Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống và tiến hóa của con người. Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, con người càng dần nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với sự sống. Vấn đề ÔNMT đất, môi trường nước, đặc biệt là MTKK đang là chủ đề nóng trong giai đoạn hiện nay. Khi tình trạng ô nhiễm không khí xảy ra, mọi người có thể tiếp xúc với các hạt mịn trong không khí hoặc các khí độc dẫn đến các nguy cơ nhiễm bệnh về đường hô hấp. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, hơn 60.000 người tử vong năm 2016 do bệnh tim, đột quỵ, ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và viêm phổi ở Việt Nam đều có liên quan tới ô nhiễm không khí [28]. Ô nhiễm không khí vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ đáng báo động và ảnh hưởng tới nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của con người. Đứng trước thách thức đó, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng công tác BVMT, đặc biệt BVMT không khí đang giành được nhiều sự quan tâm của các chuyên gia trong và ngoài nước. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải có sự đồng lòng, đồng sức của toàn hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó xác định chủ thể của hoạt động này là nhà nước và khách thể chính là toàn dân. Nhà nước sẽ thông qua các công cụ thực hiện quyền lực của mình để tác động đến hành động của toàn dân, đảm bảo được hoạt động BVMT được thực hiện tốt và hiệu quả.
Tỉnh Quảng Trị là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, đang vươn mình để phát triển về KT-XH, thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Trong những năm qua, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa của tỉnh Quảng Trị đã đạt được nhiều thành tựu KT-XH quan trọng, giúp ổn định kinh tế của địa phương, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, đi kèm với quá trình phát triển KT-XH, vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt là tình hình ô nhiễm MTKK gây ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt, tạo ra tâm lý bất an, lo lắng cho người dân tại Tỉnh nhà. Đứng trước thách thức đó, cấp ủy chính quyền tại tỉnh Quảng Trị đã giành sự quan tâm đến công tác BVMT không khí và đạt được những kết quả tích cực nhất định, tuy nhiên vẫn còn có những bất cập cần khắc phục như: nhận thức của các chính quyền, đoàn thể và người dân về BVMT không khí ở một số địa phương còn hạn chế, chưa chuyển thành ý thức và hành động cụ thể, thường xuyên, đặc biệt, trong chỉ đạo, điều hành, tư tưởng vẫn còn ưu tiên cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chưa thật sự chú trọng đến công tác BVMT; nhận thức về BVMT không khí của người dân và doanh nghiệp vẫn chưa cao; việc xử lý các vi phạm hành chính chưa hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác QLNN về MTKK thiếu về số lượng, đặc biệt ở chính quyền cơ sở cấp xã phần lớn là kiêm nhiệm, được đào tạo ở các lĩnh vực khác nên năng lực quản lý về MTKK chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Với những thực tiễn, mục đích và những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị” để làm luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của nghiên cứu này là hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về MTKK và làm rõ thực trạng QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị.
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến MTKK và QLNN về MTKK.
– Đánh giá thực trạng QLNN về MTKK ở tỉnh Quảng Trị, chỉ ra thành công, tồn tại và nguyên nhân của tồn tại.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế những tồn tại, hoàn thiện công tác QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị ở góc độ ban hành, tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động của cơ quan QLNN về BVMT không khí.
+ Về không gian: Các nội dung QLNN về MTKK được nghiên cứu tại tỉnh Quảng Trị.
+ Về thời gian: Các dữ liệu thứ cấp từ 2015-2022. Dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra trong năm 2023.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
– Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các tài liệu sẵn có và kế thừa kết quả từ nguồn thông tin công bố của cơ quan nhà nước, các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết, quyết định của các cấp chính quyền, các bộ, ngành và các cơ quan từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các công trình công bố của các tác giả là các bài báo, sách, tạp chí trong và ngoài nước để phục vụ nghiên cứu.
– Số liệu sơ cấp: Tác giá thu thập dữ liệu sơ cấp từ việc thực hiện điều tra khảo sát, tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp gửi bảng câu hỏi thu thập với số lượng 200 phiếu, đối tượng để điều tra là chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, người dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (trong đó có tham khảo ý kiến của các công chức có chuyên môn về lĩnh vực BVMT không khí). (Có phiếu khảo sát kèm theo).
Cụ thể: Tỉnh Quảng Trị, có 10 huyện, thị xã, thành phố gồm: Cam Lộ, Đakrông, Gio Linh, Hải Lăng, Hướng Hóa, Triệu Phong, Vĩnh Linh, đảo Cồn Cỏ và thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị. Tiến hành khảo sát người dân và các doanh nghiệp bằng phiếu không bao gồm huyện đảo Cồn Cỏ do khó khăn về khoảng cách địa lý, như sau:
Bảng 1. Số lượng phiếu khảo sát trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
| TT | Địa Điểm | Số lượng phiếu | |
| Doanh nghiệp | Người dân | ||
| 1 | Thành phố Đông Hà | 10 phiếu | 45 phiếu |
| 2 | Thị xã Quảng Trị | 5 phiếu | 21 phiếu |
| 3 | Huyện Hải Lăng | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 4 | Huyện Triệu Phong | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 5 | Huyện Gio Linh | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 6 | Huyện Vĩnh Linh | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 7 | Huyện Cam Lộ | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 8 | Huyện Hướng Hóa | 2 phiếu | 15 phiếu |
| 9 | Huyện Đakrông | 2 phiếu | 15 phiếu |
| Tổng | 29 phiếu | 171 phiếu | |
Các bước thực hiện như sau:
Bước 1: Thiết kế phiếu điều tra khảo sát: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, văn bản pháp luật … Ngoài ra, tham khảo thêm một số bài luận văn đã được công bố trước đây để tiến hành thiết kế phiếu điều tra khảo sát, sau đó xin ý kiến của giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện phiếu điều tra.
Bước 2: Tiến hành điều tra khảo sát: Thực hiện điều tra ngẫu nhiên trực tiếp 200 người bao gồm là chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, người dân trên địa bàn, phỏng vấn thêm các công chức làm việc trong công tác BVMT không khí.
Dựa trên dữ liệu thu thập được qua quá trình điều tra khảo sát, tác giả tiến hành xử lý và phân tích thông tin đã thu thập bằng phần mềm Microsoft Excel, từ đó lập bảng, biểu đồ để đánh giá tình hình thực hiện công tác QLNN về BVMT không khí tại tỉnh Quảng Trị.

4.2. Phương pháp phân tích
– Phương pháp thống kê mô tả: Mục đích sử dụng để thống kê lại số liệu sơ cấp và thứ cấp, từ đó đánh giá được thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp.
– Phương pháp phân tích tổng hợp: Sau khi thu thập số liệu khảo sát và dữ liệu thứ cấp, luận văn sẽ phân tích các số liệu đó để đánh giá tình hình, chuyển biến trong công tác QLNN về BVMT không khí trong giai đoạn từ 2015-2022 tại tỉnh Quảng Trị và tổng hợp, đưa ra kết luận, đánh giá về công tác này.
– Phương pháp so sánh: được sử dụng chủ yếu trong việc đánh giá hiện trạng MTKK, tình hình BVMT không khí và hoạt động QLNN trong BVMT không khí tại tỉnh Quảng Trị.
5. Bố cục đề tài
Phần nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của QLNN về MTKK.
Chương 2. Thực trạng công tác QLNN về MTKK trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Chương 3. Các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về MTKK trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QLNN VỀ MTKK
1.1. KHÁI QUÁT VỀ MTKK VÀ QLNN VỀ MTKK
1.1.1. Một số vấn đề chung về MTKK
a. Khái niệm về MTKK
Thực tế cho thấy, có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau. Theo nghĩa rộng thì môi trường là tất cả các yêu tố tự nhiên và xã hội cần thiết duy trì cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…Theo nghĩa hẹp thì môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người mà không xét tới tài nguyên thiên nhiên. Nhìn chung có thể hiểu môi trường là một tập hợp các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.
Trong lĩnh vực pháp lý môi trường được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, đó là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người. Theo quy định tại Luật BVMT năm 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.”
Thành phần môi trường[1] là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, sinh vật, âm thanh, ánh sáng và các hình thái vật chất khác.
Từ khái niệm của thành phần môi trường, ta có thể thấy trong thành phần môi trường bao gồm nhiều hình thái vật chất khác nhau, trong đó có yếu tố vật chất không khí.
Khí quyển là vùng nằm ngoài vỏ trái đất với chiều cao từ 0 – 100 km. Trong khí quyển tồn tại các yếu tố vật lý như nhiệt, áp suất, mưa, nắng, gió, bão. Khí quyển chia thành nhiều lớp theo độ cao tính từ mặt đất, mỗi lớp có các yếu tố vật lý, hóa học khác nhau. Tầng sát mặt đất có các thành phần: Khoảng 79% là Nitơ; 20% oxy; 0,93% Argon; 0,02% Ne; 0,03% CO2; 0,005% He; một ít Hydro, trong không khí còn có hơi nước và bụi. [7]
Khái niệm của không khí tương tự như khái niệm về khí quyển chỉ khác nhau ở vấn đề quy mô và góc nhìn. Theo đó: Từ góc độ khoa học coi khái niệm không khí chỉ là nguồn khí cung cấp cho con người cùng các loài động thực vật… sinh sống trong một môi trường nhất định. Môi trường này có thể được gói gọn vị trí, không gian nhất định như: Trong một căn phòng, trong một ngôi ngôi nhà, trong một khu rừng, trong một thành phố…
Từ đó ta có khái niệm như sau: MTKK là tập hợp tất cả các khí bao quanh chúng ta. Không khí có nhiệm vụ cung cấp sự sống cho tất cả các sinh vật trên trái đất, trong đó có con người. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của tất cả các sinh vật trên trái đất.
b. Vai trò của MTKK đối với con người
Hàng tỷ người và sinh vật trên trái đất đang hít thở không khí mỗi ngày. Không khí luôn gắn liền với sự sống và rất quan trọng với con người.
Vai trò của không khí được thể hiện rõ qua:
– Việc duy trì sự sống: Nếu như không khí không tồn tại, con người không thể hít thở và sự sống sẽ dừng lại. Ví dụ như nếu xảy ra hỏa hoạn, con người bị ngạt khí sẽ dẫn đến chết ngạt.
– Giúp con người thư giãn: Bầu không khí trong lành giúp con người thư giãn, thoải mái sau ngày làm việc, học tập mệt mỏi. Hít thở bầu không khí trong lành giúp con người lấy lại năng lượng tích cực, nâng cao sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần.
– Trao đổi chất trong cơ thể: Thực tế, động vật và thực vật cũng xảy ra quá trình trao đổi chất trong cơ thể với không khí có trong bầu không khí. Trường hợp không có sự trao đổi chất này, cây cối, động vật sẽ ốm yếu và mất dần sự sống.
c. Các vấn đề về ô nhiễm MTKK
ÔNMT[2] là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên.
Ô nhiễm MTKK là sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do khói, bụi, hơi hay các khí lạ được đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm giảm tầm nhìn, BĐKH. Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người cũng như động thực vật trên trái đất. Ô nhiễm không khí là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến BĐKH, gây bệnh cho con người cũng như các loài sinh vật sống trong bầu không khí kém trong lành đó.
Các nguồn gây ô nhiễm không khí được chia thành các dạng sau:
– Các nguồn cố định, do đốt nhiên liệu: các ống khói công nghiệp đặc biệt là công nghiệp năng lượng, luyện kim, vật liệu xây dựng, dầu khí…
– Nguồn di động, do đốt nhiên liệu: các phương tiện giao thông cơ giới như ô tô, xe máy, tàu thủy, tàu hỏa… Nguồn không phải đốt nhiên liệu: đốt chất thải, bụi, khí độc, chất có mùi phát sinh từ công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng…
Chất lượng MTKK được đánh giá thông qua các thông số như thông số bụi lơ lửng (TSP), bụi PM10, bụi PM2,5, SO2, NO2, CO, O3, một số thông số ô nhiễm khác và tiếng ồn. Giá trị của các thông số được so sánh, đối chiếu với QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về CLKK xung quanh. Thông số độ ồn được so sánh với QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.
Ô nhiễm MTKK được xác định khi giá trị các thông số vượt giới hạn cho phép của QCVN với các ngưỡng trung bình 1 giờ, trung bình 8 giờ, trung bình 24 giờ và trung bình năm (Quy chuẩn CLKK 05:2013/BTNMT)
Chỉ số CLKK Việt Nam (VN_AQI) để đánh giá chất lượng MTKK và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người thể hiện qua khung dưới đây:
Hình 1.1 Chỉ số CLKK Việt Nam (VN_AQI)

d. Hậu quả của ô nhiễm MTKK
– Tác hại đối với động thực vật:
Các hợp chất nguy hiểm như: SO2, NO2, CO… có trong không khí ô nhiễm làm tắc nghẽn khí quản và giảm hệ miễn dịch của động vật.
Ngoài ra, hợp chất HF còn làm các cây ăn trái rụng lá hàng loạt, lâu dần gây nên tình trạng chết cây, gián tiếp làm trái đất nóng lên cùng hiệu ứng nhà kính.
Khói bụi từ khu công nghiệp còn gây nên hiện tượng mưa Axit, những cơn mưa Axit làm chết cây cối, ô nhiễm nguồn nước, giết chết các vi sinh vật có lợi trong đất. Làm cho việc nuôi trồng bị ảnh hưởng, giảm sản lượng, mất mùa…
- Tác hại đối với con người
Hậu quả của ô nhiễm MTKK đối với con người là rất nghiêm trọng, ô nhiễm MTKK chính là tác nhân chính khiến cho tỷ lệ người mắc bệnh về hô hấp, ung thư…. ngày càng tăng. Theo WHO, ô nhiễm MTKK gây ra 7 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó Châu Á – Thái Bình Dương chiếm khoảng 4 triệu ca. Chúng không những cướp đi sinh mạng của hàng triệu người mà còn gây thiệt hại kinh tế gần 5 nghìn tỷ USD mỗi năm. Chúng còn khiến tuổi thọ trung bình của mỗi người giảm đi 2 năm, và là nguyên nhân gây tử vong cao thứ 4 trên thế giới sau: Tăng huyết áp, sử dụng thuốc lá và chế độ ăn uống không lành mạnh. Bụi mịn (PM 2.5) kết hợp với CO, SO2, NO2 có trong không khí gây kích ứng niêm mạc, cản trở Hemoglobin kết hợp oxy khiến tế bào thiếu Oxy. Dẫn đến suy giảm chức năng phổi và làm nặng thêm tình trạng bệnh hen và bệnh tim. ô nhiễm MTKK còn làm trầm trọng hơn các bệnh hen suyễn, ung thư phổi. Chúng còn tác động lên hệ thần kinh trung ương, làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, Parkinson, tự kỷ hay dễ cáu gắt. [29]
Đây chỉ là những hậu quả ban đầu của ô nhiễm MTKK, là nguyên nhân của nhiều bệnh tật cũng như là cái chết thầm lặng cho hàng triệu người trên thế giới, tác động đến sự tồn tại và phát triển của toàn nhân loại. Chính những hậu quả đó buộc con người cần phải nhận thức rõ về tầm quan trọng của không khí đối với sự sống và chung tay hành động BVMT không khí.
1.1.2. Khái niệm QLNN về MTKK và một số nội dung liên quan đến QLNN về MTKK
a. Khái niệm QLNN về MTKK
Theo những quan điểm phương pháp luận của lý thuyết hệ thống, có thể hiểu: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý, nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra. Như vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra các tác động và một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động tạo ra từ chủ thể quản lý. Tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý có thể là một lần hoặc lặp lại nhiều lần, thường xuyên, liên tục.
Khái niệm QLNN được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, QLNN là quá trình thực hiện tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước; tức là sự tác động, tổ chức có quyền lực của nhà nước ở các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, QLNN là việc tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội và hành vi của con người.
QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Xét về mặt chức năng nó bao gồm các hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp (Quốc hội), hoạt động hành chính (Chính phủ) và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát). Chủ thể của QLNN là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đối tượng của QLNN là toàn thể nhân dân, tức là toàn bộ cư dân sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Theo đó, khái niệm chung về QLNN là: QLNN là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở pháp luật.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng QLNN về môi trường xét về bản chất khác với những hình thức quản lý khác như Quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng; Quản lý môi trường do các tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm; Quản lý môi trường có tính tự nguyện…., Hình thức QLNN về môi trường chủ yếu là điều hành và kiểm soát. [7]
Như vậy, QLNN về BVMT xác định rõ chủ thể là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững KT-XH quốc gia.
Vì MTKK là một loại riêng trong tổng thể các loại môi trường nên từ định nghĩa của QLNN và QLNN về BVMT ta có thể đưa ra khái niệm QLNN về MTKK: là sự tác động có chủ đích của Nhà nước, bằng các nhiệm vụ và quyền hạn của mình và thông qua các công cụ QLNN để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người nhằm bảo vệ chất lượng MTKK và đảm bảo phát triển bền vững KT-XH quốc gia.
b. Công cụ QLNN về MTKK
Công cụ QLNN về MTKK trước hết là vũ khí hoạt động của Nhà nước trong việc thực hiện công tác quản lý MTKK, là các biện pháp và phương tiện nhằm thực hiện những nội dung của quản lý MTKK. Công cụ quản lý MTKK rất đa dạng, mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động chất định và chúng tạo ra các biện pháp để liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Quản lý MTKK đòi hỏi phải phối hợp các loại công cụ để đạt được một cách có hiệu quả nhất trong việc BVMT không khí và hài hòa lợi ích quốc gia.
Phân loại công cụ BVMT không khí [8]
Phân loại theo chức năng
- Công cụ điều chỉnh vĩ mô: là luật pháp, chính sách.
- Công cụ hành động: là các công cụ hành chính (xử phạt vi phạm môi trường trong kinh tế, sinh hoạt…), công cụ kinh tế, có tác động trực tiếp tới lợi ích kinh tế xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Các công cụ phụ trợ: Công cụ phụ trợ là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không tác động trực tiếp tới hoạt động.
Phân loại theo bản chất
- Công cụ pháp luật – chính sách bao gồm: các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch, chính sách môi trường quốc gia, các ngành, địa phương….
- Công cụ kỹ thuật quản lý: các công cụ này thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng các thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường.
- Công cụ kinh tế: gồm các loại thuế, phí, lệ phí… đánh vào thu nhập bằng tiền của các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Các công cụ phụ trợ không tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất sinh ra chất ô nhiễm hoặc điều chỉnh vĩ mô quá trình sản xuất này. Các công cụ phụ trợ có thể bao gồm: GIS, mô hình hóa môi trường, giáo dục và truyền thông về môi trường.
1.1.3. Nguyên tắc QLNN về MTKK
Các nguyên tắc quản lý MTKK do con người đặt ra, nhưng không phải do sự suy nghĩ, ý chí chủ quan, mà là sự tổng hợp khoa học từ thực tiễn quản lý môi trường nói chung và MTKK nói riêng, chúng phải tuân thủ các đòi hỏi khách quan, đó là: phải khách quan, phù hợp với yêu cầu quản lý; phản ánh khách quan và đúng đắn tính chất của các mối quan hệ quản lý; đảm bảo tính hệ thống, tính thống nhất, nhất quán và phải được đảm bảo bằng pháp luật…, bao gồm:
Dựa trên các nguyên tắc Quản lý môi trường, thì nguyên tắc quản lý MTKK cần dựa vào những nguyên tắc sau đây [7]:
– Bảo đảm tính hệ thống: Nhiệm vụ của quản lý nhà nước về môi trường là trên cơ sở thu nhập, tổng hợp và xử lý thông tin về trạng thái hoạt động của đối tượng quản lý (hệ thống môi trường) đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hoà hướng tới mục tiêu đã định.
– Bảo đảm tính tổng hợp: Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở tác động tổng hợp của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý. Các hoạt động phát triển thường thường diễn ra dưới nhiều hình thái rất đa dạng, dù dưới hình thức nào, qui mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động, trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu, đều gây ra tác động tổng hợp lên đối tượng quản lý (hệ thống môi trường).
– Bảo đảm tính liên tục và nhất quán: Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin “chảy” liên tục trong không gian và thời gian.
– Bảo đảm tập trung dân chủ: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau. Vì thế, cần phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi trường.
– Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ: Các thành phần môi trường được phân bố, khai thác và sử dụng trên một địa bàn cụ thể thuộc quyền quản lý của một cấp địa phương tương ứng. Cùng một thành phần môi trường có thể chịu sự quản lý song trùng. Nếu không kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý môi trường, tài nguyên thiên nhiên tiếp tục bị khai thác, sử dụng không hợp lý và lãng phí, môi trường tiếp tục bị suy thoái.
– Kết hợp hài hoà các loại lợi ích: Kết hợp hài hoà các lợi ích (lợi ích cá nhân, hộ gia đình; lợi ích của doanh nghiệp, ngành; lợi ích của Nhà nước, xã hội; lợi ích của cộng đồng địa phương, vùng và quốc gia) phải được tiến hành trên cơ sở những đòi hỏi của các quy luật khách quan thông qua các biện pháp quản lý phù hợp.
– Kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội: Để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hướng đến một xã hội bền vững trong tương lai, ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn, có tầm bao quát và có tính tổng hợp.
– Tiết kiệm và hiệu quả: Quản lý một đối tượng vô cùng quan trọng và phức tạp như môi trường đòi hỏi những nguồn lực ngày càng nhiều trong khi phải bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Giải pháp tối ưu cho việc nâng cao năng lực QLNN về môi trường là thực thi tiết kiệm và tăng hiệu quả.
1.1.5. Vai trò của công tác QLNN về MTKK
Trong hoạt động BVMT không khí, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng và được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, Phần lớn các dịch vụ môi trường khó có thể được cung cấp bởi các tổ chức tư nhân hay cá nhân, bởi vì là những hàng hóa công cộng không có tính loại trừ trong tiêu dùng và không cạnh tranh. Vì vậy, Nhà nước là chủ thể cung cấp trực tiếp dịch vụ MTKK như là những hàng hóa công cộng cần thiết.
Thứ hai, Bằng quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ khác nhau để tổ chức thực hiện công tác QLNN về BVMT không khí.
Thứ ba, Nhà nước có thể QLNN về BVMT không khí một cách gián tiếp hơn thông qua việc định rõ các quyền đối với tài sản. Chẳng hạn, nếu người dân sống cạnh một nhà máy, họ đã có quyền tiếp cận không khí và nước sạch thì nhà máy sẽ phải chi trả cho những người dân bị ảnh hưởng nếu không khí và nước ở khu vực đó bị ô nhiễm. Ngược lại, nếu nhà máy có quyền phát thải thì người dân có thể chi trả cho nhà máy để giảm mức độ ô nhiễm. Các công dân cũng có thể có các hành động cần thiết khác khi các quyền này bị xâm phạm.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước vẫn giữ vai trò quản lý quan trọng. Vai trò ấy được thể hiện chủ yếu ở việc thực hiện các cơ chế, chính sách, các công cụ kinh tế trực tiếp và gián tiếp nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường, trong đó bao gồm cả lĩnh vực BVMT không khí.
1.2. NỘI DUNG QLNN VỀ MTKK
Căn cứ theo quy định tại Điều 164 Luật BVMT ngày 17/11/2020 có quy định nội dung QLNN về BVMT gồm: Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; chương trình, đề án, dự án về BVMT; Thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; cấp, cấp đổi, điều chỉnh, cấp lại, thu hồi giấy phép môi trường; đăng ký môi trường; cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận về môi trường; Kiểm soát nguồn ô nhiễm; quản lý chất thải, chất lượng môi trường; cải tạo và phục hồi môi trường; BVMT di sản thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường; tổ chức quan trắc môi trường; Xây dựng, cập nhật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường, báo cáo về môi trường; Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát và đánh giá các hoạt động thích ứng với BĐKH; hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Kiểm kê khí nhà kính; xây dựng và cập nhật kịch bản, cơ sở dữ liệu về BĐKH, nước biển dâng và ngập lụt đô thị; đánh giá khí hậu quốc gia; hướng dẫn việc sử dụng thông tin, dữ liệu về BĐKH và lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào chiến lược, quy hoạch; Tổ chức thực hiện thị trường các-bon trong nước; thực hiện cơ chế trao đổi tín chỉ, cam kết quốc tế về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; Thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về BVMT; xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường; Truyền thông, giáo dục môi trường, nâng cao nhận thức, ý thức về BVMT; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý về BVMT; Tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng chuyển giao công nghệ, hội nhập và hợp tác quốc tế về BVMT. Bố trí kinh phí ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ BVMT theo phân cấp ngân sách hiện hành; thống kê, theo dõi và công bố các nguồn chi cho BVMT.
QLNN về MTKK nằm trong quy định QLNN nhà nước về môi trường. Tuy nhiên trong phạm vi của Đề tài xin đề cập đến các nội dung sau:
1.2.1. Tổ chức bộ máy QLNN về MTKK
Tổ chức bộ máy QLNN về MTKK là hoạt động thiết lập các cơ quan theo một trình tự nhất định, quy định cách thức thành lập, xác lập nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể đối với mỗi cơ quan nhà nước dựa trên các mô hình tổ chức, các thủ tục, con người, vật chất và những trách nhiệm đủ khả năng thực thi trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức. Tổ chức bộ máy về MTKK là sự cần thiết để tổ chức có khả năng nhìn thấy trước thực trạng MTKK sẽ diễn ra và bảo đảm tuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc tế về bảo vệ MTKK. Hệ thống QLNN về MTKK thu được kết quả tốt khi mà công việc QLNN về MTKK được tiến hành cùng với các ưu tiên hàng đầu khác của các tổ chức.
Tổ chức bộ máy QLNN về MTKK sẽ nằm trong tổ chức bộ máy QLNN về môi trường và thuộc chức năng, nhiệm vụ của Sở TNMT:
Chính phủ
UBND cấp tỉnh
Bộ Công an
Các Bộ khác
Bộ TNMT
UBND cấp huyện
Các Sở khác
Sở TNMT
Các vụ thuộc Bộ
Các đơn vị sự nghiệp
Các doanh nghiệp
Vụ KHCN&MT
Các Vụ khác
Cục Cảnh sát môi trường
Phòng TNMT cấp huyện
Các đơn vị sự nghiệp
UBND cấp xã
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy QLNN về MTKK
Căn cứ vào sơ đồ tổ chức bộ máy ở Sơ đồ trên thì Chính phủ là cơ quan đứng đầu tổ chức bộ máy QLNN về MTKK, chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành tổng thể. UBND cấp tỉnh, Bộ TNMT, Bộ Công an và các Bộ khác sẽ chịu trách nhiệm về công tác QLNN với Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm được giao đã được quy định cụ thể trong các văn bản QPPL và các văn bản có liên quan. Ở dưới UBND cấp tỉnh, Bộ TNMT, Bộ Công an và các Bộ khác sẽ có các cơ quan chuyên môn giúp việc để công tác QLNN về MTKK.
Căn cứ Điều 168 Luật BVMT ngày 17/11/2020 quy định về trách nhiệm QLNN về BVMT của UBND các cấp như sau:
UBND cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
– Xây dựng, ban hành hoặc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành và tổ chức thực hiện văn bản QPPL về BVMT; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương; chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về BVMT của địa phương; nội dung về BVMT trong quy hoạch tỉnh;
– Tổ chức thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; cấp, cấp đổi, điều chỉnh, cấp lại thu hồi giấy phép môi trường theo thẩm quyền;
– Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kiểm soát nguồn ô nhiễm; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên địa bàn theo quy định của pháp luật; tổ chức quản lý các nguồn thải trên địa bàn theo phân công, phân cấp; chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ÔNMT trên địa bàn;
– Tổ chức theo dõi, giám sát, cảnh báo, quản lý chất lượng môi trường và quản lý chất thải trên địa bàn theo thẩm quyền và theo hướng dẫn của Bộ TNMT; cải tạo, phục hồi môi trường; BVMT di sản thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học;
– Đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành mạng lưới quan trắc môi trường theo quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia; xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình quan trắc môi trường của địa phương; thông tin, cảnh báo về ÔNMT theo quy định của pháp luật;
– Tổ chức điều tra, thống kê, cập nhật hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường, báo cáo môi trường theo quy định của pháp luật;
– Truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT; giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức về BVMT; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý về BVMT theo quy định của pháp luật;
– Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, trách nhiệm QLNN về BVMT trên địa bàn; giải quyết khiếu nại, tố cáo về môi trường; đánh giá, yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về BVMT theo quy định của pháp luật;
– Huy động và sử dụng nguồn lực cho công tác BVMT theo quy định của pháp luật; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ BVMT theo phân cấp ngân sách hiện hành; hướng dẫn, phân bổ, kiểm tra việc thực hiện chi ngân sách nhà nước cho hoạt động BVMT của địa phương;
– Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về BVMT theo quy định của pháp luật;
– Thực hiện nhiệm vụ BVMT khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao.
Cơ quan giúp việc chính trong công tác BVMT không khí của UBND cấp tỉnh là Sở TNMT, căn cứ tại Điều 1 Thông tư số 05/2021/TT-BTNMT ngày 29/5/2021 của Bộ TNMT hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở TNMT thuộc UBND cấp tỉnh, phòng TNMT thuộc UBND cấp huyện như sau: “Sở TNMT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh QLNN về: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; BĐKH; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển và hải đảo (đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển) và các dịch vụ công về TNMT theo quy định của pháp luật.”
b. Tiêu chí đánh giá:
Các tiêu chí đánh giá bao gồm:
– Sự liên kết, thống nhất giữa các Sở và ngành khác nhau trong phạm vi cấp tỉnh đối với công tác QLNN về MTKK. Việc QLNN có hiệu quả và hữu hiệu không phụ thuộc rất lớn vào sự phù hợp giữa các ban ngành khác nhau, mặc dù mỗi ban ngành đều có chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực chuyên môn phụ trách, nhưng trong quá trình thực hiện, nếu phối hợp kịp thời, không chồng chéo thì công tác QLNN sẽ đạt hiệu quả cao.
– Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác QLNN về MTKK. Xây dựng lực lượng cán bộ, công chức nòng cốt là một nội dung cơ bản quan trọng, vì đây là những người trực tiếp làm việc trong các cơ quan nhà nước, thông qua hoạt động công vụ, đội ngũ cán bộ, công chức góp phần làm thay đổi diện mạo nền hành chính nhà nước, tạo tiền đề cho sự phát triển xã hội.
– Công tác cải cách thủ tục hành chính về lĩnh vực MTKK. Trong tất cả các lĩnh vực nói chung, MTKK nói riêng, công tác cải cách thủ tục hành chính đặc biệt quan trọng, bởi có nhiều thủ tục được cắt giảm, đơn giản hóa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận hơn đối với các chính sách, quy định, các chế tài về BVMT không khí.
1.2.2. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT không khí
Văn bản QPPL là văn bản có chứa QPPL, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật ban hành văn bản QPPL. Văn bản QPPL mang tính cưỡng chế, bắt buộc mọi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của văn bản phải tuân theo.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các văn bản QPPL cấp tỉnh bao gồm: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Quyết định của UBND cấp tỉnh.
Trên cơ sở Hiến pháp, Luật BVMT và các văn bản QPPL liên quan, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và UBND cấp tỉnh sẽ xây dựng và ban hành các văn bản QPPL về BVMT không khí trên phạm vi địa phương, phù hợp với điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển của địa phương đó, buộc toàn thể người dân sinh sống, làm việc và học tập tại địa phương đó phải tuân theo.
Các tiêu chí đánh giá bao gồm:
– Hệ thống các văn bản QPPL đã được ban hành đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch.
– Về hình thức: đúng với các quy định về kỹ thuật soạn thảo văn bản. Vì tất cả các văn bản được ban hành đều được đến từng đơn vị thực hiện nên công tác trình bày về hình thức phải được chú trọng, thể hiện được sự chỉnh chu trong công việc.
– Về nội dung: phù hợp với định hướng của Trung Ương, điều kiện tự nhiên, tình hình và sự phát triển KT-XH của địa phương.
– Kênh ban hành các văn bản QPPL đa dạng, phong phú, đảm bảo truyền tải được nội dung theo yêu cầu đặt ra.
1.2.3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức và các quy định của pháp luật về BVMT không khí
Một trong những nội dung QLNN về BVMT không khí là hoạt động truyền thông, giáo dục kiến thức và các quy định của pháp luật về BVMT không khí. Thật vậy, công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ cập kiến thức về MTKK có vai trò rất quan trọng, là cầu nối để đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân. Việc thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình, kế hoạch hành động về BVMT không khí có thành công hay không cũng phụ thuộc rất nhiều nhận thức của người dân, để người dân hiểu được BVMT không khí không chỉ là sự nghiệp của Nhà nước mà còn là sự nghiệp của quần chúng, mang tính chất xã hội rộng lớn, đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ dân trí. Thực tế cho thấy ở các quốc gia, các vùng, các địa phương khác nhau có những nhận thức khác nhau về môi trường và tầm quan trọng của nó cho nên ý thức trách nhiệm về BVMT không khí cũng khác nhau. Để BVMT không khí tốt hơn, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện của con người hướng tới một xã hội phát triển bền vững, cần phải tiến hành giáo dục thường xuyên, tuyên truyền sâu rộng ở khắp mọi nơi, mọi lúc về MTKK và BVMT không khí.
Theo Điều 154 Luật BVMT ngày 17/11/2020 có quy định về truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT như sau:
– Truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT được thực hiện thường xuyên và rộng rãi.
– Bộ TNMT chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan truyền thông, báo chí có trách nhiệm truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT.
– Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì, phối hợp với Bộ TNMT, các cơ quan truyền thông, báo chí có trách nhiệm truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT thuộc lĩnh vực quản lý.
– UBND cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan truyền thông, báo chí có trách nhiệm truyền thông, phổ biến kiến thức, tuyên truyền pháp luật về BVMT trên địa bàn.
Tiêu chí đánh giá:
– Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức: là cách thức để truyền tải nội dung đến các đối tượng cần truyền đạt thực sự có hiệu quả.
– Các đối tượng tham gia: là đối tượng được hướng đến để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức và các quy định của pháp luật về MTKK. Việc thực hiện BVMT không khí có hiệu quả hay không tùy thuộc vào đối tượng tiếp nhận và thực hiện.
– Số lần tuyên truyền, số đối tượng tham gia: Dựa trên số lần tuyên truyền và số đối tượng tham gia để có thể đánh giá được các quy định của pháp luật, các chương trình, kế hoạch đến với nhận thức của người dân được hữu hiệu và hiệu quả.
1.2.4. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và các văn bản liên quan về BVMT không khí
Để thực hiện được các quy định của pháp luật và các văn bản liên quan về BVMT không khí như Luật, Nghị định, Thông tư hoặc các chương trình, kế hoạch, khâu tổ chức cực kỳ quan trọng. Dựa trên vai trò của Nhà nước về BVMT không khí, các văn bản QPPL về môi trường, MTKK, Sở TNMT và các Sở có liên quan tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, các chương trình, kế hoạch về BVMT không khí. Mục đích để đảm bảo sự tuân thủ quy định của pháp luật, mục tiêu quản lý của nhà nước về BVMT không khí, đúng với định hướng phát triển bền vững về KT-XH của Nhà nước ta.
Công tác tổ chức thực hiện bao gồm thực hiện cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về MTKK và tổ chức thực hiện các công tác khác.
Việc thực hiện công tác cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về MTKK. Triển khai các hướng dẫn, qui định về kiểm soát ô nhiễm và cấp giấy phép MTKK. Quản lý, tổ chức giám định, đăng ký, cấp giấy phép, văn bằng chứng chỉ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được giao hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Giấy phép môi trường là một công cụ quản lý có tính thống nhất và pháp lý cao để giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động BVMT đối với các dự án trong giai đoạn thực hiện (xây dựng, vận hành thử nghiệm, vận hành thương mại) và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động.
Việc cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, chứng nhận về BVMT không khí được thực hiện theo quy trình, chặt chẽ, khoa học, đúng theo quy định của pháp luật. Luật đã quy định rõ các nội dung về thẩm quyền cấp phép, nội dung của giấy phép, nguyên tắc, căn cứ cấp phép, quyền và nghĩa vụ của chủ giấy phép, tương quan giữa giấy phép môi trường và các công cụ quản lý môi trường khác có liên quan, các thủ tục, điều khoản chuyển tiếp để bảo đảm sự phù hợp, hạn chế tối thiểu xáo trộn tiêu cực khi ban hành chính sách, những vấn đề liên quan đến điều chỉnh, gia hạn, thu hồi, cấp lại giấy phép, thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp phép, các luật có liên quan khi ban hành giấy phép môi trường. [16]
Đối với việc tổ chức thực hiện các công tác khác: Trên cơ sở các quy định của pháp luật về BVMT không khí: Luật BVMT năm 2020, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT, Kế hoạch Quốc gia quản lý chất lượng MTKK giai đoạn 2021 – 2025 tại Quyết định số Quyết định 1973/QĐ-TTg ngày 23/11/2021. UBND cấp tỉnh xây dựng và thực hiện Kế hoạch quản lý chất lượng MTKK cấp tỉnh, tổ chức thực hiện các quy định trên cơ sở ban hành các Quyết định, công văn thực hiện.
Tiêu chí đánh giá:
– Hình thức, thời gian tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật: đảm bảo tính hiệu quả, hữu hiệu, đạt được mục tiêu đề ra.
– Các kế hoạch về BVMT không khí: Phù hợp với kế hoạch mục tiêu tổng quát đề ra trên cơ sở kế hoạch Quốc gia, phù hợp với điều kiện KT-XH của Việt Nam và của địa phương..
– Đánh giá thủ tục cấp giấy phép BVMT: đơn giản, dễ hiểu.
1.2.5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT không khí
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT không khí và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT không khí là một công cụ quan trọng góp phần tăng cường hiệu quả, hiệu lực cho công tác QLNN về MTKK, luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của QLNN về MTKK. Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm sẽ nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công đồng, các doanh nghiệp trên tỉnh Quảng Trị. Thông qua việc thanh kiểm tra và xử lý vi phạm sẽ tiếp nhận được tâm tư, nguyện vọng của người dân, giải đáp các vướng mắc và tiếp nhận những phản hồi, bất cập trong chính sách, pháp luật về MTKK để đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Tiêu chí đánh giá:
– Số lần thanh tra, kiểm tra: Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về BVMT không khí được thực thi tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào công tác thanh tra, kiểm tra.
– Công tác tiếp dân và xử lý vi phạm: Thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân đột xuất và định kỳ theo đúng quy định của pháp luật. Nghiêm khắc xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QLNN VỀ MTKK
1.3.1. Điều kiện tự nhiên của địa phương
Điều kiện tự nhiên được hiểu là tất cả những gì thuộc về thiên nhiên. Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí, vùng tiếp giáp, khí hậu, song ngòi, đất, khoáng sản… Mỗi vùng miền sẽ có một điều kiện tự nhiên nhất định, có những yếu tố tương đồng, cũng có những yếu tố tạo nên sự đặc trưng của vùng miền đó. Bởi vậy, công tác QLNN về MTKK chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên của từng khu vực quản lý. Cơ quan QLNN và MTKK trực tiếp quản lý, căn cứ vào đặc điểm, tính chất, sự đặc trưng từng khu vực để có những chính sách, biện pháp quản lý cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất.
1.3.2. Sự phát triển kinh tế và xã hội của địa phương
Sự phát triển của kinh tế và xã hội của địa phương sẽ là một tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, trong đó có MTKK. Hệ thống KT-XH của một địa phương có tác động rất lớn đến việc xây dựng chính sách quản lý môi trường. Yếu tố kinh tế vừa là mục tiêu chính sách vừa là phương tiện động lực của chính sách. Căn cứ từ những điều kiện KT-XH, đặc trưng của từng vùng miền là cơ sở cho công tác QLNN về MTKK. Quản lý MTKK chính là để đảm bảo sự phát triển kinh tế cũng như xã hội được bền vững. KT-XH phát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc. Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để KT-XH phát triển. Quản lý MTKK là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai.
1.3.3. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Thế giới diễn ra các cuộc cách mạng như cách mạng nông nghiệp, cách mạng công nghiệp 1.0 – 3.0… trước khi diễn ra cuộc cách mạng 4.0. Trong cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, nước và hơi nước được sử dụng để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc cách mạng thứ hai diễn ra bởi ứng dụng điện năng trong sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần thứ ba, điện tử và công nghệ thông tin được sử dụng để tự động hóa sản xuất. Và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển từ cuộc cách mạng thứ ba, kết hợp các công nghệ, ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học bị làm mờ.
Với cuộc cách mạng khoa học lần thứ 4 đang diễn ra, về mặt môi trường, cách mạng 4.0 có tác động tích cực trong ngắn hạn và hết sức tích cực trong trung hạn và dài hạn nhờ các ứng dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và các công nghệ giám sát môi trường đang phát triển nhanh được hỗ trợ bởi Internet kết nối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tin liên tục 24/7 theo thời gian thực cũng như đưa ra cảnh báo sớm về các thảm họa thiên nhiên. Điều này cũng khẳng định mối quan hệ giữa kinh tế, phúc lợi xã hội và BVMT. Đã đến lúc phải nhận thức rõ mô hình phát triển nào ít ảnh hưởng đến môi trường, mô hình nào mang lại hạnh phúc.
1.4. KINH NGHIỆM QLNN VỀ MTKK
1.4.1. Kinh nghiệm QLNN về MTKK của thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương và cũng là một đô thị loại đặc biệt của Việt Nam. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KT-XH, Hà Nội luôn nằm ở top đầu các thành phố ô nhiễm. Chất lượng MTKK đang có dấu hiệu ngày càng đi xuống. Hà Nội là “điểm nóng” về tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam. Nồng độ PM2,5 (những hạt bụi li ti có trong không khí với kích thước 2,5micron trở xuống, 1 micron =1/10.000 cm, viết tắt là μon) trung bình hằng năm của Hà Nội trong năm 2020 dù được cải thiện nhưng CLKK của Thủ đô vẫn cao gấp 4 lần so với mục tiêu tiếp xúc của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là 10μg/m³, 10μg = 1/1.000.000g) [26] .
Hà Nội là địa phương đi đầu trong cả nước trong lĩnh vực quản lý MTKK và đưa ra giải pháp giảm thiểu ô nhiễm. Đứng trước những nguy cơ về môi trường, UBND thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp để bảo vệ môi trường. Hà Nội đã thí điểm áp dụng giải pháp hệ thống quan trắc môi trường tự động, kết hợp với hệ thống quan trắc quốc gia để sớm phát hiện điểm nóng ô nhiễm.
Điển hình, Thành phố Hà Nội đã đưa vào vận hành hệ thống 35 trạm quan trắc không khí tự động, 06 trạm quan trắc nước mặt, giám sát chất lượng môi trường khí thải, nước thải các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất giải pháp cải thiện CLKK. Thành phố Hà Nội đã triển khai chương trình đo kiểm khí thải xe mô tô, xe gắn máy cũ đang lưu hành trên địa bàn; chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra, xử lý cơ sở sản xuất, công trình xây dựng gây bụi bẩn; rà soát đầu tư xây dựng, chỉnh trang công viên, hồ điều hòa yêu cầu các đơn vị vệ sinh môi trường tăng cường tưới nước rửa đường, thu gom rác thải… nhằm hạn chế phát sinh ô nhiễm, đồng thời giao Sở TNMT triển khai nhiệm vụ “Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng MTKK cho thành phố Hà Nội” theo hướng dẫn của Bộ TNMT. Trên cơ sở đó, tiến hành kiểm kê, lượng hóa được các nguồn ô nhiễm không khí và đưa ra các giải pháp phù hợp về chính sách, công nghệ và điều kiện, năng lực của địa phương.
Ngày 23/2/2023, UBND thành phố Hà Nội đã phối hợp với Ngân hàng thế giới tổ chức Hội thảo: “Quản lý CLKK cho thành phố Hà Nội – Từ cam kết đến hành động”, nhằm thúc đẩy các hành động chung về nâng cao CLKK và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Từ việc xác định các nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm không khí, trong những năm qua, Hà Nội triển khai thực hiện đồng thời nhiều biện pháp giải quyết vấn đề này, tập trung chủ yếu vào các giải pháp sau [26]:
Một là, kiện toàn hệ thống quan trắc không khí. Tháng 5/2020, Hà Nội tiếp nhận 24 trạm quan trắc không khí tự động, nâng tổng số trạm trên địa bàn lên 35. Năm 2021, để tăng cường xây dựng, hoàn thiện mạng lưới quan trắc hơn nữa, trong công văn số 2015/UBND-ĐT, ngày 25/6/2021, về tăng cường triển khai thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí trên địa bàn thành phố, UBND thành phố giao Sở TNMT Hà Nội chủ trì, phối hợp với các đơn vị khẩn trương thực hiện Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội (quyết nghị chủ trương đầu tư dự án hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn thành phố), hoàn thiện các thủ tục pháp lý về dự án đầu tư hệ thống mạng quan trắc môi trường trên địa bàn.
Hai là, kiểm soát ô nhiễm không khí trong hoạt động xây dựng, vệ sinh môi trường, đặc biệt tăng cường các biện pháp QLNN đối với hoạt động đốt rơm rạ, các phụ phẩm nông nghiệp và các chất thải khác. Theo đó, ngày 18/9/2020, thành phố ban hành Chỉ thị số 15/CT-UBND về việc tăng cường các biện pháp QLNN đối với nội dung nói trên, nhấn mạnh: Thủ đô chủ động xây dựng kế hoạch, hành động cụ thể hướng tới mục tiêu đến ngày 01/01/2021, các địa phương không còn hoạt động đốt rơm rạ, phụ phẩm cây trồng và rác thải khác không đúng quy định trên địa bàn thành phố. Trong đó yêu cầu thực hiện các biện pháp hỗ trợ người dân không đốt rơm rạ, phụ phẩm cây trồng sau khi thu hoạch và chuyển sang các giải pháp xử lý khác thân thiện với môi trường và bảo đảm sức khỏe cộng đồng; ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong công tác thu hoạch sản phẩm, thu gom, vận chuyển, xử lý rơm rạ và phụ phẩm cây trồng bảo đảm thân thiện với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Ba là, thực hiện các biện pháp trước mắt, cũng như lâu dài kiểm soát, hạn chế nguồn khí thải từ các phương tiện tham gia giao thông, đặc biệt là phương tiện cũ nát. Hiện nay, thành phố đang đẩy mạnh lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải theo tiêu chuẩn châu Âu đối với các phương tiện giao thông; khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng, giảm phương tiện cá nhân, tiến tới loại bỏ phương tiện cơ giới lạc hậu gây ÔNMT, nhất là tăng cường sử dụng các loại xe điện, loại bỏ xe cũ nát không đủ tiêu chuẩn. Trong công văn số 53/UBND-ĐT, ngày 06/01/2021, về việc triển khai các biện pháp cải thiện Chỉ số CLKK trên địa bàn thành phố, UBND thành phố chỉ đạo công an thành phố tăng cường phối hợp với các đơn vị chức năng kiểm tra, rà soát, xử lý các phương tiện giao thông xả khói đen; phương tiện cơ giới quá niên hạn sử dụng, trong đó tập trung các phương tiện sử dụng nhiên liệu dầu diesel; không bảo đảm che chắn gây ÔNMT, cuốn đất đá trên đường. Ngày 22/7/2021, Hà Nội ban hành Kế hoạch 172/KH-UBND về việc thực hiện đo kiểm khí thải xe mô tô, xe gắn máy cũ đang lưu hành trên địa bàn, làm cơ sở nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cải thiện CLKK. Mục đích của kế hoạch nhằm đánh giá hiện trạng phát thải của xe mô tô, xe gắn máy cũ đang lưu hành, làm cơ sở khoa học thực tiễn để định hướng, xây dựng các giải pháp về cơ chế, chính sách gắn kết giao thông và BVMT, sức khỏe.
Từng bước cải thiện chất lượng môi trường, đất, nước, không khí, và giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường, song việc giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện CLKK ở Hà Nội vẫn là một vấn đề nan giải. Bởi, MTKK là một lĩnh vực tương đối nhạy cảm vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều bên liên quan – từ công nghiệp, xây dựng, giao thông, nông nghiệp đến hộ gia đình. Do vậy, nhiều biện pháp cải thiện CLKK cho Thủ đô sẽ cần những quy định từ cấp Trung ương. Kinh nghiệm của nhiều đô thị trên thế giới cũng cho thấy, kiểm soát CLKK đòi hỏi một chiến lược tổng thể, thực hiện trong nhiều năm với những nhóm giải pháp khác nhau.
1.4.2. Kinh nghiệm QLNN về MTKK của thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đầu tàu về nền kinh tế của Việt Nam, là 1 trong 2 thành phố đông dân cư nhất của Việt Nam, là nơi tập trung con người để tham gia lao động, sản xuất. Tại đây, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, tập trung nhiều khu công nghiệp trọng điểm. Tuy nhiên, do là một thành phố công nghiệp, tập trung đông dân cư vì vậy nơi đây chính là nơi có lượng ô nhiễm không khí nhiều nhất trong cả nước, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á sau Jakata của Indonesia và đứng thứ 12 trong danh sách các thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới. [20]
Trước các nguy cơ về tình trạng ô nhiễm MTKK, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều giải pháp để hạn chế, khắc phục, cải thiện và bảo vệ MTKK, cụ thể như sau [23]:
– UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu Sở TNMT quan trắc thường xuyên, liên tục CLKK, đồng thời, theo dõi dữ liệu quan trắc tự động chất lượng khí thải của các đơn vị được kết nối về Sở. Từ đó, kịp thời cảnh báo, đề xuất xử lý các trường hợp xả khí thải vượt chuẩn quy định.
– UBND Thành phố Hồ Chí Minh giao Sở Giao thông và Vận tải tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện các dự án giao thông theo quy hoạch nhằm góp phần giảm ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải. Đặt mục tiêu đến năm 2025 vận tải hành khách công cộng đạt 15%. đến năm 2030 đạt 25%.
– Thành phố Hồ Chí Minh cũng triển khai dự án nâng cao năng lực và hành động cải thiện CLKK (dự án TA9608-REG). Ngoài nghiên cứu CLKK tập trung vào hiện trạng CLKK, các tác động và quản lý thì dự án cũng nhắm đến tìm ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí thông qua đổi mới công nghệ, khuyến nghị chính sách và hỗ trợ nâng cao năng lực với các ước lượng chi phí đầu tư để kiểm soát các nguồn ô nhiễm không khí tại thành phố Hồ Chí Minh.
- UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Chương trình giảm ÔNMT giai đoạn 2021 – 2030. Mục tiêu của Chương trình nhằm phát huy kết quả tích cực đạt được trong việc triển khai Chương trình giảm ÔNMT các giai đoạn từ 2011 – 2020; tiếp tục tập trung các giải pháp ngăn chặn được xu hướng tái ÔNMT, từng bước cải thiện chất lượng môi trường thành phố, thích ứng với BĐKH và hướng tới đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Để thực hiện chương trình giảm ÔNMT giai đoạn 2021 -2030, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra nhóm 05 giải pháp, trong đó có mục tiêu 100% doanh nghiệp sản xuất có xử lý khí thải đạt quy chuẩn, giảm 90% ô nhiễm không khí tăng thêm do hoạt động giao thông vận tải, 100% hộ gia đình trên địa bàn thành phố được tiếp cận thông tin về BVMT và ứng phó với BĐKH; 90% học sinh, sinh viên, công chức, người dân thành phố áp dụng những hành vi BVMT trong sinh hoạt hàng ngày.
1.4.3. Bài học đối với công tác QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng Trị
Tỉnh Quảng Trị là một tỉnh nhỏ thuộc dãi đất miền Trung đầy nắng gió, có sự phát triển KT-XH tương đối khiêm tốn so với các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước. Do đó, hiện nay về mức độ ô nhiễm MTKK sẽ không lớn như các thành phố lớn, có thể nói là vẫn đang ở ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, không phải vì thế mà Tỉnh Quảng Trị sẽ không quan tâm đến việc BVMT không khí. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các thành phố lớn là một bước quan trọng và cần thiết để công tác QLNN về MTKK tại Tỉnh Quảng Trị được hiệu quả và hữu hiệu.
Từ kinh nghiệm QLNN về môi trường tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Mình có thể nhận thấy:
Thứ nhất, Đối với các quy định pháp luật và các văn bản liên quan về BVMT không khí cần được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng hơn, nghiêm khắc hơn và có thể thực thi ngay mà không cần phải có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ hai, củng cố và dần hoàn thiện hệ thống quan trắc MTKK. Tăng cường kiểm soát các hoạt động chủ yếu gây ra ô nhiễm MTKK trên địa bàn.
Thứ ba, kiểm soát và hạn chế nguồn khí thải từ các phương tiện giao thông. Xây dựng lộ trình phát triển dân số cùng lượng sử dụng phương tiện giao thông, hướng đến khuyến khích người dân sử dụng các phương tiện ít gây ảnh hưởng đến MTKK.
Thứ tư, cần phải tăng cường, nâng cao trách nhiệm của công dân, lồng ghép sự tham gia của các tổ chức dân sự, tổ chức phi chính phủ thông qua các hoạt động như: tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các kiến thức pháp luật về MTKK. Đồng thời, thống nhất nhận thức chung và xã hội hóa công tác BVMT không khí; Có các chính sách, tăng cường các ưu đãi về tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cao nhất tới các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong việc tham gia xã hội hóa công tác môi trường; Kết hợp sự giám sát, kiểm tra các hoạt động về môi trường giữa các cấp chính, quyền và người dân, phát huy tinh thần làm chủ và chủ động trong nhận thức của người dân về việc bảo vệ MTKK. Thực hiện phân phối một cách công bằng các lợi ích và các chi phí phải chịu cho mục đích BVMT không khí.
Thứ năm, tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tham gia vào các buổi hội thảo của các tỉnh để tham khảo công tác QLNN về BVMT không khí, ứng dụng vào thực tiễn tại Tỉnh nhà.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua những nội dung đề cập trong Chương 1, luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về MTKK, ảnh hưởng của ô nhiễm MTKK và QLNN về MTKK, trong đó đã nêu được khái niệm QLNN về MTKK, các công cụ, đối tượng, nguyên tắc quản lý, vai trò của QLNN về MTKK và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về MTKK. Khái quát các nội dung của công tác QLNN về MTKK làm cơ sở để nêu thực trạng và tìm hiểu kinh nghiệm QLNN về MTKK tại thành phố Hà Nội để đưa ra các giải pháp của QLNN về MTKK tại tỉnh Quảng
F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị
Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị Quản lý nhà nước về môi trường không khí tại tỉnh Quảng Trị


