyển giao công nghệ theo liên kết giữa nhà nghiên cứu với doanh nghiệp, trên cơ sở hỗ trợ kinh phí nghiên cứu công nghệ cho các dự án khoa học có kết quả ứng dụng vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiêp, trong tâm hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu phát triển sản phẩm lên quan đến sản phẩm chủ lực, ngành ưu tiên nhằm nâng cao tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm và giá trị gia tăng; khai thác, sử dụng có hiệu quả tri thức, chất xám của các viện/trường vào hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học – công nghệ, quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ bảy, phát triển được đội ngũ nhân lực quản lý, kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu phát triển CNHT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về đào tạo, đặc biệt là đội ngũ lao động trẻ có trình độ vào các ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp của thành phố như: điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo máy, thiết kế thời trang,… để làm chủ các công nghệ được chuyển giao… Khuyến khích và tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp, bao gồm cả trong và ngoài nước, tham gia tích cực vào quá trình đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật. Xây dựng sự kết nối giữa doanh nghiệp, hiệp hội và các trường viện để phát triển các chương trình đào tạo liên quan chặt chẽ đến thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Tranh thủ sự giúp hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực cho CNHT; đầu tư hợp tác trong và ngoài nước để nâng cao năng lực của mạng lưới cơ sở dạy nghề của thành phố. Củng cố, tăng cường phát triển hệ thống đào tạo nghề, nâng cao cơ sở vật chất để đảm bảo đào tạo nghề chất lượng cao trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
Thứ tám, nghiên cứu hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước liên
quan đến nhóm ngành CNHTđể tạo động lực phát triển kinh tế. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo quy trình ISO, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh công tác cải cách, đơn giản hóa, minh bạch và công khai thủ tục hành chính và rút ngắn hơn nữa thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp CNHT…Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ công chức; tăng cường tính phục vụ, hỗ trợ, tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp; tiến hành rà soát, bổ sung, thay thế các chủ trương, chính sách, văn bản của thành phố về hỗ trợ doanh nghiệp cho phù hợp với tính hình thực tế và định hướng phát triển thành phố trong giai đoạn hiện nay.
1.4.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Với vị trí địa lý sát Thủ đô Hà Nội, giao thông tốt, hưởng lợi trong tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh…, những năm qua Bắc Ninh thu hút nhiều nhà đầu tư là các thương hiệu lớn, kéo theo nhu cầu phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo chuỗi cung ứng liên hoàn, để sản xuất phát triển.
Sau khi Chính phủ ban hành nhiều Nghị định, các bộ ngành đã ban hành các Thông tư để hướng dẫn với mục tiêu để ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, tỉnh Bắc Ninh đã có những Quyết định và chính sách đi vào cuộc sống để chú trọng lĩnh vực này. Tỉnh đã có nhiều tọa đàm về lĩnh vự công nghiệp hỗ trợ được tổ chức như tọa đàm về “Vai trò của địa phương trong phát triển công nghiệp hỗ trợ”,… Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ của Bắc Ninh được Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm và đặt là một trong các nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu để phát triển ổn định công nghiệp của tỉnh. Để phát triển công nghiệp hỗ trợ, Tỉnh ủy có các Nghị quyết, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định để thúc đẩy phát triển của tỉnh như Quyết định số 229/QĐ-UBND ngày 30.6.2015 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 229/QĐ-UBND ngày 13.5.2019 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam trong ngành, lĩnh vực ưu tiên giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Ngoài ra, tỉnh vẫn tiếp tục các thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ của tỉnh như đã ban hành Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 31.8.2021 về việc phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021-2025. Từ các chính sách này, đã hình thành 2 cụm công nghiệp định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ: Cụm công nghiệp hỗ trợ Cách Bi, cụm công nghiệp hỗ trợ Tân Chi 2; Đang xây dựng và tiến hành thủ tục thành lập Hiệp hội công nghiệp hỗ trợ tỉnh Bắc Ninh và Đề án Trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp đang được hoàn thiện và triển khai.
Số liệu đến cuối năm 2021 cho thấy, tỉnh Bắc Ninh đã có khoảng 500 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hoạt động, chiếm khoảng 20% số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, về số lượng đã tăng gấp 3 lần so với năm 2012. Các doanh nghiệp hỗ trợ đã tạo việc làm cho 80.000 lao động, trong đó doanh nghiệp FDI thu hút trên 70.000 lao động. Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hoạt động trong một số lĩnh vực chủ yếu như lắp ráp sản phẩm điện tử; Cơ khí; Thực phẩm, đồ uống công nghệ cao. Trong đó ngành công nghiệp điện – điện tử và cơ khí chế tạo chiếm tỷ trọng cao, tạo hình ảnh tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Giá trị sản xuất công nghiệp 3 ngành này chiếm 96,15% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (ngành điện tử, tin học chiếm 85,73%; công nghiệp cơ khí, chế tạo chiếm 4,52%; công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, đồ uống chiếm 5,90 %). Qua số liệu ta có thể khẳng định tác động lan tỏa giữa khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực doanh nghiệp Việt Nam là không nhỏ. Ví dụ, Tập đoàn Samsung Việt Nam bước đầu đã có chương trình bồi dưỡng doanh nghiệp phụ trợ trong nước để tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp này có đủ điều kiện tham gia vào chuỗi cung ứng của SamSung. Tuy nhiên, luôn cần có sự vào cuộc của nhà nước nhằm tạo sự liên kết giữa nhà nước Trung ương và địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội để cùng doanh nghiệp nhân rộng mô hình này. Theo đánh giá của một số chuyên gia, như Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương ông Trương Thanh Hoài đồng quan điểm: Mặc dù công nghiệp hỗ trợ có tầm quan trọng lớn đối với phát triển công nghiệp, tuy nhiên mức độ quan tâm còn phụ thuộc và chiến lược phát triển của mỗi địa phương đó. Đối với địa phương như Bắc Ninh, công nghiệp được xác định là động lực phát triển thì công nghiệp hỗ trợ luôn là lĩnh vực được quan tâm và ưu tiên ủng hộ cao. Về phía doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, một số chia sẻ chịu sự chi phối lớn vào khách hàng như: Công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm; tiêu chuẩn chủng loại nguyên vật liệu… Trong khi đó, phần lớn nguyên vật liệu chủ yếu phải nhập khẩu do trong nước chưa chủ động được; cần thực hiện ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, về mặt bằng sản xuất…, chưa thực sự thuận lợi. Những điều này làm tăng chi phí đầu vào, thiếu chủ động về nguồn nguyên liệu, dẫn tới nhiều loại linh kiện sản xuất trong nước có giá thành thậm chí còn cao hơn so với nhập khẩu. Đó là một số nguyên nhân làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước cũng như khó khăn cho doanh nghiệp hạ nguồn đa dạng hóa chuỗi cung ứng, gia tăng tỉ lệ nội địa hóa. Bên cạnh đó, đầu tư vào sản xuất công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi huy động có nguồn lực, kinh nghiệm và là chến lược đầu tư dài hạn. Do vậy, để phát triển mảng này thì chính sách phải ổn định, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, mở ra cơ hội thị trường thực sự hấp dẫn nhằm khuyến khích, tạo sự yên tâm để thu hút được nguồn vốn đầu tư của xã hội vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp hỗ trợ.
Có thể nói, Bắc Ninh đã có nhiều chính sách ưu tiên cho công nghiệp hỗ trợ phát triển, nhưng để nâng cao vai trò của địa phương hơn nữa thì rất cần có chiến lược, quy hoạch phát triển nhiều khu công nghiệp hỗ trợ hơn nữa, trong đó xác định thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh, khu vực phát triển để có chính sách phù hợp tăng cường các mối liên kết giữa các địa phương, các doanh nghiệp trong tỉnh và ngoài tỉnh, doanh nghiệp nước ngoài, từ đó hình thành các cụm liên kết gia tăng hiệu quả đầu tư.
1.4.3. Bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Quảng Nam
Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan mật thiết đến việc nuôi dưỡng, thúc đẩy và cung cấp hỗ trợ chính cho DNVVN. Quá trình này dựa vào việc quản lý của chính quyền địa phương. Từ các kinh nghiệm trong việc phát triển ngành CNHT, quản lý của các địa phương như Hồ Chí Minh, Bắc Ninh đã có những bài học quý báu về tiếp cận quản lý kinh tế như:
Các doanh nghiệp sản xuất CNHT tập trung chủ yếu trong nhóm DN vừa và nhỏ (DNVVN). Đặc điểm của nhóm DN này là gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vốn, công nghệ và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, hỗ trợ từ phía Nhà nước là cần thiết để thúc đẩy phát triển cho nhóm DN này. Các biện pháp như ưu đãi lãi suất cho vay, hỗ trợ thuế và trợ cấp có thể được áp dụng để ủng hộ hoạt động sản xuất CNHT của DNVVN. Vì DNVVN chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế, phát triển nhóm này sẽ tăng cường sức cạnh tranh và thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Kinh nghiệm này đã được áp dụng thành công tại TP. Hồ Chí Minh và đã giúp thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN.
Để phát triển ngành CNHT, cần kết hợp với việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đẩy mạnh thu hút FDI nhằm tập trung vào sự phát triển của ngành CNHT. Bắc Ninh làm ví dụ, thời kỳ ban đầu phát triển ngành CNHT, thu hút FDI giúp cung cấp vốn cho các doanh nghiệp sản xuất CNHT để đầu tư vào công nghệ mới, phát triển sản phẩm và xây dựng thị trường. Bài học từ Bắc Ninh cho thấy, việc cải thiện hạ tầng giao thông và thiết lập các ưu đãi thuế, môi trường đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn FDI cho sự phát triển của ngành CNHT và thúc đẩy TTKT. Cần có một doanh nghiệp FDI đủ lớn để kéo theo sự phát triển CNHT của vùng như Samsung ở Bắc Ninh là một điển hình cho việc thu hút thành công một FDI lớn và kéo theo đó sự phát triển của cả một Tỉnh.
Tập trung vào việc tạo ra các chính sách hỗ trợ cho việc đổi mới công nghệ, bằng cách thành lập các trung tâm thử nghiệm, kiểm tra và hướng dẫn về công nghệ mới, cũng như phát triển công nghệ. Đồng thời, áp dụng các chính sách thích hợp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của cả ngành CNHT và ngành công nghiệp chính. Qua đó, tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy quá trình TTKT.
Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CN, đặc biệt có thể nhìn thấy bài học từ Tỉnh Bắc Ninh khi Samsung đầu tư họ cần phải có chương trình đào tạo riêng để nâng cao năng lực, những vùng có chất lượng nhân lực thấp thì các công ty về lĩnh vực CNHT rất ít quan tâm vì vậy cần quan tâm phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành CNCNC. Biện pháp này không những giúp tăng năng suất ở bản thân ngành CN chế biến chế tạo mà còn tăng năng suất của toàn nền kinh tế, thúc đẩy TTKT.
Xác định nhóm ngành công nghiệp chính cần được ưu tiên để định rõ các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của những ngành công nghiệp chính đó. Việc ưu tiên phát triển các nhóm ngành chính sẽ giúp quốc gia tập trung nguồn lực, môi trường, và chính sách ưu đãi để thúc đẩy cả sự phát triển của ngành chính và các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan, với mục tiêu nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế.
Tăng cường sự liên kết giữa những nguồn cung cấp địa phương và các tập đoàn quốc tế, cũng như kết nối giữa các doanh nghiệp nội địa và giữa những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ và những doanh nghiệp lắp ráp, FDI và tập đoàn quốc tế, như đã thấy qua kinh nghiệm của TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu là hỗ trợ phát triển sản phẩm và đảm bảo sự ổn định trong cả thị trường nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Thông qua việc này, có thể tăng cường sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cho các sản phẩm chính và góp phần vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Tập trung vào việc thúc đẩy chương trình xúc tiến thương mại và xây dựng hệ thống thông tin về các doanh nghiệp và sản phẩm trong lĩnh vực CNHT, cung cấp thông tin về nhu cầu của ngành này. Điều này hỗ trợ hiệu quả việc tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT và các doanh nghiệp lắp ráp. Tạo ra môi trường kinh doanh mở và minh bạch nhằm gia tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế.
Công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính, việc quản lý nhà nước đối với công nghiệp hỗ trợ là việc quản lý đầu vào của ngành công nghiệp có vai trò to lớn trong tăng trưởng kinh tế.
Tại chương 1 luận văn đã khái quát được các khái niệm về công nghiệp hỗ trợ, đặc điểm, vai trò của công nghiệp hỗ trợ, từ đó tiếp tục nghiên cứu các lý luận về quản lý nhà nước đối với công nghiệp hỗ trợ qua khái niệm, nội dung và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với công nghiệp hỗ trợ. Qua việc xác định các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với công nghiệp hỗ trợ và qua kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ là khung lý thuyết để luận văn nghiên cứu tiếp ở các chương tiếp theo.
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN\Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam
Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam Quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ tỉnh Quảng Nam


