Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc
“Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên có vai trò to lớn trong việc thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Cấp học này giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em vào học lớp một, hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mầm non là hoạt động vui chơi, trẻ được học mà chơi, chơi mà học được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ. Tại môi trường giáo dục mầm non thì hoạt động vui chơi được xem là ưu tiên hàng đầu sử dụng làm phương tiện giáo dục trí tuệ và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập dưới hình thức chơi nhẹ nhàng, thoải mái làm trẻ dễ dàng vượt qua những khó khăn trở ngại nhất định, trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập như là nhiệm vụ chơi.”
“Hoạt động vui chơi giúp trẻ lĩnh hội những tri thức ấy, trang bị cho trẻ những kỹ năng làm việc trí tuệ, phát triển tính tích cực, tính độc lập, tư duy, cho trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục và phát triển nhân cách nói chung và trí tuệ của trẻ mẫu giáo nói riêng, thông qua các hoạt động vui chơi không những dạy cho trẻ trí thông minh, lòng dũng cảm, ý chí kiên cường không chịu lùi bước trước khó khăn mà còn giúp trẻ tự tin vào bản thân, không những cung cấp cho trẻ một khối lượng tri thức nhất định. Có thể nói việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chương trình Giáo dục mầm non và không thể thiếu trong hoạt động vui chơi, học tập của trẻ ở trường mầm non. Với ý nghĩa như vậy, nhưng không phải giáo viên nào cũng nhận thức được đầy đủ về ý nghĩa và tác dụng của hoạt động vui chơi với sự phát triển của trẻ mầm non.”
“Tại một số trường mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thực tế cho thấy năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên của chưa thực sự đạt chất lượng, chưa tích cực sử dụng hoạt động vui chơi để bổ trợ, củng cố kiến thức cho hoạt động học ở các lĩnh vực phát triển; một số giáo viên lựa chọn và thiết kế các hoạt động vui chơi cho trẻ nhiều khi không phù hợp với chủ đề đang thực hiện hoặc lứa tuổi của trẻ dẫn đến việc tổ chức những trò chơi chỉ mang tính hình thức, miễn cưỡng không đạt được mục tiêu đề ra; nhiều GV tổ chức trò chơi còn rập khuôn, máy móc, chưa linh hoạt nên không phát huy được tính tích cực, hứng thú của trẻ; rất ít GV tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mang tính độc lập mà thường sử dụng trò chơi vào một phần của giờ học. Điều đó cho thấy năng lực tổ chức hoạt động vui chơi của GV ở một số trường mầm non huyện Bình Xuyên còn hạn chế, chưa đa dạng, hiệu quả, cần phải bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho đội ngũ giáo viên mầm non.”
Vì những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc” là đề tài nghiên cứu cuối khóa đào tạo Thạc sĩ Quản lý Giáo dục.
“Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non ở huyện Bình Xuyên, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non.”
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
“Hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non.”
3.2. Đối tượng nghiên cứu
“Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên Mầm non ở huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.”
“Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non trong những năm gần đây đã được quan tâm và bước đầu đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thực tiễn vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu có một hệ thống các biện pháp quản lý phù hợp thì chất lượng bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non sẽ được nâng lên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trong toàn huyện.”
– “Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non.”
– “Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên ở các trường Mầm non ở huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.”
– “Đề xuất, khảo nghiệm một số biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên các trường Mầm non huyện Bình Xuyên.”
6.1. Giới hạn về nội dung
“Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc từ đó đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay.”
6.2. Giới hạn về thời gian
Dữ liệu được sử dụng trong 3 năm học gần đây: Năm học 2018-2019; 2019-2020; 2020-2021.
6.3. Giới hạn về khách thể khảo sát
Luận văn tiến hành khảo sát 24 cán bộ quản lý và 110 giáo viên của các lớp 5-6 tuổi tại 13 trường mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
“Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu và các văn bản để xây dựng cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên Mầm non.”
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
– Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: “Xây dựng các mẫu phiếu khảo
sát dành cho cán bộ quản lý và giáo viên để tìm hiểu thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên ở huyện Bình Xuyên.”
– Phương pháp phỏng vấn: “Phỏng vấn trực tiếp CBQL cấp trường và đội ngũ giáo viên nhằm bổ sung cho kết quả điều tra bằng phiếu hỏi.”
– Phương pháp quan sát: “Quan sát cách thức tổ chức và quản lí chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên của đội ngũ CBQL ở một số trường MN huyện Bình Xuyên; quan sát hoạt động thực tế của GV về tổ chức hoạt động vui chơi ở trên lớp.”
– Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: “Nghiên cứu phân tích hồ sơ chuyên môn của trường, tổ chuyên môn, của GV; kế hoạch năm học, kế hoạch BD chuyên môn của nhà trường, kế hoạch giảng dạy của GV.”
– Phương pháp khảo nghiệm: “Khảo nghiệm tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp mà luận văn đưa ra nhằm thẩm định sự phù hợp và hiệu quả của các biện pháp khi áp dụng vào quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức trò chơi cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non huyện Bình Xuyên.”

7.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng các phần mềm phân tích, thống kê như phần mềm Excel, SPSS để phân tích các thông tin điều tra.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh muc các bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non.
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên tại các trường mầm non huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.2.1. Quản lý/ quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non
“Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau.”
“Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau.”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”;
Theo Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức;
Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ – nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến [12].
“Theo tác giả , quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.”
“Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non là một quá trình tác động có định hướng, có mục đích của nhà quản lý tới hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng nhằm bổ sung tri thức, kỹ năng để củng cố, nâng cao phẩm chất và năng lực trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn cụ thể từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc từ đó nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.”
1.2.2. Hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non
“Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, nó quyết định sự hình thành và phát triển tâm lý – nhân cách cuả đứa trẻ. Hoạt động vui chơi còn là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và ngôn ngữ.”
“Ở lứa tuổi mầm non trẻ học thông qua chơi nên giáo viên cần chú trọng đến hoạt động này để trẻ được bồi dưỡng tri thức, hình thành nhân cách thông qua chơi.”
“Vui chơi là hoạt động không thể thiếu được ở mọi lứa tuổi đặc biệt là ở lứa tuổi mầm non. Qua vui chơi không những hình thành cho trẻ óc tưởng tượng sáng tạo, phát triển ngôn ngữ và tăng cường khả năng nhận thức mà còn giúp trẻ thể hiện năng lực, kỹ năng, tình cảm nguyện vọng và mối liên hệ với những người xung quanh.”
“Ở trường mầm non muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người thể hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình, luôn linh động sáng tạo giúp trẻ được giáo dục tinh tế thông qua các trò chơi. Cô cần phải biết dạy cho trẻ chơi cái gì? Chơi như thể nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học, phục vụ cho sự phát triển tư duy của trẻ. Vì vậy việc tổ chức trò chơi phong phú bao nhiêu thì càng kích thích sự hứng thú và tạo sự ham muốn được khám phá mở mang kiến thức về thế giới xung quanh ở trẻ bấy nhiêu.”
“Trẻ chơi chủ yếu do nhu cầu và khả năng của trẻ, nhu cầu muốn bắt chước, muốn làm người lớn, nhưng khả năng và sức lực của trẻ chưa đủ để làm người lớn do đó trẻ giải tỏa nhu cầu đó dưới hình thức là hoạt động chơi ở các góc: Góc phân vai, góc xây dựng, góc học tập, góc nghệ thuật, góc thiên nhiên,…Qua đó, trẻ được phát triển và mở rộng tính sáng tạo, độc đáo và sự tác động qua lại giữa trẻ với môi trường xung quanh một cách tích cực, tự lực, tự nguyện và tự tin.”
“Hoạt động vui chơi là một hoạt động không thể thiếu trong trường mầm non. Các hoạt động vui chơi đều có tác dụng giúp cho trẻ lĩnh hội kiến thức, thông qua các trò chơi như phân vai theo chủ đề. Qua đó trẻ chơi gia đình, bán hàng. Trẻ sẽ lĩnh hội được những kỹ năng sống, phát triển tình cảm xã hội, ngôn ngữ cho trẻ.”
“Hoạt động vui chơi phát triển kỹ năng và hình thành nhân cách cho trẻ. Hoạt động vui chơi giúp cho trẻ phát triển các mặt toàn diện, đó là phương tiện hiệu quả nhất để giúp trẻ phát triển.”
“Trẻ học mà chơi, chơi mà học. Đối với trẻ mầm non thì vui chơi có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ, vui chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của các quá trình tâm lý ở trẻ. Vì thế cần tạo cho trẻ môi trường để trẻ được hoạt động, trải nghiệm, vui chơi, từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn.”
“Như vậy, hoạt động vui chơi được nhìn nhận với phương diện như là phương tiện để giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non. Vui chơi của trẻ là một hoạt động phản ánh sáng tạo độc đáo, thực hiện tác động qua lại giữa trẻ với trẻ, trẻ với môi trường xung quanh; trong vui chơi trẻ nhận thức được thế giới xung quanh, khi chơi các trò chơi trẻ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của người lớn một cách tự nhiên, lĩnh hội những kiến thức, những kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành động, những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc sống.”
“Trong vui chơi trẻ hoạt động tự lực, tự nguyện và tự tin; xã hội trẻ em được hình thành trong quá trình vui chơi sẽ phát triển việc tự tổ chức, hình thành và biểu hiện những phẩm chất mang tính xã hội: khả năng hoà nhập vào nhóm chơi, khả năng hoạt động đóng vai, khả năng phục tùng những yêu cầu của xã hội trẻ em và bộc lộ những khả năng riêng của trẻ. Trẻ được hoạt động vui chơi dưới hình thức trẻ làm trung tâm đã tạo điều kiện cho trẻ hoạt động tích cực, mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin và hứng thú, dám thể hiện cái tôi của mình, bước đầu đặt nền tảng cho việc đào tạo nên những con người dám nghĩ, dám làm trong tương lai.”
1.2.3. Năng lực/ Năng lực tổ chức hoạt động vui chơi của giáo viên mầm non
“Năng lực là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụ thể nào đó. Năng lực là một yếu tố cơ bản của nhân cách nên mang dấu ấn cá nhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành theo qui luật hình thành và phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưu của cá nhân đóng vai trò quyết định. Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạt động thực tiễn. Vậy, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo.”
“Năng lực tổ chức hoạt động vui chơi của giáo viên mầm non là khả năng tổ chức thực hiện của giáo viên bằng cách lựa chọn trò chơi và vận dụng những kỹ năng, cách thức tổ chức trò chơi phù hợp với độ tuổi, chủ đề đang thực hiện để đạt được mục tiêu bài học hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng bài học cho trẻ ở trường mầm non.”
“Năng lực tổ chức hoạt động vui chơi gồm những năng lực, khả năng thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu tổ chức hoạt động vui chơi phù hợp với mục tiêu giáo dục chung đã đề ra.”
“- Năng lực lựa chọn và thiết kế trò chơi;
– Năng lực xác định mục tiêu của trò chơi học tập;
– Năng lực xác định phương pháp và hình thức tổ chức trò chơi học tập;
– Năng lực tổ chức trò chơi học tập;
– Năng lực sử dụng đồ dùng, đồ chơi khi tổ chức hoạt động vui chơi;
– Năng lực hướng dẫn thao tác mẫu hành động chơi;
– Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động vui chơi;
– Năng lực quản lý trẻ trong khi chơi;
– Năng lực khích lệ, động viên, hỗ trợ trẻ;
– Năng lực phối hợp các lực lượng trong tổ chức trò chơi.”
1.2.4. Bồi dưỡng/ bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Theo từ điển Tiếng Việt, bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất; Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau thì bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó; Theo tác giả Nguyễn Minh Đường, thì bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” [8].
“Bồi dưỡng là quá trình bổ sung sự thiếu hụt về tri thức, năng lực chuyên môn, cập nhật những cái mới để hoàn thiện hệ thống tri thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Bồi dưỡng là một khâu tiếp nối quá trình đào tạo.”
“Bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non là quá trình giáo dục nhằm cập nhật và nâng cao kiến thức, năng lực nghề nghiệp cần thiết để giúp giáo viên mầm non thực hiện tốt việc tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ tại trường mầm non.”
1.2.5. Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non là hệ thống tác động có mục đích của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) tới giáo viên và những yếu tố trong cấu trúc của hoạt động bồi dưỡng giúp giáo viên phát triển, hoàn thiện hệ thống kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non.”
1.3. Lý luận về bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
1.3.1. Mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non nhằm giúp giáo viên nâng cao năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, đồng thời phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng, tự đánh giá hiệu quả bồi dưỡng của giáo viên, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục trẻ ở trường mầm non.”
“Củng cố, bổ sung và phát triển năng lực tổ chức các hoạt động bồi dưỡng năng lực qua đó giúp cho GV củng cố, phát triển có hệ thống những tri thức, kỹ năng về dạy học và nghiệp vụ sư phạm để nâng cao hiệu quả sản phẩm nghề nghiệp của mình.”
“Bổ sung kiến thức mới, tiên tiến, kiến thức còn thiếu trong năng lực tổ chức hoạt động giáo dục.”
“Thông qua hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN, GV được gặp gỡ, giao lưu học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp từ đó có ý thức phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu, bổ sung những mặt còn hạn chế để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.”
1.3.2. Nội dung chương trình bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
* Năng lực lựa chọn và thiết kế hoạt động vui chơi
– Lựa chọn trò chơi: Khi lựa chọn các hoạt động, trò chơi trong hoạt động vui chơi, giáo viên cần:
“Căn cứ vào thực tế của lớp, hứng thú, kinh nghiệm và khả năng của trẻ. Căn cứ nội dung chủ đề đang triển khai, mục đích, nội dung và nhiệm vụ nhận thức trọng tâm của hoạt động học.”
“Đảm bảo tính tích hợp của nội dung giáo dục theo chủ đề và những nội dung cần được tiếp tục củng cố và ôn luyện. Căn cứ vào hoạt động mang tính tĩnh và động.”
Tùy theo chủ đề và điều kiện cụ thể giáo viên có thể gợi ý trẻ chọn
những hoạt động vui chơi phù hợp với chủ đề, ví dụ chủ đề Nghề nghiệp: cần lựa chọn các trò chơi: “Ai đoán đúng”, “Cửa hàng quần áo”, “Bày cửa hàng”, “Chơi xổ số”…
“Thiết kế hoạt động vui chơi: là công việc quan trọng của người giáo viên trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ. Thiết kế trò chơi là một quá trình có tính hệ thống để biến các nguyên tắc tổ chức trò chơi thành phương tiện hỗ trợ cho hoạt động học tập. Thiết kế trò chơi phải gắn với mục tiêu bài học, nội dung, chủ đề của hoạt động học, môi trường hoạt động.”
“Để có thể thiết kế hoạt động vui chơi được tốt, đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực hiểu trẻ, lớp được phân công giảng dạy; năng lực nghiên cứu chương trình, kế hoạch giáo dục; năng lực thu thập, sưu tầm, nghiên cứu về trò chơi, năng lực thiết kế lồng ghép hoạt động vui chơi vào hoạt động học, trò chơi đó bổ trợ nội dung gì để đáp ứng mục tiêu cho hoạt động học. Trong nhiều năng lực kể trên năng lực thu thập, sưu tầm, nghiên cứu về hoạt động vui chơi là một trong những năng lực quan trọng của năng lực chuẩn bị thiết kế trò chơi. Năng lực này thể hiện khả năng lựa chọn, vận dụng trò chơi vào học tập sao cho phù hợp, hiệu quả và đạt được mục tiêu kiến thức đề ra. Khi thiết kế hoạt động vui chơi cần đảm bảo 3 yếu tố.”
“Nội dung chơi chính là các nhiệm vụ học tập và là thành phần cơ bản của hoạt động vui chơi, nó gây sự hứng thú kích thích tính tò mò của trẻ nhờ các tình huống có vấn đề, nội dung chơi xoay quanh các vấn đề ôn, củng cố tri thức trẻ đã có, rèn luyện các kĩ năng, phát triển các giác quan cho trẻ.”
“Hành động chơi là hệ thống các thao tác mà trẻ thực hiên trong quá trình chơi để giải quyết nhiệm vụ học tâp chứa đựng trong nội dung chơi, các hành động chơi phức tạp dần theo sự phát triển của trẻ.”
“Luật chơi Mỗi hoạt động vui chơi đều có luật chơi, đó là quy định, quy ước việc thực hiện các hành động chơi là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá khả năng chơi của trẻ. Nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi có liên hệ chặt chẽ với nhau nếu thiếu một trong 3 thành phần trên thì không tiến hành chơi được. Điều quan trọng là 3 thành phần trên phải phù hợp với vốn hiểu biết và năng lực nhận thức của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi và phải được phức tạp dần theo sự phát triển của trẻ. Nếu hoạt động vui chơi được sử dụng trong tiết học phải phục vụ cho mục đích của tiết học và phù hợp với nội dung dạy học cho trẻ. Nếu trò chơi đứng độc lập thì nội dung cần kích thích trẻ tìm tòi, khám phá, phát huy các năng lực cá nhân của trẻ.”
* Năng lực xác định mục tiêu của hoạt động vui chơi
“Trong thực tế, có nhiều giáo viên muốn tổ chức hoạt động vui chơi thật tốt, nhưng do họ không có ý tưởng rõ ràng về cái đích cuối cùng phải đạt được sau khi kết thúc trò chơi, nên khi kết thúc trò chơi có một số trẻ không thực hiện được, điều này chính là phụ thuộc vào năng lực viết mục tiêu tổ chức hoạt động vui chơi. Mục tiêu của trò chơi là những gì trẻ phải làm được, đạt được sau khi kết thúc hoạt động vui chơi.”
“Mục tiêu của hoạt động vui chơi là kết quả giáo dục về nhận thức, kĩ năng và thái độ mà GV mong muốn trẻ đạt được sau khi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi. Mỗi một hoạt động vui chơi đều có mục đích nhằm chuyển tải nội dung tri thức gắn với hoạt động học tập của trẻ, giúp trẻ phát triển các giác quan, năng lực trí tuệ của trẻ như nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp… Mục tiêu của trò chơi cần rõ ràng, cụ thể, có tính xác định và có thể lượng hoá được để dễ thực hiện, kiểm tra, đánh giá.”
* Năng lực xác định phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động vui chơi
“Phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ bao gồm”
Bước 1: Hướng dẫn trò chơi:
“Giáo viên giới thiệu tên trò chơi, phổ biến nội dung chơi, giới thiệu các hành động chơi và phổ biến luật chơi cho trẻ, nếu là trò chơi cũ thì GV gợi ý trẻ nhắc lại nội dung, hành động, luật chơi, nếu trò chơi có hành động chơi phức tạp thì GV vừa giải thích vừa làm mẫu từng động tác minh họa.”
“Bước 2. Theo dõi quá trình chơi: Nếu là trò chơi mới sau khi hướng dẫn trò chơi GV tổ chức cho trẻ chơi theo từng nhóm, cô quan sát và theo dõi, hỗ trợ, khích lệ trẻ chơi.”
“Bước 3. Nhận xét sau khi chơi: GV căn cứ vào luật chơi để đánh giá khả năng chơi của trẻ như thái độ chấp hành luật chơi, thái độ với bạn trong khi chơi, thái độ của trẻ đối với đồ chơi. Tùy vào lứa tuổi GV lựa chọn hình thức nhận xét cho phù hợp, như Mẫu giáo bé động viên khen ngợi trẻ dưới dạng xác nhận để trẻ nhớ và khẳng định luật chơi, thích tham gia chơi; Mẫu giáo lớn thì đòi hỏi trẻ phải thực hiện nghiêm túc luật chơi và hành động chơi.”
“Hình thức tổ chức hoạt động vui chơi, hoạt động vui chơi thường được sử dụng vào một phần của giờ học và là phương pháp tiến hành hoạt động học, hoặc được tổ chức như một trò chơi mang tính độc lập.”
* Năng lực tổ chức hoạt động vui chơi
“Đặc điểm nổi bật của năng lực tổ chức hoạt động vui chơi là GV tổ chức và điều khiển trò chơi một cách linh hoạt, sáng tạo, không cứng nhắc, không áp đặt trẻ, cần tạo ra tình huống để kích thích trẻ tích cực tham gia vào trò chơi, trên cơ sở phát huy tính tự nguyện, bình đẳng giữa trẻ với trẻ, có sự thống nhất giữa hành vi thật và hành vi vui chơi.”
* Năng lực sử dụng đồ dùng, đồ chơi khi tổ chức hoạt động vui chơi
“Được thể hiện qua việc biết khai thác và sử dụng đồ dùng, đồ chơi đúng lúc, đúng chỗ sẽ gây được sự hứng thú của trẻ hướng vào đồ chơi, kích thích trẻ tập trung chú ý vào đặc điểm riêng của đồ dùng, đồ chơi màu sắc, hình dáng, kích thước. Nếu khai thác được đồ dùng, đồ chơi sẽ giúp cho trẻ nắm bắt kiến thức nhanh, chính xác, góp phần củng cố, ôn luyện khắc sâu thêm kiến thức, kỹ năng cho trẻ, trò chơi sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với trẻ, làm tăng hiệu quả của hoạt động dạy học một cách rõ rệt.”
“Nguyên tắc chung khi khai thác và sử dụng đồ dùng, đồ chơi trong tổ chức hoạt động vui chơi đó là đảm bảo phục vụ thiết thực cho trò chơi; Sử dụng phù hợp với đặc điểm của trò chơi, với hiểu biết và nhận thức của trẻ ở các giai đoạn lứa tuổi; Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ; khai thác hiệu quả các tính năng của đồ dùng, đồ chơi; Đảm bảo các quy tắc điều khiển và vận hành; Sử dụng phải an toàn.”
* Năng lực hướng dẫn thao tác mẫu hành động chơi
Các cách hướng dẫn thao tác mẫu hành động chơi bao gồm:
“Cách một, đối với những trò chơi quen thuộc: Giáo viên có thể yêu cầu trẻ nhắc lại luật chơi và hành động chơi, sau đó cho trẻ tự chơi cùng nhau, giáo viên quan sát và nhắc nhở trẻ khi cần thiết.”
“Cách hai, nếu trò chơi mới, có luật phức tạp: Giáo viên sẽ giải thích tỉ mỉ, rõ ràng, ngắn gọn luật chơi, làm động tác mẫu hành động chơi chính xác, sau đó cho 1-2 trẻ nhắc lại, nếu trẻ chưa nắm được, giáo viên có thể yêu cầu trẻ khác giúp, tạo điều kiện cho trẻ chơi nhiều lần trò chơi để trẻ nắm được luật chơi.”
* Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động vui chơi
“Năng lực này đòi hỏi việc kiểm tra, đánh giá kết quả trò chơi phải đảm bảo tính khách quan, công bằng và chuẩn xác. Ngoài việc đánh giá kết quả trò chơi của trẻ, GV phải biết tự đánh giá những thành công, hạn chế của quá trình tổ chức trò chơi để có biện pháp khắc phục.”
“Để đánh giá kết quả hoạt động của trẻ được khách quan, công bằng và chuẩn xác, đòi hỏi GV phải có năng lực xây dựng công cụ đánh giá, năng lực sử dụng công cụ đánh giá, năng lực phân tích các minh chứng đánh giá vận dụng thành thạo và linh hoạt các phương pháp và năng lực kiểm tra, đánh giá. Khi kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động vui chơi, giáo viên cần sau mỗi lần chơi, giáo viên hướng cho trẻ không chỉ chú ý vào quá trình chơi mà còn chú ý cả vào kết quả của trò chơi bằng cách tổ chức những trò chơi đã biết dưới hình thức thi đua hay đánh giá thành tích giữa trẻ với nhau. Giáo viên cần nhận xét sau mỗi lần chơi, nhấn mạnh, động viên kịp thời những cố gắng của trẻ, khuyến khích để trẻ hứng thú tham gia vào những lần chơi sau.”
* Năng lực quản lý trẻ trong khi chơi
“Là khả năng nhận thức đúng về đặc điểm tâm lý lứa tuổi của trẻ trên các mặt nhận thức, đời sống tình cảm, hứng thú, nhu cầu, nguyện vọng của trẻ và những đặc điểm cá nhân của từng trẻ. Kỹ năng hiểu tâm lý lứa tuổi của trẻ có vai trò giúp GV có thông tin cơ bản về đối tượng giáo dục để có biện pháp tổ chức cho trẻ tham gia, thực hiện hiệu quả các hoạt động giáo dục nói chung và tham gia vào hoạt động vui chơi nói riêng.”
* Năng lực khích lệ, động viên, hỗ trợ trẻ
“Là khả năng sử dụng ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ hiệu quả trong quá trình giao tiếp với trẻ nhằm mục đích trao nhận thông tin, trao đổi tình cảm, chia sẻ, khích lệ, động viên, hỗ trợ trẻ trong quá trình chơi. Giao tiếp trong giáo dục có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục. Năng lực giao tiếp tốt sẽ là điều kiện để GV thực hiện tốt hoạt động của mình.”
* Năng lực phối hợp các lực lượng trong tổ chức trò chơi
“Là khả năng vận động, thuyết phục và hợp tác với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động các dạng nguồn lực giáo dục, phát huy vai trò, chức năng của từng lực lượng giáo dục; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục để tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục nói chung và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ nói riêng.”
1.3.3. Phương pháp, hình thức bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Phương pháp BD cần phù hợp với mục tiêu và nội dung BD, thiết thực, hiệu quả, coi trọng phương pháp phát huy năng lực người học kết hợp trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc trên cơ sở tăng cường thực hành, trải nghiệm. Hiện nay các trường mầm non thường hay sử dụng một số phương pháp sau Phương pháp hỏi, đáp, Phương pháp thảo luận chuyên đề, Phương pháp thảo luận nhóm, Phương pháp thuyết trình kết hợp sử dụng công nghệ trình chiếu; Phương pháp giải quyết vấn đề, Phương pháp luyện tập, thực hành mẫu, Phương pháp thảo luận đóng góp ý kiến. Để khai thác và phát huy hiệu quả các phương pháp trên, thì cán bộ quản lý cần vận dụng linh hoạt, có sự kết hợp các phương pháp trong quá trình bồi dưỡng.”
Hiện nay các cấp quản lý GDMN thường tổ chức hoạt động bồi dưỡng qua các hình thức cơ bản sau:
“- Tham gia các lớp bồi dưỡng tập trung trong thời gian nghỉ hè do Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức.”
– Bồi dưỡng thường xuyên trong năm học thông qua các hình thức:
“Tổ chức lớp bồi dưỡng tại trường kết hợp với thao giảng, dự giờ rút kinh nghiệm, bồi dưỡng lồng ghép với các buổi sinh hoạt chuyên môn tại tổ, trường, tập huấn viên là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn hoặc giáo viên cốt cán có năng lực tổ chức hoạt động vui chơi ở tại trường thực hiện, hoặc có thể mời tập huấn viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, giáo viên cốt cán ở một số trường mầm non có chất lượng trên địa bàn.”
+ “Bồi dưỡng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, diễn đàn chuyên môn GDMN.”
+ “Bồi dưỡng qua việc tổ chức cho giáo viên tham quan thực tế, học hỏi kinh nghiệm của các trường bạn nhằm mở rộng mối quan hệ giao lưu, trao đổi những kinh nghiệm trong giảng dạy, từ đó vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong công tác giảng dạy của mỗi giáo viên. Để hình thức này phát huy được hiệu quả, nhà quản lý cần lựa chọn mô hình tham quan tiêu biểu, có những kinh nghiệm hay phục vụ thiết thực cho nội dung bồi dưỡng.”
– “Bên cạnh đó cần định hướng cho GV chú trọng hình thức tự học, tự nghiên cứu áp dụng nội dung bồi dưỡng vào quá trình giảng dạy và kết hợp với các hình thức học tập khác, trên cơ sở đánh giá được những ưu điểm, hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân so với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ để có hình thức tự BD phù hợp và đạt hiệu quả.”
1.3.4. Kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Kiểm tra đánh giá là một trong những thành tố quan trọng của quá trình bồi dưỡng. Qua kiểm tra đánh giá biết được kết quả học tập của giáo viên, những điểm yếu, điểm mạnh trong quá trình bồi dưỡng. Hình thức đánh giá có thể thực hiện theo tiến trình và tổng kết. Đánh giá tiến trình tức là đánh giá cả quá trình bồi dưỡng, đánh giá thường xuyên, liên tục diễn ra trong quá trình bồi dưỡng. Cách đánh giá này nhận được sự phản hồi kịp thời, từ đó chỉ ra được những trở ngại để điều chỉnh và cải tiến hoạt động bồi dưỡng. Đánh giá tổng kết là đánh giá kết quả bồi dưỡng, chứng tỏ được hiệu quả của khóa học, rút ra những kinh nghiệm để đề ra được mục tiêu cho những đợt bồi dưỡng tiếp theo. Các phương pháp đánh giá được sử dụng quan sát, vấn đáp, kiểm tra viết, viết thu hoạch, báo cáo chuyên đề, trắc nghiệm khách quan, đánh giá theo chuẩn, đánh giá theo tiêu chí, đánh giá qua dự giờ. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá phụ thuộc vào nội dung và đối tượng cũng như thời điểm bồi dưỡng.”
“Mỗi hình thức và phương pháp đánh giá có thế mạnh khác nhau. Vì vậy, để thực hiện tốt đánh giá trong bồi dưỡng cần kết hợp các hình thức và phương pháp đánh giá một cách hợp lí nhất. Từ kết quả kiểm tra đánh giá thống kê, phân tích số liệu liên quan với mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra. Trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí cần đạt và kết quả bồi dưỡng xác định được những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà giáo viên đã đạt được, chưa đạt được sau khóa bồi dưỡng. Việc đánh giá kết quả so với mục tiêu cho biết rõ hơn về chất lượng của khóa bồi dưỡng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, tính khả thi của mục tiêu và làm căn cứ để điều chỉnh mục tiêu cho những khóa bồi dưỡng tiếp theo.”
1.4. Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu bối cảnh hiện nay
1.4.1. Tổ chức thực hiện mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Quản lý mục tiêu bồi dưỡng năng lực giáo viên về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non là việc tổ chức thực hiện mục tiêu bồi dưỡng nhằm giúp GV nâng cao kiến thức, năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non.”
“Việc xác định chính xác mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên có ý nghĩa quan trọng vì mục tiêu bồi dưỡng quy định các nhiệm vụ, chi phối việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, các con đường và hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng. Trong quá trình xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực giáo viên, hiệu trưởng cần chỉ đạo việc xác định mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên thống nhất với mục tiêu bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên đáp ứng yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non và yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non theo chương trình giáo dục cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non hiện nay.”
“Quản lý mục tiêu bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên phải xuất phát từ yêu cầu đầu ra đối với hệ thống kĩ năng, năng lực thành phần giáo viên đang có, đồng thời xem xét bổ sung những kiến thức và kĩ năng mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn.”
“Mục tiêu bồi dưỡng được thể hiện trong kế hoạch bồi dưỡng gồm cả nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, nhân sự, bao gồm CBQL, GV, trẻ địa điểm tổ chức, thời gian, kinh phí.”
“Kế hoạch hoạt động bồi dưỡng năng lực giáo viên về tổ chức hoạt động vui chơi theo năm học hiệu trưởng xây dựng kế hoạch, lấy ý kiến bổ xung, thống nhất trong toàn trường về nội dung và triển khai thực hiện.”
1.4.2. Tổ chức thực hiện nội dung bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non.
“Nội dung bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động của giáo viên được xây dựng trên sở đáp ứng các yêu cầu đầu ra về các năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ của giáo viên.”
“Nội dung, chương trình bồi dưỡng có vai trò quan trọng trong thực hiện mục tiêu bồi dưỡng. Người cán bộ quản lý trong quá trình xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phải xác định chính xác những kiến thức nội dung, chương trình cho phù hợp với yêu cầu hoạt động vui chơi, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm của giáo viên trong hoạt động dạy học và tham gia bồi dưỡng. Nội dung, chương trình bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN cần tập trung chủ yếu vào các nội dung hoạt động vui chơi, giúp trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm chơi mà học, học bằng chơi. Trong đó, chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục hoạt động vui chơi nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ; kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp; tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế.”
“Hiệu trưởng chỉ đạo việc thực hiện nội dung bồi dưỡng năng lực giáo viên trong đó bao gồm các năng lực thành phần như: Năng lực thiết kế hoạt động như năng lực chuẩn bị thiết kế hoạt động; năng lực xác định mục tiêu hoạt động; năng lực xác định nội dung hoạt động; năng lực xác định phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động; năng lực xác định các điều kiện tổ chức hiệu quả hoạt động; năng lực trình bày bản thiết kế; Năng lực tổ chức hoạt động năng lực sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động; năng lực sử dụng đồ dùng, đồ chơi tổ chức hoạt động; năng lực trình diễn thao tác mẫu; năng lực phát hiện và xử lý tình huống sư phạm, Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động năng lực xây dựng công cụ đánh giá, năng lực sử dụng các công cụ đánh giá, năng lực phân tích các minh chứng đánh giá, vận dụng thành thạo và linh hoạt các phương pháp kiểm tra, đánh giá; Năng lực bổ trợ năng lực quản lý trẻ trong hoạt động; năng lực khích lệ, động viên, hỗ trợ trẻ; Năng lực phối hợp các lực lượng trong tổ chức hoạt động. Quản lý thực hiện nội dung bồi dưỡng các năng lực trên cho giáo viên cần quan tâm, giám sát việc xây dựng nội dung trong kế hoạch, chương trình tổ chức hoạt động bồi dưỡng ở các cấp độ hoạt động chung của nhà trường, hoạt động của tổ chuyên môn, hoạt động tự bồi dưỡng của cá nhân giáo viên.”
“Ban lãnh đạo nhà trường trên cơ sở kế hoạch BD đã xây dựng, cần ban hành quyết định thành lập Ban tổ chức lớp bồi dưỡng, chuẩn bị tốt các điều kiện, phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện sao cho phù hợp với từng nội dung và hình thức BD. Lựa chọn tập huấn viên BD cũng là một nhiệm vụ mà hiệu trưởng cần xem xét kỹ lưỡng, có thể lựa chọn tập huấn viên có năng lực tổ chức hoạt động vui chơi tại trường hoặc có thể mời chuyên viên của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, giáo viên cốt cán ở một số trường mầm non có chất lượng trên địa bàn huyện để BD cho GV.”
“Để triển khai các nội dung BD có hiệu quả, hiệu trưởng cần tổ chức họp đội ngũ tập huấn viên để thống nhất cách thức phối hợp triển khai các hoạt động bồi dưỡng. Xây dựng nội dung tài liệu bồi dưỡng phù hợp có sự kết hợp thuyết trình trên máy chiếu. Tổng hợp, theo dõi giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng. Chuẩn bị tốt các điều kiện như địa điểm, máy chiếu, văn phòng phẩm, điện nước, tài liệu tập huấn, kinh phí bồi dưỡng cho tập huấn viên, kinh phí tổ chức thăm quan học tập kinh nghiệm ở các trường bạn, kinh phí khen thưởng cho GV nếu GV có thành tích xuất sắc trong quá trình tham gia BD.”
1.4.3 Chỉ đạo phương pháp, hình thức bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Hiệu trưởng chỉ đạo việc sử dụng các nhóm phương pháp sau đây khi thực hiện công tác bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GV Nhóm phương pháp dạy học dùng lời phương pháp thuyết trình, phương pháp dạy học nếu vấn đề, phương pháp vấn đáp, phương pháp thảo luận nhóm. Nhóm phương pháp dạy học thực tiễn phương pháp thực tế, phương pháp trò chơi, phương pháp thực hành, phương pháp làm việc theo dự án, phương pháp đóng vai và xử lý tình huống; Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá phương pháp đánh giá qua bài tập thực hành, phương pháp trắc nghiệm.”
“Phương pháp bồi dưỡng không chỉ tạo sự hứng thú tham gia của GVMN mà còn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng, đặc biệt là trong bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN. Phương pháp bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN cần phải phù hợp với nội dung và mục tiêu bồi dưỡng, trong đó bao quát được hết cả 3 nội dung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thái độ. Nếu các phương pháp bồi dưỡng không được sử dụng một cách phong phú, đa dạng, phù hợp thì sẽ mang lại tác động phiến diện mà không mang đến hiệu quả toàn diện. Trong đó, các chuyên gia thường nặng về các phương pháp lý thuyết và làm việc nhóm từ đó hình thành kiến thức nhiều hơn so với rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động học cho GVMN. Do đó, các chuyên gia cần phải thiết kế các phương pháp bồi dưỡng hướng tới rèn luyện kỹ năng nhiều hơn cho giáo viên để trong và sau khóa bồi dưỡng, GVMN có thể vận dụng được trong thực tiễn dạy học tại các trường mầm non. Mỗi nhóm phương pháp trên đều có ưu điểm, hạn chế nhất định nên cần có sự lựa chọn, vận dụng phối hợp một cách hợp lý trong quá trình tổ chức hoạt động để mang đến hiệu quả bồi dưỡng cao nhất.”
“Trong thực tiễn có nhiều hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng có thể sử dụng. Hiệu trưởng cần chỉ đạo đưa nội dung bồi dưỡng vào thực hiện thông qua các hình thức như: Bồi dưỡng tập trung thông qua các lớp tập huấn; Bồi dưỡng thông qua sinh hoạt chuyên môn tại tổ, trường, cụm trường. Bồi dưỡng từ xa, trực tuyến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; tổ chức cho giáo viên tham quan, thực tế học hỏi kinh nghiệm giáo viên có năng lực tốt về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ ở ngoài trường vừa mở rộng mối quan hệ giao lưu, trao đổi những kinh nghiệm trong giảng dạy, vừa giúp GV có điều kiện tiếp cận hình thức học hỏi trực tiếp một cách hiệu quả để vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong công tác giảng dạy phù hợp với đặc điểm, năng lực riêng của từng giáo viên. Để hình thức này phát huy được hiệu quả, hiệu trưởng cần lựa chọn mô hình học tập kinh nghiệm tiêu biểu, có những kinh nghiệm hay phục vụ thiết thực cho nội dung bồi dưỡng phát triển năng lực cho GV.”
1.4.4. Kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
“Bất cứ hoạt động bồi dưỡng nào, khi tổ chức hoạt động thì nhà quản lý phải tổ chức kiểm tra để đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động, từ đó rút
kinh nghiệm và điều chỉnh tổ chức hoạt động nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn.”
“Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GV tập trung vào tổ chức thực hiện việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả bồi dưỡng nhằm hình thành các năng lực mà giáo viên đạt được sau khóa bồi dưỡng làm sao để hoạt động bồi dưỡng phát triển năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GV thấm sâu vào từng GV như một nhu cầu, hoạt động ý nghĩa thiết thực, tránh hình thức, chiếu lệ.”
1.4.5. Quản lý nguồn lực phục vụ công tác bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non
a. Quản lý giáo viên được bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
“GV vừa là đối tượng của hoạt động bồi dưỡng vừa là chủ thể tự bồi dưỡng. Để công tác bồi dưỡng GV đạt kết quả tốt, hiệu trưởng cần đánh giá đượcmức độ năng lực, nhu cầu bồi dưỡng của họ, những điều kiện và khả năng có thể thực hiện được để phát triển năng lực ở GV. Phát huy tính tích cực của GV trong hoạt động bồi dưỡng là một trong những yêu cầu quan trọng. Hiệu trưởng cần tăng cường quản lý để có biện pháp phát huy vai trò chủ thể của GV trong hoạt động bồi dưỡng mới có thể đạt được kết quả cao.”
“Quản lý GV trong bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên là quản lý hoạt động của cá nhân GV trong mối quan hệ với tập thể GV tham gia hoạt động bồi dưỡng; quản lý nhu cầu, động cơ, hứng thú, tính tích cực tham gia và phối hợp với giảng viên, các GV khác trong hoạt động bồi dưỡng; quản lý quá trình và kết quả GV vận dụng các nội dung bồi dưỡng vào tổ chức thực hiện hoạt động vui chơi cho trẻ ở trường mầm non.”
b. Quản lý đội ngũ giảng viên thực hiện bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên
“Quản lý đội ngũ giảng viên thực hiện bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên là quản lý hoạt động của cá nhân giảng viên khi thực hiện mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng; các nội dung cần thiết phải thực hiện tập huấn cho giá viên, kế hoạch tổ chức lớp bồi dưỡng, phương pháp và hình thức bồi dưỡng mà giảng viên sử dụng trong hoạt động bồi dưỡng; các tài liệu bồi dưỡng sử dụng trong bồi dưỡng năng lực cho GV, cách thức giảng viên đánh giá và điều chỉnh hoạt động bồi dưỡng GV từ thực tiễn tổ chức hoạt động bồi dưỡng.”
c. Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên
* Về tài liệu, sách tham khảo
“Nhà quản lý cần tổ chức xem xét, thẩm định các tài liệu sử dụng trong bồi dưỡng giáo viên, Tổ chức cấp phát tài liệu đến giáo viên, tổ chức tập huấn giáo viên trong sử dụng tài liệu. Các tài liệu sử dụng trong bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên bao gồm tài liệu dành cho giảng viên, tài liệu dành cho học viên, giáo viên mầm non cần được rà soát, điều chỉnh đáp ứng mục tiêu đào tạo nhằm hình thành năng lực tổ chức hoạt đông vui chơi cho giáo viên.”
* Về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
“Để tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên cần có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để hoạt động sư phạm đạt được hiệu quả mong muốn. Điều kiện tổ chức và phương tiện tốt sẽ làm tăng tính hấp dẫn của hoạt động. Thiết bị tối thiểu để tổ chức các hoạt động là âm ly, loa đài, đầu video, đàn, dụng cụ thể thao và kinh phí hoạt động.”
“Để quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nhà quản lý cần tổ chức lập kế hoạch sử dụng cơ sở vật chất, phân bổ trang thiết bị phù hợp với cấu tạo chương trình, tổ chức chuẩn bị cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng, tổ chức sửa chữa, bảo trì kịp thời trong quá trình tổ chức hoạt động bồi dưỡng.”
“Tổ chức thiết kế, sáng tạo, tự làm các thiết bị phục vụ giờ giảng cũng là một trong những yêu cầu về quản lý trang thiết bị dạy học.”
“Quản lý các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên như trang thiết bị về âm thanh, ánh sáng, mô hình học cụ, nhà thể chất, nhà đa năng, thư viện. Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên, trong quá trình sử dụng cần được bảo quản và quản lý hiệu quả, tránh thất thoát và hư hỏng, giảm chất lượng, tạo hiệu ứng kém làm ảnh hưởng đến các hoạt động của nhà trường nói chung, của hoạt động bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên nói riêng.”
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên
* Chế độ, chính sách của Nhà nước về giáo dục mầm non:
“Với những chủ trương, chính sách về hoạt động giáo dục như trên, muốn thắng lợi thì nhân tố con người là cực kỳ quan trọng, trong đó đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục phải tiến hành việc bồi dưỡng một cách nghiêm chỉnh, thực hiện các kế hoạch bồi dưỡng với ý thức chấp hành pháp lệnh của Nhà nước. Cả người có trách nhiệm bồi dưỡng cho người khác và người được bồi dưỡng đều phải phát huy cao độ ý thức làm chủ, thấy hết trách nhiệm của mình đối với tương lai của ngành để làm tốt hoạt động này.”
* Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động bồi dưỡng
“Bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN đòi hỏi nhà trường phải xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở vật chất đa dạng, phù hợp, sắp xếp khoa học cho hoạt động học và chơi của trẻ. Việc bồi dưỡng cho GVMN trong bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cũng vậy đòi hỏi nhà trường phải chuẩn bị tốt cơ sở vật chất cho hoạt động bồi dưỡng. Vật chất trong công tác bồi dưỡng phải gắn với vật chất tổ chức lớp học sau này của trẻ, gắn quá trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học với bồi dưỡng cách thức sử dụng, bố trí cơ sở vật chất lớp học cho giáo viên. Từ đó giúp giáo viên trải nghiệm những tiết học điểm trên thực tế để vận dụng, sáng tạo trong tổ chức lớp học sau này.”
* Năng lực của cán bộ quản lý giáo dục:
“Trong công tác bồi dưỡng giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý phải nắm chắc nội dung, nguyên tắc, phương pháp, các mô hình tích cực, cách thức tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN đáp ứng được yêu cầu, mục đích đề ra. Suy nghĩ để có được những quyết định phù hợp với quy định của nhà nước và của ngành. Đội ngũ cán bộ quản lý phải tìm cách nâng cao trình độ nhận thức của giáo viên về đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện cho họ nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu trong bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN. Bên cạnh đó, phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, tuyên truyền tới các cha mẹ trẻ và các tổ chức xã hội có liên quan đến nhà trường những hiểu biết về những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục mầm non, hiểu về tình hình thực tế của nhà trường.”
* Trình độ, ý thức, thái độ của giáo viên mầm non khi tham gia hoạt động bồi dưỡng:
“Đội ngũ giáo viên khi được đào tạo tại các cơ sở giáo dục mầm non
chính quy họ được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết phục vụ cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Quá trình công tác làm việc chính là quá trình giáo viên tự bồi dưỡng hoàn thiện những kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà trường, xã hội và trẻ mầm non. Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới công tác giáo dục cho trẻ đã đặt ra cho giáo viên phải có sự thay đổi năng lực về tư duy, phương pháp, kỹ năng dạy học đã làm cho nhiều giáo viên có nhiều lúng túng nhất định trong quá trình dạy học cho trẻ. Do đó nhiệm vụ trước mắt của các nhà trường mầm non cần phải tập trung thực hiện có hiệu quả công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên. Để xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho GVMN đòi hỏi người cán bộ quản lý phải nắm chắc trình độ kiến thức, ý thức, thái độ của từng giáo viên để bố trí nhân lực, biện pháp thực hiện công tác bồi dưỡng cho phù hợp. Nhà trường nhất thiết phải có cơ chế, chính sách khen thưởng, xử phạt phù hợp trong đánh giá chất lượng tham gia và tính hiệu quả trong dạy học của giáo viên sau khi được bồi dưỡng.”
“Ở độ tuổi mầm non, trẻ học tập chủ yếu thông qua chơi, thông qua chơi trẻ tự chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực cá nhân do đó việc rèn luyện năng lực tổ chức hoạt đông vui chơi cho giáo viên là cần thiết.
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định tầm quan trọng của tổ chức học tập cho trẻ thông qua chơi và sự cần thiết phải rèn luyện năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non.”
“Năng lực tổ chức hoạt động vui chơi là khả năng tác động có chủ đích của GV đến HS và các lực lượng giáo dục trong tổ chức thực hiện các hoạt động vui chơi nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện. Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non là một quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý CBQL giáo dục tới khách thể quản lý GV, HS trong trường mầm non thực hiện các hoạt động vui chơi nhằm giúp cho GV có điều kiện cập nhật kiến thức, kỹ năng làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra.”
“Để quản lý tốt việc bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên mầm non, nhà quản lý cần ngoài việc quản lý tốt việc bồi dưỡng, cần quản tâm các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi dưỡng.”
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO GIÁO VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. Khái quát về giáo dục mầm non ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc
“Toàn huyện Bình xuyên có 21 trường mầm non với 265/266 nhóm lớp, trong đó có 262 nhóm lớp công lập đạt 98,5% so kế hoạch giao, tăng 03 lớp so với cùng kỳ năm học trước.”
Số trẻ mầm non đến trường đầu năm học 7063/7073 đạt 99,86% so với kế hoạch giao (do trẻ chuyển đi, đi học nới khác, chuyển đến, chết), duy trì đến cuối năm học: 7058/7063 trẻ; giảm 5 trẻ so với đầu năm (09 trẻ chuyển đi, 39 trẻ đi học trái tuyến, 03 trẻ chết, 06 trẻ chuyển đến, 24 trẻ đến học trái tuyến, 16 tuyển mới), giảm 35 trẻ so cùng kỳ năm học trước.
Tổng huy động:
“- Nhóm trẻ: 37 nhóm với 1247/1210 trẻ đạt 103% so với kế hoạch giao, đạt 33,9% so với dân số độ tuổi, tăng 21 trẻ so với cùng kỳ năm học trước.
– Mẫu giáo 3 tuổi: 64 lớp, với 1880/1897 trẻ đạt 91% so với kế hoạch giao (do học sinh chuyển đi, chết và đi học trái tuyến), đạt 99,18% so với dân số, tăng 106 trẻ so với cùng kỳ năm học trước.
– Mẫu giáo 4 tuổi: 51 lớp, với 1842/1866 trẻ đạt 98,9% so với kế hoạch giáo (do học sinh chuyển đi, chết và đi học trái tuyến), đạt 99,73 % so với dân số, giảm 244 trẻ so với cùng kỳ năm học trước.
– Mẫu giáo 5 tuổi: 113 lớp, với 2089/2098 trẻ, đạt 99,8% so với kế hoạch giao (do học sinh chuyển đi, chết và đi học trái tuyến), đạt 100% so với dân số độ tuổi, tăng 82 trẻ so với cùng kỳ năm học trước.”
Tỉ lệ chuyên cần các độ tuổi đạt từ 97,8% trở lên.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI


