Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh

Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh

Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Trước sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo trở thành yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Với một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh như Việt Nam, giáo dục luôn được ưu tiên hàng đầu bởi giáo dục vừa là động lực, vừa là chìa khóa để Việt Nam hội nhập và phát triển ngày càng sâu rộng. Nghị quyết số 29/NQTW được ban hành đã đánh dấu bước đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Đổi mới được thực hiện toàn diện từ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu đến nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, nhấn mạnh đến việc đổi mới đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục đào tạo, coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực người học.

1.2. Dạy học theo mô hình trường học thông minh là một xu thế mới của giáo dục thế giới. Nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn dạy học theo mô hình mô hình trường học thông minh để đào tạo một thế hệ công dân thông minh, nhằm xây dựng quốc gia thông minh. Là mô hình trường học tiên tiến, mô hình trường học thông minh đang là xu thế mới trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Mô hình trường học thông minh là trường học có các thiết bị hiện đại như máy chủ, máy chiếu Projector, màn hình LCD, camera ghi hình cùng hệ thống Internet được kết nối đồng bộ. Việc dạy học theo mô hình trường học thông minh chính là việc giảng dạy sử dụng các phần mềm hỗ trợ học tập, phần mềm quản lý học tập để có thể giao tiếp hai chiều giữa giáo viên, học sinh và gia đình. Mô hình này đề cao tương tác của giáo viên và học sinh thông qua sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại, sự hỗ trợ của các phần mềm dạy học sẽ giúp học sinh và giáo viên rút ngắn khoảng cách trong quá trình tiếp cận bài học. Việc kiểm tra, thi cử cũng được thực hiện ngay trên máy tính hoặc thiết bị cầm tay cá nhân,… Học sinh được giảng dạy theo mô hình này sẽ được học trong môi trường trực tuyến, có sách giáo khoa điện tử và bảng tương tác, nhận được sự giúp đỡ của giáo viên, bạn bè xung quanh. Nhờ đó, các em sẽ chủ động phát triển kỹ năng học tập, tích cực hơn trong học tập.

1.3. Mô hình trường học thông minh này đã được triển khai thành công tại nhiều trường học ở Mỹ, Trung Đông và một số nước châu Âu, châu Á. Trường học thông minh tạo môi trường tốt cho giáo viên và học sinh học tập, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học. Tại Việt Nam, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chỉ thị số 2919/BDGĐT chỉ thị về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019, trong đó nhấn mạnh đến đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý nhà trường. Tuy nhiên, những yếu tố của mô hình trường học thông minh mới xuất hiện. Do vấn đề này còn khá mới mẻ nên thông tin về các nghiên cứu liên quan đến mô hình trường học thông minh ở Việt Nam chưa nhiều, còn tản mạn. Các nghiên cứu về quản lí dạy học tại các trường tư thục chất lượng cao theo mô hình trường học thông minh hầu như chưa có.

1.4. Tại Việt Nam, dạy học theo mô hình trường học thông minh ít được áp dụng tại các trường, nhất là các trường tiểu học công lập bởi yêu cầu tương tác và nội dung chương trình khá khắt khe, đòi hỏi cao. Chỉ có ít trường tư thục chất lượng cao mới đang từng bước áp dụng mô hình này trong dạy học. Hiện nay, các trường ngoài công lập huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đang thực hiện dạy học hướng tới mô hình trường học thông minh từ năm 2018. Theo đó, các trường này được đầu tư và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại như máy tính, máy projector, bảng tương tác, phần mềm dạy học,…. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, việc quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh tại các trường này vẫn gặp khá nhiều khó khăn, bất cập.

Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh” làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn tìm hiểu thực trạng quản lý dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh.

2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp quản lí dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dạy học nâng cao chất lượng, uy tín, sự hấp dẫn của các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập theo mô hình trường học thông minh.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lí dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh.

4. Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh được đưa ra phù hợp với đặc thù các trường, phù hợp với bối cảnh giáo dục hiện tại và có tính khả thi thì chúng sẽ tác động tích cực đến việc tăng cường hiệu quả quản lý và nâng cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh
Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Xác định cơ sở lí luận của quản lý dạy học ở các trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh.

– Đánh giá thực trạng quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh.

– Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh.

– Tổ chức đánh giá sự cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất bằng phương pháp chuyên gia.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

– Khảo sát thực trạng được thực hiện tại các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

– Thời gian điều tra số liệu: 2 năm gần đây, 2018 và 2019.

– Chủ thể quản lý là hiệu trưởng nhà trường.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Các phương pháp nghiên cứu lí luận

– Nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Quan sát cách tổ chức quản lý dạy học ở nhà trường, hoạt động dạy học của giáo viên, cách học của học sinh nhằm làm rõ thực trạng các biện pháp quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh và tác động của các biện pháp quản lý đó tới kết quả học tập của học sinh.

– Điều tra, khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh của trường về thực trạng quản lý dạy học cho học sinh tiểu học theo mô hình trường học thông minh, từ đó đề xuất các biện pháp giúp tăng cường hiệu quả quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh

7.3. Các phương pháp khác

– Phương pháp tổng hợp, thống kê số liệu: Nhằm tổng hợp, thống kê các số liệu thu thập được để làm rõ thực trạng quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh.

– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động dạy học.

– Phương pháp xử lý số liệu: Nhằm xử lý, phân tích các số liệu thu thập được.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có cấu trúc 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh

Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh

Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh

Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Dạy học

Theo nghĩa rộng, dạy học là một hình thức đặc biệt của giáo dục và được coi là một trường hợp riêng của giáo dục [23]. Dạy học là con đường đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với các con đường, hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu mà giáo dục đề ra.

Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp, nhằm giúp người học hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng [23].

Bao hàm trong dạy học là sự học và sự dạy. Hai quá trình này gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là giảng dạy mà còn là tổ chức, chỉ đạo, điều khiến sự học.

Theo Nguyễn Văn Hộ, dạy học “là con đường tối ưu nhất giúp cho người học tiếp cận, nắm vững kinh nghiệm xã hội được phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích lũy với sự tham gia điều chỉnh hợp lý về mặt tổ chức trong những khoảng thời gian xác định họ đạt với mục đích do nhu cầu xã hội đặt ra với từng trình độ nhận thức tương ứng” [14, tr.95].

Dạy học là “phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc phát triển hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ của người học” [13, tr.96].

Như vậy, dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học.

1.2.2. Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là một quá trình bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng nhận thức và thực hành [11]. Nói cách khác, hoạt động dạy học là quá trình vận động kết hợp giữa hai hoạt động đó là hoạt động dạy và hoạt động học nhằm đạt được nhiệm vụ của dạy học.

Từ cách tiếp cận hệ thống, hoạt động dạy học là một hệ thống tương tác chặt chẽ với nhau giữa các thành tố bên trong hệ thống như mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học và tương tác chặt chẽ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội bên ngoài nó. Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, mục đích dạy học, từ đó giúp việc dạy học được nâng cao chất lượng và hiệu quả. Như vậy, hoạt động dạy học là một hệ thống “động”, luôn tương tác với môi trường và hoạt động này sẽ thay đổi nếu môi trường thay đổi để đảm bảo thực hiện các chức năng của nó một cách tốt nhất

[11].

Như vậy, hoạt động dạy học, xét về bản chất, thể hiện sự thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học. Hai hoạt động này có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Dạy học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy và trò. Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên và chủ thể của hoạt động học là học sinh. Quá trình vận động tích cực, sáng tạo của chủ thể này làm chủ thể kia ngày càng hoàn thiện mình hơn qua việc soi mình vào chủ thể kia, nhận phản hồi từ chủ thể kia để điều chỉnh. Hoạt động dạy của thầy và trò nếu phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp sẽ phát huy tối đa khả năng sáng tạo của học sinh và học sinh sẽ ngày càng trưởng thành hơn [13]. Người thầy có sứ mệnh là khơi dậy, phát huy tối đa tiềm năng của người học thông qua thiết kế, tổ chức các hoạt động học một cách hợp lý và luôn quan sát, thu thập thông tin phản hồi từ người học để có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp.

1.2.3. Quản lý

Mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra các quan niệm khác nhau về quản lý. Một số khái niệm tiêu biểu về quản lý như sau:

Theo Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), cha đẻ của thuyết Khoa học quản lý, quản lý là “biết được điều bạn muốn biết người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [dẫn qua 10, tr.29].

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [17, tr.34].

Theo Đặng Quốc Bảo, “công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên quan chặt chẽ với nhau “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ trạng thái ổn định. Quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ, đưa hệ vào thế phát triển”. [1, tr.34].

Với các quan niệm trên, các nhà khoa học đều thống nhất khái niệm quản lý được cấu thành bởi hai bộ phận chính có quan hệ mật thiết với nhau, đó là bộ phận quản lý (chủ thể quản lý có chức năng điều khiển hệ quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra) và bộ phận bị quản lý (khách thể quản lý hoạt động dưới sự điều hành của chủ thể quản lý, bao gồm lực lượng lao động và quá trình sản xuất.

Từ các phân tích trên, có thể kết luận, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể thông qua các phương pháp, công cụ quản lý nhằm sử dụng các nguồn lực của tổ chức một cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu đề ra.

1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Xét về bản chất, quản lý hoạt động dạy học là quản lí quá trình truyền thụ tri thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy học của cán bộ quản lý trong nhà trường [15].

Quản lý hoạt động dạy học nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và kết quả đạt được ở học sinh với sự phát triển toàn diện các mặt đức, trí, thể, mỹ đã quy định rõ trong mục tiêu dạy học. Nói cách khác, mục tiêu của quản lý hoạt động dạy học là đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định và đảm bảo hoạt động dạy học đạt kết quả cao.

1.2.5. Trường học thông minh

Trường học thông minh là một cơ sở giáo dục áp dụng các quy trình giảng dạy và thực hành quản lý giáo dục nhằm thúc đẩy những thay đổi mang tính hệ thống nhằm cho phép người học vượt qua những thách thức do kỷ nguyên công nghệ thông tin đặt ra [32].

Trường học thông minh được coi là mô hình chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, quản trị trường học. Theo đó, trường học thông minh sẽ sử dụng nhiều thiết bị giảng dạy tiên tiến, hiện đại như phòng học chung, phòng học ngoại ngữ, phòng học đa phương tiện, phòng thực hành, thí nghiệm,… Tất cả các phòng học này đều hướng đến việc tăng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh. Do đó, tất cả các phòng đều được trang bị các thiết bị hỗ trợ người dạy và học như bảng tương tác, máy chiếu, máy tính xách tay, máy tính bảng,… Toàn bộ các thiết bị trên được kết nối thông qua hệ thống phần mềm quản lý và phần mềm giảng dạy. Bằng cách áp dụng mô hình trường học thông minh, Ban giám hiệu nhà trường sẽ quản lý, kiểm tra chặt chẽ được chất lượng dạy và học của học sinh và giáo viên. Hơn nữa, có thể ứng dụng mô hình trường học thông minh vào đào tạo giáo viên, họp trực tuyến, kết nối với hệ thống các chương trình quản lý thông minh. Giáo viên cũng quản lý được năng lực, quá trình học tập của từng học sinh cụ thể và toàn diện hơn.

Trường học thông minh đã được đổi mới một cách có hệ thống về thực hành dạy và học và quản lý trường học để chuẩn bị cho học sinh bước vào thời đại thông tin. Trong thời đại thông tin, một trường học thông minh sẽ phát triển theo thời gian, liên tục phát triển đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, các nguồn lực giáo dục và khả năng quản trị của mình để thích ứng với điều kiện thay đổi, đồng thời tiếp tục chuẩn bị cho học sinh cho cuộc sống tương lai của mình [27].

Trường học thông minh sẽ tìm cách làm cho việc học trở nên thú vị hơn, tạo động lực, kích thích và ý nghĩa hơn. Các trường học thông minh đang sử dụng kết hợp các chiến lược học tập thích hợp để đảm bảo việc nắm vững các năng lực cơ bản và thúc đẩy sự phát triển toàn diện, phù hợp với các phong cách học tập khác nhau của cá nhân, để tăng hiệu suất và thúc đẩy bầu không khí lớp học tương thích với các chiến lược dạy-học khác nhau. Phương pháp sư phạm trường học thông minh sẽ tìm cách làm cho việc học trở nên thú vị hơn, tạo động lực, kích thích và ý nghĩa hơn cho học sinh. Nó cũng liên quan đến tâm trí, tinh thần và cơ thể của học sinh trong quá trình học tập [28].

Trường học thông minh là bước tiến vượt bậc cho phương pháp học tập ảo và học trực tuyến và các phương pháp tương tự là những phương pháp học tập hiện đại trong thế kỷ này [26].

Như vậy, trường học thông minh có những điểm khác biệt so với trường học thông thường ở những điểm sau:

Bảng 1.1: So sánh đặc điểm trường học thông minh và trường học bình thường (phổ biến hiện nay)

Tiêu chí so sánhTrường học bình thường (phổ biến hiện nay)Trường học thông minh
Chiến lược so sánhChưa có mục tiêu phát triển trường học thông minhMục tiêu phát triển thành trường học thông minh
Chương trình giảng dạy– Đóng khung, thiếu linh hoạt; ít có cơ hội giáo dục cá nhân

– Nội dung chưa tập trung vào phát triển các kĩ năng STEM

– Mở, linh hoạt, lấy sự phát triển người học làm trung tâm; ưu thế giáo dục phù hợp từng cá nhân người học.

– Nội dung tập trung các kĩ năng STEM, mở rộng và không giới hạn

Lãnh đạo và quản lý– Mang tính hành chính cao.

– Ít hoặc chưa có ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động quản lí.

– Ít hoặc chưa có điều kiện hỗ trợ GV, HS tiếp cận và sử dụng công nghệ thông minh.

– Phát triển năng lực lãnh đạo, quản lí trường học truyền thống.

– Trao quyền và khuyến khích tự chủ.

– Quản lí hiệu quả dựa trên nền tảng các ứng dụng các công nghệ hiện đại.

– Hỗ trợ tích cực giáo viên, học sinh tiếp cận và sử dụng tối ưu các nguồn lực, công nghệ thông minh.

– Phát triển năng lực lãnh đạo, quản lí môi trường giáo dục thông minh.

Giáo viên– Chưa có cam kết giảng dạy thông minh.

– Ít hoặc chưa có các phần mềm, thiết bị công nghệ thông minh hỗ trợ dạy học.

– Quản lí, giáo dục học sinh theo phương thức truyền thống.

– Phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm trong môi trường lớp học truyền thống.

– Cam kết về chiến lược giảng dạy thông minh phù hợp với từng cá nhân người học.

– Ứng dụng đa dạng các phần mềm, các thiết bị công nghệ thông minh trong dạy học.

– Thực hiện vai trò là nhà quản lí, nhà giáo dục, nhà tư vấn dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại; đề cao vai trò quản lí môi trường giáo dục.

– Bên cạnh năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, chú trọng phát triển năng lực CNTT-TT, năng lực tư vấn, hỗ trợ học tập thông minh.

Người học– Chưa phát triển học tập tự định hướng

– Học theo hướng dẫn và tiến độ bài học của giáo viên theo chương trình chung.

– Ít hoặc không có sự hỗ trợ, không bắt buộc sử dụng công nghệ đa phương tiện trong học tập.

– Cơ hội học tập hạn chế.

– Học tập tự định hướng phù hợp năng lực và đặc điểm của cá nhân người học.

– Tự tiếp cận với các tài liệu, tài nguyên học tập và tự học.

– Sử dụng các công nghệ đa phương tiện là bắt buộc để học tập.

– Cơ hội học tập mở rộng.

Đánh giá và giám sát trường học– Đánh giá tập trung một số khía cạnh nổi bật tương ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường.

– Giám sát chưa đáp ứng tiêu chí toàn diện, đa chiều, công khai

– Đánh giá khách quan và toàn diện trên nền tảng công nghệ thông minh.

– Giám sát đa chiều, toàn diện, công khai. Thông tin giám sát là một tiêu chí đánh giá nhà trường.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dụcÍt hoặc chưa có các thiết bị công nghệ thông minh– Các thiết bị công nghệ thông minh đa dạng, đồng bộ dựa trên nền tảng ICT (bảng thông minh, bục giảng thông minh, máy chiếu, máy tính bảng,..); hệ thống camera giám sát; hệ thống công nghệ giám sát trường học, kết nối Internet băng thông rộng…

– Cơ sở dữ liệu, tài nguyên học tập mở, phong phú

Nguồn: Vũ Thị Thúy Hằng (2018) [12]

Một số mô hình trường học thông minh được giới thiệu gồm:

– Mô hình trường học thông minh của Colleen & Vladimir (2018)

  1. Hình 1.1: Mô hình trường học thông minh của Colleen & Vladimir

Nguồn: Colleen & Vladimir Usnicow (2018) [24]

– Mô hình trường học thông minh của Đinh Thị Ngọc Tâm như sau:

  1. Hình 1.2: Mô hình trường học thông minh của Đinh Thị Ngọc Tâm

Nguồn: Đinh Thị Ngọc Tâm (2019) [22]

Theo mô hình trên, trường học thông minh 6i gồm 6 nhân tố đó là quản lý, điều hành, học tập, môi trường, sức khỏe và cộng đồng.

Về cơ bản, hai mô hình trên đều giống nhau, đều cần sự có mặt của các cơ sở hạ tầng ứng dụng CNTT. Tuy nhiên, mô hình 1 phù hợp với môi trường giáo dục nước ngoài bởi cơ sở hạ tầng được đầu tư trên quy mô lớn. Mô hình 2 phù hợp với môi trường giáo dục Việt Nam và đây là mô hình mà tác giả sẽ lựa chọn sử dụng trong nghiên cứu này. Theo mô hình 2 này, mô hình trường học thông minh phải gồm các hạng mục đó là hạ tầng CNTT; phòng học tiên tiến với đầy đủ trang thiết bị hiện đại như máy tính nối mạng, bảng tương tác…; phòng tin học, ngoại ngữ, thi trắc nghiệm; thiết bị thực hành thí nghiệm; phòng thư viện; phòng học theo phương pháp STEM; phòng họp và môi trường đào tạo trực tuyến; hệ thống camera giám sát; hệ thống thông tin giáo dục của nhà trường; hệ thống thông tin quản lý giáo dục… Trường học thông minh sẽ hoạt động trên nền tảng ứng dụng CNTT và truyền thống trong việc quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động giáo dục; đồng thời xây dựng môi trường tương tác trên không gian mạng giữa nhà trường – gia đình – xã hội.

Việc xây dựng các lớp học thông minh cũng không làm thay đổi vai trò trung tâm của người học. Với mô hình dạy học sáng tạo trong giáo dục thông minh, hệ thống giáo dục 4.0 hướng đến người học làm trọng tâm với các mô hình giảng dạy, học tập linh hoạt; còn với mô hình giáo dục thực tế ảo lại giúp người học cảm nhận không gian mô phỏng một cách chân thực nhờ kính nhìn 3 chiều (kính thực tế ảo). Môi trường 3D ảo được tạo ra và điều khiển bởi một hệ thống máy tính; đặc biệt một số hệ thống còn cho phép mô phỏng âm thanh, mùi vị chân thực, cho phép người học tiếp cận thông tin một cách trực quan, tập trung cao độ và có thể tương tác, sáng tạo.

  1. Hình 1.3: Mô hình dịch chuyển từ giáo dục truyền thống sang giáo dục thông minh

Nguồn: Trần Văn Long, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Ngọc Anh (2018) [18]

Ngoài việc vừa học vừa tương tác, giá trị lớn nhất học sinh đạt được là cảm thấy thích thú, thoải mái trong học tập. Hệ thống ứng dụng học trực tuyến, học trên thiết bị di động giúp học sinh có thể học ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào; đồng thời việc áp dụng mô hình quản lý người học cũng theo phương thức hiện đại, các cơ sở dữ liệu lớn được kết nối để đánh giá kết quả đầu ra.

Mô hình trường học thông minh với những bước đi đầu tiên đang dần hiện thực hoá những thuận tiện này. Các em sẽ có thời gian hình thành và rèn luyện những phẩm chất cần thiết như kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng làm việc nhóm… để trở thành một công dân toàn cầu.

Việt Nam đã có nhiều cơ hội phát triển mô hình trường học thông minh. Hiện nay, nhiều tỉnh đã xây dựng đề án hoặc đang thí điểm triển khai mô hình này như Hà Nội, Thanh Hóa, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, … Từ những nghiên cứu về trường học thông minh và thực tiễn thành công chuyển đổi, phát triển trường học thông minh của một số nước trên thế giới, chúng tôi lựa chọn mô hình trường học thông minh 6i của Đinh Thị Ngọc Tâm đó là quản lý, điều hành, học tập, môi trường, sức khỏe và cộng đồng.

1.3. Hoạt động dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh

1.3.1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của nhà trường tiểu học

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp tiểu học được xếp vào giáo dục phổ thông, cùng với cấp trung học (trung học cơ sở và trung học phổ thông). Luật giáo dục quy định giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi.

Theo Điều 2, Điều lệ trường tiểu học, vị trí của trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân, trường tiểu học là “cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng” [6].

Trường tiểu học có nhiệm vụ đó là:

– Tổ chức giảng dạy, học tập và giáo dục đạt chất lượng đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

– Thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tại địa hương. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động, tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đến trường.

– Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

– Triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện lựa chọn sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; triển khai thực hiện sách giáo khoa và nội dung giáo dục của địa phương theo quyết định của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thực hiện tự chủ chuyên môn trong tổ chức các hoạt động giáo dục tại trường tiểu học.

– Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục. Tổ chức cho giáo viên, người lao động và học sinh tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương.

– Xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục trong nhà trường, tham gia xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục ở địa phương.

1.3.2. Mục tiêu hoạt động dạy học ở trường tiểu học

Mục tiêu của hoạt động dạy học ở các trường tiểu học được cụ thể hóa thành mục tiêu dạy các môn học trong chương trình tiểu học. Đặc biệt, mục tiêu của hoạt động dạy học ở các trường tiểu học đã cụ thể hóa thành các yêu cầu cơ bản cần đạt của HS tiểu học gồm các yêu cầu cơ bản về kỹ năng, kiến thức, thói quen, niềm tin, thái độ, hành vi, định hướng,… Các yêu cầu cơ bản này lại phân định thành các mức độ phù hợp với từng lớp ở bậc tiểu học.

Từ mục tiêu này, sau khi hoàn thành bậc tiểu học, HS phải đạt các yêu cầu sau:

– Có kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, con người và thẩm mỹ, có khả năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.

– Biết cách học tập, biết tự phục vụ, biết sử dụng một số đồ dùng trong gia đình và công cụ lao động bình thường; biết vận dụng và làm một số việc như giúp đỡ gia đình,..,

– Có lòng nhân ái, mang nặng bản sắc con người Việt Nam: yêu quê hương, đất nước, hòa bình và công bằng, bác ái, kính trên, nhường dưới, đoàn kết và sẵn sàng hợp tác với mọi người; có ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, bạn bè, cộng đồng, môi trường sống; tôn trọng và thực hiện pháp luật, các quy định của nhà trường, nơi công cộng, sống hồn nhiên, tự tin, trung thực.

1.3.3. Nội dung hoạt động dạy học ở trường tiểu học

Hoạt động dạy học ở trường tiểu học gồm các nội dung sau:

1.3.3.1. Hoạt động dạy của giáo viên

Hoạt động dạy học của giáo viên gồm:

– Xác định mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy học ở trường tiểu học phải gắn liền với mục tiêu giáo dục nói chung. Mục tiêu của dạy học là thực hiện hoạt động cung cấp kiến thức, kỹ năng cho HS, đảm bảo cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.

– Am hiểu và thực hiện đúng chương trình dạy học

Nội dung chương trình dạy học được thực hiện theo Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã được thực hiện từ cấp tiểu học, trung học cơ sở và lớp 10 của trung học phổ thông. Quá trình đó đã đạt được những kết quả đáng mừng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện với chương trình sách giáo khoa mới. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới kinh tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa Việt Nam ngày càng phát triển nên yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục phổ thông, làm cơ sở để tạo nguồn lực chất lượng cao, phát huy chất lượng lao động lại càng được chú trọng. Hiện nay, chương trình giáo dục phổ thông đã có các quy định cụ thể về chuẩn kiến thức kỹ năng và các yêu cầu về thái độ đối với HS.

Chương trình giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng phải đảm bảo các yêu cầu đó là thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; đảm bảo quy định yêu cầu về phẩm chất, năng lực của HS.

– Lập kế hoạch dạy học

Dạy học là hoạt động cơ bản, trung tâm của nhà trường nên kế hoạch dạy học đóng vai trò vô cùng quan trọng. Việc quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả hay không phụ thuộc vào kế hoạch dạy học. Kế hoạch dạy học là bản thiết kế cụ thể cho hoạt động dạy học của nhà trường dựa trên những thông tin về chế định GD&ĐT, bộ máy tổ chức, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và môi trường dạy học của nhà trường. Nó bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện và điều kiện hỗ trợ cần thiết trong quá trình dạy học.

Kế hoạch dạy học ở trường tiểu học gồm kế hoạch năm học của trường do Ban giám hiệu xây dựng; kế hoạch chung của tổ chuyên môn và kế hoạch cá nhân của từng GV.

Việc lập kế hoạch dạy học muốn hiệu quả phải dựa vào các căn cứ như điều tra cơ bản, dự báo các số liệu, dự kiến mục tiêu và các chỉ tiêu cần đạt được, đề ra biện pháp thực hiện.

– Nắm vững nội dung môn học

Nội dung môn học phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở cấp tiểu học.

Đối với giáo dục tiểu học, nội dung môn học bước đầu hình thành nên nền tảng kiến thức, kỹ năng, thái độ cho các em để làm cơ sở cho các cấp học sau. Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật.

– Sử dụng phương pháp dạy học hợp lý

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, GV phải hiểu rõ đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng các phương pháp dạy học hợp lý để tổ chức quá trình dạy học, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS; dạy cho HS phương pháp học tập; phát huy tốt các trụ cột của việc học, giúp HS có khả năng tự học, tự làm chủ kiến thức để học tập suốt đời. GV phải biết vận dụng và kết hợp nhiều phương pháp dạy trong một giờ dạy phù hợp với đặc trưng môn học và kiểu bài lên lớp, phù hợp với đối tượng HS và điều kiện dạy học. Để áp dụng phương pháp dạy học phù hợp, GV phải thực hiện dạy học phân hóa, đảm bảo tiếp cận tiếp cận mọi đối tượng HS, giúp các em đạt được chuẩn kiến thức và phát huy tối đa năng lực của HS.

1.3.3.2. Hoạt động học của học sinh

Hoạt động học hay học tập của học sinh là việc nghiên cứu các môn học hay các kỹ năng mà học sinh có ý định nắm vững như số học, ngoại ngữ, văn học, mỹ thuật, hóa học,… Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định nhằm phát triển nhân cách của chính học sinh.

Hoạt động học của học sinh gồm 4 nội dung sau:

– Nhận thức, ý thức được tinh thần học tập theo mô hình THTM

– Học tập ở lớp và ở nhà đều theo phương pháp tích cực, chủ động

– Có khả năng sử dụng mạng và các thiết bị học tập khác để học tập

– Học sinh có thể đánh giá được mức độ tiếp thu kiến thức theo mô hình THTM.

1.3.3.3. Điều kiện cho dạy và học

Điều kiện và phương tiện dạy học là tất cả những gì được sử dụng để tiến hành công việc, được cảm nhận bằng giác quan, nhưng không phải bằng tư duy. Phương tiện dạy học được giáo viên và HS sử dụng trong quá trình dạy học để đạt được mục đích đã hướng dẫn trong các điều kiện sư phạm.

Dù GV thực hiện phương pháp dạy học truyền thống hay hiện đại đều rất cần sự có mặt của điều kiện và phương tiện dạy học. Đối với phương pháp dạy học truyền thống, điều kiện và phương tiện dạy học gồm lớp học, bàn ghế, cơ sở vật chất lớp học, trang thiết bị dạy học như bảng, phấn, bút viết, sách giáo khoa, sách tham khảo,… Đối với phương pháp dạy học hiện đại, nhất là các trường đang hướng việc dạy và học theo mô hình trường học thông minh, điều kiện và phương tiện dạy học ngoài những thiết bị dạy học cơ bản như phương pháp dạy học truyền thống, còn cần các phương tiện như máy tính, máy chiếu, micro, đồ dùng thí nghiệm, mạng Internet,… Đây là những điều kiện căn bản để giúp tiết học thành công và tăng khả năng chủ động học tập của HS, từ đó nâng cao chất lượng dạy học.

1.3.3.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Việc đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ dựa vào kết quả học tập mà cần chú ý đến cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực, không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng vào khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.

Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau như kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết, bài tập thực hành; giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan; giữa đánh giá bằng điểm số và đánh giá bằng nhận xét,…

GV đánh giá HS phải dựa vào văn bản mang tính pháp quy của Bộ GD&ĐT, quy định đánh giá, xếp loại HS tiểu học, yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng do Bộ GD&ĐT quy định và phù hợp với từng môn học.

1.3.4. Dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh

Dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh là việc vận dụng những tiêu chí của trường học thông minh vào hoạt động dạy học. Để đảm bảo dạy học theo mô hình trường học thông minh, các trường phải có các lớp học thông minh. Các lớp học này phải được tích hợp đầy đủ các công cụ dạy và học, được kết nối với các thiết bị như máy vi tính, màn hình tương tác, bục giảng thông minh, hệ thống âm thanh, máy chiếu vật thể,… máy tính được tích hợp đầy đủ dữ liệu cần thiết như phần mềm quản lý, phần mềm hỗ trợ BGH quản lý hoạt động dạy và học, phần mềm giúp cho giáo viên thực hiện tổ chức toàn bộ quá trình dạy và học trong một giờ dạy, các thiết bị tích hợp trong phòng học sách giáo khoa điện tử, giáo trình điện tử bộ môn theo đúng sách giáo khoa chuẩn của Bộ GD&ĐT.

Việc dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh nhằm mục đích hướng tới sự linh hoạt, thích ứng, hiện đại và phát triển liên tục, cân bằng động với sự phát triển của công nghệ. Trường học thông minh phải có đầy đủ các yếu tố là sư phạm thông minh, học tập thông minh và môi trường giáo dục thông minh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, các thiết bị công nghệ thông tin sâu rộng là vô cùng cần thiết trong hoạt động dạy học bởi giúp tăng tương tác, mở rộng kết nối, nâng cao chất lượng dạy và học, tăng hiệu quả quản lý nhà trường.

Với mô hình trường học thông minh, học sinh được phát triển toàn diện về cả kiến thức, kỹ năng. Học sinh buộc phải sử dụng các công nghệ đa phương tiện để học tập, học sinh tự tiếp cận các tài liệu, tài nguyên học tập và phát huy tinh thần tự học, tự tiếp thu kiến thức của các em.

Việc dạy học theo mô hình trường học thông minh còn giúp các em được tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường nhiều hơn, từ đó giúp các em phát triển nhận thức, quan tâm rèn luyện, phát triển các năng lực như năng lực tự quản, năng lực hợp tác, năng lực quản lý, năng lực tự giải quyết các vấn đề có tính phức hợp, gắn liền với tình huống thực tế cuộc sống.

Tuy nhiên, để việc dạy học ở trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh, cần sự phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội, giữa nhà trường với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh và phụ huynh học sinh.

1.4. Quản lý dạy học ở các trường Tiểu học theo mô hình trường học thông minh

1.4.1. Nguyên tắc quản lý dạy học ở trường Tiểu học theo mô hình trường học thông minh

Quản lý dạy học ở các trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

– Lấy học sinh và quá trình học tập của học sinh làm xuất phát điểm của mọi quyết định quản lý [16]

Nguyên tắc này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, người học tự chọn nội dung học tập, tự tìm tòi nghiên cứu, tự tiếp thu, lĩnh hội kiến thức. Theo đó, bên cạnh xu hướng truyền thống là thiết kế chương trình giảng dạy lấy logic nội dung môn học làm trung tâm, cần phát triển mạnh xu hướng thiết kế chương trình học tập lấy nhu cầu, lợi ích của người học làm trung tâm.

– Nội dung giáo dục đảm bảo cơ bản, cốt lõi, hiện đại [16]

Nội dung giáo dục ôm đồm quá nhiều sẽ khiến không thực tế, nặng nề, quá tải và người học không phát huy được năng lực sáng tạo, năng lực tự học. Xã hội ngày càng phát triển, chỉ có con đường tự học và sáng tạo mới giúp con người lĩnh hội được toàn bộ tri thức của nhân loại và thích ứng được với những biến đổi nhanh chóng của xã hội. Do đó, kiến thức trong nội dung chương trình giáo dục cần lựa chọn những nội dung cơ bản, cốt lõi để làm cơ sở hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực. Kế hoạch giáo dục cần đẩy mạnh việc thực hành để giúp học sinh hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu sáng tạo, biết phát triển những kiến thức cơ bản, cốt lõi từ hoạt động thực tiễn.

– Sử dụng công nghệ thông minh trong dạy học và quản lý dạy học

Để đảm bảo tính hiện đại, chính xác, khoa học trong dạy học và quản lý dạy học, việc sử dụng công nghệ thông minh trong dạy học và quản lý dạy học là một trong những nguyên tắc cơ bản, đảm bảo GV và HS được tiếp cận hoạt động dạy học qua các công nghệ thông minh. GV phải biết cách sử dụng các công nghệ thông minh, ngày càng nâng cao trình độ công nghệ thông tin của mình và HS cũng làm quen dần với các công nghệ thông minh, chủ động lĩnh hội và làm chủ công nghệ. Nhờ đó, hiệu quả giảng dạy sẽ được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu dạy học của trường học thông minh.

– Quản lý phương pháp dạy học phù hợp với mô hình trường học thông minh

Mô hình trường học thông minh sẽ yêu cầu các phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá khác biệt, hiện đại, sử dụng công nghệ thông tin. Do đó, để việc quản lý dạy học được hiệu quả, theo đúng yêu cầu của mô hình trường học thông minh, các trường phải sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với mô hình trường học thông minh, các phương pháp tăng tính chủ động, tự giác cho HS, giúp HS phát triển toàn diện năng lực của mình và đạt được các mục tiêu dạy học của trường học thông minh.

– Tổ chức tốt những hoạt động trải nghiệm cho học sinh [16]

Hoạt động trải nghiệm sẽ giúp các em hình thành, phát triển các giá trị, kỹ năng sống phù hợp, đặc biệt là HS tiểu học. Theo Bộ GD&ĐT, hoạt động trải nghiệm là “hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thể hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai” [9]. Các trường tiểu học thông minh đang tăng cường hoạt động này để tạo hứng thú cho HS, giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ, toàn diện. Do hoạt động trải nghiệm cần các trang thiết bị dạy học cũng như điều kiện dạy học tốt nên không phải trường học nào cũng đủ điều kiện để tổ chức.

1.4.2. Nội dung quản lý dạy học ở các trường Tiểu học theo mô hình trường học thông minh

1.4.2.1. Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình dạy học theo mô hình trường học thông minh

Quản lý mục tiêu, chương trình dạy học là nhiệm vụ trong quản lý hoạt động dạy học trong các trường tiểu học. Đây là hoạt động đầu tiên, đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi nó có vai trò định hướng cho sự vận động, phát triển của các thành tố nói riêng và quá trình dạy học nói chung. Việc bám sát mục tiêu để đảm bảo trang bị cho học sinh những tri thức, khoa học cơ bản, phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh theo mô hình trường học thông minh [8]. Đó chính là lý do mà chủ thể quản lý hoạt động dạy học phải chỉ đạo sâu sát, triệt để để xác định đúng mục tiêu, xây dựng chương trình, định hướng phương hướng dạy học và giáo dục.

Nội dung dạy học quy định nội dung cơ bản cho hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, cùng quy định nội dung dạy học và chịu sự chi phối của mục tiêu, chương trình và phương pháp dạy học. Ngược lại, nội dung dạy học trực tiếp làm cho mục tiêu, chương trình được hiện thực hóa. Nội dung dạy học thể hiện cụ thể qua việc giáo viên chuẩn bị kế hoạch, kịch bản, giáo án chi tiết, quy định việc lựa chọn, vận dụng phối hợp các chương trình, phương tiện dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học trong nhà trường [8]. Đối với chủ thể quản lý, nội dung dạy học là cơ sở để chủ thể quản lý thiết kế, kế hoạch hóa dạy học một cách cụ thể. Đặc biệt khi dạy học theo mô hình trường học thông minh, mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học đòi hỏi cao hơn, cần cụ thể, rõ ràng, đo lường được, sử dụng nhiều phương pháp phù hợp trong trường học, lớp học thông minh và nội dung giảng dạy cũng có nhiều nét đặc thù hơn do đó, việc quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học lại càng cần phải chú trọng hơn.

1.4.2.2. Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên theo mô hình trường học thông minh

Khi giảng dạy theo mô hình trường học thông minh, phương pháp dạy học cần đổi mới hoàn toàn để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội và nhà trường. Việc thực hiện công tác đổi mới này chính là thực hiện một quá trình thay đổi. Quá trình này có thành công và đạt được các kết quả mong đợi hay không phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý của nhà quản lý [10]. Do đó, phải đổi mới quản lý để quản lý sự thay đổi. Trong đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là theo mô hình trường học thông minh, giáo viên và học sinh là những chủ thể có vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy học cũng như sự thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học, tập trung nhiều đến chủ thể người học. Do đó, quản lý đổi mới phương pháp dạy học tập trung vào quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên và quản lý hoạt động học tập của học sinh.

Tại trường tiểu học, quản lý hoạt động dạy học theo mô hình trường học thông minh là hoạt động quản lý của chủ thể quản lý nhằm triển khai xây dựng mục tiêu, kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học các môn học theo mục tiêu. Về cơ bản, quản lý hoạt động dạy học của giáo viên tại trường học theo mô hình trường học thông minh tương tự như trường học bình thường. Việc quản lý hoạt động dạy của giáo viên tập trung vào các vấn đề cơ bản sau [8]:

– Quản lý xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình dạy học bám sát vào yêu cầu dạy học theo mô hình trường học thông minh

Trong đổi mới phương pháp dạy học, vấn đề quan trọng nhất là hiệu trưởng cần phổ biến, tác động trực tiếp đến từng giáo viên về những vấn đề cơ bản. Ngoài ra, hiệu trưởng phải hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch để giúp giáo viên biết cách xác định mục tiêu đúng đắn và biết tìm ta các biện pháp để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

– Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp theo mô hình trường học thông minh

Soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp là hoạt động sáng tạo của người giáo viên để tìm tòi, suy nghĩ, quyết định mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ), nội dung, phương tiện, phương pháp, hình thức lên lớp,… của bài học để phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau. Tại trường học theo mô hình trường học thông minh, bài giảng cần chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, cần sự hỗ trợ của nhiều phương tiện dạy học, phần mềm dạy học.

– Quản lý giờ lên lớp của giáo viên theo mô hình trường học thông minh

Giờ lên lớp của giáo viên thể hiện năng lực, kinh nghiệm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, sử dụng phương tiện, đồ dùng, phương pháp dạy học; nghệ thuật sư phạm trong giảng dạy, giao tiếp, xử lý tình huống theo giáo án và bất ngờ phát sinh,… [9]. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học. Hiệu trưởng theo dõi tình hình chất lượng dạy học qua thời khóa biểu, kế hoạch giảng dạy của giáo viên, thường xuyên dự giờ và dự giờ đột xuất để góp ý giờ dạy một cách cụ thể theo hướng đổi mới phương pháp dạy học.

1.4.2.3. Quản lý hoạt động học tập của học sinh theo mô hình trường học thông minh

Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh theo mô hình trường học thông minh gồm các nội dung sau:

– Xây dựng nhận thức về ý nghĩa của việc học tập cho học sinh theo mô hình trường học thông minh

Những yêu cầu về giáo dục tinh thần, thái độ học tập cho học sinh được cụ thể hóa trong “Quy định đối với học sinh tại trường của nhà trường”. Với mô hình trường học thông minh, học sinh có nhiều cơ hội chủ động học tập, chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến thức nên càng cần có sự thống nhất về yêu cầu, biện pháp giáo dục tinh thần, thái độ học tập cho học sinh từ giờ lên lớp tới các hoạt động khác [16]. Chủ thể quản lý (giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các lực lượng khác) trong toàn trường cần phối hợp chặt chẽ, thống nhất giáo dục. Dạy học theo mô hình trường học thông minh sẽ tăng khả năng chủ động học tập, đề ra những quy định thống nhất về hoạt động học tập, xây dựng tác phong học tập tốt cho học sinh, ngăn ngừa những hành vi sai trái.

– Quản lý kế hoạch học tập theo mô hình trường học thông minh

Các tổ bộ môn cần theo dõi, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đôn đốc thực hiện kế hoạch và chương trình học tập theo thời khóa biểu và các quy định về nhiệm vụ học tập của học sinh [8].

Kiểm tra theo dõi kế hoạch tự học ở nhà của học sinh.

Như vậy, quản lý kế hoạch học tập của học sinh càng chặt chẽ, hiệu quả học tập càng được nâng cao.

– Quản lý phương pháp học tập theo mô hình trường học thông minh

Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung học tập. Các phương pháp học tập như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, quy nạp, diễn dịch, sơ đồ, ký hiệu,… đều có những đặc điểm chung mà người học cần tập trung nghiên cứu, thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh các phương pháp học chung, tùy từng môn học khác nhau mà có những phương pháp đặc thù [8].

Quản lý phương pháp học tập của học sinh chủ yếu thông qua giáo viên bộ môn; thông qua yêu cầu về học tập trên lớp của học sinh, việc giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh, cách thức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của học sinh. Ngoài ra, nhà trường có thể quản lý học sinh bằng việc ra đề kiểm tra, đề thi, cấu trúc của đề, thang điểm. Các nội dung này đều tác động đến phương pháp học tập của học sinh và giúp điều chỉnh phương pháp học tập. Trong quá trình giảng dạy, nếu giáo viên dạy phương pháp so sánh, nội dung đề thi, kiểm tra cũng phải có loại câu hỏi này [8]. Do đó, dạy nội dung gì thì trong bài kiểm tra, đề thi phải có loại kiến thức đó. Tùy theo nội dung học tập, điều kiện, năng lực học tập của mỗi học sinh mà giáo viên định hướng cho họ phương pháp học tập phù hợp, hiệu quả.

Tại trường học thông minh, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, định hướng, hướng dẫn HS trong tiếp thu kiến thức. Theo đó, HS là trung tâm, thực hiện mọi hoạt động diễn ra trong tiết học. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với lớp học truyền thống. Để có thể nâng cao năng lực của người học, các GV phải áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp, phương pháp phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; rèn luyện thói quen, khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức và các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập. Do các em chủ động tham gia các hoạt động học tập nên các em sẽ tiếp thu kiến thức chủ động, nhớ lâu hơn và dễ dàng áp dụng vào thực tế cuộc sống.

1.4.2.4. Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo mô hình trường học thông minh

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập sẽ giúp học sinh xác định được những việc họ đã thực hiện được, chưa thực hiện được, từ đó giúp nâng cao trách nhiệm với việc học. Nội dung kiểm tra gồm tình hình thực hiện nề nếp học tập, tinh thần, thái độ học tập, sự chuyên cần.

Ngoài ra, có thể đánh giá kết quả học tập các môn học của học sinh thông qua điểm số, nhận xét của giáo viên về tinh thần, thái độ học tập đối với môn học của học sinh qua sổ liên lạc.

Các trường cần chú trọng đến các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trên lớp và việc chấm điểm bài kiểm tra, bài thi học kỳ, xếp loại học sinh [10]. Thông qua kết quả học tập của học sinh, có thể so sánh với mục tiêu, đánh giá chất lượng dạy học của giáo viên, học sinh, từ đó hiệu trưởng rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.

Việc quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo mô hình trường học thông minh có những điểm khác biệt nhất định so với trường học truyền thống. Theo đó, cả hai trường đều thực hiện kiểm tra học sinh khi kết thúc bài học, tiết học, kỳ học hay môn học hay kiểm tra miệng, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đầu giờ,…. Bên cạnh việc đánh giá năng lực và khả năng tiếp thu của HS qua điểm số các em đạt được qua mỗi bài kiểm tra, trường học truyền thống sẽ có phần nhận xét, đánh giá của GV về những ưu điểm, hạn chế của từng em vào cuối kỳ học, năm học. Trường học thông minh cũng thực hiện đánh giá năng lực HS bằng các phương pháp này. Tuy nhiên, trường học thông minh sẽ tập trung đánh giá cả quá trình tiếp thu, học tập của các em hơn là chỉ dựa chủ yếu và điểm số các bài kiểm tra; trong khi trường học truyền thống tập trung nhiều vào đánh giá kết quả học tập của HS qua điểm số mà các em đạt được. Đây là một điểm khác biệt, rất mới trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Để có được những đánh giá chính xác, khách quan, GV phải trực tiếp giảng dạy HS trong cả một kỳ học, năm học, đi sâu đi sát quan sát, theo dõi những thay đổi, biến đổi tích cực trong quá trình tiếp nhận kiến thức của HS. Điểm số chỉ nói lên một phần kết quả học tập của các em chứ không phải là kết quả phản ánh cả quá trình. Nếu chỉ dựa vào điểm số, năng lực của HS sẽ không được phản ánh khách quan, chính xác.

Đặc biệt, các trường học theo mô hình trường học thông minh sẽ phải sử dụng công nghệ vào đánh giá. Bằng việc sử dụng các thiết bị thông minh, phần mềm đánh giá, việc đánh giá HS sẽ chính xác, hiệu quả và công bằng hơn. Trong thời gian tới, đây là một trong những yêu cầu bắt buộc của các trường giảng dạy theo mô hình trường học thông minh.

1.4.2.5. Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học theo mô hình trường học thông minh

Khi giảng dạy theo mô hình trường học thông minh, giáo viên là chủ thể của các bài giảng, dạy học theo mô hình trường học thông minh nhấn mạnh đến học sinh, có sự có mặt của nhiều trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học. Do đó, việc quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Việc giảng dạy theo mô hình trường học thông minh cần theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học với các phương pháp, hình thức và tư tưởng dạy học hiện đại như dạy học nêu vấn đề, dạy học chương trình hóa, dạy học hợp tác, dạy học kiến tạo,… Cần có đầy đủ thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ các hoạt động dạy học một cách tốt nhất.

Nhà trường phải đảm bảo điều kiện về thư viện, trang thiết bị hỗ trợ dạy học và cơ sở vật chất khác để triển khai các hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đề ra [13]. Hiệu trưởng phải quan tâm chỉ đạo việc lập kế hoạch mua sắm, kế hoạch bảo quản, vận hành trang thiết bị, dụng cụ học tập; trực tiếp chỉ đạo việc triển khai phục vụ cũng như kiểm tra mức độ thực hiện hỗ trợ hoạt động dạy học của các phương tiện được trang bị.

Các cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học theo mô hình trường học thông minh như thư viện, phòng thực hành, phòng thí nghiệm phải phục vụ một cách kịp thời, đầy đủ, thuận tiện. Thiết bị công nghệ thông tin, phần mềm quản lý phải được cập nhất mới nhất để hỗ trợ cho hoạt động dạy học và công tác điều hành quản lý trong nhà trường.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học ở các trường Tiểu học theo mô hình trường học thông minh

1.5.1. Yếu tố bên trong

1.5.1.1. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý là những người trực tiếp triển khai hoạt động quản lý dạy học ở các trường Tiểu học theo mô hình trường học thông minh. Nếu đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý này có trình độ chuyên môn tốt, nhận thức đúng đắn về dạy học theo mô hình trường học thông minh, đáp ứng được các tiêu chí trong quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh và dạy học theo đúng nguyên tắc của mô hình trường học thông minh, việc quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh sẽ khả thi, đạt hiệu quả cao [19]. Dạy học theo mô hình trường học thông minh là một xu hướng phát triển mới, đang ngày càng được áp dụng rộng rãi tại các trường học nên cần đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có năng lực, trình độ phù hợp để thực hiện hoạt động này. Đối với bậc tiểu học, yêu cầu trình độ chuẩn với giáo viên là tốt nghiệp cao đẳng sư phạm. Đa số đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ là đạt chuẩn và trên chuẩn. Những giáo viên này cũng thích ứng nhanh chóng với môi trường công nghệ nên việc dạy học theo mô hình trường học thông minh cũng thuận lợi hơn các giáo viên có thâm niên công tác cao nhưng chỉ được đào tạo từ trung cấp, hệ trung cấp. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc phân công giảng dạy tại các trường tiểu học.

Cán bộ quản lý là những người điều hành trực tiếp và quản lý nhà trường nên vai trò của đội ngũ này là vô cùng quan trọng trong việc định hướng việc dạy học của trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh và đảm bảo chất lượng dạy học. Đây cũng là yếu tố có tác động lớn đến chất lượng bởi nó liên quan chặt chẽ đến quá trình ra chính sách, tạo dựng bộ máy và quy trình quản lý để vận hành trường học theo mô hình trường học thông minh [19].

1.5.1.2. Cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học

Cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học luôn cần thiết, đặc biệt là trong môi trường học tập hiện nay, các trường đều chú trọng đến học tập theo hướng trải nghiệm, phát triển năng lực học sinh và dạy học theo mô hình trường học thông minh. Đây là điều kiện quan trọng để đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục [19]. Cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ hoạt động dạy học đóng vai trò quan trọng như các thành tố nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, lực lượng giáo dục và môi trường giáo dục. Đây được coi là điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.

1.5.2. Yếu tố bên ngoài

1.5.2.1. Đối tượng tuyển sinh

Việc dạy học theo mô hình trường học thông minh không phải là một việc làm đơn giản, có thể áp dụng chung cho toàn thể học sinh, đặc biệt là học sinh cấp tiểu học, cấp học mới bắt đầu làm quen với môi trường học tập. Do đó, đối tượng tuyển sinh đóng vai trò quan trọng bởi chất lượng tuyển sinh đầu vào sẽ giúp nhà trường có những định hướng khác nhau khi triển khai dạy học theo mô hình trường học thông minh [9]. Nếu đối tượng tuyển sinh có chất lượng cao, học sinh năng động, ham học, việc dạy học theo mô hình trường học thông minh sẽ dễ triển khai hơn và nếu triển khai cũng đạt hiệu quả cao hơn. Hiện nay, trường ngoài công lập thực hiện tuyển sinh khá chặt chẽ, đảm bảo nguồn tuyển sinh này có thể thích ứng tốt với chương trình, nội dung giảng dạy theo chương trình mới của các trường. Nhiều trường ngoài công lập chất lượng cao, liên kết với các trường quốc tế nên đối tượng tuyển sinh đầu vào lại càng đóng vai trò quan trọng để giúp các trường thực hiện tốt các chương trình giáo dục.

1.5.2.2. Điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội của địa phương

Kinh tế – văn hóa xã hội địa phương ảnh hưởng nhiều đến giáo dục và hoạt động dạy học của nhà trường. Hiệu trưởng cần nắm được chủ trương đường lối của Đảng, chính sách địa phương, khai thác được thế mạnh và hạn chế khó khăn của địa phương trong hoạt động của nhà trường, tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương và các cơ quan đóng trên địa bàn khu vực trường tuyển sinh cũng như dân địa phương. Do trường ngoài công lập phải tự chủ hoàn toàn tài chính nên điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội của địa phương lại càng quan trọng [8]. Do tự chủ hoàn toàn tài chính nên học phí của học sinh theo học trường ngoài công lập cao hơn học sinh theo học trường công lập, nên nơi nào có điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, trình độ học vấn, tiếp thu của người dân cũng cao hơn, các trường ngoài công lập dễ dàng tuyển sinh học sinh hơn và việc quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh cũng thuận lợi hơn.

1.5.2.3. Chủ trương, chính sách, quy định của ngành GD&ĐT

Mọi hoạt động của các ngành nghề trong xã hội đều chịu sự quy định của Nhà nước, pháp luật và ban ngành liên quan. Với ngành giáo dục, các hoạt động giảng dạy tại các trường công lập hay ngoài công lập đều phải tuân thủ theo các chủ trương, chính sách, quy định của ngành GD&ĐT. Những chủ trương, chính sách, quy định này là tiền đề hướng dẫn cho các trường thực hiện hoạt động giảng dạy, để các cấp, ban ngành theo dõi, đánh giá hiệu quả giảng dạy của các trường để có những giải pháp hỗ trợ kịp thời.

Hiện nay, ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung đang thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29-NQ/TW. Theo đó, các trường học đều thay đổi căn bản quản lý để giáo dục, đào tạo HS phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

1.5.2.4. Sự phát triển của CNTT

Hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và có những tác động nhất định, to lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Đối với các trường dạy học theo mô hình trường học thông minh, yếu tố CNTT lại càng đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định lớn đến hiệu quả và thành công của hoạt động dạy học theo mô hình trường học thông minh [12]. Việc phát triển của CNTT tạo điều kiện cho các trường quản lý hoạt động dạy học theo mô hình trường học thông minh thuận lợi hơn nhưng cũng đặt ra thách thức để các trường phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để theo kịp những thay đổi của CNTT và thực hiện giảng dạy cho học sinh một cách hiệu quả nhất.

Kết luận chương 1

Trường học thông minh là một cơ sở giáo dục áp dụng các quy trình giảng dạy, thực hành quản lý giáo dục nhằm thích ứng với sự phát triển của CNTT trong thời đại mới. Đây là mô hình trường học có sử dụng nhiều thiết bị giảng dạy tiên tiến, hiện đại. Dạy học theo mô hình trường học thông minh gồm 04 nội dung chính đó là hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, điều kiện cho dạy và học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.

Quản lý dạy học tại các trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh là một quá trình tuân thủ theo các quy luật khách quan, đòi hỏi sự gắn liền giữa lý luận và thực tiễn, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải nắm chắc lý luận và biết vận dụng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Trong giai đoạn phát triển GD&ĐT hiện nay, quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh là một yêu cầu tất yếu, theo đúng định hướng của ngành giáo dục để phát triển nên những con người thế hệ mới, chủ động, sáng tạo và có chất lượng cao.

Quản lý dạy học tại các trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh là một yêu cầu tất yếu, nhất là trong giai đoạn đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo như hiện nay. Quản lý dạy học theo mô hình trường học thông minh gồm 06 nội dung, đó là Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình dạy học; Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên; Quản lý hoạt động học tập của học sinh; Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; Quản lý các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học.

Quản lý dạy học tại các trường tiểu học theo mô hình trường học thông minh chịu ảnh hưởng của một số nhân tố như Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; Cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học; Đối tượng tuyển sinh; Điều kiện kinh tế – văn hóa xã hội của địa phương; Chủ trương, chính sách, quy định về GD&ĐT và Sự phát triển của CNTT.

Chương 2. Thực trạng quản lý dạy học ở các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo mô hình trường học thông minh

2.1. Khái quát chung về trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

2.1.1. Đặc điểm chung của các trường tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021\NGÀNH SƯ PHẠM/ QUẢN LÍ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh Quản lí dạy học ở các trường Tiểu học ngoài công lập tại huyện Văn Giang theo mô hình trường học thông minh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *