Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ

Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ

Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác Giáo dục và đào tạo. Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, phát triển Giáo dục cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho phát triển. Đại hội toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển Giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Điều này được quy định cụ thể trong Luật Giáo dục khi tổng dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm cho toàn ngành Giáo dục chiếm khoảng 20% trên tổng dự toán chi ngân sách để đáp ứng đầu tư cho hệ thống giáo dục nước ta.

Những năm gần đây, GDĐH ở Việt Nam đã phát triển đáng kể về số lượng và chất lượng một phần nguyên nhân chính nhờ vào các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hệ thống GDĐH cụ thể Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập đã đặt ra thách thức đối với hệ thống các trường ĐHCL thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo chủ trương của Chính phủ. Để dần tiến tới tự chủ tài chính các trường ĐHCL phải đảm bảo nguồn lực tài chính bền vững, có tích luỹ lớn. Thực tiễn chứng minh nguồn thu tài chính là nhân tố rất quan trọng để các trường đại học đầu tư các nguồn lực về cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và gia tăng thương hiệu của các trường. Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN cấp cho các trường đại học công lập để thực hiện chi thường xuyên và đầu tư có xu hướng ngày càng hạn hẹp, nguồn thu sự nghiệp đứng trước thách thức ngày càng lớn từ việc cạnh tranh khốc liệt trong hệ thống GDĐH như hiện nay càng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện công tác quản lý nguồn thu nhằm tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn thu tài chính, đặc biệt nguồn thu tài chính ngoài NSNN để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của các trường.

Đối với các trường thành viên thuộc ĐHĐN có lịch sử hình thành tương đối còn non trẻ so với các trường đại học công lập lâu đời trên cả nước. Vì vậy, kinh nghiệm quản trị đại học, quản lý tài chính nói chung và đặc biệt là quản lý nguồn thu nói riêng ở các phương diện về tổ chức bộ máy quản lý thu, công tác lập dự toán, công tác triển khai hoạt động thu, công tác hạch toán, quyết toán các khoản thu, công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động thu vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định chưa đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển và hội nhập theo xu hướng của các trường trong hệ thống GDĐH hiện nay.

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tác giả nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ” mong muốn tìm hiểu thực trạng quản lý nguồn thu và đưa ra một số giải pháp chủ quan nhằm tăng cường công tác quản lý nguồn thu tại các trường thành viên của ĐHĐN, hướng tới mục tiêu tự chủ tài chính trong giai đoạn sắp tới theo chiến lược phát triển chung của ĐHĐN và để phù hợp, hòa nhập với xu hướng phát triển chung của GDĐH trên cả đất nước.

2. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý nguồn thu tại các trường trường đại học thành viên của ĐHĐN cụ thể là Trường Đại học Ngoại Ngữ để đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn thu tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong thời gian tới.

b. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về nguồn thu của trường đại học công lập.

– Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường đại học thành viên của ĐHĐN cụ thể tại trường Đại học Ngoại Ngữ của ĐHĐN; rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về quản lý nhà nước nguồn thu.

– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ.

b. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường thành viên thuộc ĐHĐN – Minh họa bằng trường hợp tại Trường ĐHNN.

– Phạm vi về không gian: Nghiên cứu khái quát chung về thực trạng quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường đại học thành viên của ĐHĐN và phân tích cụ thể tại Trường ĐHNN.

– Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về nguồn thu tại các các trường thành viên ĐHĐN trong giai đoạn 2017-2021, đề xuất giải pháp đến năm 2025 tầm nhìn 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

a. Phương pháp thu thập dữ liệu

– Nguồn dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập số liệu nguồn thu từ Ban Kế hoạch Tài chính, ĐHĐN và Trường ĐHNN. Đồng thời tác giả kết hợp tra cứu các tài liệu, văn bản, sách, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Đây là những tài liệu có sẵn quan trọng để đánh giá thực trạng công tác quản lý thu của trường ĐHNN và là căn cứ để đề xuất các giải pháp phù hợp cho mục tiêu quản lý nguồn thu cho các trường thành viên của ĐHĐN.

Nguồn tài liệu thứ cấp sau khi được thu thập, tác giả đã xử lý bằng công cụ Excel, phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá để có cái nhìn tổng quan về các nguồn thu của trường ĐHNN và các trường thành viên của ĐHĐN. Trên cơ sở thực trạng nguồn thu của các Trường, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thu tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN.

– Nguồn dữ liệu sơ cấp có được thông qua trực tiếp quan sát việc tổ chức quản lý, điều hành của ĐHĐN, Trường ĐHNN, quan sát việc tổ chức triển khai hoạt động thu; điều tra, phỏng vấn những người có liên quan.

Tác giả tiến hành điều tra bằng các phương pháp phỏng vấn trực tiếp những đối tượng tham gia vào quá trình quản lý nguồn thu tại các trường thành viên của ĐHĐN. Sử dụng phương pháp điều tra theo câu hỏi trong mẫu phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước và áp dụng phương pháp phỏng vấn linh hoạt liên quan đến quản lý nguồn thu (Mẫu phiếu điều tra: Phụ lục 1). Mục đích của việc sử dụng số liệu tác giả điều tra: từ những thông tin thu thập được thông qua việc trả lời các câu hỏi trong mẫu phiếu điều tra tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý nguồn thu tại trường thành viên của ĐHĐN.

Để khảo sát về thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nguồn thu của các trường đại học thành viên của ĐHĐN, tác giả đã tham khảo ý kiến của 116 cán bộ viên chức (ĐHĐN bao gồm: lãnh đạo, kế toán viên Ban Kế hoạch Tài chính; các Trường thành viên bao gồm: lãnh đạo các Trường ĐH thành viên, lãnh đạo phòng KHTC, kế toán viên các trường, lãnh đạo và chuyên viên của các phòng có liên quan). Trong đó

– Cán bộ quản lý: 38 phiếu

– Chuyên viên: 78 phiếu

Đối tượng tham gia khảo sát có thâm niên công tác dưới 10 năm chiếm 44,8% (52 phiếu); từ 10 đến 20 năm chiếm 47,4% (55 phiếu) , còn lại trên 20 năm chiếm 7,8% ( 9 phiếu).

Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 để đánh giá thực trạng quản lý nguồn thu tại các trường thành viên của ĐHĐN. Mỗi câu hỏi được xây dựng thành 5 điểm tuỳ ý theo sự đồng ý của người được khảo sát: 1 = hoàn toàn đồng ý; 2 = đồng ý; 3 = không chắc chắn; 4 = không đồng ý; 5 = hoàn toàn không đồng ý. Những câu hỏi chọn “hoàn toàn không đồng ý” và “không đồng ý” được cho là không đồng ý. Những câu hỏi chọn “hoàn toàn đồng ý” và “đồng ý” được cho là đồng ý. Những câu hỏi chọn “không chắc chắn” không đưa vào phân tích.

Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ
Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ

b. Phương pháp phân tích

– Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để phân tích tình hình quản lý nguồn thu tại trường ĐHNN bằng việc mô tả sự biến động trong công tác quản lý nguồn thu, cũng như thể hiện được xu thế phát triển của nguồn thu. Từ đó, tìm ra được các nguyên nhân biến động đó và tìm ra những biện pháp khắc phục những hạn chế trong quá trình quản lý nguồn thu tại các Trường thành viên của ĐHĐN.

– Phương pháp so sánh: Thông tin, số liệu sau khi được thu thập, sẽ được tiến hành so sánh cụ thể trong đó: so sánh các chỉ tiêu, có nội dung, tính chất tương tự nhau giữa các trường thành viên. Qua đó đưa ra các nhận định về thực trạng của nội dung cần so sánh.

– Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ những số liệu thu thập, chọn lọc những kết quả phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về nguồn thu của trường ĐHNN, tác giả tổng hợp kết quả phân tích để đánh giá những mặt thành công, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về nguồn thu của trường ĐHNN. Từ đó, đưa ra được phương hướng, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về nguồn thu của các trường thành viên thuộc ĐHĐN trong thời gian đến.

– Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thực hiện thăm dò ý kiến của các chuyên gia, giáo viên hướng dẫn, các lãnh đạo, đồng nghiệp có kinh nghiệm đánh giá về hoạt động quản lý Nhà nước về nguồn thu tại các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN, qua đó thu thập những ý kiến đóng góp, kinh nghiệm quý báu và thực tế.

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, các công trình đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về nguồn thu tại các Trường đại học công lập.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng – Trường hợp tại Trường Đại học Ngoại ngữ.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về nguồn thu tại các trường thành viên của Đại học Đà Nẵng.

6. Tổng quan nghiên cứu

CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN THU
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

1.1. Nguồn thu và quản lý nguồn thu tại trường đại học công lập

1.1.1. Bản chất, đặc điểm nguồn thu của trường đại học công lập

a. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
14/02/2015, tại Điều 2 của Nghị định có quy định: “Đơn vị sự nghiệp công
lập là những đơn vị do các cơ quan có thẩm quyển của nhà nước thành lập
theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động thực hiện cung
cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động
bình thường của ngành kinh tế quốc dân”.

Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, phục vụ chức năng quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công trong các ngành lĩnh vực theo quy định của pháp luật như y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ…Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, cung cấp những sản phẩm mang lại lợi ích chung, lâu dài và bền vững cho xã hội
[3, tr.330].

b. Bản chất và đặc điểm của nguồn thu tại các đơn vị sự nghiệp công lập

Dịch vụ công cộng bao gồm những dịch vụ công cộng thuần tuý và những dịch vụ công cộng không thuần tuý. Đối với dịch vụ công cộng thuần tuý như quốc phòng – an ninh, an toàn xã hội, môi trường pháp luật,… nhìn chung là do Nhà nước cung cấp và không lượng hoá mức độ sử dụng của từng thể nhân, pháp nhân trong xã hội. Vì vậy, Nhà nước thu hồi chi phí đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng thuần tuý được thực hiện thông qua công cụ thuế. Nhưng ngược lại, đối với những dịch vụ công cộng không thuần tuý như giáo dục, y tế, văn hoá nghệ thuật, giao thông … thì không khó khăn gì trong việc xác định các thể nhân, pháp nhân trực tiếp khai thác sử dụng những hàng hoá dịch vụ công cộng đó. Vì vậy, dựa trên quan điểm ai được hưởng lợi ích trực tiếp thì phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp trực tiếp; Nhà nước đã quy định việc thu phí của các thể nhân, pháp nhân trực tiếp sử dụng các dịch vụ công cộng không thuần tuý đó để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí Nhà nước đã đầu tư cung cấp chúng cho xã hội và hạn chế tình trạng lạm sử dụng dịch vụ công cộng.

Trong nền kinh tế thị trường với chủ trương xã hội hoá các hoạt động kinh tế xã hội; Nhà nước khuyến khích các thể nhân và pháp nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư cung cấp một số dịch vụ công cộng không thuần tuý cho xã hội như giáo dục, y tế, thể dục thể thao … dưới sự quản lý của Nhà nước. Các thể nhân, pháp nhân đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng này được thu hồi chi phí thông qua việc thu phí dịch vụ hình thành theo cơ chế thị trường nhưng phù hợp với quy định của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Những phân tích trên đây cho phép kết luận về bản chất của phí như sau:

Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng không thuần tuý theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó [12, tr.120].

Nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập bao gồm các khoản thu từ NSNN cấp, các hoạt động sự nghiệp, chịu sự quản lý về tài chính theo quy định của pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp công lập [11].

Giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là số tiền người sử dụng dịch vụ phải trả cho từng dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và giáo dục nghề nghiệp, bao gồm: học phí (theo các cấp học và trình độ đào tạo) và giá các dịch vụ khác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo (giá dịch vụ tuyển sinh; giá dịch vụ kiểm định chất lượng giáo dục; giá cấp phát các loại phôi văn bằng, chứng chỉ; giá dịch vụ hỗ trợ đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực thông qua việc nghiên cứu xây dựng chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội; giá dịch vụ điều tra, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực thông qua việc kết nối cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động nhằm khai thác các nguồn lực cho hoạt động đào tạo phát triển nguồn nhân lực; giá dịch vụ bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; giá dịch vụ tư vấn cho các tổ chức, cá nhân xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, tham gia bồi dưỡng phát triển các kỹ năng cần thiết cho người học; giá các dịch vụ hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo).

Học phí là khoản tiền mà người học phải nộp để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo.

1.1.2. Khái niệm quản lý nguồn thu của trường đại học công lập

Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định.

Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra. Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức.

Tài chính được thể hiện là sự vận động của các dòng vốn gắn với sự tạo lập và sử dụng những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội trong đó phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể.

Khái niệm về “Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân” là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế” [22, tr.21].

Quản lý tài chính công là quá trình Nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp, tác động đến các hoạt động của tài chính công, làm cho chúng vận động phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế – xã hội, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng do Nhà nước đảm nhận [12, tr.28].

Quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong các cơ quan HCNN để đạt những mục tiêu đã định.

Đối tượng quản lý của Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị, đó chính là hoạt động tài chính của những cơ quan, đơn vị này. Đó là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong mỗi cơ quan, đơn vị. Cụ thể là việc quản lý các nguồn tài chính cũng như những khoản chi đầu tư hoặc các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị. kinh tế học, khái niệm quản lý được nghiên cứu và sử dụng căn cứ vào mục đích và đối tượng nghiên cứu nhưng giữa chúng có một điểm chung là khi nói đến quản lý là nói đến nội bộ của một hệ thống hay một tổ chức.

Quản lý tài chính trường đại học công là quá trình tác động của Nhà nước tới hệ thống quản trị đại học công (bộ máy quản trị đại học công) thông qua hệ thống các công cụ của nhà nước để thực hiện các chức năng cơ bản từ việc lập kế hoạch tài chính, tổ chức tạo nguồn lực và sử dụng nguồn tài chính đến kiểm tra, giám sát nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra [17].

Quản lý tài chính là một mảng quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế, theo học thuyết quản lý tài chính của Ezara Solomon cho rằng: “Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó” [23].

Vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm quản lý nguồn thu tại trường ĐHCL dưới đây được tác giả sử dụng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu “Quản lý nguồn thu tại các trường đại học công lập là quản lý quá trình hình thành, sử dụng và phân phối các nguồn thu thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra, giám sát hoạt động thu theo cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước nhằm đảm bảo kinh phí cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà trường”.

Hình 1.1. Mô hình quản lý tài chính của các trường đại học công lập

Quản lý các nguồn thu tại các trường ĐHCL bao gồm các nguồn chủ yếu như sau: nguồn NSNN cấp, nguồn thu sự nghiệp của đơn vị và nguồn thu khác.

* Nguồn ngân sách nhà nước cấp, gồm:

– Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động;

– Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

– Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;

– Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

– Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);

– Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

– Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);

– Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

– Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Kinh phí khác (nếu có).

* Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:

– Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật;

– Thu từ các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị;

– Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);

– Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng.

* Nguồn thu khác:

– Thu từ các dự án viện trợ, quà biếu, quà tặng.

– Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị.

– Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

1.1.3. Mục tiêu quản lý nguồn thu của trường đại học công lập

– Một là, thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về quản lý thu trong trường đại học công lập. Các trường đại học công lập chưa được tự chủ về thu, đặc biệt là thu học phí. Mức học phí đến thời điểm hiện tại, các trường vẫn phải tuân thủ theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP. Theo Nghị định này, đối với các trường tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được xác định học phí trên cơ sở định mức kinh tế – kỹ thuật, định mức chi phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành và lộ trình tính đủ chi phí đào tạo. Đối với các trường còn lại, học phí được xác định trên cơ sở tính toán có sự cân đối giữa hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của người học, thực hiện theo lộ trình giảm dần bao cấp của Nhà nước. Mức trần học phí được quy định cụ thể, chi tiết cho từng năm học, cho từng loại trường đại học công lập. Mức thu học phí được xây dựng theo nguyên tắc chia sẻ giữa nhà nước và người học, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân và tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, lộ trình tính giá dịch vụ giáo dục, đào tạo theo quy định và bảo đảm chất lượng giáo dục.

– Hai là, phát triển các nguồn thu tài chính phục vụ hoạt động của Nhà trường. Nguồn thu tài chính của các trường ĐHCL ở Việt Nam chủ yếu từ nguồn NSNN cấp, nguồn thu học phí của người học và các nguồn thu hợp pháp khác. Vì vậy, mục tiêu quản lý nguồn thu của trường ĐHCL để hướng tới phát triển nguồn tài chính cho các mục tiêu phát triển của Nhà trường. Với việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các trường sẽ chủ động, sáng tạo tìm kiếm, đa dạng hóa các nguồn thu nhằm tăng thu, đảm bảo hoạt động, tăng tích lũy, giảm bớt gánh nặng cho NSNN. Khi nguồn thu tăng lên, các trường đại học sẽ có những nguồn lực tài chính để tăng đầu tư phát triển nguồn nhân lực, sở vật chất, trang thiết bị…từ đó góp phần nâng cao chất lượng GDĐH. Ngoài ra, các trường chủ động khai thác các hoạt động dịch vụ và hỗ trợ đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ người học đảm bảo công khai trên cơ sở lấy thu bù chi và tích lũy hợp lý.

– Ba là, sử dụng hiệu quả các nguồn thu tài chính, đây chính là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nội bộ, đặc biệt trong điều kiện nguồn tài chính còn nhiều khó khăn như hiện nay, nguồn NSNN dành cho GDĐH còn hạn hẹp thì thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường là một tất yếu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực đồng thời vận động các nguồn lực của xã hội cho phát triển GDĐH. Vì khi thực hiện chế độ giao, khoán mức chi các đơn vị sử dụng tiết kiệm các nguồn kinh phí để có điều kiện để tăng thu, tiết kiệm chi, có nguồn lực nâng cao đời sống, thu nhập của giảng viên, tạo động lực để họ tích cực lao động nâng cao chất lượng đào tạo. Hơn nữa, việc thực hiện cơ chế này còn góp phần sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực khác.

– Bốn là, kiểm tra giám sát hoạt động thu giúp giảm bớt rủi ro vi phạm có thể xảy ra trong việc triển khai hoạt động thu tại các trường đại học công lập.

1.1.4. Vai trò quản lý nguồn thu của trường đại học công lập

– Một là, quản lý nguồn thu nhằm đảm bảo nguồn thu được quản lý thống nhất, tập trung, hiệu quả, công khai, minh bạch, công bằng; có phân công, phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với trách nhiệm của bộ phận có liên quan. Đối với cơ sở GDĐH công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên, HĐT, hội đồng đại học quyết định việc sử dụng nguồn tài chính như quyết định sử dụng nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cấp để đầu tư các dự án thực hiện hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; Quyết định nội dung và mức chi từ nguồn thu học phí và thu sự nghiệp, nguồn kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ, bao gồm cả chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý theo quy định của quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở GDĐH. Đối với các trường ĐHCL tự đảm bảo một phần kinh phí được Nhà nước giao nhiệm vụ gắn với nguồn NSNN để thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính công, tài sản công. Trường ĐHCL được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và cấp một phần kinh phí hoạt động nên quản lý tài chính tại trường ĐHCL phải đảm bảo cân đối hài hoà giữa mục tiêu tài chính và mục tiêu xã hội. Tuy nhiên, quản lý tài chính tại các trường ĐHCL đứng trước thách thức giới hạn về ngân sách và nhu cầu chất lượng ngày càng cao từ người học đòi hỏi các trường ĐHCL phải đầu tư cơ sở vật chất và các dịch vụ hỗ trợ giáo dục khác dẫn đến nhu cầu huy động nguồn tài chính rất lớn. Vì vậy, vai trò quản lý tài chính tại các trường ĐHCL nhằm hướng tới phát triển nguồn thu, sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm, hiệu quả.

Hai là, phát triển các nguồn thu phục vụ hoạt động của Nhà trường. Nguồn thu của các trường ĐHCL ở Việt Nam chủ yếu từ nguồn NSNN cấp, nguồn thu học phí của người học và các nguồn thu hợp pháp khác. Đối với nguồn NSNN cấp có xu hướng giảm dần, nguồn thu học phí do các quy định về mức trần học phí của Nhà nước và chỉ tiêu tuyển sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nên nguồn thu này phát triển còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhiệm vụ đào tạo cũng đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng và cần có nguồn tài chính lớn; với mục tiêu đẩy mạnh công tác nghiên cứu trong trường đại học hiện nay, việc tăng cường đầu tư để phát triển đội ngũ nghiên cứu và cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu cần có thêm nguồn tài chính. Vì vậy, vai trò của quản lý tài chính tại các trường ĐHCL hướng tới phát triển nguồn thu để phục vụ cho các mục tiêu phát triển của nhà trường.

– Ba là, sử dụng hiệu quả các nguồn thu, đây chính là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nội bộ, đặc biệt trong điều kiện nguồn tài chính còn nhiều khó khăn. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính được xem xét ở các nội dung sau: (i) Phân bổ hợp lý nguồn tài chính: Để đảm bảo điều đó, việc xác định các ưu tiên chiến lược trong hoạt động của Nhà trường cần được thực hiện trước, trên cơ sở đó phân bổ nguồn tài chính theo đúng thứ tự ưu tiên các hoạt động để hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu của trường đã đề ra; (ii) Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài chính: Tiết kiệm trong chi tiêu được hiểu là để có một hàng hóa, dịch vụ nhất định thì chi phí bỏ ra là thấp nhất; hoặc ngược lại, với một mức chi phí nhất định thì mua được hàng hóa tốt nhất.

– Bốn là, đảm bảo toàn bộ các khoản thu phải được dự toán, triển khai, tổng hợp quyết toán đầy đủ vào sổ sách của đơn vị. Cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính giúp các trường ĐHCL giảm bớt rủi ro trong hoạt động. Trên cơ sở quản lý rủi ro sẽ đảm bảo cho các trường hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực, đảm bảo khả năng hoạt động liên tục và phát triển trong điều kiện tự chủ đại học nói chung và tự chủ tài chính nói riêng. Thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về quản lý thu, chi tài chính, quản lý tài sản. Mặc dù thực hiện tự chủ tài chính, các trường có quyền khai thác nhiều nguồn thu khác, được xác định giá/phí dịch vụ, xây dựng định mức chi tiêu và phân phối thu nhập nhưng các trường vẫn phải đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước, quy định nội bộ của Nhà trường.

– Năm là, đảm bảo các khoản thu thực hiện theo quy định của các Luật thuế và chế độ thu theo quy định của pháp luật. Cơ sở GDĐH thực hiện chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật. Hiện nay các cơ sở GDĐH được trao quyền quản lý tài chính nhưng vẫn phải thực hiện việc kiểm toán và công khai tài chính để tránh tình trạng tài chính cơ sở GDĐH bị thất thoát, không những thế mà việc sử dụng nguồn tài chính của cơ sở GDĐH cũng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

1.2. Nội dung quản lý nguồn thu tại trường đại học công lập

1.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý thu

– Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý. Năng lực cán bộ là yếu tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng.

Trình độ quản lý của lãnh đạo nhà trường tác động rất lớn tới cơ chế quản lý tài chính tại trường. Hiệu trưởng là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định việc xây dựng dự toán thu chi, quy định mức tiền lương, thu nhập tăng thêm, phúc lợi và trích lập quỹ của trường. Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của trường ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của nhà nước góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của trường.

– Tổ chức bộ máy là việc phân chia hệ thống quản lý thành các bộ phận và được xác định các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Có nghĩa là xác định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các bộ phận nằm trong bộ máy được lựa chọn và bố trí cán bộ vào các cương vị phụ trách các bộ phận đó.

– Thủ trưởng các trường ĐHCL chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp, báo cáo toàn bộ các nguồn tài chính và chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản về việc quản lý toàn bộ các nguồn tài chính của trường.

– Tổ chức bộ máy trực tiếp quản lý thu tài chính trong các trường ĐHCL bao gồm: Lãnh đạo trường, Trưởng Phòng KH-TC, nhân viên KH-TC, Trưởng các đơn vị chức năng khác của trường.

  • Tiêu chí đánh giá:

– Mức độ hợp lý khi xây dựng bộ máy quản lý thu;

– Quy trình thực hiện của bộ máy quản lý thu để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ công tác thu;

– Phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, tổ chức thực hiện việc lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, giám sát việc thực hiện hoạt động thu.

– Đội ngũ thực hiện hoạt động thu đảm bảo tiêu chuẩn về năng lực nghề nghiệp, có tác phong làm việc chuyên nghiệp, thái độ phục vụ người học khách hàng tốt.

1.2.2. Lập dự toán thu

– Lập dự toán thu thực chất là việc tính toán, xác định các chỉ tiêu tổng hợp, chi tiết về số thu trong năm kế hoạch và các biện pháp để tổ chức thực hiện các chỉ tiêu đó. Lập dự toán là một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong quản lý nguồn thu. Lập dự toán là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý nguồn thu các trường ĐHCL. Khâu này mang tính định hướng tạo cơ sở nền tảng cho các khâu tiếp theo. Các trường ĐHCL phải xây dựng dự toán theo đúng quy trình, định mức và được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, đồng thời việc tổ chức triển khai hoạt động thu cũng phải dựa trên cơ sở kế hoạch và dự toán đã được duyệt.

– Mục tiêu của lập dự toán thu: dự toán rất cần thiết để quản lý, điều hành hoạt động của một đơn vị, dự tính được các khoản tiền phải thu trước để có kế hoạch phân phối nguồn thu vào các hoạt động chung của đơn vị. Dự toán cung cấp cho lãnh đạo thông tin về toàn bộ tình hình tài chính của nhà trường một cách có hệ thống và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

– Yêu cầu lập dự toán hằng năm:

+ Dự toán ngân sách nhà nước phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi khác, bổ sung các quỹ theo quy định.

+ Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán ngân sách các cấp được lập phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng biểu mẫu, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Dự toán thu ngân sách được lập trên cơ sở dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và chế độ thu ngân sách;

– Căn cứ lập dự toán:

+ Xác định các khoản thu của đơn vị dựa trên nền tảng các khoản thu từ các năm trước: bao gồm các khoản thu từ học phí, hoạt động cung cấp dịch vụ, thu từ chuyển giao công nghệ, lãi ngân hàng, các khoản thu khác….

+ Căn cứ quy mô đào tạo hiện có, số lượng chỉ tiêu được phép tuyển sinh năm học mới (số lượng sinh viên, mức học phí theo quy định ..) để lập dự toán thu.

+ Căn cứ vào các hoạt động có kế hoạch trước, chiến lược phát triển của trường trong ngắn hạn và dài hạn của đơn vị để xác định hoặc định lượng nguồn thu.

– Phương pháp lập dự toán: Hầu hết các trường công lập đều thực hiện phương pháp lập dự toán từ dưới lên. Các bộ phận đều được tham gia vào quá trình xây dựng dự toán. Dự toán được lập có khuynh hướng chính xác và đáng tin cậy. Các chỉ tiêu được tự đề đạt nên các nhà quản lý sẽ thực hiện công việc một cách chủ động, hiệu quả và khả năng thành công sẽ cao hơn.

  • Tiêu chí đánh giá:

+ Dự toán được lập đúng quy trình, đúng thời hạn do cơ quan có thẩm quyền quy định.

+ Dự toán phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, theo đúng biểu mẫu quy định.

+ Dự toán phải đúng định mức, bám sát tình hình thực tế của đơn vị.

+ Phân công, phối hợp lập dự toán giữa các đơn vị hợp lý.

+ Mức độ thực hiện dự toán so với kế hoạch:

Mức độ thực hiện

dự toán so =

với kế hoạch

Số thực hiện
x 100%

Số dự toán

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tỉ lệ % các nguồn thu thực hiện được trong năm so với số dự toán.

1.2.3. Triển khai hoạt động thu

– Căn cứ theo quy định của Nhà nước và các văn bản của đơn vị chủ quản phê duyệt, các trường ĐHCL tiến hành triển khai hoạt động thu.

+ Đối với nguồn thu từ NSNN cấp chấp hành theo dự toán phân bổ của cấp trên.

+ Đối với các khoản thu sự nghiệp như học phí các trường đại học công lập phải công bố công khai chi phí đào tạo, mức thu học phí, mức thu dịch vụ tuyển sinh và khoản thu dịch vụ khác cho lộ trình cả khóa học, từng năm học cùng với thông báo tuyển sinh và trên trang thông tin điện tử của cơ sở GDĐH [Khoản 5, Điều 65. Học phí và khoản thu dịch vụ khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH]

+ Đối với các khoản thu dịch vụ khác được xác định trên nguyên tắc tính đủ chi phí hợp lý thực tế phát sinh

  • Tiêu chí đánh giá việc triển khai hoạt động thu:

+ Phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động thu;

+ Công khai thông tin các nguồn thu của trường;

+ Quy trình tổ chức thực hiện thu hợp lý và có hiệu quả.

+ Tỷ lệ thay đổi các nguồn thu để xem xét sự biến động của cơ cấu các khoản thu trong năm và so sánh giữa các năm với nhau.

Tỷ lệ cơ cấu =Các yếu tố cấu thành nguồn thu trong năm Nx 100%
Tổng nguồn thu trong năm N

+ Tỷ lệ tăng trưởng của các khoản thu, tiêu chí này cho biết sự biến động các khoản thu giữa các năm với nhau từ đó thấy được xu thế vận động của các nó.

Tỷ lệ tăng trưởng =Số thu năm N+1 – Số thu năm Nx 100%
Số thu năm N

1.2.4. Hạch toán, quyết toán các khoản thu

a. Hạch toán các khoản thu

Hạch toán các khoản thu là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính tại các trường ĐHCL. Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin các khoản thu của Trường ĐHCL đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, vì vậy đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có một cách chính xác, đầy đủ và đúng nguyên tắc.

– Nguyên tắc hạch toán: Khi phát sinh nguồn thu bằng tiền các trường phải sử dụng chứng từ kế toán theo quy định của Bộ Tài chính như phiếu thu, biên lai thu tiền, hóa đơn tài chính. Thực hiện ghi sổ đúng và đầy đủ vào tài khoản kế toán theo Luật Kế toán và Luật Ngân sách.

b. Quyết toán các khoản thu

Quyết toán là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình thu chi trong kỳ báo cáo và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện tài chính từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các kỳ tài chính tiếp theo [Điều 34, NĐ60/2021].

Công tác quyết toán được tiến hành theo nguyên tắc đơn vị dự toán cấp dưới phải nộp báo cáo quyết toán cho đơn vị cấp trên xét duyệt. Việc quyết toán được tiến hành theo các bước sau: các đơn vị, các trường học thuộc sự nghiệp giáo dục phải báo cáo quyết toán của đơn vị mình gửi lên cơ quan quản lý cấp trên để cơ quan quản lý cấp trên tiến hành kiểm tra và quyết toán.

Khi quyết toán, các loại báo cáo tài chính sẽ được lập đầy đủ và gửi đúng hạn cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định. Số liệu trong các báo cáo đảm bảo tính chính xác, trung thực. Nội dung trong các báo cáo tài chính theo đúng các khoản thu đã được phê duyệt.

  • Tiêu chí đánh giá:

+ Các khoản thu được ghi nhận và hạch toán đủ, đúng vào tài khoản doanh thu của trường.

+ Tiêu chí theo dõi công nợ đối với các khoản thu còn thiếu.

+ Kết quả thực hiện nguồn thu thông qua các chỉ tiêu tài chính.

+ Công khai Báo cáo quyết toán các khoản thu rõ ràng, minh bạch.

1.2.5. Giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động thu

– Công cụ này giúp chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các trường đại học công lập. Công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các trường đại học quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả. Hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo định kỳ hằng năm hoặc đột xuất do các đơn vị có thẩm quyền như Bộ GD&ĐT, Kiểm toán Nhà nước hoặc bộ phận chức năng về tài chính của đơn vị chủ quản thực hiện. Ngoài ra công tác tự kiểm tra tài chính, kế toán được thực hiện tại trường là kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh, tính hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động tài chính, kế toán trong quá trình thực hiện quản lý nguồn thu.

– Các phương pháp kiểm tra:

+ Thu thập, xử lý các tài liệu liên quan đến hoạt động thu.

+ Kiểm tra, phát hiện ghi chép và tổng hợp số liệu, thông tin liên quan đến cuộc kiểm tra.

+ Đối soát các hành vi phát hiện được trong qua trình kiểm tra, xác minh các trường hợp có nghi vấn.

+ Lập và gửi báo cáo kết quả kiểm tra, những kiến nghị giải quyết và công khai kết quả kiểm tra.

– Đối với các vi phạm trong hoạt động thu sẽ được xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước.

– Nguồn thu của trường ĐHCL được quản lý sử dụng qua kiểm soát của KBNN địa phương hoặc đối với khoản thu sự nghiệp được gửi vào các ngân hàng thương mại để quản lý và sử dụng.

  • Tiêu chí đánh giá:

+ Kế hoạch giám sát, thanh tra, kiểm tra các hoạt động thu phù hợp.

+ Công tác kiểm tra, kiểm soát các khoản thu đảm bảo đúng quy định Nhà nước.

+ Có biện pháp xử lý, khắc phục các sai phạm trong hoạt động thu kịp thời, hiệu quả.

+ Tiêu chí đánh giá mức độ các sai phạm trong quản lý nguồn thu (thu sai, không đủ, thu để ngoài sổ sách..).

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nguồn thu CỦA trường đại học công lập

1.3.1. Cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với trường ĐHCL

Cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với trường ĐHCL sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tổ chức bộ máy quản lý, lập dự toán, triển khai thực hiện và quyết toán các nguồn thu. Theo đó các Trường công lập sẽ được phân loại theo mức độ tự chủ và phải thực hiện chế độ lập dự toán, chấp hành và quyết toán thu chi theo quy định của Nhà nước. Cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với trường ĐHCL không chỉ nhằm mục tiêu thực hiện quyền quản lý của Nhà nước đối với các trường mà còn là hành lang pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho các trường hoạt động và phát triển. Nếu Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách phù hợp sẽ tác động tích cực đến sự phát triển của các trường và ngược lại.

Thông qua việc ban hành cơ chế, chính sách, Nhà nước đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình quản lý tài chính của các trường, cụ thể như sau:

– Nhóm cơ chế, chính sách tác động trực tiếp: ví dụ cơ chế phân bổ NSNN, chính sách học phí, chính sách giá dịch vụ công, chính sách thuế…… Ở Việt Nam hiện nay, nguồn tài chính chủ yếu của các trường ĐHCL bao gồm nguồn NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp. Trong đó nguồn NSNN cấp đóng vai trò quan trọng của không ít trường ĐHCL nên cơ chế phân bổ NSNN có vai trò tác động trực tiếp đến nguồn thu của Nhà trường. Cơ chế giá dịch vụ công chưa được thực hiện theo cơ chế thị trường, mức thu học phí theo khung của Nhà nước.

– Nhóm cơ chế, chính sách tác động gián tiếp: ví dụ cơ chế, chính sách về GDĐH, tự chủ đại học (tự chủ học thuật, tài chính, tổ chức và nhân sự)…. Đối với Việt Nam, cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường ĐHCL ngày càng được mở rộng theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.

1.3.2. Điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung -Tây Nguyên

KT-XH phát triển tạo động lực, nền tảng quan trọng nâng cao đời sống nhân dân, gia tăng các nguồn lực đầu tư cho GDĐH. Khi GDĐH phát triển sẽ gia tăng chất lượng nguồn nhân lực và trở thành động lực thúc đẩy phát triển KT-XH của quốc gia phát triển. Việt Nam có nền kinh tế đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, chính sách đầu tư cho giáo dục luôn được Đảng và chính phủ chú trọng. Số lượng các trường công lập và ngoài công lập ngày càng nhiều, chính điều này sẽ tăng mức độ cạnh tranh về mặt chất lượng đào tạo và đòi hỏi các trường phải nâng cao vị thế học hiệu của chính mình để thu hút sinh viên và làm gia tăng nguồn thu sự nghiệp cho các trường. Đồng thời việc quản lý và sử dụng nguồn thu hiệu quả để đầu tư vào đội ngũ cán bộ giảng viên, cơ sở vật chất của các trường công lập là yếu tố cần thiết.

ĐHĐN nằm ở trung tâm thành phố Đà Nẵng năng động, phát triển và là hạt nhân, động lực của khu vực miền Trung-Tây Nguyên, có vị trí địa chiến lược trên hành lang kinh tế Đông – Tây, hướng ra cửa ngõ biển Đông với nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển về kinh tế, văn hóa giáo dục.

Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24-1-2019 về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành “trung tâm kinh tế – xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ; là một trong những trung tâm văn hóa – thể thao, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ phát triển của đất nước”. Mục tiêu này tạo ra cơ hội xây dựng và phát triển ĐHĐN trở thành trung tâm đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho TP Đà Nẵng và khu vực. Đây là cơ hội rất lớn để các trường ĐHCL nói chung đóng trên địa bàn thành phố và các trường thành viên của ĐHĐN phát huy vai trò tiên phong trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, tham gia vào xây dựng và triển khai các chương trình dự án lớn của thành phố.

1.3.3. Chiến lược và sự phát triển của trường đại học công lập

Các trường đại học công lập đều có chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương, cũng như cả nước để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chiến lược phát triển của mỗi trường và trong mỗi giai đoạn là khác nhau, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức huy động, quản lý và sử dụng các lực nguồn tài chính. Vì vậy trong mỗi giai đoạn các trường ĐHCL cần có chiến lược, kế hoạch và mục tiêu phát triển nguồn thu phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển của Nhà trường.

1.4. Kinh nghiệm VỀ quản lý tài chính tại các trường Đại học công lập TRONG NƯỚC

1.4.1. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2

– Trường ĐHSP Hà Nội 2 là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên. Trường là đơn vị dự toán cấp 2 chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ GD&ĐT. Ban Giám hiệu Nhà trường luôn chỉ đạo công tác quản lý tài chính đúng quy định. Trường đã thực hiện xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để quản lý tài chính và đã có nhiều giải pháp tích cực để công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp, đảm bảo đáp ứng việc thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ cơ bản trong kế hoạch về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ chuyên môn khác; hoàn thiện việc tổ chức bộ máy kế toán theo các hướng dẫn thi hành Luật Kế toán; từng bước ứng dụng tin học trong công tác kế toán; thực hiện đúng quy trình lập kế hoạch, thanh quyết toán kinh phí cho các hoạt động của Trường. Việc phân bổ và sử dụng tài chính hàng năm được thực hiện công khai, dân chủ và minh bạch. Để đạt được những kết quả như vậy Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội đã tiến hành các hoạt động như sau:

+ Cùng với sự phát triển về quy mô và loại hình đào tạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu xã hội và nâng cao dân trí, nguồn thu sự nghiệp của Trường được bổ sung vào nguồn kinh phí chi cho các hoạt động thường xuyên. Nguồn thu này được quản lý tập trung và tuân thủ các quy định về tài chính.

– NSNN cấp và các nguồn thu sự nghiệp của Trường được phân bổ cụ thể cho các khoản chi tiêu phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể trong kế hoạch, dự toán hàng năm của Trường.

+ Hàng năm hoạt động Tài chính của Trường được báo cáo quyết toán một cách chính xác đầy đủ và được cơ quan chủ quản phê duyệt đúng chế độ quy định của Nhà nước. Hoạt động tài chính được báo cáo công khai tại các Hội nghị cán bộ viên chức hàng năm.

+ Nhà trường quản lý thống nhất công tác thu chi tài chính thông qua hoạt động hạch toán kế toán lên hệ thống sổ sách theo đúng quy định.

+ Trường đã xây dựng và ban hành Quy chế làm việc, Quy chế chi tiêu nội bộ để kiểm soát chi theo quy định. Định kỳ 2 năm trường tiến hành lấy ý kiến của cán bộ toàn trường về nội dung quy chế chi tiêu nội bộ để từ đó có những thay đổi phù hợp.

+ Thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách của Nhà nước.

+ Công tác hạch toán kế toán của Trường áp dụng đúng theo Luật Kế toán tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Chứng từ kế toán của đơn vị đảm bảo tính hợp lý, hợp lệ. Chứng từ kế toán đã lập, luân chuyển và lưu trữ đầy đủ theo trình tự thời gian và theo chế độ quy định, thuận tiện cho công tác kểm tra kiểm soát. Sổ kế toán cơ bản phản ánh kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

+ Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý việc chấp hành quản lý tài chính theo đúng quy định của pháp luật.

– Công tác quản lý tài chính tại Trường ĐHSP Hà Nội 2 được đánh giá tương đối hiệu quả. Tuy vậy, hiện nay công tác quản lý thu của Trường còn một số vấn đề phải khắc phục, tránh ảnh hưởng đến người học, tập trung tối đa nguồn kinh phí cho Trường. Công tác quản lý chi cũng có nhiều sự biến đổi hàng năm do sự thay đổi của hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước, sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan tới các quyết định chi tài chính. Đó là lý do Trường luôn phải linh hoạt trong quản lý chi tiêu để khắc phục những hạn chế. Mặt khác, dần hướng tới tới tự chủ hoàn toàn theo quy định của Nhà nước, trường cần tăng cường tìm kiếm các nguồn thu để thay thế cho phần NSNN cấp.

1.4.2. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại trường đại học Kinh tế Quốc dân

– Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã được các đơn vị sử dụng lao động đánh giá cao, uy tín trong ngành. Với sự cân đối tài chính trong suốt thời gian dài cho thấy tình trạng tài chính của trường rất ổn định và bền vững. Các nguồn thu ngoài ngân sách tăng hàng năm, góp phần tăng nguồn thu cho trường. Việc sử dụng ngày càng hợp lý hơn theo hướng tăng tỷ trọng chi cho công tác chuyên môn giảng dạy, tăng tỷ trọng chi cho con người, giảm chi phí hành chính. Trường đã chủ động nghiên cứu và xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp với đặc điểm và nhiệm vụ của nhà trường.

– Sự chủ động của các trường trong việc đa dạng nguồn thu ngoài nguồn kinh phí của NSNN. Sự thay đổi tích cực trong cách quản lý tài chính các trường trên 2 nội dung: phân bổ kinh phí và cách thực hiện kiểm soát và giám sát.

– Việc tạo ra thu nhập: Các trường học giờ đây có động lực để khích lệ việc tạo ra nguồn thu từ con người và tài sản của nhà trường. Lợi nhuận tạo ra không cần phải nộp lại cho nhà nước; khoản tiền dư thừa có thể tích lũy và việc sắp xếp do lãnh đạo nhà trường quyết định.

– Nhà trường đã liên kết với nhiều doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao, nâng cao nguồn thu nhập cho nhà trường và góp phần mở rộng kiến thức cho sinh viên, vừa có cơ hội thực hành và có cơ hội lựa chọn.

– Cơ chế quản lý tài chính ngày càng thông thoáng và linh hoạt, chính vì vậy nhà trường đã liên kết với nhiều trường khác ở những những địa phương trên cả nước, mở các chi nhánh của nhà trưởng để thu hút sinh viên đến trường và nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên.

– Giải quyết các vấn đề tài chính ngày càng nhanh gọn, các thủ tục giấy tờ được đơn giản hóa, bộ máy quản lý cũng ngày càng hợp lý hơn giúp cho việc quản lý tài chính hiệu quả, giảm được các vụ việc sai phạm trong quản lý tài chính của nhà trường.

1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho các trường đại học thành viên của ĐHĐN

Bài học kinh nghiệm của một số trường đại học trong nước, các trường thành viên của ĐHĐN cần vận dụng những cách huy động nguồn vốn để tăng nguồn thu cho Trường, tăng cường công tác quản lý tài chính và tự chủ về tài chính, giảm bớt gánh nặng cho nguồn ngân sách của Nhà nước.

Thực tế cho thấy, thương hiệu về trí thức của một trường đại học không ngẫu nhiên mà có, nó chỉ được tạo ra khi nhà trường giải quyết được đồng thời 4 vấn đề:

– Thứ nhất, cần đa dạng hóa nguồn thu cho trường, nâng cao tính tự chủ về tài chính tránh trường hợp phụ thuộc quá nhiều vào nguồn ngân sách nhà nước.

– Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo bao gồm thư viện, phòng học, phòng thí nghiệm, nhà xưởng, trang thiết bị thực hành, thực tập phải khang trang hiện đại. Giáo trình, giáo án bài giảng phải cập nhật được những công nghệ, kiến thức mới, tương xứng với yêu cầu của các đơn vị sử dụng đào tạo.

– Thứ ba: cần phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo của nhà trường để tăng thêm nguồn thu, bên cạnh đó phải nâng cao trình độ giảng viên nhằm thu hút ngày càng nhiều lượng sinh viên đến học với trường, nâng cao thương hiệu nhà trường.

– Thứ tư, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn NSNN cấp cho Nhà trường.

Bốn vấn đề trên có sự gắn kết hữu cơ với nhau, chỉ được giải quyết một cách hiệu quả khi nhà trường có đủ nguồn lực tài chính. Đặc biệt phải có cơ chế tự chủ tài chính linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể sự huy động được tối đa các nguồn lực tham gia vào quá trình tự đổi mới, tự xây dựng thương hiệu.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã tổng hợp, phân tích, làm rõ các nội dung về lý luận quản lý nguồn thu tại các trường ĐHCL. Trong đó tác giả đã phân tích làm rõ các khái niệm liên quan đến nguồn thu, quản lý nguồn thu của các trường ĐHCL, mục tiêu và vai trò của quản lý nguồn thu của các trường ĐHCL.

Tác giả đã phân tích các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến quản lý nguồn thu của trường ĐHCL, làm rõ các công cụ trong quản lý nguồn thu. Tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho các trường đại học thành viên thuộc ĐHĐN dựa trên nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính của một số Trường ĐHCL trong nước.

CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGUỒN THU TẠI
CÁC TRƯỜNG THÀNH VIÊN CỦA ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG –
TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

2.1. Đặc điểm của Đại học Đà Nẵng và trường thành viên Đại học Ngoại Ngữ

2.1.1. Khái quát về ĐHĐN

ĐHĐN được thành lập theo Nghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các trường: Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Cơ sở Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam Đà Nẵng và Trường Công nhân Kỹ thuật Nguyễn Văn Trỗi.

Tên cơ quan: Đại học Đà Nẵng.

Tên viết tắt: UDN

Tên giao dịch quốc tế: The University of Da Nang

Trụ sở: 41 Lê Duẩn, Phường Hải Châu I, Quân Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng.

Website: http://udn.vn

Loại hình hoạt động: đơn vị sự nghiệp công lập

ĐHĐN là đại học Vùng trọng điểm quốc gia, đa lĩnh vực, đa ngành, đa cấp độ quản lý bao gồm: 06 trường ĐH thành viên (Trường ĐH Bách khoa, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Sư phạm, Trường ĐH Ngoại ngữ, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật và Trường ĐH Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt – Hàn) và 08 đơn vị đào tạo trực thuộc (Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt – Anh, Viện Công nghệ quốc tế DNIIT, Viện KH&CN Tiên tiến, Khoa Y Dược, Khoa Giáo dục Thể chất, Khoa Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Trung tâm Đào tạo Thường xuyên).

Với sứ mệnh, trọng trách được Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo tin tưởng, chỉ đạo giao triển khai đầu tư xây dựng Khu Đô thị ĐHĐN (tại Hoà Quý-Điện Ngọc) để “trở thành một trong ba trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học có uy tín, ngang tầm khu vực và thế giới”, thực hiện “Chiến lược phát triển tổng thể ĐHĐN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035”, ĐHĐN tiếp tục khẳng định chất lượng, uy tín quốc tế, đóng góp quan trọng vào tiến trình hội nhập, đổi mới GDĐH nước nhà.

ĐHĐN theo định hướng ĐH nghiên cứu, để tập trung nâng cao chất lượng, ĐHĐN giữ ổn định quy mô đào tạo hợp lý với gần 55.000 sinh viên chính quy, hơn 1000 học viên cao học, nghiên cứu sinh và 800 lưu học sinh quốc tế, bình quân mỗi năm tuyển sinh 11.300 tân sinh viên (hệ ĐH chính quy). ĐHĐN có đầy đủ các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo: 134 ngành bậc ĐH (38 chương trình tiến tiến, chất lượng cao), 46 ngành thạc sĩ, 28 ngành tiến sĩ, trong đó có 40 chương trình tiên tiến, chất lượng cao, liên kết quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho thành phố Đà Nẵng và các địa phương của khu vực miền Trung -Tây Nguyên và cả nước, đặc biệt là các ngành mũi nhọn, công nghệ cao, công nghệ nguồn, sẵn sàng cho Cách mạng Công nghiệp 4.0. Nhờ gắn kết đào tạo và việc làm, nhà trường và doanh nghiệp, chất lượng đào tạo của ĐHĐN không ngừng được nâng cao, tiếp cận chuẩn quốc tế. ĐHĐN là ĐH vùng đầu tiên của cả nước có 100% các trường ĐH thành viên đạt chuẩn chất lượng giáo dục Quốc gia từ năm 2016. Trường ĐH Bách khoa – ĐHĐN là một trong bốn trường ĐH đầu tiên của Việt Nam kiểm định, được công nhận đạt chuẩn quốc tế HCERES (Châu Âu). Tính đến năm học 2020-2021, ĐHĐN xếp thứ 03 trong cả nước về số chương trình đào tạo được kiểm định, đạt chuẩn quốc tế với 24 chương trình kiểm định, đạt chuẩn chất lượng khu vực Đông Nam Á (AUN – QA), Châu Âu (CTI).

Nhờ có tiềm lực đội ngũ và cơ sở vật chất được đầu tư đồng bộ, hiện đại, hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) của ĐHĐN được triển khai, đẩy mạnh gắn với chuyển giao, ứng dụng, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp để phục vụ cộng đồng (giai đoạn 2015-2019 đã có 24 đề tài cấp Nhà nước, 40 đề tài cấp tỉnh/thành phố, 123 đề tài cấp Bộ, 288 đề tài cấp ĐHĐN và 767 đề tài cấp trường, nhiều giải pháp hữu ích, phát minh sáng chế, trong đó có 02 đề tài được Vingroup tài trợ cao, 01 chương trình KHCN cấp Bộ); Số công trình khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế tăng nhanh (năm 2019 tăng 73% so với năm trước với gần 330 bài báo thuộc danh mục uy tín ISI, SCOPUS). Doanh thu chuyển giao KHCN bình quân đạt 40 tỷ đồng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ của ĐHĐN được vào Hệ thống trích dẫn Đông Nam Á (ACI) và được nhiều Hội đồng chức danh Giáo sư công nhận, đánh giá từ 0,5 đến 1,25 điểm (trong đó Chuyên san ICT vừa được Nasfoted đưa vào Danh mục tạp chí uy tín quốc gia). Bên cạnh tăng cường công bố quốc tế, đổi mới sáng tạo, ĐHĐN chú trọng phát triển nghiên cứu ứng dụng đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đã ký kết hợp tác với nhiều địa phương (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, KonTum…); tập đoàn, doanh nghiệp uy tín (Viettel, Thaco, EVN…). Hợp tác quốc tế là thế mạnh luôn được chú trọng trong tiến trình hội nhập GDĐH thế giới. ĐHĐN hiện có mối quan hệ hợp tác sâu rộng với hơn 200 trường đại học, tổ chức khoa học – giáo dục trên thế giới (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Úc, Nga, Hàn Quốc, Singapore…); đăng cai tổ chức nhiều sự kiện, hội thảo khoa học uy tín, tầm vóc quốc gia và quốc tế.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 1/ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGUỒN THU

Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên  Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên  Quản lý nhà nước về nguồn thu của các trường đại học thành viên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *